Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1_
ĐẶNG QUỐC VIỆT
BIÖN PH¸P QU¶N Lý HO¹T §éNG GI¸O DôC H¦íNG NGHIÖP CHO HäC SINH ë C¸C TR¦êNG TRUNG HäC PHæ TH¤NG HUYÖN H¶I Hµ, TØNH QU¶NG NINH
THEO §ÞNH H¦íNG §æI MíI GI¸O DôC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH VĂN CƯỜNG
HÀ NỘI - 2016
Trang 2Đặc biệt, người hướng dẫn khoa học trực tiếp TS Trịnh Văn Cường
đã hết lòng chỉ bảo, định hướng, giúp đỡ và động viên tác giả thực hiện luận văn một cách hiệu quả
Các đồng chí lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh; Các đồng chí lãnh đạo, giáo viên, nhân viên, phụ huynh học sinh
và học sinh của 3 trường THPT huyện Hải Hà đã động viên, hỗ trợ tác giả nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Các bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện, cung cấp và chia sẻ những tư liệu cần thiết trong quá trình tác giả nghiên cứu
Mặc dù đã rất nỗ lực, cố gắng, song luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến chân thành của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 07 năm 2016
Tác giả luận văn
Đặng Quốc Việt
Trang 3Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp Quản lý giáo dục
Học sinh Giáo viên Giáo viên chủ nhiệm Giáo dục hướng nghiệp Công nghệ thông tin Trung cấp chuyên nghiệp - dạy nghề Nghề phổ thông
Ủy ban nhân dân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục 9
1.2.2 Nghề nghiệp 12
1.2.3 Hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp 13
1.2.4 Phân luồng học sinh 14
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp 14
1.2.6 Quản lý hoạt động GDHN theo định hướng đổi mới 15
1.3 Định hướng đổi mới giáo dục 16
1.3.1 Quan điểm của Đảng về đổi mới giáo dục 16
1.3.2 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông 17
1.3.3 Định hướng đổi mới giáo dục hướng nghiệp 19
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh trong việc lựa chọn nghề 20
Trang 51.5 Giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT theo định hướng đổi mới 22
1.5.1 Mục tiêu giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT 22
1.5.2 Nội dung giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT 24
1.5.3 Phương pháp, hình thức GDHN cho HS THPT 26
1.5.4 Lực lượng tham gia GDHN cho HS ở trường THPT 27
1.5.5 Các điều kiện đảm bảo cho công tác GDHN cho HS THPT 28
1.5.6 Đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp và phân luồng HS ở các trường THPT 29
1.6 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường THPT theo định hướng đổi mới giáo dục 31
1.6.1 Lập kế hoạch giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 31
1.6.2 Tổ chức thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 32
1.6.3 Chỉ đạo thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 34
1.6.4 Kiểm tra đánh giá công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 35
1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường THPT theo định hướng đổi mới giáo dục 39
1.7.1 Điều kiện kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp 39
1.7.2 Trình độ nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp 40
1.7.3 Gia đình học sinh ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp 42
Kết luận chương 1 43
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 44
2.1 Sơ lược về khảo sát thực trạng 44
2.1.1 Mục đích khảo sát 44
2.1.2 Nội dung khảo sát 44
2.1.3 Đối tượng kháo sát 44
2.1.4 Phương pháp khảo sát 45
2.1.5 Phương pháp xử lý số liệu 45
2.2 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục đào tạo huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 45
2.2.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội của huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 45
2.2.2 Tình hình giáo dục - đào tạo huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 48
Trang 62.3 Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT
huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục 54
2.3.1 Thực trạng về nhận thức của cán bộ, giáo viên, phụ huynh học sinh và học sinh về mục tiêu giáo dục hướng nghiệp 54
2.3.2 Thực trạng việc thực hiện nội dung giáo dục hướng nghiệp theo định hướng đổi mới giáo dục 57
2.3.3 Thực trạng sử dụng các phương pháp, hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 59
2.3.4 Thực trạng các lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 60
2.3.5 Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 60
2.3.6 Thực trạng kết quả giáo dục hướng nghiệp và phân luồng HS ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 63
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường THPT theo định hướng đổi mới giáo dục 65
2.4.1 Thực trạng lập kế hoạch giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 65
2.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 67
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 69
2.4.4 Thực trạng kiểm tra đánh giá giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 70
2.5 Đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục 72
2.5.1 Những thành tựu đạt được 72
2.5.2 Những tồn tại hạn chế, nguyên nhân 73
Kết luận chương 2 76
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 77
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 77
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo cần thiết và khả thi 77
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp 77
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 77
Trang 73.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định
hướng đổi mới giáo dục 78
3.2.1 Biện pháp 1: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS theo định hướng đổi mới giáo dục 78
3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về kiến thức, kỹ năng hướng nghiệp cho HS theo định hướng đổi mới giáo dục 82
3.2.3 Biện pháp 3: Chỉ đạo đổi mới phương pháp và hình thức GDHN theo định hướng đổi mới GD 84
3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức kinh tế, xã hội làm công tác GDHN cho HS theo định hướng đổi mới giáo dục 91
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường nguồn tài chính và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác hướng nghiệp theo định hướng đổi mới giáo dục 92
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 94
3.4 Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 96
3.4.1 Mục đích khảo sát 96
3.4.2 Đối tượng khảo sát 96
3.4.3 Qui trình khảo sát 96
Kết luận chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103
1 Kết luận 103
2 Khuyến nghị 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng đánh giá nhận thức của học sinh về mục tiêu GDHN 54 Bảng 2.2: Mức độ hiểu biết về giáo dục hướng nghiệp ở phụ huynh 56 Bảng 2.3: Kết quả khảo sát HS về thực trạng thực hiện nội dung GDHN 58 Bảng 2.4: Khảo sát sử dụng các phương pháp, hình thức GDHN 59 Bảng 2.5 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ giáo dục hướng nghiệp ở
các trường THPT Hải Hà 61 Bảng 2.6: Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn thi ĐH-CĐ của học sinh 63 Bảng 2.7: Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn học nghề của học sinh 64 Bảng 2.8: Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động GDHN theo định
hướng đổi mới giáo dục 65 Bảng 2.9: Thực trạng tổ chức thực hiện GDHN cho HS ở các trường
