1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tieu luan mon triet hoc đặc điểm của TRIẾT học PHƯƠNG ĐÔNG cổ, TRUNG đại

15 697 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 101,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Triết học là một hoạt động tinh thần của con người, nó biểu hiện khả năng nhận thức, khả năng đánh giá sự vật hiện tượng của con người. Nó là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người để phục vụ nhu cầu sống. Song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, Triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người. Ngay từ buổi bình minh của nhân loại, để tồn tại, con người đã phải tiến hành hoạt động lao động sản xuất và những hoạt động khác. Điều này đã đem lại cho con người những tri thức nhất định về thế giới xung quanh và về bản thân mình, nhưng đây mới chỉ là những tri thức rời rạc, phản ánh bề ngoài của đối tượng. Phải đến khi xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã tiến hành các nghiên cứu, đã hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại với nhau thành học thuyết, thành lý luận, và khi đó Triết học đã ra đời. Có thể khẳng định rằng, Triết học ra đời cả ở phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp. Do có vị trí địa lý khác nhau, có điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, tôn giáo, văn hóa khác nhau nên mỗi nền Triết học lại có những đặc điểm cụ thể khác nhau. Triết học phương Tây tập trung chủ yếu vào nghiên cứu những quy luật của tự nhiên, nghiên cứu bản chất của con người với tư cách là sự phát triển của tự nhiên; trong quá trình nghiên cứu ấy, các nhà Triết học đã tách con người ra khỏi tự nhiên, đối lập với tự nhiên, nghiên cứu giới tự nhiên để chinh phục tự nhiên, Triết học luôn gắn liền với khoa học tự nhiên. Trong khi đó, Triết học phương Đông lại tập trung nghiên cứu về đời sống, về cuộc sống nhân sinh của con người, gắn liền con người với tự nhiên, thống nhất với tự nhiên, Triết học gắn với con người và xã hội loài người, ít gắn với khoa học tự nhiên. Với phạm vi tiểu luận Triết học của mình, tôi không đi sâu vào nghiên cứu những điểm khác biệt giữa Triết học phương Tây và phương Đông trong quá trình phát triển của lịch sử Triết học mà chỉ tập trung nghiên cứu về đặc điểm của Triết học phương Đông cổ, trung đại bởi Ấn Độ và Trung Quốc cổ, trung đại là hai trung tâm tư tưởng và văn hóa lớn của thế giới cổ, trung đại. Những tư tưởng Triết học và văn hóa của hai trung tâm này đã có ảnh hưởng rất lớn đối với văn hóa Việt Nam và toàn bộ hệ thống tư tưởng trong xã hội Việt Nam cho đến tận ngày nay.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Triết học là một hoạt động tinh thần của con người, nó biểu hiện khả năng nhận thức, khả năng đánh giá sự vật hiện tượng của con người Nó là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy

Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người để phục vụ nhu cầu sống Song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, Triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người Ngay từ buổi bình minh của nhân loại, để tồn tại, con người đã phải tiến hành hoạt động lao động sản xuất và những hoạt động khác Điều này đã đem lại cho con người những tri thức nhất định về thế giới xung quanh và về bản thân mình, nhưng đây mới chỉ là những tri thức rời rạc, phản ánh bề ngoài của đối tượng Phải đến khi xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc Họ đã tiến hành các nghiên cứu, đã hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại với nhau thành học thuyết, thành lý luận, và khi đó Triết học đã ra đời

Có thể khẳng định rằng, Triết học ra đời cả ở phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, Ấn

Độ và Hy Lạp Do có vị trí địa lý khác nhau, có điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, tôn giáo, văn hóa khác nhau nên mỗi nền Triết học lại có những đặc điểm cụ thể khác nhau Triết học phương Tây tập trung chủ yếu vào nghiên cứu những quy luật của tự nhiên, nghiên cứu bản chất của con người với tư cách là sự phát triển của tự nhiên; trong quá trình nghiên cứu ấy, các nhà Triết học đã tách con người ra khỏi tự nhiên, đối lập với tự nhiên, nghiên cứu giới tự nhiên để chinh phục tự nhiên, Triết học luôn gắn liền với khoa học tự nhiên Trong khi đó, Triết học phương Đông lại tập trung nghiên

