1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG QUỸ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG

26 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 887,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 14/01/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2008/NĐ-CP về Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng Nghị định số 05; tiếp theo đó, ngày 24/9/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/20

Trang 1

Trước đây, hoạt động sản xuất ngành lâm nghiệp nguồn thu nhập từ rừng chủ yếu là gỗ

và lâm sản ngoài gỗ, chưa tính đến giá trị môi trường rừng; trong thập niên từ 1990 đến 2000, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng phần lớn được đầu tư chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước thông qua các chương trình, dự án bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng toàn quốc

Trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn, nhằm thực hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng, để huy động nguồn lực của xã hội đầu tư vào rừng, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được ban hành năm 2004 đã quy định các đối tượng được hưởng lợi từ rừng phải đóng góp vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) và đây là nguồn tài chính để bảo vệ

và phát triển rừng Song song với đó, nhiều sáng kiến của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ thông qua các chương trình, dự án đã thể hiện các quan điểm tiếp cận, cách làm mới, tích cực đóng góp, hỗ trợ triển khai thực hiện thí điểm và thể chế hoá các quy định, hướng dẫn nhằm huy động các nguồn lực xã hội để tái đầu tư cho công tác bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng bền vững

Ngày 14/01/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2008/NĐ-CP về Quỹ bảo vệ

và Phát triển rừng (Nghị định số 05); tiếp theo đó, ngày 24/9/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) (Nghị định số 99) với mục đích huy động các nguồn lực của xã hội để bảo vệ và phát triển rừng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng; nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng của những người được hưởng lợi từ rừng hoặc có các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến rừng; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn lực cho bảo vệ, phát triển rừng của các chủ rừng

Phần I

TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUỸ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG

VÀ CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG

1 Ban hành các quy định, hướng dẫn và văn bản chỉ đạo điều hành

Sau khi Nghị định số 05 và Nghị định số 99 được Chính phủ ban hành, Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 về Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Quyết định số 2284/QĐ-TTg ngày 13/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt đề

án “Triên khai Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng”; Thông tư số 85/2012/TT-BTC ngày 25/5/2012 của Bộ Tài chính

Trang 2

2

về Hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng; Thông tư số 80/2011/TT- BNNPTNT ngày 23/11/2011 của Bộ NN&PTNT về Hướng dẫn phương pháp xác định tiền chi trả DVMTR; Thông tư số 20/2012/TT-BNNPTNT ngày 07/05/2012 của Bộ NN&PTNT về Hướng dẫn trình tự, thủ tục nghiệm thu, thanh toán tiền chi trả DVMTR; Thông

tư liên tịch số 62/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày 16/11/2012 của Bộ NN&PTNT-Bộ Tài chính về Hướng dẫn về quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR; Thông tư số 60/2012/TT-BNNPTNT ngày 09/11/2012 của Bộ NN&PTNT về Quy định về nguyên tắc, phương pháp xác định diện tích rừng trong lưu vực làm căn cứ chi trả dịch vụ môi trường rừng và các văn bản hướng dẫn, tạo cơ sở, hành lang pháp lý đầy đủ để tổ chức quản lý Quỹ BV&PTR và triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR

Hàng năm, Bộ NN&PTNT thường xuyên đôn đốc, chỉ đạo, hỗ trợ giải quyết những khó khăn, vướng mắc của các địa phương; phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức các hội nghị tại các vùng; các hội nghị triển khai kế hoạch, hội nghị tổng kết; các phiên họp Hội đồng quản lý quỹ Thông qua các sự kiện này đã phát hiện những tồn tại, hạn chế, vướng mắc; từ đó,

đã kịp thời đôn đốc, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn trong triển khai thực hiện; song song với đó, tổ chức các đoàn công tác, làm việc trực tiếp với lãnh đạo UBND tỉnh, thúc đẩy quá trình tổ chức thành lập và vận hành Quỹ BV&PTR

2 Thiết lập hệ thống Quỹ BV&PTR các cấp

Để thành lập hệ thống Quỹ BV&PTR, Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định số 114/2008/QĐ-BNN ngày 28/11/2008 thành lập Quỹ Trung ương và Quyết định số 111/2008/QĐ-BNN ngày 18/11/2008 ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Quỹ BV&PTR cấp tỉnh Sau 8 năm thực hiện, đến nay, toàn quốc đã có 41 tỉnh thành lập Quỹ BV&PTR, trong đó có 38 Quỹ tỉnh đã ổn định bộ máy tổ chức và đi vào hoạt động

3 Rà soát, xác định ranh giới, diện tích cung ứng DVMTR

Bộ NN&PTNT đã tổ chức xác định ranh giới, diện tích các lưu vực liên tỉnh, trên cơ sở