THPT huyện Hải Hà 68 Bảng 2.10: Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện GDHN cho HS 69 Bảng 2.11: Thực trạng kiểm tra, đánh giá HĐGDHN trong các trường
THPT huyện Hải Hà theo định hướng đổi mới giáo dục 70 Bảng 3.1: Sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt
động GDHN cho HS ở các trường THPT Hải Hà theo định hướng đổi mới GD 97
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Các hướng phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THPT 31
Sơ đồ 1.2: Nội dung chức năng lập kế hoạch trong HĐ GDHN 32
Sơ đồ 1.3: Các bước tiến hành chức năng tổ chức GDHN 34
Sơ đồ 1.4: Nội dung chức năng chỉ đạo trong HĐ GDHN 35
Sơ đồ 1.5: Các bước tiến hành chức năng kiểm tra, đánh giá GDHN 39
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ mức độ quan tâm của giáo viên về công tác GDHN 56
Biểu đồ 2.2: Thống kê ý kiến giáo viên và học sinh về nơi có thể tìm thấy tài liệu hoạt động GDHN 62
Sơ đồ 3.1: Cách tìm hiểu nghề phù hợp 80
Sơ đồ 3.2: Quản lý việc tăng cường CSVC phục vụ GDHN 93
Biểu đồ 3.1: Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp ứng dụng CNTT vào quản lý dạy học 99
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Tiếp nối những thành tựu mà giáo dục nước nhà đã đạt được trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã không ngừng đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo Tuy nhiên, với việc phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ, đời sống kinh
tế xã hội ngày càng thay đổi, ngành giáo dục và đào tạo của chúng ta đang đương đầu với nhiều thách thức và bộc lộ nhiều hạn chế Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục hướng nghiệp nói chung và giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT nói riêng
Xác định rõ vai trò quan trọng của công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, ngay sau khi đất nước đi vào ổn định, ngày 19 tháng 3 năm 1981 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định Quyết định 126-CP về công tác Hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp trung học cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường Bộ GD
và ĐT đã ban hành Thông tư 31-TT ngày 17 tháng 11 năm 1981 của Bộ giáo dục và đào tạo Hướng dẫn thực hiện QĐ 126 - CP Luật Giáo dục 2005 có đề
cập “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết
quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định
Trang 11mục tiêu “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất,
hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng”
Giáo dục hướng nghiệp ngày càng trở thành nhu cầu không thể thiếu của mỗi học sinh phổ thông Tuy nhiên, công tác giáo dục hướng nghiệp hiện nay chưa được quan tâm một cách đúng mức từ phía xã hội, nhà trường và gia đình Việc thiếu thông tin về ngành, nghề dẫn đến nhiều học sinh lúng túng trong việc chọn trường, chọn ngành học để đăng ký dự thi vào cao đẳng, đại học (ĐH - CĐ) Học sinh chọn nghề sau tốt nghiệp THPT theo trào lưu, không theo năng lực, nguyện vọng và điều kiện bản thân không chỉ khiến học sinh lãng phí thời gian, công sức, tiền của mà còn gây nên mất cân bằng xã
hội Hệ quả nhiều sinh viên sau một vài năm học tại giảng đường ĐH - CĐ đã
cảm thấy thất vọng trước quyết định ban đầu của mình vì không chọn ngành, nghề phù hợp
Trong những năm gần đây, GDHN cho học sinh ở các trường THPT Hải Hà đã đạt được những kết quả nhất định Nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau Một trong những nguyên nhân đó là
do công tác quản lý hoạt động GDHN cho HS chưa có sự đầu tư, quan tâm thích đáng, chưa thực sự hiệu quả
Trang 12Từ thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT nói chung, trong các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh nói riêng
còn kém hiệu quả, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải
Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục nhằm chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho địa phương và đất nước
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập Nếu đề ra được những biện pháp quản
lý phù hợp với tình hình thực tế sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về giáo dục hướng
nghiệp ở trường THPT theo định hướng đổi mới giáo dục
Trang 135.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục
6 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở 3 trường THPT (Quảng Hà, Nguyễn Du và THPT Đường Hoa Cương) huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục
- Thời gian 3 năm học trở lại đây (từ năm học 2012 - 2013 đến năm học
2015 - 2016)
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các vấn
đề lý luận trong các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài, như sách, báo tạp chí, các Văn kiện của Đảng, pháp luật của Chính phủ, các văn bản chỉ đạo của ngành Giáo dục,… nhằm xác lập cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Phương pháp này nhằm ghi chép lại việc quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Tác giả trực tiếp phỏng vấn các đối tượng bao gồm: Cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh
Trang 147.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu
Thông qua phiếu điều tra để khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh về công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh của nhà trường
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Thu thập ý kiến các chuyên gia của Lãnh đạo Sở, phòng Giáo dục trung học Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh về đánh giá thực trạng, tính hợp lý, khả thi của các biện pháp được đề xuất
7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Nhằm thu thập kinh nghiệm của cán bộ quản lý các trường THPT ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh về biện pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp
7.3 Nhóm các phương pháp xử lý số liệu thu được
Sử dụng toán thống kê, tính tỉ lệ %, tính điểm trung bình để xử lý số liệu điều tra
8 Cấu trúc của luận văn
Đề tài gồm 3 chương, ngoài ra có phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục Phần nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh ở trường THPT theo định hướng đổi mới giáo dục
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh ở các trường THPT huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh theo định hướng đổi mới giáo dục
Trang 15cả các ngành nghề sẽ giúp xã hội giải quyết được nhu cầu việc làm của con người Chính vì vậy, GDHN đã được các nước quan tâm đặc biệt, coi đó là chìa khóa để giải quyết nhu cầu việc làm của con người Đã có nhiều nhà khoa học, nhà sư phạm đã nghiên cứu về mảng đề tài GDHN để xác định đúng ý nghĩa, lợi ích của GDHN mang lại cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Karl Marx đã khẳng định việc chọn nghề là một việc rất quan
Trang 16trọng trong cuộc sống mỗi con người: “Nếu ta chọn nghề trong đó ta có thể
làm việc được nhiều hơn cho nhân loại thì ta sẽ không còng lưng dưới gánh nặng của nó, bởi vì đó là sự hi sinh cho mọi người, khi đó ta tìm thấy một niềm vui không phải là tội nghiệp, thiển cận, ích kỷ, mà hạnh phúc của chúng
ta sẽ thuộc về hàng triệu người, những việc làm của chúng ta sẽ sống một cuộc sống âm thầm nhưng mãi có hiệu quả và trên thi hài của chúng ta sẽ giữ những giọt nước mắt nóng bỏng của những con người cao quí” [28, Tr 52]
