VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM HẢI SẢN KHAI THÁC TỰ NHIÊN Do tầm quan trọng của ngành khai thác thủy sản trong việc cung ứng thực phẩm phục vụ tiêu dùng trong nướ
Trang 1VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ
SẢN PHẨM HẢI SẢN KHAI THÁC TỰ NHIÊN
Do tầm quan trọng của ngành khai thác thủy sản trong việc cung ứng thực phẩm phục
vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, Chính phủ đã rất quan tâm đến việc duy trì sự phát triển bền vững của ngành này Tuy nhiên, ngành sản xuất thủy sản đến nay hoạt động vẫn chưa theo một hệ thống thống nhất, giá sản phẩm rất không ổn định, nhiều lúc mang tính chất “ảo” gây ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn lợi, môi trường, hiệu quả kinh tế của cho các đơn vị sản xuất và người tiêu dùng Việc nghiên cứu quản lý quy trình sản xuất thủy sản theo chuỗi giá trị là rất cần thiết để góp phần phát triển ngành thủy sản bền vững Hiện nay, sản phẩm của ngành khai thác thủy sản có thị trường tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng, sôi động, qua nhiều mắt xích và mang thuộc tính của thị trường rất cao Sản phẩm từ dưới biển lên bàn ăn được thực hiện bởi nhiều chuỗi giá trị khác nhau với vai trò trung tâm của chuỗi cũng khác nhau Trong khuôn khổ chuyên đề này tập trung vào nghiên cứu “Vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị sản phẩm hải sản khai thác tự nhiên”, bao gồm các nội dung chính sau:
1 Tổng quan chung trong khai thác hải sản
2 Các bước triển khai trong nghiên cứu chuỗi giá trị thủy sản
3 Một số nghiên cứu chuỗi giá trị cụ thể
4 Vai trò của doanh nghiệp chế biến thủy sản trong chuỗi giá trị
5 Giải pháp để doanh nghiệp trở thành đầu tàu thúc đẩy giá trị của chuỗi
1 Tổng quan chung trong khai thác hải sản
1.1 Hiện trạng hoạt động khai thác thủy sản
Việt Nam là một quốc gia biển lớn trong vùng Biển Đông - được đánh giá là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học biển và là một trong 20 vùng biển có nguồn lợi hải sản giàu có nhất toàn cầu Việt Nam có chỉ số biển khoảng 0,01 cao gấp 6 lần giá trị trung bình của thế giới, có bờ biển dài trên 3.260 km, vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế khoảng
Trang 2trên 1 triệu km2 với trên 3.000 đảo lớn nhỏ trải dọc từ Bắc vào Nam và hai quần đảo ngoài khơi Hoàng Sa, Trường Sa chiếm vị trí tiền tiêu cực kỳ trọng yếu trong Biển Đông Cùng với diện tích đất liền trên 330 nghìn km2, hệ thống sông ngòi dày đặc với nhiều cửa sông, eo vịnh, đầm phá, đặc điểm 8 vùng sinh thái khác nhau
Đến nay, trong vùng biển Việt Nam đã phát hiện khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú Trong đó, có khoảng 6.000 loài động vật đáy; trên 2.030 loài cá, trong đó, trên 130 loài cá
có giá trị kinh tế; 657 loài động vật phù du; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 12 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước
Tổng trữ lượng hải sản ở biển Việt Nam ước tính khoảng 5.075.143 tấn, trong đó, trữ lượng cá nổi nhỏ khoảng 2.744.850 tấn (chiếm 54,08 % tổng trữ lượng); trữ lượng cá đáy khoảng 1.174.261 tấn (chiếm 23,14 % tổng trữ lượng) và trữ lượng cá nổi đại dương khoảng 1.156.000 tấn (chiếm 22,78 % tổng trữ lượng)
Sản lượng khai thác bền vững khoảng 1,8 - 2,3 triệu tấn, trong đó, cá đáy chiếm khoảng 27,34 %; cá nổi nhỏ chiếm khoảng 51,13 % và cá nổi đại dương chiếm khoảng 21,53 % tổng trữ lượng có thể khai thác, khoảng 0,058 triệu tấn tôm biển và 0,123 triệu tấn mực Ngoài ra, trữ lượng nguồn lợi cá rạn san hô, vùng dốc thềm lục địa, vùng biển sâu
>150m và nguồn lợi nhuyễn thể hai mảnh vỏ vùng triều đang được điều tra đánh giá Trong vùng biển nước ta có 13 bãi cá lớn phân bố rộng khắp và các bãi tôm quan trọng ở vùng biển gần bờ thuộc vịnh Bắc Bộ và biển Tây Nam Bộ
Các hệ sinh thái có năng suất sinh học cao thường phân bố tập trung ở vùng bờ và quyết định hầu như năng suất sơ cấp của toàn vùng biển và đại dương như: Rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, vùng triều cửa sông, đầm phá và vùng nước trồi… Các hệ sinh thái biển - ven biển còn có tiềm năng bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn giống hải sản
tự nhiên cho nghề khai thác và nuôi trồng hải sản trên biển