đó ban hành 08 quyết định công bố diện tích rừng cung ứng DVMTR, làm cơ sở điều phối, uỷ thác tiền DVMTR cho các tỉnh, đảm bảo minh bạch, công khai, công bằng; phối hợp với UBND các tỉnh chỉ đạo Sở NN&PTNT, Quỹ BV&PTR cấp tỉnh (Quỹ tỉnh) tiến hành việc rà soát, xác định ranh giới, diện tích rừng trong các lưu vực cung ứng DVMTR nội tỉnh Đến nay, các địa phương cơ bản đã hoàn thành rà soát, xác định ranh giới, diện tích rừng đến từng chủ rừng, làm cơ sở chi trả tiền DVMTR đến các chủ rừng

4 Tuyên truyền, phổ biến chính sách, đào tạo nâng cao năng lực

Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo Quỹ Trung ương phối hợp với các đối tác có liên quan (Tổ chức Hợp tác kỹ thuật Đức, Winrock, CIFOR, ADB, VFD và một số tổ chức phi chính phủ) tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách thông qua các phóng sự truyền hình, đối thoại, điểm tin, viết bài nhằm nhằm tạo ra sự đồng thuận, thống nhất nhận thức về chính sách của các cấp, các ngành, bên cung ứng, bên sử dụng DVMTR và của mọi tầng lớp nhân dân; tổ chức các hội thảo, mở các khóa đào tạo, tập huấn tăng cường năng lực, nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ trung ương và địa phương

Các địa phương đã đẩy mạnh các hoạt động thông tin, truyền thông; phối hợp rất chặt chẽ với các cơ quan phát thanh và truyền hình tỉnh làm phim phóng sự tài liệu, đưa tin, ảnh và

Trang 3

5 Công tác kiểm tra, giám sát

- Định kỳ tháng, quý và cuối năm, Bộ NN&PTNT, Tổng cục Lâm nghiệp, Quỹ BV&PTR Việt Nam, tổ chức các đoàn công tác, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, hướng dẫn nghiệp

vụ chuyên môn, phát hiện những bất cập của chính sách, kiến nghị, đề xuất với các cấp có thẩm quyền giải quyết

- Chỉ đạo triển khai thu thập, cập nhật và quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu (CSDL) chi trả DVMTR theo Quyết định số 3746/QĐ-BNN-TCLN ngày 15/9/2015 của Bộ NN&PTNT, hệ thống CSDL đã cập nhật thống nhất trong cả nước dữ liệu về rừng, chủ rừng và tiền chi trả cho chủ rừng phục vụ cho công tác quản lý và kiểm tra, giám sát chính sách chi trả DVMTR

- Phối hợp với các bên liên quan nghiên cứu, xây dựng bộ chỉ số giám sát, đánh giá chi trả DVMTR; đang tiến hành thí điểm bộ chỉ số giám sát, đánh giá tại một số địa phương để hoàn chỉnh trình Bộ NN&PTNT ban hành

6 Các hoạt động hỗ trợ

a) Tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, hội thảo chuyên môn nghiệp vụ

Từ trung ương đến địa phương đã chú trọng mở các lớp đào tạo, tập huấn tăng cường năng lực, nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ; phối hợp với các đối tác có liên quan (GIZ, CIFOR, VFD, ADB và một số tổ chức phi chính phủ khác) tổ chức các hội thảo vùng, hội thảo toàn quốc tạo sự đồng thuận, thống nhất nhận thức về chính sách cho các cấp, các ngành, bên cung ứng, bên sử dụng DVMTR và của mọi tầng lớp nhân dân

b) Tổ chức thực hiện các đề tài, dự án hỗ trợ triển khai chính sách

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Trường Đại học Lâm nghiệp, thực hiện trong giai đoạn 2011-2014, tại 66 lưu vực nhà máy thủy điện, phân bố đều ở các vùng trên cả nước nhằm cung cấp thông tin, đề xuất điều chỉnh mức chi trả tiền DVMTR đối với các nhà máy thủy điện

- Dự án “Xây dựng CSDL thông tin về chi trả DVMTR ở Việt Nam” nhằm tạo lập cơ sở

dữ liệu thông tin về chi trả DVMTR, tích hợp vào hệ thống thông tin quản lý ngành Lâm nghiệp (FORMIS), nâng cao năng lực thu thập, phân tích, xử lý thông tin nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách chi trả DVMTR ở Việt Nam Dự án đã xây dựng được bộ CSDL thông tin về chi trả DVMTR và đã được Bộ NN&PTNT ban hành tại Quyết định số 3746/QĐ-BNN-TCLN ngày 15/9/2015 về ban hành Quy chế quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu về chi trả DVMTR; Tổng cục Lâm nghiệp ban hành Quyết định số 473/QĐ-TCLN-KHTC ngày 26/10/2015 ban hành Sổ tay hướng dẫn việc quản lý, sử dụng và cập nhật CSDL DVMTR Đến nay, bộ cơ sở dữ liệu về chi trả DVMTR đã được cập nhật thường xuyên và được tích hợp vào

hệ thống thông tin ngành lâm nghiệp (FORMIS)