Vào những năm đầu của thế kỷ XX các nhà nước như Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Liên xô đã thành lập các nhóm công tác hướng nghiệp, thông qua câu hỏi trắc nhiệm, họ đã tư vấn cho thanh niên ở đó chọn được những nghề thích hợp với khả năng của bản thân và các nghề đang có nhu cầu tuyển dụng trong
xã hội
Năm 1849, lần đầu tiên tại Pháp, người ta xuất bản quyển sách “Hướng nghiệp chọn nghề” ngay lập tức được đông đảo độc giả đón đọc, cho ta thấy GDHN là một vấn đề không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển Cuốn sách
đã khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên, học sinh đi vào "thế giới nghề nghiệp" nhằm sử dụng lực lượng lao động trẻ có hiệu quả
Vào những năm đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XX, V.I Lenin đã yêu cầu các cơ sở giáo dục toàn Liên bang cho học sinh phổ thông làm quen với lao động, khoa học kỹ thuật tại các nhà máy, xí nghiệp Quan điểm đó của V.I Lenin đã được nhà khoa học Crupxkaia làm sáng tỏ bằng thực tiễn trong bài viết “Chọn nghề” (năm 1929) Crupxkaia đã chỉ rõ ý nghĩa quan trọng, sự cần thiết của GDHN trong việc giúp thanh niên xác định được phương hướng chọn nghề có hiệu quả, phù hợp điều kiện và năng lực bản thân
Ở Đức cũng đã có những công trình nghiên cứu về "phương thức tổ chức cho học sinh phổ thông thực tập ở nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh dịch vụ" của các tác giả Helmut Keim, Michael Schumann, Rolf Oberliesen, Các nhà nghiên cứu khoa học sư phạm ở viện hàn lâm khoa học
Trang 17giáo dục - Cộng hòa dân chủ Đức đã làm sáng tỏ về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức lao động nghề nghiệp Tuy nhiên họ lại chưa đề cập đến nội dung cơ bản của GDPT và hướng nghiệp góp phần phát triển nguồn nhân lực cho mỗi quốc gia
Như vậy, qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới tác giả nhận thấy các công trình này mới tập trung nghiên cứu về một số vấn đề giáo dục hướng nghiệp chưa chú ý nhiều vào vấn đề quản lý giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông
1.1.2 Ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, vấn đề GDHN ở trường THPT đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đề cập tới ở nhiều góc độ khác nhau như các tác giả: Trịnh Văn Cường, Phạm Tất Dong, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Văn Hộ, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Như Ất, Phạm Huy Thụ, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Nguyễn Thị Thanh Huyền Nhìn chung các công trình của các tác giả đều tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp với mục đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức tổ chức GDHN cho học sinh phổ thông
Tác giả Trịnh Văn Cường đã nghiên cứu đề tài "Thực hiện GDHN cho
học sinh trong dạy môn công nghệ ở các trường THPT", [19] góp phần giải
quyết một trong những vấn đề của thực tiễn GDHN hiện nay là tìm kiếm những biện pháp GDHN nói chung và GDHN trong dạy học môn Công nghệ nói riêng góp phần phân luồng học sinh sau THPT và chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho đất nước
Tác giả Phạm Tất Dong đã có những công trình nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp; Hứng thứ nghề nghiệp; những vấn đề về nội dung, phương pháp hướng nghiệp cho học sinh, thanh niên
Trong một nghiên cứu tác giả đã khẳng định: “Trong những người không
kiếm ra được việc làm, 85,8% là thanh niên Trong tổng số thanh niên đứng
Trang 18ngoài việc làm, 67,4% là không biết nghề” [21], đồng thời: “Tiếp sau quá
trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh đây là một nguyên tắc rất cơ bản” [21] Với hướng nghiên cứu “những vấn đề mới đặt ra trước yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp hiện nay” [24]
Tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập vấn đề “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” Trong đó tác giả xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong hướng nghiệp - dạy nghề cho học sinh phổ thông Cùng với tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền công trình “Hoạt động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT”, đã đi sâu phân tích các cơ sở lý luận của GDHN, việc tổ chức các hoạt động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong nhà trường THPT Công trình đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận nền tảng về hướng nghiệp và GDHN, xây dựng hệ thống nguyên tắc, phương pháp và hình thức giáo dục kỹ thuật trong trường THPT
Tóm lại, GDHN đã trở thành vấn đề xã hội mang tính toàn cầu sâu sắc nhưng các công trình nghiên cứu về quản lý GDHN cho HS THPT ở trong nước cũng như ở nước ngoài còn ít, chưa đi sâu nghiên cứu chi tiết từng vấn
đề, đặc biệt là nghiên cứu vấn đề đổi mới chương trình GDHN hiện nay Tuy nhiên các công trình đó rất có giá trị về mặt phương pháp luận và cơ sở lý luận giúp ích cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu này
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục
1.2.1.1 Quản lý
Từ khi con người biết hợp sức với nhau để tự vệ hoặc lao động để kiếm sống thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã xuất hiện như một yếu tố khách quan, những hoạt động tổ chức phối hợp điều khiển hoạt động của mọi người thực hiện mục tiêu chung đã định Về vấn đề này K Marx đã viết: Bất
Trang 19cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thể hiện quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lý xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động riêng rẽ của nó
Ta có thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau, quản lý lao động điều khiển lao động chung Khi lao động xã hội đạt tới một quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một chức năng riêng biệt Từ đó trong xã hội hình thành một bộ phận trực tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên quản lý và mối quan hệ giữa hai bộ phận này chính là mỗi quan hệ quản lý
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:
- Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình
xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra
Quản lý là quá trình tác động có mục đích vào một hệ thống (máy móc, xã
hội, quần chúng…) làm biến đổi hệ thống đó hoặc đưa vào hệ thống đó những
thuộc tính mới
- Quản lý là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào một hệ thống mà chủ yếu là con người nhằm đạt tới các mục tiêu kinh tế,
xã hội nhất định Theo P.Barenger (người Đức) quản lý là cai trị, đốc công
một tổ chức bằng cách đặt ra các mục tiêu và hoàn chỉnh mục tiêu, lựa chọn các phương tiện, phương pháp, con đường thực hiện mục tiêu đó
Về nội dung thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu không hẳn như nhau
Có người cho rằng quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc, qua những nỗ lực của người khác Có tác giả lại cho rằng quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức
Trang 20Từ những điểm chung trên ta có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng
có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều
hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [2, tr 31]