Nghề khai thác hải sản của Việt Nam từ trước những năm 80 của thế kỷ trước vẫn là nghề khai thác thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở vùng gần bờ Năm 1985, cả nước có 29.203 tàu thuyền máy với tổng công suất là 456.796 CV, bình quân 19 CV/chiếc; gần 30.000 tàu thuyền thủ công
Tuy nhiên, từ năm 1991 tới nay, số lượng tàu thuyền máy tăng nhanh, số thuyền thủ công giảm dần Số tàu thuyền có công suất trên 90CV tăng khá nhanh, nhất là từ sau năm
1997, khi có chủ trương phát triển khai thác xa bờ và ổn định khai thác vùng ven bờ, thời điểm bắt đầu triển khai chương trình vay vốn tín dụng đầu tư đóng tàu đánh bắt xa bờ, tỷ trọng tàu thuyền công suất lớn trên 90 CV tăng đáng kể Đến năm 2001, cả nước có khoảng trên 6.000 tàu khai thác xa bờ, trong đó có 1.302 chiếc hình thành từ nguồn vốn vay tín dụng ưu đãi, 2.018 chiếc từ nguồn vốn khắc phục cơn bão số 5/1997 và 2.767 chiếc là vốn
tự có của dân Đến năm cuối năm 2010, cả nước đã có khoảng 24.000 tàu công suất trên 90
CV (chiếm 18% tổng số tàu thuyền khai thác thủy sản của năm 2010 so với 1,4 % năm 1997);
Tính đến hết năm 2015, cả nước có gần 113.000 tàu cá các loại, trong đó loại tàu cá lắp máy <20 CV là 44 ngàn chiếc (41,88%), lắp máy từ 20-<50 CV có 30,5 ngàn chiếc (26,07%), từ 50 -<90 CV có 9,5 ngàn chiếc (8,12%) và lắp máy từ 90 CV có khoảng 31.500 tàu chiếm khoảng 24%, tăng 53,23% so với năm 2009 Tổng công suất máy tàu đạt trên 10 triệu CV, công suất bình quân gần 100 CV/tàu
Về cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản, năm 2014 không có nhiều biến động so với các năm trước, tập trung vào 5 nhóm nghề: Lưới kéo đáy khoảng 24% (đơn, đôi) Tuy
Trang 3nhiên, nếu tính lưới kéo trong nhóm tàu khai thác xa bờ lại chiếm tỷ lệ cao khoảng trên 40% tổng số tàu; nghề lưới rê chiếm 35% (rê tầng mặt, tầng đáy); câu, chiếm 18% (câu vàng, câu tay); vây, chiếm 6% và nhóm nghề khác, chiếm 17% (mành, vó, chụp )
Trong năm 2015, tàu thuyền được đóng mới đã có những bước cải tiến, hoàn thiện về mặt chất lượng cũng như độ an toàn của con tàu Nhiều tàu đóng mới trang bị công suất trên 1.000 CV như tàu lưới kéo của các tỉnh Kiên Giang, Bến Tre, Bà Rịa Vũng Tàu, tàu làm nghề câu mực của thành phố Đà Nẵng cũng đã trang bị máy có công suất 1000 CV Nhiều tàu xa bờ đóng mới, cải hoán hoặc sửa chữa đã sử dụng vật liệu composite bọc xung quanh tàu nâng độ cứng vững, kín nước đảm bảo an toàn khi tàu hoạt động trên biển
Trong khi đó, công tác bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch trong khai thác thủy sản ngày càng được quan tâm, nhiều tàu đã trang bị hầm bảo quản sản phẩm bằng công nghệ xốp thổi (Polyurethan) thay cho xốp ghép truyền thống Do giữ lạnh tốt, mức độ tiêu hao nước đá giảm, chất lượng và thời gian lưu giữ sản phẩm trên tàu tăng lên đáng kể (khoảng 30%), dẫn đến hiệu quả chuyến biển cũng tăng lên nhiều Ngoài ra, với công nghệ này vỏ tàu cũng cứng vững hơn khả năng an toàn cũng cao hơn Cá biệt bước đầu một số tàu thu mua dịch vụ thủy sản trên biển đã áp dụng phương pháp bảo quản cấp đông (đông sâu đến âm – 60oC) bảo quản sản phẩm có chất lượng rất tốt, giữ trong thời gian dài đến trên 01 năm chất lượng sản phẩm vẫn không thay đổi Việc sử dụng máy móc, thiết bị để tìm cá, cơ giới hóa các khâu sản xuất cũng đã được thực hiện nâng cao được năng suất, giảm số lao động trực tiếp trên tàu
Ngoài ra, sự hiện diện dân sự của tàu thuyền và ngư dân trên các vùng biển đã góp phần giữ vững chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo của Tổ quốc Nhiều tàu khai thác xa bờ còn tham gia khai thác hải sản tại vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa và vùng DK1 để khẳng định chủ quyền thực sự của Việt Nam tại các vùng biển này Nhiều tàu khai thác xa bờ của
Việt Nam còn tập trung khai thác ở những vùng “nhạy cảm” tạo ra một thế trận quốc phòng
toàn dân trên biển, tham gia ngăn chặn nhiều hoạt động trái phép của các thế lực nước ngoài thăm dò tài nguyên thiên nhiên trong thềm lục địa Việt Nam
Hệ thống hậu cần, dịch vụ hậu cần nghề cá đang ngày càng hoàn thiện: các cảng cá, bến cá, khu neo đậu, tránh trú bão cho tàu cá và các Trung tâm dịch vụ nghề cá tại tuyến khơi xa, tuyến đảo, tuyến ven bờ đang được xây dựng Thực hiện chủ trương “tổ chức lại sản xuất” của ngành, nhiều mô hình tổ, đội, hợp tác sản xuất đạt hiệu quả cao đã xuất hiện nhằm tổ chức dịch vụ hậu cần trên biển, hỗ trợ nhau trong hoạt động sản xuất và tìm kiếm cứu nạn khi gặp rủi ro