Trang 4

4

- Dự án “Tăng cường thực thi chính sách chi trả DVMTR ở Việt Nam” đã hỗ trợ tỉnh Lào Cai ban hành thí điểm chi trả DVMTR đối với các cơ sở nuôi cá nước lạnh (Quyết định số 4273/QĐ-UBND, ngày 25/11/2015 của UBND tỉnh Lào Cai); đối với các cơ sở công nghiệp có

sử dụng nước (Quyết định số 1551/QĐ-UBND, ngày 27/5/2016 của UBND tỉnh Lào Cai); ban hành sổ tay hướng dẫn tài chính kế toán; sổ tay hướng dẫn sử dụng tiền DVMTR thôn bản; xây dựng hệ thống WebGIS hỗ trợ thông tin thực hiện chi trả DVMTR tại Kon Tum sử dụng dữ liệu kiểm kê rừng tích hợp vào nền hệ thống FORMIS

c) Hợp tác quốc tế

Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo Tổng cục Lâm nghiệp, Quỹ Trung ương và các địa phương tăng cường hợp tác với các đối tác quốc tế triển khai thực thi chính sách và các sáng kiến, cơ chế tài chính mới Qua đó, đã nhận được sự hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật để thực hiện chính sách, góp phần xúc tiến, quảng bá, chia sẻ, học tập kinh nghiệm huy động, quản lý và sử dụng nguồn tài chính phục vụ thực thi chính sách chi trả DVMTR, cụ thể:

- Hợp tác với GIZ trong việc phát hành Sổ tay hỏi đáp về chi trả DVMTR; mở các lớp đào tạo, tập huấn hướng dẫn thực hiện chính sách chi trả DVMTR và nghiệp vụ quản lý tài chính Quỹ BV&PTR; Sổ tay hướng dẫn thực hiện rà soát xác định chủ rừng phục vụ chi trả DVMTR; hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu sửa Nghị định số 99 và các thông tư hướng dẫn Nghị định số 99

- Hợp tác với CIFOR trong nghiên cứu chi trả DVMTR ở Việt Nam từ chính sách tới thực tiễn và tổ chức các hội thảo chia sẻ kết quả nghiên cứu và các hoạt động truyền thông

- Hợp tác với ADB tổ chức thực hiện Dự án tăng cường năng lực thực thi chính sách chi trả DVMTR ở Việt Nam

- Hợp tác với Dự án VFD hỗ trợ thử nghiệm hệ thống giám sát, đánh giá chi trả DVMTR tại Sơn La; nghiên cứu chi trả DVMTR đối với cơ sở công nghiệp có sử dụng nước tại Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh; nghiên cứu xây dựng chế tài xử lý vi phạm trong thực thi chính sách chi trả DVMTR

Phần II KẾT QUẢ THỰC HIỆN, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT

I KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1 Kết quả thực hiện Quỹ BV&PTR

1.1 Thành lập hệ thống tổ chức Quỹ BV&PTR

Trang 5

5

HỆ THỐNG QUỸ BV&PTR

Quỹ BV&PTR Trung ương

Hình 1 Sơ đồ hệ thống tổ chức Quỹ BV&PTR

a) Quỹ Trung ương

Ngay sau khi Nghị định số 05 có hiệu lực thi hành, Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định số 114/2008/QĐ-BNN ngày 28/11/2008 thành lập Quỹ Trung ương và Quyết định số 128/2008/QĐ-BNN ngày 31/12/2008 ban hành Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Quỹ Trung

ương Tổ chức Quỹ Trung ương gồm:

- Hội đồng quản lý Quỹ: Chủ tịch Hội đồng là Thứ trưởng Bộ NN&PTNT phụ trách Lâm nghiệp; Phó Chủ tịch Hội đồng được cử trong số các ủy viên Hội đồng; các ủy viên Hội đồng là đại diện các cơ quan, đơn vị thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, đại diện lãnh đạo cấp vụ của

Bộ NN&PTNT, đại diện lãnh đạo cấp vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính

- Ban kiểm soát Quỹ: Có 3 thành viên hoạt động kiêm nhiệm, do Hội đồng quản lý Quỹ quyết định Trưởng ban do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ

- Ban điều hành Quỹ gồm Giám đốc, 01 Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và các bộ phận giúp việc Giám đốc Quỹ do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Hội đồng quản lý Quỹ; hoạt động theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm

b) Quỹ tỉnh

Để triển khai thành lập Quỹ tỉnh, Bộ NN&PTNT đã ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Quỹ BV&PTR cấp tỉnh kèm theo Quyết định số 111/2008/QĐ-BNN ngày 18/11/2008 và các văn bản hướng dẫn thực hiện

Trang 6

6

Hình 2 Sơ đồ diễn biến số lượng Quỹ cấp tỉnh thành lập theo năm

Số lượng Quỹ tỉnh được thành lập tăng dần lên theo thời gian, năm 2009 có 4 tỉnh thành lập Quỹ BV&PTR (Lâm Đồng, Sơn La, Lai Châu, Đắk Nông), năm 2012 có 18 tỉnh thành lập Quỹ BV&PTR, năm 2013 có 34 tỉnh thành lập Quỹ BV&PTR, năm 2014 có 36 tỉnh thành lập Quỹ BV&PTR, năm 2015 có 40 tỉnh thành lập Quỹ BV&PTR Đến nay, toàn quốc đã có 41 tỉnh thành lập Quỹ BV&PTR; trong đó có 38 Quỹ tỉnh đã ổn định bộ máy tổ chức, thành lập các phòng ban chuyên trách, có trụ sở riêng đi vào hoạt động Một số địa phương có nguồn thu lớn đã thiết lập hệ thống chi trả cấp huyện (Quỹ BV&PTR tỉnh Sơn La đã thành lập 11 chi nhánh Quỹ BV&PTR cấp huyện) Trong số 38 Quỹ tỉnh đã ổn định bộ máy tổ chức và đã đi vào hoạt động thì có 9 Quỹ trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và 29 Quỹ trực thuộc Sở NN&PTNT

Tổ chức Quỹ tỉnh gồm:

- Hội đồng quản lý Quỹ: Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND tỉnh hoặc Giám đốc Sở NN&PTNT, Phó Chủ tịch Hội đồng là Giám đốc hoặc Phó Giám đốc Sở NN&PTNT hoặc Lãnh đạo Sở Tài chính; thành viên Hội đồng quản lý Quỹ là đại diện lãnh đạo của các Sở NN&PTNT, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Cục thuế, KBNN tỉnh và Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm

- Ban kiểm soát Quỹ: Trưởng ban là Trưởng phòng Tài chính Kế toán hoặc Chánh thanh tra của Sở NN&PTNT; thành viên là cán bộ nghiệp vụ, thanh tra của Sở Tài chính và Sở NN&PTNT

- Ban điều hành Quỹ: Cơ cấu tổ chức không giống nhau; số lượng phòng nghiệp vụ cũng rất khác nhau có thể là 2, hoặc 3, hay 4 phòng tùy theo quy định của mỗi tỉnh; tên gọi của các phòng cũng khác nhau Riêng tỉnh Sơn La thành lập chi nhánh Quỹ BV&PTR cấp huyện trực thuộc Quỹ BV&PTR tỉnh, là một bộ phận của Quỹ tỉnh làm nhiệm vụ chi trả tiền DVMTR ở

5.0 10.0 15.0 20.0 25.0 30.0 35.0 40.0 45.0

Trang 7

7

các huyện, thị

1.2 Kết quả huy động các nguồn thu

Sau 8 năm thành lập và đi vào hoạt động, đến nay hệ thống Quỹ BV&PTR mới chỉ có 2 nguồn thu chính là: nguồn thu từ chi trả DVMTR và nguồn thu từ tiền trồng rừng thay thế, ngoài ra, không còn nguồn thu nào khác Tổng số hai nguồn thu này là 6.449,767 tỷ đồng, trong đó:

- Quỹ Trung ương ký 64 hợp đồng (thủy điện: 58 hợp đồng và nước sạch: 6 hợp đồng);

- Quỹ tỉnh ký 400 hợp đồng (Thủy điện 262 hợp đồng, nước sạch 79 hợp đồng và du lịch 59 hợp đồng) Các Quỹ tỉnh ký nhiều hợp đồng gồm: Lào Cai: 57 hợp đồng, Lâm Đồng: 51 hợp đồng, Gia Lai: 35 hợp đồng, Sơn La: 29 hợp đồng, Quảng Nam: 28 hợp đồng, Hà Giang:

26 hợp đồng

Hình 3 Tỷ trọng thu tiền DVMTR của trung ương và địa phương

2.2 Kết quả thu, chi tiền DVMTR

Trang 8

Hình 4 Tình hình thu tiền DVMTR qua các năm (Đơn vị tính: tỷ đồng)