Qua khái niệm về giáo dục và khái niệm về quản lý ở trên, chúng ta thấy rằng hoạt động quản lý giáo dục là hoạt động mà chủ thể quản lý thực hiện các chức năng của quá trình quản lý tác động lên khách thể quản lý, đối tượng quản lý nhằm điều hành, hướng dẫn, phối hợp các lực lượng trong cơ quan hay hệ thống giáo dục do mình quản lý thực hiện đúng nguyên tắc, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước và mục tiêu của ngành giáo dục để phát triển nhân cách, tri thức cho thế hệ trẻ nói riêng và người được giáo dục nói chung Do đó, quản lý giáo dục còn được hiểu theo nghĩa rộng là quản lý tất cả các thành tố hợp thành giáo dục bao gồm: Mục tiêu giáo dục,
Trang 21nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, nguồn nhân lực, vật lực, môi trường giáo dục
Mục tiêu của quản lý giáo dục là chất lượng giáo dục của người học một cách toàn diện, với các tiêu chuẩn chính trị tư tưởng, đạo đức, văn hóa, khoa học kỹ thuật, phát triển trí tuệ, thể chất, hiểu biết và thích ứng nghề nghiệp được qui định và đảm bảo chất lượng cao
Như vậy, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động phù hợp quy luật của chủ thể một cách có mục đích, có kế hoạch, có nội dung, có phương pháp nhằm vận hành hệ thống giáo dục theo đúng đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để thực hiện các mục tiêu giáo dục đã
đề ra
1.2.2 Nghề nghiệp
Nghề nghiệp: Là thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động sản xuất nào
đó trong xã hội hoặc có thể hiểu là “công việc chuyên làm theo sự phân công
lao động của xã hội”
Theo tác giả E.A.Klimov: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức
lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có) Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”
Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (Nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn những yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân
Bất cứ nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị tri thức nghề, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại Nghề
luôn là cơ sở giúp cho con người có “nghiệp” (việc làm - sự nghiệp)…
Trang 22Tóm lại nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất định
1.2.3 Hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp
1.2.3.1 Hướng nghiệp
Theo từ điển tiếng Việt: "Hướng nghiệp là hoạt động định hướng, dẫn dắt cho cá nhân lựa chọn được một nghề nghiệp phù hợp" [35]
Tác giả Trịnh Văn Cường quan niệm: "Hướng nghiệp là các hoạt động
của nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo, nhằm hướng dẫn tìm hiểu thế giới nghề nghiệp và chọn một nghề phù hợp với nguyện vọng của bản thân để sẵn sàng bước vào lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực của địa phương và đất nước" [19]
Trên quan điểm tiếp cận hướng nghiệp dưới góc độ xã hội, tác giả Phạm
Tất Dong cho rằng: "Hướng nghiệp là một hệ thống tác động của xã hội về
giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân" [24]
Như vậy, ta có thể hiểu: Hướng nghiệp là các hoạt động của nhà trường, gia đình, xã hội mà trong đó vai trò của nhà trường là chủ đạo nhằm định hướng cho thế hệ trẻ lựa chọn được nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của bản thân, đồng thời, đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động
1.2.3.2 Giáo dục hướng nghiệp
GDHN cho HS phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ tạo ra
cơ hội cho việc tuyển chọn lao động mà còn góp phần vào việc phân luồng hợp lý HS tốt nghiệp ra trường Đặc biệt là đối với những nước nghèo, nền kinh tế chưa phát triển, mạng lưới ngành nghề chưa mở rộng và cơ cấu "thừa thầy, thiếu thợ" như nước ta hiện nay
Trang 23Theo tác giả Trịnh Văn Cường: "GDHN là quá trình tác động của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tới học sinh giúp họ định hướng được nghề nghiệp trong tương lai sao cho phù hợp với năng lực của bản thân đồng thời đáp ứng với yêu cầu khách quan của xã hội" [19]
Tóm lại GDHN trong trường phổ thông là nhằm thực hiện nhiệm vụ hình thành nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, trên cơ sở điều chỉnh động cơ hứng thú nghề nghiệp, chuẩn bị cho học sinh có ý thức chọn nghề đảm bảo năng suất và hiệu quả lao động cao mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân và xã hội Từ đó tư vấn giúp học sinh chọn nghề thích hợp
1.2.4 Phân luồng học sinh
Phân luồng trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên
cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh tốt nghiệp THCS, THPT tiếp tục học ở cấp học hoặc trình độ cao hơn, học trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu xã hội, góp phần điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước
Phân luồng học sinh là việc xác định các mục tiêu và tổ chức hệ thống giáo dục - đào tạo phù hợp với yêu cầu, cơ cấu của lực lượng lao động xã hội nhằm đáp ứng chiến lược phát triển cân đối, bền vững của mỗi quốc gia, trên
cơ sở đó định hướng cho sự phát triển giáo dục các ngành, các cấp học
Phân luồng học sinh sau mỗi cấp học giúp cho các em chủ động lựa chọn con đường tiếp tục học tập hoặc đi vào lĩnh vực nghề nghiệp nào đó phù hợp với hoàn cảnh, năng lực, hứng thú của các em và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Từ các khái niệm cơ bản về quản lý, về hướng nghiệp chúng ta nhận thấy rằng trong hoạt động quản lý hướng nghiệp nó chứa đựng bao hàm
Trang 24những nội dung của quản lý gồm: Lập kế hoạch GDHN, chỉ đạo thực hiện GDHN, tổ chức thực hiện GDHN và kiểm tra thông qua hệ thống thông tin bằng các văn bản chỉ đạo, nội dung chương trình, phương pháp tiến hành, đối tượng quản lý, cơ sở vật chất Như vậy nó đầy đủ các yếu tố cấu thành hoạt động độc lập và mang mục tiêu riêng của hoạt động đó
Từ đó, có thể hiểu: Quản lý GDHN là cách thức tiến hành của chủ thể quản lý có kế hoạch, có mục tiêu, có nội dung tác động lên khách thể quản lý nhằm hướng các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp vào hướng dẫn, chuẩn bị cho thế hệ trẻ những tri thức hiểu biết về nghề trước khi lựa chọn nghề nào đó phù hợp với năng lực, điều kiện bản thân
Mục tiêu của quản lý GDHN chính là tư vấn, giúp đỡ học sinh lựa chọn nghề phù hợp với năng lực, sở trường và điều kiện, hoàn cảnh gia đình, điều kiện xã hội để học sinh phát huy nghề Trong bối cảnh xã hội hiện nay, nạn thất nghiệp gia tăng bởi các cuộc khủng hoảng về tài chính, kinh tế Sự phân
bố không đồng đều về đào tạo nghề, trình độ nghề cũng là một trong những hướng cần điều chỉnh, do vậy cần phải có những biện pháp GDHN là hữu hiệu nhất để có thể tác động lên những bất cập, điều chỉnh sự phân công lao động trong xã hội
1.2.6 Quản lý hoạt động GDHN theo định hướng đổi mới
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng đổi mới giáo dục là quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT không dừng ở chỗ giáo dục học sinh ý thức lao động chung chung mà phải hướng các em đi vào một nghề cụ thể hoặc biết tự tạo việc làm phù hợp với khả năng và nhu cầu của xã hội có thể thích ứng việc làm trong mọi điều kiện
và cũng có thể thay đổi việc làm khi cần thiết
Do vậy, quản lý GDHN theo định hướng đổi mới giáo dục chính là việc thực hiện việc lập kế hoạch GDHN theo định hướng đổi mới GD, tổ chức
Trang 25quản lý hoạt động GDHN theo định hướng đổi mới GD, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện GDHN theo định hướng đổi mới GD hiện nay.