Công tác quản lý hoạt động khai thác thủy sản được chú trọng, bao gồm các hoạt động quản lý phương tiện, quản lý nghề nghiệp, quản lý lao động và công tác tuần tra kiểm soát, giám sát hoạt động khai thác thủy sản để ngư dân thực hiện đúng các qui định của pháp luật khi sản xuất trên biển
Công tác Bảo vệ nguồn lợi thủy sản ngày càng được quan tâm Hệ thống các khu bảo tồn biển đang từng bước được hình thành và phát triển Năm 2010, Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn biển bao gồm 15 khu chạy dài từ Bắc vào Nam Trong
đó có các khu bảo tồn biển Côn Đảo, Cù Lao Tràm, Phú Quốc đã được triển khai và đi vào hoạt động có hiệu quả Ngoài ra, Chính phủ cũng đã phê duyệt quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa
Năm 2015, tổng sản lượng khai thác hải sản đạt trên 2,4 triệu tấn, trong đó, sản lượng khai thác xa bờ chiếm trên 50% Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản đạt
Trang 4trên 7 tỷ USD có khoảng 2,4 tỷ USD từ xuất khẩu các sản phẩm từ khai thác tự nhiên Các đối tượng xuất khẩu chính là cá ngừ đại dương, mực, bạch tuộc và nhiễn thể hai mảnh vỏ Với những kết quả đạt được trên, đời sống của cộng đồng ngư dân đã có những thay đổi đáng kể, thu nhập của người lao động tăng, điều kiện lao động được, vật chất, tinh thần được cải thiện Tuy nhiên, nhìn chung đời sống của đa số bà con ngư dân vẫn chưa theo kịp với tốc độ phát triển chung của xã hội Nhiều hộ, nhiều vùng quê ven biển điều kiện sinh hoạt, đời sống người dân vẫn còn rất khó khăn
Trong thế kỷ trước, nghề khai thác hải sản vẫn là nghề thủ công lạc hậu, khai thác chủ yếu tại các vùng biển ven bờ, năng suất lao động thấp, sản lượng khai thác cả nước chỉ đạt dưới một triệu tấn Kể từ khi có Quyết định 393 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ về
hỗ trợ vốn tín dụng theo kế hoạch đầu tư của Nhà nước cho đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt
và dịch vụ đánh bắt hải sản xa bờ, thì tính đến năm 2003, với hơn 1.340 tỷ đồng vốn tín dụng, ngư dân đã đóng được 1.368 tàu Rõ ràng, nguồn vốn đầu tư của Nhà nước đã tạo một
cú huých mạnh, để hằng năm, ngư dân đã đầu tư khoảng từ 1.500 đến 2.000 tàu Đến cuối năm 2015, cả nước đã có khoảng 103.000 tàu, trong đó có 31.500 tàu khai thác, dịch vụ khai thác hải sản xa bờ, sản lượng khai thác khoảng 2,6 triệu tấn, giá trị hàng hóa do ngư dân tạo
ra khoảng trên 50 ngàn tỷ đồng Khoảng từ 35 - 40% sản lượng khai thác được đưa vào xuất khẩu đạt kim ngạch khoảng trên 2,4 tỷ USD, trong đó phần chế biến, giá trị gia tăng khoảng trên 60%
Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng và những đóng góp đáng kể, thì quá trình triển khai Quyết định 393 trong thực tế cũng đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển ổn định bền vững của ngành như: đầu tư, sản xuất tự phát, thiếu sự liên kết để tạo ra những ngành hàng có giá trị kinh tế cao, chi phối được thị trường; Việc đầu tư lớn vào trang bị tàu thuyền khai thác chưa đi đôi với sự thay đổi đáng kể về công nghệ khai thác và bảo quản sản phẩm, gia tăng năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc, nghỉ ngơi của ngư dân đã khiến cho hiệu quả đánh bắt chưa cao Tổn thất sau thu hoạch trong khai thác hải sản vẫn ở mức cao trên 20%, cá biệt có sản phẩm đến gần 50% nhất là khai thác hải sản xa
bờ Chúng ta cũng chưa có cơ cấu hợp lý trong quy hoạch vùng đánh bắt khiến cho sản lượng khai thác chủ yếu ở trong vùng đặc quyền kinh tế, nhiều loài, nhiều vùng biển đã đạt hoặc vượt ngưỡng khai thác bền vững Sản phẩm hải sản mới chỉ khai thác ở giá trị vật chất,
mà chưa chú trọng đến giá trị thương hiệu, giá trị văn hóa…
Hiện nay, Chính phủ đang triển khai Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển Thủy sản, và Nghị định 89/2015/ ngày 7/10/2015
về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 67/2015/NĐ-CP với mục tiêu chính là hiện đại hóa ngành khai thác thủy sản tại các vùng biển xa bờ Sản phẩm thủy sản khai thác được
từ các đội tàu được hình thành từ các chính sách của Nghị định 67/2015/NĐ-CP chủ yếu được đưa vào các nhà máy chế biến phục vụ xuất khẩu Để đạt được thành công các mục tiêu của Nghị định, cần thiết phải thay đổi cách tiếp cận đầu tiên, đó là phải làm thay đổi nhận thức cho ngư dân, bắt đầu từ trả lời các câu hỏi như “đánh bắt ở đâu, đánh bắt như thế nào” sang việc trả lời câu hỏi “bán cho ai, yêu cầu như thế nào” hay chính là phải chuyển nhận thức từ “sản xuất định hướng” sang “thị trường định hướng” Có thể nói, việc chuyển đổi nhận thức trên là một bước chuyển biến lớn, chuyển từ nghề cá nhân dân sang nghề cá thị trường, trong đó, vai trò của chuỗi giá trị sẽ quyết định sự thành công trong công cuộc phát triển lĩnh vực khai thác thủy sản