II ĐÁNH GIÁ THÀNH CÔNG, TỒN TẠI VÀ ĐỀ XUẤT

1 Đối với Quỹ BV&PTR

1.1 Thành công

a) Sau 8 năm kể từ khi Nghị định số 05 có hiệu lực thi hành, đến nay, toàn quốc đã có 41 tỉnh thành lập Quỹ BV&PTR; trong đó có 38 Quỹ tỉnh đã ổn định bộ máy tổ chức, thành lập các phòng ban chuyên trách, có trụ sở riêng, đi vào hoạt động Các Quỹ BV&PTR đã thực hiện tốt nhiệm vụ ủy thác chi trả tiền DVMTR; là một mắt xích quan trọng, không thể thiếu trong chuỗi mắt xích chi trả ủy thác tiền DVMTR từ bên sử dụng đến bên cung ứng DVMTR theo hình thức chi trả gián tiếp

b) Quỹ BV&PTR đã thực sự trở thành một công cụ quan trọng, huy động được các nguồn lực của xã hội để bảo vệ và phát triển rừng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng

Sau 8 năm hoạt động, Quỹ BV&PTR đã thu được tổng số tiền là 6.449 tỷ đồng tiền

200.0 400.0 600.0 800.0 1000.0 1200.0 1400.0

Trang 9

9

DVMTR và trồng rừng thay thế Bình quân từ năm 2013 trở lại đây, thu tiền DVMTR được khoảng 1.300 tỷ đồng/năm Đây là một nguồn lực to lớn, góp phần bảo vệ rừng tốt hơn và cải thiện thu nhập cho người dân là những người trực tiếp bảo vệ rừng, phần lớn họ đều là những

hộ đồng bào dân tộc ít người và những hộ nghèo; góp phần quan trọng thực hiện chủ trương xã

hội hóa nghề rừng và xóa đói giảm nghèo

c) Quỹ BV&PTR đã góp phần làm thay đổi tư duy, nhận thức của các cấp, các ngành, đặc biệt là những người sử dụng các DVMTR, được hưởng lợi từ môi trường rừng đối với công tác bảo vệ rừng Hiện nay, nhận thức của các cơ sở sử dụng DVMTR đã thay đổi, họ đã ủy thác cho Quỹ BV&PTR chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng và các hộ dân bảo vệ rừng để duy trì nguồn nước cho hoạt động kinh doanh của đơn vị Tính đến nay, đã có 320 công ty thủy điện,

85 công ty nước sạch và 59 công ty du lịch ký hợp đồng, chi trả ủy thác tiền DVMTR với Quỹ Trung ương và các Quỹ tỉnh

d) Các chủ rừng đã nhận thức được trách nhiệm cung ứng DVMTR là phải làm rõ diện tích, phạm vi, ranh giới khu rừng cung ứng DVMTR phải bảo vệ tương ứng với số tiền chi trả DVMTR được nhận, nghĩa là xác định rõ trách nhiệm gắn liền với quyền lợi Từ đó, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp

1.2 Tồn tại và hạn chế

1.2.1 Địa vị pháp lý của Quỹ chưa rõ ràng

a) Nghị định số 05 của Chính phủ chỉ quy định Quỹ BV&PTR là tổ chức tài chính nhà nước, nhưng không có định nghĩa thế nào là tổ chức tài chính nhà nước và cũng không quy định cụ thể địa vị pháp lý của Quỹ

Thông tư số 85/2012/TT-BTC ngày 25/5/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản

lý tài chính đối với Quỹ BV&PTR, quy định về quản lý tài chính đối với công tác điều hành của Quỹ thì Quỹ BV&PTR được áp dụng cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ, quy định cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập, theo đó quy định đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước; dịch vụ sự nghiệp công có hai loại: dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước; dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước Tuy nhiên, chưa có văn bản quy định, hướng dẫn chi tiết của cơ quan có thẩm quyền về trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập như hệ thống tổ chức Quỹ BV&PTR

b) Trong các quyết định của UBND tỉnh đã ban hành thì địa vị pháp lý của Quỹ cũng rất khác nhau Quỹ BV&PTR là đơn vị sự nghiệp (Lai Châu, Nghệ An); Quỹ BV&PTR là đơn vị

sự nghiệp công lập (Sơn La); Quỹ BV&PTR là đơn vị sự nghiệp có thu (Điện Biên, Đắk Nông) Tình trạng quy định rất khác nhau giữa các tỉnh, có tỉnh quy định Quỹ BV&PTR là đơn

vị sự nghiệp công lập và giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính; có tỉnh chỉ quy định là đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính; có tỉnh giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính nhưng không quy định là đơn vị sự nghiệp công lập

c) Vấn đề địa vị pháp lý của Quỹ BV&PTR chưa rõ ràng đã gây khó khăn cho hoạt

Trang 10

10

động của Quỹ Trong các quyết định của UBND tỉnh thường vận dụng quy định về đơn vị sự nghiệp công lập và cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, nhưng vì đến nay chưa có văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định này đối với đơn vị như Quỹ BV&PTR nên các địa phương thường áp dụng việc quản lý phần kinh phí tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp có thu theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP

Trong khi chưa có quy định địa vị pháp lý của Quỹ BV&PTR, với sự tham mưu của Sở NN&PTNT, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, UBND một số tỉnh đã quy định Quỹ BV&PTR là đơn vị

sự nghiệp công lập và giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính Như vậy, rất cần thiết có văn bản của cấp có thẩm quyền quy định về địa vị pháp lý và cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

về kinh phí đối với Quỹ BV&PTR để thi hành thống nhất trên phạm vi cả nước

1.2.2 Phân cấp quản lý Quỹ BV&PTR chưa thống nhất

Hiện tại, đang tồn tại 2 cấp quản lý trực tiếp Quỹ tỉnh, hoặc do UBND tỉnh trực tiếp quản lý, hoặc do Sở NN&PTNT trực tiếp quản lý Việc phân cấp quản lý này đúng với quy định tại Nghị định 05 nhưng không căn cứ theo một tiêu chí nào, dẫn đến tình trạng không thống nhất giữa các Quỹ tỉnh Trong số 38 Quỹ tỉnh đã ổn định bộ máy tổ chức và đã đi vào hoạt động, có 9 Quỹ tỉnh do UBND tỉnh trực tiếp quản lý, 29 Quỹ tỉnh do Sở NN&PTNT trực tiếp quản lý

1.2.3 Cơ cấu tổ chức và biên chế của Quỹ không thống nhất

a) Số lượng các phòng chuyên môn của các Ban điều hành Quỹ tỉnh không giống nhau, nhiều nhất là 4 phòng (Lâm Đồng, Đắc Nông), còn lại đa số từ 2 đến 3 phòng Có 2 Quỹ tỉnh thành lập Phòng Kiểm tra Giám sát (Lâm Đồng, Đắc Nông) Tên các loại phòng cũng khác nhau, nhưng có 3 chức năng giống nhau: Kỹ thuật; Tổ chức - Hành chính; Kế toán -Tài vụ Cách đặt tên, ghép tên tuy khác nhau, nhưng giống với cơ quan sự nghiệp công lập

b) Số lượng biên chế cũng rất khác nhau giữa các Quỹ tỉnh, tùy thuộc vào số lượng kinh phí nhiều hay ít và Ban điều hành Quỹ hoạt động chuyên trách hay kiêm nhiệm Có Ban điều hành Quỹ tỉnh có tới 63 CBCNV chuyên trách (Sơn La), nhưng có nơi chỉ có 2 CBCNV chuyên trách trong tổng số 9 người, hoặc không có người nào chuyên trách

c) Có những tỉnh thành lập Ban điều hành Quỹ, nhưng không đủ kinh phí thành lập bộ máy nên toàn bộ hoạt động và nhân sự của Ban điều hành Quỹ được giao cho một cơ quan khác làm kiêm nhiệm (Chi cục Lâm nghiệp hoặc Chi cục Kiểm lâm), hoặc một số người làm kiêm nhiệm còn một số thì chuyên trách

1.2.4 Chưa quy định rõ cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính

a) Trong các quyết định của UBND tỉnh về xác định Quỹ BV&PTR là đơn vị sự nghiệp công lập, thường quy định Ban điều hành Quỹ tỉnh tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho mọi hoạt động của Quỹ Tuy nhiên, chưa có văn bản nào quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong trường hợp chi tiêu khoản tiền quản lý 10% chi trả DVMTR, dù đây là nguồn tiền ủy thác của bên sử dụng DVMTR, không phải tiền ngân sách nhà nước

b) Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, gồm: tự chủ trong xây dựng kế hoạch, trong tổ chức thực hiện

kế hoạch, về tổ chức bộ máy, về nhân sự và về tài chính, nhưng tất cả nội dung này chưa áp dụng được với trường hợp Quỹ BV&PTR, dù là Quỹ tỉnh có tổng số kinh phí thu được hàng