1.3 Định hướng đổi mới giáo dục
1.3.1 Quan điểm của Đảng về đổi mới giáo dục
Để thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã đề ra một số nội dung mới trong quan điểm chỉ đạo và những nội dung này được nêu cụ thể trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8, khóa XI, gồm:
Thứ nhất là giáo dục và đào tạo là một nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đầu tư cho giáo dục được ưu tiên
đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Thư hai là cụ thể hóa nội hàm quan niệm và các yêu cầu về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” Tức là: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản
lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục, đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới
ở tất cả các bậc học, ngành học Đổi mới để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân
Thứ ba là chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Tứ là người dạy và người học hiểu đúng mục đích của việc dạy và học; dạy và học thực chất; kết quả thi, kiểm tra phản ánh đúng, thực chất chất lượng giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục, sau khi tốt nghiệp có
Trang 26đủ năng lực và phẩm chất cần thiết để sống và làm việc Đồng thời, phát triển giáo dục và đào tạo phải phù hợp quy luật phát triển khách quan, những tiến
bộ khoa học và công nghệ Chuyển phát triển giáo dục từ chủ yếu theo mục tiêu số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng Thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa
Thứ tư là đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, bảo đảm liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức đào tạo; tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập suốt đời; xây dựng xã hội học tập Cụ thể
là đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết là đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; có chính sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người học, người sử dụng lao động
và cơ sở giáo dục, đào tạo Đối với các ngành đào tạo có khả năng xã hội hóa cao, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và khuyến khích tài năng Tiến tới bình đẳng về quyền được
hỗ trợ của Nhà nước đối với người học ở trường công lập và trường ngoài công lập Bảo đảm bình đẳng giữa nhà giáo trường công lập và nhà giáo trường ngoài công lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
Thứ năm là chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của
cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục Phát triển hài hóa, bình đẳng, hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giáo dục các vùng miền Đồng thời, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước
1.3.2 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông
Đối với giáo dục phổ thông với các mục tiêu cụ thể là:
Trang 27- Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời
- Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9)
có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020
- Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương
Mục tiêu trên so với mục tiêu lâu nay có những điểm mới Trước hết là việc nhấn mạnh tập trung hình thành "năng lực công dân; năng lực thực hành
và vận dụng kiến thức vào thực tiễn"
Phát triển năng lực là một trong những yêu cầu quan trọng, thể hiện rõ nhất việc đổi mới mục tiêu giáo dục lần này Năng lực được hiểu là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (kiến thức, kĩ năng, thái độ, động cơ, hứng thú…) nhằm thực hiện công việc có hiệu quả
Quan niệm này chi phối toàn bộ các yếu tố của quá trình giáo dục, từ nội dung, phương pháp đến đánh giá kết quả học tập
Mục tiêu phát triển năng lực nhằm khắc phục tình trạng quá chú trọng vào trang bị kiến thức hàn lâm, kinh viện; người học biết nhiều lí thuyết nhưng thực hành, vận dụng kém…
Trang 28Thứ hai, mục tiêu "chú trọng ngoại ngữ (trước hết là tiếng Anh), tin học" cũng là nội dung mới nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nền kinh tế tri thức
Ngoài hai nội dung vừa nêu, mục tiêu học sinh học hết trung học cơ sở phải có tri thức phổ thông nền tảng, "giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau 2020",
có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương cũng là nội dung mới
1.3.3 Định hướng đổi mới giáo dục hướng nghiệp
Xét trên phương diện chương trình giáo dục, các mục tiêu ở bậc phổ thông hướng nghịêp sẽ phải vừa đủ cụ thể (cố định, bảo đảm một định hướng
rõ ràng, không tạo tâm lý lông bông cho học sinh) lại vừa đủ tự do (co giãn, linh họat) bảo đảm cho người học có thêm chọn lựa ngay trong quá trình đã
có một định hướng riêng của mình
Một chương trình giáo dục như vậy rất cần đến một hệ thống tổ chức vừa chặt chẽ, có tính hệ thống, lại vừa mềm dẻo
• Nội dung chương trình giáo dục phải vừa khai thác phần giáo dục phổ thông cơ sở và vừa được nâng cao lên nhằm giúp người học yêu thích một công việc “sản xuất” cụ thể và không chỉ yêu mà còn có đủ năng lực theo học chuyên sâu vào một nghề nào đó
• Nội dung chương trình giáo dục lại phải tạo ra một sự liên thông nhất định để người học sinh bậc phổ thông hướng nghiệp có thể chuyển đổi định hướng cá nhân cả trước khi vào học một trường dạy nghề lẫn sau khi đã tốt nghiệp từ trường dạy nghề
• Nội dung tự chọn ngay từ chương trình giáo dục chung hoặc một chương trình do học sinh tự định đoạt với sự tư vấn của giáo viên, để ngay khi đang học ở bậc phổ thông hướng nghiệp thì một học sinh nào đó cũng đã có thể tự chuẩn bị cho mình một hoặc một vài định hướng khác nhau
Trang 29Những mục tiêu GDHN đặt ra yêu cầu phải đổi mới hình thức GDHN Trước hết, phải tạo ra mối liên hệ chặt chẽ giữa hệ thống giáo dục với kinh tế/ việc làm Một xu hướng của giáo dục Việt Nam là đào tạo nhân lực theo nhu cầu cuả các doanh nghiệp
Các hình thức GDHN cần phải thực hiện qua các con đường:
+ GDHN thông qua các môn học
+ GDHN thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo
+
Một thực tế đã tồn tại nhiều năm là các doanh nghiệp (kể cả trong nước
và ngoài nước) cần những nhân lực có trình độ cao, nhưng không chú ý đầu tư cho đào tạo Ngược lại, các cơ sở đào tạo do hạn hẹp về kinh phí và không xác định được mục tiêu cụ thể nên đã tạo ra những sản phẩm đào tạo không
đủ chất lượng Cần phải kết nối mục tiêu của các doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo Chỉ khi nào hai lực lượng này thống nhất được với nhau thì giáo dục nghề nghiệp mới thực sự có kết quả
Những nhà trường trước đây đào tạo theo một chương trình thống nhất, cứng nhắc sẽ không đáp ứng được những yêu cầu của thị trường lao động
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh trong việc lựa chọn nghề
Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Ở lứa tuổi này những điều kiện về mặt trí tuệ, nhân cách và xã hội để xây dựng một hệ thống quan điểm riêng đã được hình thành và chín muồi Nội dung học tập ở trường, quan hệ xã hội rộng rãi, điều kiện sống phong phú, đa dạng đã giúp cho các
em hình thành thế giới quan và nhân sinh quan ở mức khá cao, sâu sắc, nhất quán và khái quát Khác với tuổi thiếu niên, HS THPT có nét tâm lí đặc biệt
là sự băn khoăn suy nghĩ để định đoạt phương hướng cuộc đời của mình Các
em hay tự hỏi: "mình sẽ làm gì?", "mình sẽ là người như thế nào?",
Trang 30Nhận thức bản thân là điều quan trọng nhất trong cuộc hành trình đi tìm nghề nghiệp của mỗi người Khi đã hiểu rõ mình là ai, mình thích gì, mình giỏi gì, cá tính mình ra sao và giá trị nghề nghiệp nào quan trọng với mình nhất, thì mỗi người sẽ vững bước trên con đường nghề nghiệp để từ đó có thể đưa ra câu trả lời chính xác nhất cho câu hỏi: “Công việc hay nghề nghiệp nào phù hợp với tôi nhất?”