1.2 Thuận lợi và khó khăn
Trang 5a) Thuận lợi
- Thủy sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp phát triển đất nước Ngư trường khai thác thủy sản còn mang giá trị địa chiến lược quan trọng trong việc phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền đất nước Luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các cấp chính quyền trong mọi hoạt động phát triển kinh tế ngành thủy sản;
- Điều kiện tự nhiên thuận lợi, tiềm năng nguồn lợi thủy sản đa dạng phong phú là cơ
sở tốt cho phát triển các nghề khai thác thủy sản;
- Do dân số gia tăng, kinh tế phát triển nên thị trường thủy sản trong nước và thế giới tiếp tục mở rộng, sản phẩm thủy sản ngày càng chiếm lĩnh thị trường thực phẩm Mặc dù bị ảnh hưởng do suy giảm kinh tế thế giới, nhưng thực phẩm thủy sản vẫn được ưa chuộng, đặc biệt ở các nước công nghiệp phát triển; giá cả thủy sản luôn ổn định ở mức cao;
- Công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, đặc biệt là công nghệ sinh học phát triển nhanh và mạnh, đã và đang tạo cơ hội cho việc áp dụng vào hoạt động nghiên cứu và sản xuất thủy sản bảo quản, vận chuyển, chế biến và giảm tổn thất sau thu hoạch kéo dài thời gian chuyến biển, nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác thủy sản;
- Sản phẩm thủy sản khai thác ngoài tự nhiên của nước ta nhìn chung đã đáp ứng được các yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh và an toàn thực phẩm của các nước trong khu vực và trên thế giới;
- Nguồn nhân lực dồi dào, có kinh nghiệm thuận lợi cho phát triển ngành thủy sản Với đặc thù nghề cá nhân dân, phát triển thủy sản được triển khai rộng khắp từ những vùng biên cương đến các hải đảo xa xôi và bao quát cả vùng biển đặc quyền kinh tế trên biển, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự an ninh và chủ quyền biển đảo của Tổ quốc;
- Việt Nam đã ra nhập WTO, tham gia các hiệp định thương mại song phương FTA, Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP đây là cơ hội lớn để mở rộng thị trường
và cạnh tranh bình đẳng với các nước xuất khẩu cùng các mặt hàng thủy sản
b) Khó khăn
- Cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý; một số nghề khai thác thủy sản xâm hại đến nguồn lợi nghiêm trọng như nghề lưới kéo, te, xiệp điện , số lượng tàu tập trung quá nhiều vùng biển ven bờ Khai thác xa bờ mới phát triển ở vùng biển quốc gia, nhưng hoạt động này còn gặp nhiều rủi ro do chính sách và mô hình tổ chức thiếu đồng bộ, do thiếu hiểu biết và dự báo về nguồn lợi xa bờ, chưa chuẩn bị điều kiện để vươn ra vùng biển quốc tế;
- Sử dụng tiềm năng nguồn lợi chưa hiệu quả, thiếu bền vững do khai thác và phát triển năng lực khai thác tự phát, thiếu hoặc không tuân thủ quy hoạch, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích, thậm chí trong một khu vực địa lý nhỏ; còn ưu tiên khai thác tài nguyên ở dạng vật chất, các giá trị chức năng phi vật chất ít được chú trọng Đánh bắt thuỷ hải sản bằng các phương pháp huỷ diệt và phá huỷ các nơi cư trú tự nhiên quan trọng ở vùng biển
và ven bờ (như các rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn) không những không giảm
mà còn có chiều hướng gia tăng;
- Môi trường bị biến đổi theo chiều hướng xấu: Ngày càng nhiều chất thải không qua
xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển đổ ra biển, Các hệ sinh thái biển quan trọng bị suy thoái dẫn đến môi trường sống của các loài thủy sinh ở một số khu vực bị xâm hại, chất lượng có xu hướng ngày càng suy giảm;
Trang 6- Ngoài ra, nước ta là một trong năm nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển, trước hết là vùng ven biển và các đảo nhỏ Đến nay, chưa có giải pháp lồng ghép và mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển;
- Đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy hải sản giảm sút: Đã có khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 75 loại đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam Hiệu suất khai thác thủy sản giảm 0,92 tấn (1990) xuống 0,22 tấn/Cv/năm (2015);
- Sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu vấp phải những đòi hỏi khắt khe và các rào cản thương mại của cơ chế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hoá, đòi hỏi hàng hoá thủy sản phải đáp ứng được các điều kiện và có tính cạnh tranh cao Trong khi thị trường thuỷ sản nội địa chưa được chú ý đúng mức, chênh lệch giữa trình độ chế biến cho xuất khẩu và tiêu thụ nội địa còn quá lớn Khai thác hải sản mang tính tự phát, không sản xuất theo nhu cầu thị trường, liên kết trong các khâu sản xuất cũng như liên kết toàn chuỗi thiếu chặt chẽ;
- Khi mặt bằng đời sống xã hội được nâng cao, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, tạo nhiều cơ hội việc làm tốt hơn cho lao động nông thôn thì việc thu hút lao động tham gia phát triển thủy sản, đặc biệt là nghề khai thác thủy sản sẽ gặp nhiều khó khăn, vì đây là nghề
có thu nhập thấp, nặng nhọc, nguy hiểm và rủi ro cao;
- Sự chồng chéo, mâu thuẫn trong việc sử dụng tài nguyên, phát triển các ngành kinh
tế như nông nghiệp, du lịch, công nghiệp và thủy sản, đặc biệt là ở các vùng ven biển ngày càng trở nên gay gắt, phức tạp và khó giải quyết Người dân hoạt động trong ngành thủy sản
có trình độ dân trí thấp, gây khó khăn trong việc áp dụng các công nghệ mới, tiên tiến;
- Hệ thống luật pháp, chính sách về biển, đảo còn thiếu đồng bộ, hiệu lực thi hành yếu, tổ chức triển khai thiếu phối hợp liên ngành, công tác tổ chức hỗ trợ pháp lý cho người dân còn ít được chú ý và lúng túng…;
- Đời sống của dân cư nghề cá vẫn còn nghèo, gặp không ít khó khăn và nhiều rủi ro, mức độ an sinh thấp Sự tham gia của cộng đồng vào tiến trình quản lý còn rất thụ động, chưa làm rõ vấn đề sở hữu Bão và áp thấp nhiệt đới xuất hiện hằng năm ở tầng suất cao, trong khi việc quản lý phương tiện và người khai thác trên biển, xây dựng và vận hành hệ thống thông tin tổ chức sản xuất gắn liền với thông báo về thiên tai và tổ chức phòng, tránh, cứu hộ, cứu nạn… còn nhiều hạn chế;
- Việc quản lý tài nguyên, nguồn lợi thủy sản vẫn còn theo tiếp cận chuyên ngành mà chưa hoàn toàn theo tiếp cận hệ thống, tổng hợp, liên ngành, quản lý dựa vào hệ sinh thái và đồng quản lý;
- Tổn thất sau thu hoạch trong khai thác hải sản ở mức rất cao; theo khảo sát bước đầu của Viện nNhiên cứu Hải sản, ước tính mỗi năm Việt Nam phải chịu tổn thấ tsau thu hoạch từ 20 - 30%, chủ yếu về chất lượng; trong đó nghề lưới kéo có tỷ lệ tổn thất cao nhất (từ 35% - 48%); các nghề khác tổn thất thấp hơn, lưới vây (17,7%), lưới rê (22,8% ) và câu vàng (23,0%)…
2 Các bước tiến hành nghiên cứu chuỗi giá trị cụ thể
2.1 Xác định các chuỗi giá trị thủy sản
Với loại hình sản xuất mang tính đặc thù như khai thác sản phẩm hải sản, lời giải cho việc nâng cao giá trị đầu ra lại nằm ở chính việc nhân rộng hình thức quản lý, hoạt động sản xuất theo chuỗi giá trị từ khai thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ Tuy nhiên, cần chú trọng xác
Trang 7lập việc gắn kết các tác nhân dọc chuỗi đi cùng với sự cam kết và ràng buộc rõ ràng Chỉ khi hài hòa lợi ích của các bên tham gia chuỗi thì mới tạo nên chất kết dính, cũng như sự bền vững cho hoạt động của chuỗi Mỗi tác nhân cần có các liên kết ngang bảo đảm để các yếu
tố đầu vào được cung ứng tốt nhất, tính cạnh tranh cao, giảm giá thành sản xuất trong mắt xích của mình
Trong chuỗi giá trị nói chung, mắt xích các yếu tố đầu vào là một khâu quan trọng trong chuỗi như các nhà cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu trong trồng trọt vì đây là các yếu tố quyết định để tạo thành sản phẩm Do đặc thù trong khai thác thủy sản, các yếu tố đầu vào là tàu thuyền, nhiên liệu, vật tư, nguyên liệu bảo quản chỉ quyết định đến chất lượng, giá thành của sản phẩm nên không được coi là một mắt xích của sản xuất mà chỉ được coi là các tác nhân trong cùng một khâu sản xuất Một chủ thể có thể quản lý một hay nhiều tác nhân để tạo ra được sản phẩm thủy sản khai thác Sự gắn kết các chủ thể với nhau
để tạo lên sản phẩm cuối cùng được gọi là liên kết ngang trong mắt xích của chuỗi Một đặc thù khác trong chuỗi giá trị thủy sản là tùy theo quy mô sản xuất mà một chủ thể có thể quản
lý một hoặc nhiều khâu trong quá trình sản xuất