Trang 11

b) Theo quy định hiện hành, Hội đồng quản lý Quỹ là cơ quan chỉ huy, Ban điều hành là

cơ quan chấp hành Hiện nay, khi địa vị pháp lý của Quỹ tỉnh chưa rõ ràng, Hội đồng quản lý Quỹ có vai trò quan trọng giúp tạo sự đồng thuận giữa các Sở, ngành về hoạt động của Quỹ UBND tỉnh cũng cần sự đồng thuận này để làm cơ sở quyết định các nội dung hoạt động của Quỹ BV&PTR

c) Với cơ chế hiện nay, các thành viên của Hội đồng đóng hai vai, khi họp Hội đồng thì vào vai ủy viên phát biểu ý kiến và ký vào biên bản cuộc họp, khi xét duyệt các văn bản cụ thể

do Ban điều hành Quỹ trình thì theo chức năng của lãnh đạo sở chuyên ngành với các thủ tục, trình tự do Nhà nước quy định Do đó, thường cùng một vấn đề, nhưng Ban điều hành Quỹ phải trình tới 3 lần: trình bộ phận nghiệp vụ của Sở NN&PTNT có ý kiến trước, sau đó trình cho Hội đồng, khi có ý kiến của Hội đồng sẽ trình cho UBND tỉnh, nhưng UBND tỉnh thường chuyển các sở có ý kiến thẩm định bằng văn bản rồi mới phê duyệt

1.3 Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 05

Qua 8 năm tổ chức hoạt động Quỹ BV&PTR, đến nay, toàn quốc đã có 41 tỉnh thành lập Quỹ BV&PTR, trong đó có 38 Quỹ tỉnh đã ổn định bộ máy tổ chức, thành lập các phòng, ban chuyên trách, có trụ sở riêng đi vào hoạt động và đã thu được tổng số tiền là 6.449 tỷ đồng Đây là một nguồn lực to lớn, góp phần bảo vệ và phát triển rừng rừng tốt hơn, cải thiện đời sống cho những người trực tiếp làm nghề rừng; góp phần quan trọng cho việc thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng và xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế đã nêu trên, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 05 cho phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay

a) Quy định địa vị pháp lý của Quỹ BV&PTR

Khoản 3, Điều 6 Nghị định số 05 quy định: “Quỹ là tổ chức tài chính nhà nước, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng hoặc Kho bạc nhà nước theo quy định của pháp luật”

Đề nghị sửa đổi, bổ sung như sau:

“Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng là tổ chức tài chính nhà nước, thuộc loại hình đơn vị sự nghiệp công lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng hoặc

kho bạc nhà nước theo quy định của pháp luật”

b) Quy định về phân cấp quản lý Quỹ BV&PTR

Trang 12

12

Điểm b Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 05 quy định: “Bộ máy quản lý và điều hành của Quỹ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định”

Đề nghị sửa đổi, bổ sung như sau:

“Bộ máy quản lý và điều hành của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh gồm Hội

đồng quản lý, Ban kiểm soát và Ban điều hành Quỹ

Hội đồng quản lý Quỹ do lãnh đạo UBND tỉnh là chủ tịch Hội đồng, các thành viên là lãnh đạo các Sở: NN&PTNT, Tài chính, Nội vụ và các thành viên khác do UBND cấp tỉnh

quyết định

Giám đốc Ban điều hành Quỹ và cơ cấu tổ chức của Ban điều hành Quỹ do Chủ tịch

UBND cấp tỉnh bổ nhiệm và quy định.”

c) Quy định cơ chế tự chủ về tài chính của Quỹ BV&PTR

Bổ sung Điều 15a Nghị định số 05 như sau:

“Điều 15a Cơ chế tự chủ về tài chính của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng

1 Đối với nguồn thu ủy thác tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng không phải nguồn ngân sách nhà nước; Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng được tự chủ về quản lý, sử dụng khoản

kinh phí quản lý của nguồn thu ủy thác theo tỷ lệ trích được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

2 Đối với các nguồn ngân sách nhà nước; Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng được tự chủ về tài chính theo quy định tại Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.”

2 Đối với chính sách chi trả DVMTR

2.1 Thành công

a) Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng

Nguồn chi trả tiền DVMTR hàng năm đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ cho hơn 5 triệu ha rừng trong các lưu vực cung ứng DVMTR (chiếm tỷ lệ khoảng 38% tổng diện tích rừng hiện có), làm giảm số vụ vi phạm và diện tích rừng bị thiệt hại trong toàn quốc,

cụ thể1:

- Số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2006-2010 (khi chưa thực hiện chính sách chi trả DVMTR) là 195.825 vụ, giai đoạn 2011-2015 (khi thực hiện chính sách chi trả DVMTR) là 131.325 vụ, giảm 64.500 vụ, tương ứng giảm 32,9%, trong đó: Năm 2011 là 29.935 vụ, năm 2012 là 28.395 vụ, năm 2013 là 28.936 vụ, năm 2014 là 27.405 vụ, năm 2015

là 16.654 vụ);