Lỗi thường gặp nhất trong quá trình tìm hiểu nghề nghiệp của HS là HS tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp trước khi hiểu rõ bản thân Hãy tưởng tượng thế giới nghề nghiệp là một “cánh rừng rộng lớn” và nhận thức bản thân là “la bàn” Chỉ khi nào ta có một cái la bàn tốt, biết cách dùng la bàn đó, thì ta mới tìm được hướng đi phù hợp với mình và đến được mục tiêu mình muốn trong
“khu rừng bao la” Nhiệm vụ quan trọng nhất trong quá trình tìm hiểu nghề nghiệp là các em có khả năng đối chiếu bản thân mình với một nghề nghiệp nào đó
Vì vậy, bước đầu tiên trong giáo dục hướng nghiệp là tìm hiểu bản thân trong bốn lĩnh vực: Sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp
Vòng tròn nhận thức bản thân
Một trong những nét đặc thù của học sinh THPT là các em phải lựa chọn ngành học (nghề nghiệp sau này) sau khi tốt nghiệp THPT Trên cơ sở nhận thức về tầm quan trọng của nghề nghiệp, công việc đối với mỗi người trong xã hội và giá trị của hoạt động nghề nghiệp, hầu hết học sinh THPT đã
có những suy nghĩ về ngành nghề sẽ học sau khi tốt nghiệp THPT Phần lớn
Trang 31các em cũng đã có những quyết định lựa chọn ngành nghề sẽ học hoặc trường đại học sau này sẽ dự thi
Tóm lại, dù tâm thế hướng nghiệp ở học sinh THPT đã hình thành rõ nét, song định hướng lựa chọn ngành học sau khi tốt nghiệp THPT của các
em còn mang tính tự phát là chủ yếu do thiếu sự hướng dẫn của hoạt động tư vấn hướng nghiệp chuyên nghiệp
1.5 Giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT theo định hướng đổi mới
1.5.1 Mục tiêu giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT
Những đòi hỏi của xã hội về việc cung cấp nguồn lao động có trình độ,
có tay nghề cao … đã tạo ra áp lực đối với giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp ở Việt Nam Các nhà sử dụng nhân lực kỳ vọng vào ngành giáo dục đào tạo ra nguồn nhân lực có tư duy và có năng lực nghề nghiệp Thông qua những con người có khả năng như vậy sẽ thực hiện được các hy vọng chính trị - kinh tế, chính trị - xã hội và cá nhân Như vậy, một câu hỏi đặt ra là liệu giáo dục nghề có thể đóng góp và thông qua cách nào cho việc đáp ứng các hy vọng như vậy?
Sau nhiều cuộc hội thảo về giáo dục hướng nghiệp, đến nay các nhà giáo dục đã thống nhất mục tiêu giáo dục thực hành trong các nhà trường đã được công nhận Những lý thuyết giáo dục cổ điển (giáo dục nhân cách không xét tới giá trị thực tiễn của nội dung giáo dục) cần được thay bằng những lý thuyết giáo dục theo lý tưởng của công dân đáp ứng yêu cầu của xã hội
Những mục tiêu cụ thể được đặt ra cho mỗi chương trình đào tạo Sau quá trình đào tạo, người học phải đạt được những yêu cầu cụ thể về hiểu biết,
về năng lực tư duy, về năng lực hành động và về thái độ - tình cảm Mỗi cá nhân phải được cung cấp những kiến thức và kỹ năng để làm chủ được các tình huống trong cuộc sống
Trang 32Trong nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về "đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo" nêu rõ mục tiêu của GDHN là: "Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế"
Mục tiêu GDHN được cụ thể hóa qua 3 mặt sau:
Trang 331.5.2 Nội dung giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT
Trong nền kinh tế thị trường xuất hiện các mối quan hệ sau:
- Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với chủ thể con người Các cá nhân trong xã hội là người làm công hay người hành động
- Mối quan hệ giữa quản lý và chủ thể kinh tế con người Mối quan hệ này làm nổi bật vai trò của cá nhân với tư cách là người tiêu thụ và tiêu dùng
- Mối quan hệ giữa nhà nước và chủ thể kinh tế con người Mối quan
hệ này nhấn mạnh vai trò của cá nhân là công dân và là người đóng thuế
- Mối quan hệ giữa các đầu mối tích luỹ và sử dụng vốn và chủ thể kinh
tế con người, xác định vai trò cá nhân là chủ nợ và người tiết kiệm
Xét các mối quan hệ trên cho thấy, học sinh cần hiểu rõ vai trò và vị trí của mình trong xã hội Xét năng lực của bản thân, với sự hỗ trợ của nhà trường học sinh sẽ tự xác định được tương lai nghề nghiệp của mình Tuy nhiên một nét nổi trội trong các mối quan hệ đó là tư duy sản xuất và kinh doanh hiệu quả, mang lại lợi ích cho cá nhân và cho xã hội Như vậy, giáo dục hướng nghiệp thực chất là giáo dục tư duy kinh tế và kinh doanh
Các quá trình chuyển đổi của nền kinh tế - xã hội kích thích cho các suy nghĩ về hệ quả đối với giáo dục nghề gắn với tính kinh doanh Các cá nhân phải hành động độc lập, tự quyết định trong các quan hệ kinh tế Điều này nhấn mạnh là tạo năng lực cho cá nhân phát triển kinh tế và phát triển nhân cách
Qua các phân tích trên nội dung giáo dục hướng nghiệp được hiểu là giáo dục tập trung vào việc làm rõ sự hiểu biết về vai trò cá nhân như là người thành lập tiềm năng và hiểu tính kinh doanh như sự lựa chọn nghề nghiệp của con người, đó là:
Trang 34- Sự thoả mãn của người học phải là điều quan trọng nhất đối với việc đào tạo nghề Sự thoả mãn của người học được hiểu theo khía cạnh tâm lý đó
là sự tự giác tham gia của người học
- Hành động của người học cần được khuyến khích
- Mục tiêu quá trình dạy học không phải là quyết định khởi sự một sự nghiệp mà đặc biệt là chuẩn bị các quyết định cá nhân