Nếu xem xét trong liên kết dọc, chúng ta coi mỗi chủ thể là một mắt xích sản xuất thì trong chuỗi giá trị thủy sản, tuy vào quy mô của sản xuất nhiều khâu sản xuất được ẩn vào một mắt xích, từ đó hình thành lên các chuỗi giá trị khác nhau Việc xác định được rõ các chuỗi giá trị thủy sản, đi kèm với đó là xác định rõ vai trò then chốt quyết định sự vận hành, phân bổ thu nhập của toàn chuỗi là nhân tố quyết định việc quản lý, chỉ đạo vận hành thành công của chuỗi Hiện nay, về cơ bản có ba chuỗi sản suất thủy sản với những đặc thù riêng:
Thứ nhất là chuỗi giá trị gia đình khi những người lao động chính là những người trực tiếp đi biển, phụ nữ, người già thường là người đem sản phẩm cung cấp trực tiếp đến tay người tiêu dùng Sản phẩm tiêu thụ không hết được chế biến thành các sản phẩm phụ như chế biến mắm, khô… để sử dụng hoặc bán khi có điều kiện Chuỗi này thường ở các làng chài ven biển, do tàu thuyền nhỏ hoạt động ven bờ quy mô sản xuất nhỏ, khai thác trong ngày Trong chuỗi giá trị này các liên kết ngang hầu như không xuất hiện, Tàu thuyền thường do ngư dân tự đóng hoặc thuê thợ cùng đóng, ngư lưới cụ do vợ con họ tự làm, thời gian đi biển thường sang đi chiều về phù hợp với thời gian phiên chợ chiều, hoặc tối đi sáng
về phù hợp với phiên chợ sáng, sản lượng thấp, để tiết kiệm chi phí vợ con họ chính là những người phân phối sản phẩm khai thác được
Thứ hai là các chuỗi giá trị do nậu vựa chi phối Thường các nậu vựa thu gom sản phẩm từ các bến cá, cảng cá vận chuyển đến các chợ đầu mối cung cấp cho những người bán lẻ, một số sản phẩm được chuyển đến nhà máy Đối tượng chính cung cấp sản phẩm cho chuỗi này chính là các chủ tàu hoạt động chủ yếu ở vùng lộng, thời gian đi biển ngắn
Thứ ba là chuỗi giá trị do nhà máy chế biến chi phối, do nhà sản xuất trực tiếp thu mua hoặc thông qua người đại diện, các đại lý Đối tượng chính là sản phẩm của các tàu khai thác xa bờ, với số lượng sản phẩm lớn theo các yêu cầu nhất định Sản phẩm đầu ra chất lượng ổn định chế biến theo các quy trình cụ thể, được quản lý, vận hành theo các tiêu chí, tiêu chuẩn của doanh nghiệp, của Nhà nước hoặc của các tổ chức quốc tế đã được thị trường chấp thuận
Dù là theo hình thức chuỗi nào đi nữa thì sản phẩm thủy sản vẫn phải tuân theo những nguyên tắc thị trường nếu muốn đẩy mạnh số lượng và giá trị tiêu thụ, trong đó yếu
tố tạo dựng niềm tin, đáp ứng các tiêu chí về chất lượng sản phẩm là tối quan trọng
2.2 Các liên kết trong chuỗi giá trị
Trang 8Chuỗi giá trị trong sản phẩm thủy sản nói chung và hai chuỗi giá trị sản phẩm của cá ngừ và cá cơm trong nghiên cứu ở trên đều có hai dạng liên kết là liên kết ngang và liên kết dọc
- Tổ/nhóm có thể đảm bảo được chất lượng và số lượng cho khách hàng
- Tổ/nhóm có thể ký hợp đồng đầu ra, sản xuất quy mô lớn;
- Tổ/nhóm phát triển sản xuất, kinh doanh một cách bền vững
Điều quan trọng khi thúc đẩy liên kết ngang trong chuỗi giá trị thủy sản: Thành lập
và hoạt động tổ hợp tác phải xuất phát từ nhu cầu của người dân và tham gia vào tổ hợp tác phải mang lại hiệu quả cụ thể cho khâu trong chuỗi, mỗi thành viên trong khâu này đều phải nhận được những lợi ích kinh tế Như thế hoạt động của tổ hợp tác mới có thể bền vững
b) Liên kết dọc
Là liên kết giữa các tác nhân trong các khâu khác nhau của chuỗi (Ví dụ: Tổ hợp tác liên kết với doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản với nậu vựa hoạc ngư dân thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm) Liên kết dọc có tác dụng:
- Giảm chi phí chuỗi;
- Có cùng tiếng nói của những người trong chuỗi;
- Hợp đồng bao tiêu sản phẩm được bảo vệ bởi luật pháp nhà nước
Trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản, giá trị gia tăng là mức đo lợi nhuận được tạo
ra trong chuỗi giá trị: [Giá trị gia tăng] = [tổng giá bán sản phẩm] – [giá trị hàng hóa trung gian] Giá trị gia tăng được tạo ra bởi tác nhân của từng khâu trong chuỗi giá trị
Việc thiếu sự liên kết dọc trong chuỗi dẫn đến việc tối ưu lợi ích cục bộ trong từng khâu của chuỗi làm ảnh hưởng đến giá trị gia tăng chung của toàn chuỗi Làm cho sản phẩm thủy sản
ở khâu cuối cùng thiếu tính cạnh tranh Nếu tác nhân ở khâu chi phối hoạt động của chuỗi
mà tối ưu hóa lợi nhuận cho mình sẽ dẫn đến sự bất mãn tại các khâu sản xuất khác dẫn đến chuỗi giá trị thủy sản hoạt động không nhịp nhàng