- Diện tích rừng bị thiệt hại giai đoạn 2006-2010 (khi chưa thực hiện chính sách chi trả DVMTR) là 27.732 ha, giai đoạn 2011-2015 (khi thực hiện chính sách chi trả DVMTR) là 11.578 ha, giảm 16.154 ha, tương ứng giảm 58,2% (trong đó; năm 2011 là 3.782 ha, năm 2012

là 2.363 ha, năm 2013 là 1.678 ha, năm 2014 là 2.492 ha, năm 2015 là 1.263 ha)

1 Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Hội nghị sơ kết 5 năm Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2015 do Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải chủ trì

Trang 13

13

Chính sách chi trả DVMTR đã tạo ra một cơ chế tài chính mới, ổn định, góp phần bảo

vệ rừng tốt hơn; thông qua việc thực thi chính sách, ý thức người dân dần dần được nâng cao, đời sống người dân từng bước được cải thiện

b) Cải thiện thu nhập cho người dân làm nghề rừng

Sau hơn 5 năm thực hiện chính sách, tổng số tiền DVMTR đã được bên sử dụng DVMTR chi trả gần 5.745 tỷ đồng Đã có hơn 500 ngàn hộ dân được nhận tiền chi trả DVMTR

để cải thiện thu nhập và đời sống Đây là những hộ dân sống trong và gần rừng, phần lớn họ là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo Số tiền DVMTR mà hộ dân nhận được bình quân chung cả nước khoảng 2 triệu đồng/hộ/năm, đã góp phần cải thiện thu nhập và một số hộ đã sử dụng nguồn tiền này để đầu tư sản xuất nông nghiệp, nuôi con ăn học, tạo sinh kế ổn định và nâng cao đời sống Hiện tại, tiền chi trả DVMTR chưa hoàn toàn đáp ứng giá trị sức lao động và nhu

cầu sống tối thiểu của người dân, nhưng đã thật sự có ý nghĩa, nhất là đối với những hộ nghèo

c) Thúc đẩy xã hội hóa nghề rừng, giải quyết khó khăn về kinh phí hoạt động cho chủ rừng dừng khai thác chính gỗ từ rừng tự nhiên

Nguồn tiền chi trả DVMTR bình quân khoảng hơn 1.000 tỷ đồng/năm đã giúp giải quyết khó khăn về kinh phí bảo vệ rừng cho 199 ban quản lý rừng, 84 công ty lâm nghiệp, 650 chủ rừng là tổ chức và tổ chức không phải là chủ rừng và hàng trăm ngàn hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng

Từ năm 2013, Chính phủ có chủ trương dừng khai thác chính gỗ từ rừng tự nhiên, nguồn tiền DVMTR đã giúp các công ty lâm nghiệp duy trì, đứng vững, khôi phục sản xuất, có kinh phí hoạt động và hỗ trợ cho công tác bảo vệ rừng trong thời gian thực hiện việc sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp

2.2 Tồn tại và hạn chế

a) Quy định mức chi trả tiền DVMTR theo số tuyệt đối, cố định đối với cơ sở sản xuất thủy điện 20 đồng/kwh, cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch 40đồng/m3 tại Nghị định số 99 đến nay không còn phù hợp với tình hình lạm phát và biến động tăng giá2, không đảm bảo thu nhập và tạo ra động lực, khuyến khích người dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng Cần có cơ chế điều chỉnh mức chi trả DVMTR, Nghị định số 99 quy định chi trả DVMTR là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng DVMTR trả tiền cho bên cung ứng DVMTR Mức chi trả cần điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế

b) Việc chi trả tiền DVMTR theo từng lưu vực của từng cơ sở sử dụng DVMTR đã tạo

ra sự chênh lệch rất lớn Có những lưu vực mức chi trả trên 600.000 đ/ha/năm, nhưng cũng có lưu vực chỉ được chi trả 800đ/ha/năm (thấp hơn rất nhiều mức hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho bảo vệ rừng hiện nay là 200.000 đ/ha) làm cho thu nhập của người làm nghề rừng có sự khác biệt rất lớn; làm xuất hiện tình trạng thắc mắc, so bì, phát sinh mâu thuẫn của người dân ở các vùng khác nhau; đặc biệt là đối với người đồng bào dân tộc ít người Vì vậy, cần phải cho phép UBND các tỉnh được chủ động, linh hoạt điều tiết từ lưu vực có mức chi trả quá cao sang lưu vực có mức chi trả quá thấp

c) Trong 5 loại DVMTR được quy định tại Nghị định 99, hiện mới có 3 loại DVMTR đã

2 Từ năm 2008 đến 2014 lạm phát tăng 73,2%, giá bán lẻ điện bình quân tăng 1,8 lần, giá nước sạch tăng 1,3 lần

Ngày đăng: 25/04/2018, 11:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w