- Đào tạo nghề phải lưu ý tới hai khía cạnh là thành công và thất bại Thành công và thất bại trong các nghề nghiệp không thể dự báo trước một cách chắc chắn Vì vậy hướng nghiệp cần chuẩn bị trước cho thực tế để mỗi người có nghị lực sẵn sàng vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, đó là giáo dục tính thích ứng
- Không có quá trình đào tạo nào là hoàn thiện, nên người học luôn có tâm lý tìm tòi bổ sung trong cuộc sống của họ
- Giáo dục hướng nghiệp không tách rời giáo dục đạo đức trong sản xuất và kinh doanh
- Định hướng nghề nghiệp cho HS là quá trình thông tin cho HS về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các nghề trong xã hội và tạo điều kiện để các em làm quen với một số nghề
- Tư vấn nghề nghiệp cho HS bao gồm việc khảo sát, đánh giá các đặc điểm về thể chất, trí tuệ, hứng thú, hoàn cảnh, của HS, đối chiếu các đặc điểm đó với đặc điểm, yêu cầu của ngành nghề, trên cơ sở đó, cho HS những lời khuyên và chọn nghề có căn cứ khoa học loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong chọn nghề
Công tác tư vấn nghề được thực hiện qua 3 bước như sau:
B1: Đánh giá năng lực và cá tính HS
B2: Phân tích yêu cầu của nghề đối với người lao động
B3: Đối chiếu và tư vấn nghề
Trang 35- Tuyển chọn nghề nghiệp là việc xác định xem các đối tượng dự tuyển
có phù hợp với một nghề cụ thể hay không để từ đó có quyết định tuyển hay không tuyển vào học hoặc làm việc
Ba nội dung trên của GDHN có quan hệ chặt chẽ tương tác qua lại và
bổ sung cho nhau trong quá trình GDHN cho HS
1.5.3 Phương pháp, hình thức GDHN cho HS THPT
Trong trường THPT, có rất nhiều hình thức GDHN cho HS, nhưng để đáp ứng yêu cầu đổi mới GD với ĐN công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông công tác hướng nghiệp tập trung vào một số hình thức sau:
1.5.3.1 Giáo dục hướng nghiệp thông qua các môn học
Các môn học văn hóa là những môn học chính khóa trong nhà trường phổ thông Thời lượng dành cho những môn văn hóa rất nhiều và nhiều môn được thực hiện trong suốt 12 năm học Do đó, GDHN thông qua các môn văn hóa và hình thức GDHN có khả năng thực hiện lâu dài, thường xuyên và hiệu quả Qua các môn văn hóa, giáo viên có thể giới thiệu cho HS các nghề cơ bản, giúp HS biết được những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của một số ngành nghề có liên quan đến môn học Từ đó, HS có thêm thông tin để chọn nghề sao cho vừa phù hợp với hứng thú, năng lực của bản thân, vừa phù hợp với nhu cầu lao động của xã hội
Hình thức GDHN qua các môn văn hóa được thực hiện chủ yếu theo phương thức tích hợp, lồng ghép nội dung GDHN vào môn học
1.5.3.2 GDHN qua hoạt động lao động sản xuất và dạy nghề phổ thông
Mục đích chủ yếu của dạy nghề phổ thông là trang bị cho HS những kiến thức, kỹ năng lao động cần thiết và tạo cơ hội cho HS củng cố nội dung
lý thuyết, vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào đời sống Qua đó giúp HS
Trang 36làm quen với hoạt động lao động nghề nghiệp, chuẩn bị cho HS bước vào đời sống lao động và định hướng nghề nghiệp cho các em
Qua tham gia học nghề phổ thông và hoạt động lao động sản xuất, HS không những có cơ hội được thử sức mình trong một hoạt động lao động nghề nghiệp cụ thể mà còn có điều kiện khám phá khả năng, sở thích, cá tính và giá trị nghề nghiệp của bản thân, nâng cao các kỹ năng thiết yếu, nâng cao nhận thức nghề nghiệp và ý thức, thái độ lao động, từ đó đưa ra quyết định chọn nghề tương lai sao cho phù hợp
1.5.3.3 GDHN qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được tổ chức cho HS học tập ngoài giờ học chính khóa Hoạt động này được tiến hành theo một kế hoạch nhất định dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV nhằm phát hiện, bồi dưỡng, phát triển hứng thú, năng khiếu và khả năng sáng tạo của HS Qua đó HS có cơ hội
để khám phá khả năng, sở thích, cá tính và giá trị nghề nghiệp của bản thân
Việc tổ chức cho HS đi tham quan các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo nghề, nhằm tạo điều kiện cho HS được tận mắt quan sát cơ chế vận hành máy móc trong sản xuất, các hoạt động của người lao công và các sản phẩm của quá trình lao động Nhờ đó, HS hiểu rõ hơn đối tượng lao động, yêu cầu lao động của ngành nghề mà HS mới chỉ biết qua sách vở, đồng thời khơi dậy trong các em hứng thú đối với nghề nghiệp
1.5.4 Lực lượng tham gia GDHN cho HS ở trường THPT
Các lực lượng tham gia GDHN cho HS cấp THPT rất quan trọng, ngoài cán bộ, giáo viên trong nhà trường còn cần phối hợp với gia đình, xã hội (các
tổ chức xã hội, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, ) để GDHN cho các em, bởi
HS không chỉ sống trong môi trường trường học mà còn sống trong gia đình, trong xã hội Nếu có sự phối kết hợp tốt, sẽ có sự giáo dục từ nhiều phía, có
Trang 37nhiều nguồn thông tin hỗ trợ các em trong công tác hướng nghiệp, từ đó mà hiệu quả GDHN cũng sẽ tăng lên
1.5.5 Các điều kiện đảm bảo cho công tác GDHN cho HS THPT