Để tăng tỷ lệ lợi nhuận trong chuỗi giá trị thủy sản, trách nhiệm của khâu chế biến tiêu thụ (gồm xuất khẩu và tiêu thụ nội địa) phải: tạo ra sản phẩm mới mà người tiêu dùng yêu thích và/hoặc yêu cầu; cải tiến quy trình sản xuất sản phẩm hiện có; vừa tạo sản phẩm mới vừa cải tiến quy trình sản xuất, marketing hiệu quả để đẩy mạnh việc tiêu thu thông qua việc giữ chân khách hàng truyền thống, đồng thời tìm kiếm khách hàng mới
Trong khi đó, ngư dân, người quyết định đến giá trị của khâu phải có trách nhiệm: Đầu tư công nghệ khai thác hiện đại để tăng năng xuất khai thác, giảm chi phí đầu vào, giảm giá thành, cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất (đây là yếu tố quyết định toàn bộ chất lượng của chuỗi)
2.3 Nội dung trong phân tích chuỗi giá trị thủy sản
Trang 9Phân tích chuỗi giá trị thủy sản (GTTS) là quá trình phân tích, đánh giá sản phẩm thủy sản từ nhiều cấp độ, nhiều khía cạnh để thấy được bức tranh về dòng chảy sản phẩm, dòng thông tin, dòng tiền, các tác nhân liên quan tới sản phẩm, quan hệ của các tác nhân với nhau và giá trị tăng thêm tại mỗi mắt xích Từ đó có thể khám phá và xác định một cách đầy
đủ những hạn chế và khó khăn cản trở trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, vị trí cạnh tranh của các tác nhân tham gia vào chuỗi Chính vì vậy, phân tích chuỗi giá trị thủy sản bao gồm những nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, lập bản đồ chuỗi giá trị thủy sản là xây dựng một sơ đồ có thể quan sát bằng mắt thường về hệ thống chuỗi giá trị thủy sản Các bản đồ này có nhiệm vụ định dạng các hoạt động kinh doanh (chức năng), các nhà vận hành chuỗi, dòng chảy (thông tin, tiền, sản phẩm) và những mối liên kết của họ cũng như các nhà hỗ trợ chuỗi nằm trong chuỗi giá trị này
Thứ hai, phân tích đánh giá kết quả thực hiện chuỗi giá trị thủy sản là phân tích mức
độ mà một chuỗi giá trị thủy sản đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng cuối cùng bằng các chỉ tiêu về thời gian, sản phẩm và chi phí Để đánh giá kết quả thực hiện của chuỗi giá trị thủy sản cần đánh giá được 4 lĩnh vực:
- Kết quả và hiệu quả: Là phải đánh giá toàn bộ giá trị gia tăng được sản sinh ra bởi
chuỗi GTTS và tỷ trọng của các giai đoạn khác nhau; xác định việc phân phối lợi ích của các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị thủy sản; Xác định ai có lợi ích từ sự tham gia trong chuỗi; Tác nhân nào có thể có lợi từ các hỗ trợ của các tổ chức
- Tính linh hoạt: Là tiêu chí đo lường sự thỏa mãn của khách hàng và khả năng đáp
ứng yêu cầu về số lượng, chủng loại sản phẩm cũng như sự năng động trong phân phối
- Khả năng đáp ứng: Là tiêu chí đo lường khả năng chuỗi giá trị đáp ứng những
mong đợi của khách hàng Bất kể khách hàng nào mà đang được phục vụ, chuỗi giá trị phải đáp ứng được các mong đợi của khách hàng đó
- Chất lượng sản phẩm: Chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm trong lý thuyết thường
chia thành thuộc tính chất lượng bên trong và bên ngoài Tổng hợp tất cả các yếu tố bên trong và bên ngoài xác định hành vi mua bán
Thứ ba, quản trị chuỗi giá trị thủy sản là các mối quan hệ giữa các bên tham gia và các cơ chế, thể chế thông qua đó các hoạt động điều phối phi thị trường được thực hiện
Thứ tư, cải thiện hay nâng cấp chuỗi giá trị thủy sản, khác với việc đổi mới công nghệ như trong sản xuất Việc cải thiện và nâng cấp là nhằm tạo ra lợi ích và hạn chế rào cản gia nhập thị trường đối với sản phẩm của chuỗi Các dạng nâng cấp bao gồm: nâng cấp theo quy trình; nâng cấp theo sản phẩm; nâng cấp chức năng; nâng cấp chuỗi Từ đây có thể đưa ra được giải pháp để phát triển chuỗi giá trị thủy sản
3 Một số nghiên cứu đã được thực hiện về hiện trạng, vai trò của của các bên trong chuỗi giá trị thủy sản
3.1 Chuỗi giá trị cá ngừ
Nghề khai thác cá ngừ đại dương du nhập vào Việt Nam từ năm 1994, tuy hình thành muộn, nhưng có tốc độ phát triển khá nhanh về số lượng tàu cá, sản lượng khai thác và kim ngạch xuất khẩu, mở ra hướng đi đầy triển vọng cho hoạt động khai thác xa bờ Được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ bằng các cơ chế, chính sách hỗ trợ đã tạo điều kiện cho ngư dân bám biển, ổn định sản xuất khai thác cá ngừ trên các vùng biển xa, giải quyết việc
Trang 10làm, cải thiện và nâng cao đời sống cho hàng nghìn lao động, góp phần tăng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản
a) Nguồn lợi cá ngừ
Ngư trường khai thác Cá ngừ đại dương (cá ngừ vây vàng, mắt to và ngừ vằn) chủ yếu