Nội dung của các hình thức GDHN liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội, đòi hỏi phải có thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Hơn nữa nhiều nội dung trong các chủ đề như định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước; thế giới nghề nghiệp; hệ thống các trường TCCN, đào tạo nghề, CĐ, ĐH, luôn có sự biến động theo sự phát triển của kinh tế - xã hội Do vậy, để đảm bảo cho công tác GDHN cho HS THPT thì cần cung cấp đầy đủ tài liệu sử dụng cho GV, cho HS và các tài liệu tham khảo, các nguồn thông tin hướng nghiệp cần được cập nhật thường xuyên để
có thể thực hiện thuận lợi các phương pháp, hình thức GDHN Đó phải là những nguồn thông tin đáng tin cậy và phù hợp để sử dụng vào từng hình thức hướng nghiệp trong nhà trường THPT
Bên cạnh tài liệu thì thiết bị, máy móc và đồ dùng dạy học là công cụ
để GV tiến hành các phương pháp khi tổ chức thực hiện các hình thức GDHN Hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp dạy học phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện này Muốn tổ chức các hoạt động GDHN đạt kết quả thì các nhà trường cần phải có các trang thiết bị, đồ dùng dạy học như: tranh ảnh, sách tham khảo, video về nghề, các bản mô tả nghề, các trắc nghiệm; các thông tin dữ liệu về hướng nghiệp, ; Có tương đối đầy đủ máy móc, thiết bị
Trang 38tham quan các cơ sở sản xuất, có cơ chế chính sách phù hợp để động viên, khuyến khích CB, GV phụ trách công tác hướng nghiệp
Tùy theo điều kiện, các trường có thể xác định các hoạt động hướng nghiệp, các dịch vụ hướng nghiệp phù hợp với trường mình để đảm bảo HS được hướng nghiệp một cách có hệ thống và có chất lượng
1.5.6 Đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp và phân luồng HS ở các trường THPT
Đánh giá kết quả là khâu quan trọng của quá trình GDHN, khi đánh giá cần xác định các mối quan hệ giữa mục tiêu đã đặt ra và kết quả đạt được do việc thực hiện GDHN đem lại có tương ứng với mục tiêu hay không
Việc đánh giá phải thông qua:
+ Quan sát về quá trình thực hiện hoạt động học tập và nhận thức của
HS, căn cứ vào sự phát triển nhận thức nghề nghiệp của HS, vào kết quả hoạt động mà HS đã thực hiện thông qua các hoạt động GDHN
+ Trao đổi với HS về các chủ đề GDHN, qua quan sát sẽ phát hiện ra
ý thức học tập của các em, đồng thời phát hiện các em hứng thú với ngành nghề nào
+ Đánh giá năng lực thực hiện các công việc trong khi tham quan các
cơ sở sản xuất, hay qua thực hành lao động, Qua hoạt động hướng nghiệp cung cấp cho HS kiến thức, kỹ năng, thái độ và hiểu biết về các ngành nghề
cụ thể, đối chiếu với bản thân mình để lựa chọn được nghề phù hợp
Qua GDHN giúp HS điều chỉnh động cơ học nghề, trên cơ sở đó các
em định hướng đi vào lĩnh vực lao động mà xã hội đang có nhu cầu, đồng thời phù hợp với năng lực của các em
Trang 39Đánh giá kết quả GDHN đồng thời giúp cho nhà trường, cho CB, GV điều chỉnh kế hoạch, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học có hiệu quả hơn trong công tác hướng nghiệp
Ở nước ta, phân luồng học sinh được thực hiện từ sau lớp 9 (hết Trung học cơ sở) Chủ trương này được Nhà nước ta chỉ đạo từ khá sớm và thu được nhiều kết quả: đã xây dựng được hệ thống giáo dục - đào tạo gồm nhiều ngành học, cấp học, bậc học và thu hút đào tạo học sinh từ các trình độ khác nhau Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan và chủ quan, việc thực hiện kế hoạch, lộ trình “phân luồng” vẫn đang gặp không ít khó khăn, cần được cả xã hội quan tâm nhiều hơn nữa.
Việc "phân luồng học sinh sau Trung học cơ sở" được định hướng vào bốn luồng chính là: 1- Học tiếp lên Trung học phổ thông (dành cho một số học sinh có năng lực tốt, có thiên hướng nghiên cứu chuyên môn cao và có nguyện vọng học lên Đại học, Cao đẳng); 2-Học lên Trung cấp chuyên nghiệp hoặc Trung cấp nghề (dành cho số học sinh có năng lực trung bình khá và có thiên hướng kỹ thuật, thực hành); 3- Vừa làm vừa học tiếp Trung học phổ thông theo chương trình Giáo dục thường xuyên (trước đây gọi là Bổ túc Trung học phổ thông); 4- Trực tiếp đi làm kiếm sống (có thể học qua các chương trình sơ cấp hoặc sẽ học tiếp lên cao hơn, sau một số năm lao động) Tồn tại lớn nhất của việc phân luồng hiện nay ở nước ta là luồng học lên Trung học phổ thông hiện còn chiếm quá lớn, trong khi đó luồng học lên Trung cấp chuyên nghiệp và Trung cấp nghề còn quá nhỏ.Tỷ lệ này ở nước ta hiện không giống (thậm chí trái ngược) so với ở các nước phát triển trên thế giới.
Trang 40Phân luồng học sinh thường thực hiện như sau (xin xem sơ đồ 1.1)
Sơ đồ 1.1 Các hướng phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THPT
Nếu được phân luồng tốt (như ở các nước phát triển đã đạt được) thì
số HS sau trung học phổ thông sẽ có năng lực tốt và đồng đều, có sự định hướng và được tiếp thu chương trình chọn lọc theo nghề nghiệp rõ rệt, dễ dàng thực hiện phân ban, phân hóa trong học tập và đánh giá, thi cử
1.6 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường THPT theo định hướng đổi mới giáo dục
1.6.1 Lập kế hoạch giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
Kế hoạch hóa nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp là quá trình lập kế hoạch cụ thể cho các hoạt động, các hình thức giáo dục hướng nghiệp ở các cấp quản lí giáo dục Trọng tâm của lập kế hoạch hoạt động hướng nghiệp là chỉ ra phương hướng hành động và trả lời cho các câu hỏi: Mục tiêu chung
Đại học Cao đẳng
TCCN
Trường Trung học phổ thông
Thị trường
lao động
Dạy nghề dài hạn
Dạy nghề ngắn hạn