ở vùng lộng và vùng khơi của vùng biển miền Trung và vùng giữa biển Đông Bộ Trữ lượng ước tính khoảng hơn 600 nghìn tấn; trong đó cá ngừ vằn có trữ lượng chiếm ưu thế, ước tính chiếm hơn 50% tổng trữ lượng cá nổi lớn, khả năng khai thác cho phép khoảng hơn 200 nghìn tấn/năm; nhóm cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to có trữ lượng trung bình ước tính khoảng hơn 45 nghìn, khả năng khai thác cho phép đến khoảng 21 nghìn tấn/năm
b) Khai thác cá ngừ
Cơ cấu tàu và nghề khai thác
Đến hết năm 2013, số lượng tàu khai thác cá ngừ 3.554 chiếc; trong đó: nghề câu vàng
và câu tay có 1.759 tàu (Bình Định có 1.014 tàu, Phú Yên có 557 tàu, Khánh Hòa có 188 tàu); nghề lưới vây có 654 chiếc (Bình Định có 510 tàu, Phú Yên có 129 tàu, Khánh Hòa có
15 tàu); nghề lưới rê có 1.204 chiếc (Phú Yên có 145 tàu, Khánh Hòa có 171 tàu) Tàu khai thác cá ngừ chủ yếu là tàu vỏ gỗ có công suất máy tàu chủ yếu từ 45 CV trở lên Hầu hết đều trang bị thiết bị thu câu, thu lưới, vô tuyến điện, một số tàu lưới vây trang bị máy tầm ngư (dò cá)
Sản lượng khai thác cá ngừ
Sản lượng khai thác cá ngừ vây vàng và mắt to năm 2013 giảm so với năm 2012; do ảnh hưởng của chi phí chuyến biển cao, sản lượng đánh bắt thấp, đồng thời giá bán cá ngừ đại dương giảm mạnh nên nhiều tàu hiệu quả thấp Sản lượng khai thác cá ngừ vây vàng và mắt to năm 2013 của 3 tỉnh là Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đạt 15.942 tấn bằng 98 % so với năm 2012; trong đó: Bình Định đạt 8.500 tấn; Phú Yên đạt 4.526 tấn; Khánh Hòa đạt 2.916 tấn
c) Tình hình thu mua, tiêu thụ và xuất khẩu
Từ năm 2011 trở về trước, giá cá ngừ của các tương đối ổn định, cá ngừ câu vàng dao động từ 140.000 – 160.000 đồng/kg, có thời điểm đạt 190.000 – 200.000 đồng/kg; Tuy nhiên, từ 2012 trở lại đây, do xuất hiện nghề câu tay kết hợp với ánh sáng, chất lượng cá giảm không đạt sản phẩm làm sashimi nên giá cá câu tay chỉ còn trên dưới 100.000 đồng/kg, đồng thời kéo theo giá cá câu vàng chỉ còn trên dưới 120.000 đồng/kg Giá cá ngừ vằn và các loại cá ngừ khác tương đối ổn định, từ 25.000 – 30.000 đồng/kg tùy theo từng cỡ Những thời điểm giảm chủ yến do ảnh hưởng bởi giá giảm của các thị trường xuất khẩu
d) Mô hình chuỗi giá trị cá ngừ
Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát thực tế, mô hình chuỗi giá trị sản phẩm cá ngừ có thể thông qua mô hình lý thuyết tóm tắt như sau:
CƠ SỞ CHẾ BIẾN/XK
NHÀ NHẬP KHẨU
NGƯỜI TIÊU DÙNG
Trang 113.2 Chuỗi giá trị cá cơm
Chuỗi giá trị cá Cơm khai thác ở vùng biển Tây Nam Bộ có 3 dòng sản phẩm chính:
- Nước mắm cá Cơm truyền thống Phú Quốc;
- Cá Cơm sấy khô;
- Cá Cơm tẩm gia vị
Tuy nhiên, theo kết quả điều tra khảo sát thực tế, dòng sản phẩm cá Cơm tẩm gia vị chiếm tỷ trọng không cao (<5% tổng sản lượng khai thác cá Cơm) nên nghiên cứu tập trung chuyên sâu phân tích chuỗi giá trị hai dòng sản phẩm là cá Cơm sấy khô và nước mắm truyền thống Phú Quốc
a) Chuỗi giá trị nước mắm truyền thống Phú Quốc
Sản phẩm nước mắm cá Cơm truyền thống Phú Quốc được chia thành nhiều dòng sản phẩm khác nhau phụ thuộc vào độ đạm Dòng sản phẩm phổ biến được khách hàng ưa chuộng có độ đạm từ 35-40, cao cấp hơn là dòng sản phẩm 43 độ đạm Đặc biệt, một số nhà thùng đã sản xuất được sản phẩm có hàm lượng hitstamin thấp dưới 200, đạt tiêu chuẩn chỉ dẫn địa lý và code xuất sang một số quốc gia EU… Quy trình chế biến sản phẩm nước mắm
cá Cơm truyền thống thường mất từ 9-12 tháng ủ chượp trong thùng gỗ theo tỷ lệ 3 cá : 1 muối
Sơ đồ chuỗi giá trị nước mắm cá Cơm truyền thống Phú Quốc
KHAI
THÁC
THƯƠNG LÁI
NHÀ THÙNG
THƯƠNG MẠI
TIÊU THỤ
THƯƠNG LÁI
XUẤT KHẨU THƯƠNG
LÁI
DN CHẾ BIẾN
NỘI ĐỊA
Trang 12Đối với sản phẩm nước mắm truyền thống, sơ đồ chuỗi bao gồm các tác nhân chính như sau: (1) Khai thác cung cấp nguyên liệu đầu vào; (2) Thương lái/nậu vựa; (3) nhà thùng chế biến nước mắm; (4) hệ thống thương lái sản phẩm; (5) các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu; (6) Người tiêu dùng
b) Chuỗi giá trị cá Cơm sấy khô
Sơ đồ chuỗi giá trị cá Cơm sấy khô (2013)
Bảng 1: Giá bán, chi phí, giá trị gia tăng, chi phí tăng thêm và lợi nhuận
trong chuỗi giá trị nước mắm cá Cơm truyền thống
Khai thác
Thương lái
Nhà thùng
Doanh nghiệp chế biến
Đại lý phân phối
Người tiêu thụ Tổng Kênh 1: Khai thác - Thương lái – Nhà Thùng – Doanh nghiệp - Tiêu thụ nội địa
THƯƠNG
BIẾN
TIÊU THỤ NỘI ĐỊA 10-20%