Trang 2

cứu về đời sống, về cuộc sống nhân sinh của con người, gắn liền con người với

tự nhiên, thống nhất với tự nhiên, Triết học gắn với con người và xã hội loài người, ít gắn với khoa học tự nhiên

Với phạm vi tiểu luận Triết học của mình, tôi không đi sâu vào nghiên cứu những điểm khác biệt giữa Triết học phương Tây và phương Đông trong quá trình phát triển của lịch sử Triết học mà chỉ tập trung nghiên cứu về đặc điểm của Triết học phương Đông cổ, trung đại bởi Ấn Độ và Trung Quốc cổ, trung đại

là hai trung tâm tư tưởng và văn hóa lớn của thế giới cổ, trung đại Những tư tưởng Triết học và văn hóa của hai trung tâm này đã có ảnh hưởng rất lớn đối với văn hóa Việt Nam và toàn bộ hệ thống tư tưởng trong xã hội Việt Nam cho đến tận ngày nay

PHẦN NỘI DUNG

Trang 3

I HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI:

1 Điều kiện tự nhiên của Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại:

1.1 Ấn Độ cổ đại:

Ấn Độ là một bán đảo lớn - một tiểu lục địa, nằm ở miền Nam châu Á Hai miền Đông Nam và Tây Nam của Ấn Độ giáp Ấn Độ Dương, phía Bắc án ngữ là dãy Hymalaya hùng vĩ, với vòng cung dài 2.600 km Cực Bắc Kasơmia có những ngọn núi hùng vĩ, dưới chân núi là vùng khí hậu ôn đới, có thung lũng

Kasơmia rộng lớn với tên gọi “Thiên đường nơi trần thế” Có 5 con sông lớn,

trong đó nổi tiếng là sông Indu, sông Hằng, lưu vực của chúng tạo nên những vùng đồng bằng phì nhiêu Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng có những vùng là sa mạc khô cằn, điều kiện sống hết sức khó khăn, khắc nghiệt Chính những yếu tố địa

lý đa dạng, phong phú trên đã tác động mạnh mẽ đến đời sống của người dân Ấn

Độ và ảnh hưởng đến sự hình thành văn hóa, tôn giáo và tư tưởng Triết học của người Ấn Độ cổ đại

1.2 Trung Quốc cổ đại:

Lịch sử Trung Quốc cổ đại bắt đầu từ khoảng cuối thiên niên kỷ thứ III tr.CN đến thế kỷ III tr.CN Nó được chia làm 2 thời kỳ lớn: thời kỳ thứ nhất tính

từ khi hình thành triều đại nhà Hạ đến thế kỷ IX tr.CN; thời kỳ thứ 2 tính từ thế

kỷ VI tr.CN đến thế kỷ III tr.CN

Về điều kiện tự nhiên, Trung Quốc cổ đại là một quốc gia rộng lớn có 2 miền khác nhau: miền Bắc là lưu vực sông Hoàng Hà, xa biển, khí hậu lạnh, đất đai khô khan, cây cỏ thưa thớt, sản vật hiếm hoi Miền Nam ở lưu vực sông Dương Tử có khí hậu ấm áp, cây cối xanh tươi, sản vật phong phú

2 Điều kiện kinh tế - xã hội của Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại:

Trang 4

2.1 Ấn Độ cổ đại:

Xã hội Ấn Độ cổ đại ra đời sớm, vào khoảng thế kỷ XXV tr.CN đã xuất hiện nền văn minh sông Ấn, sau đó bị tiêu vong Từ thế kỷ XV tr.CN, các bộ lạc

du mục Arya từ Trung Á xâm nhập vào Ấn Độ Họ định cư rồi đồng hóa với người bản địa Dravida tạo thành cơ sở cho sự xuất hiện quốc gia, Nhà nước lần thứ hai trên đất Ấn Độ

Từ thế kỷ thứ VII tr.CN đến thế kỷ XVI sau Công nguyên, đất nước Ấn

Độ phải trải qua hàng loạt biến cố lớn đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triều trong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài

Đặc điểm nổi bật của điều kiện kinh tế - xã hội của xã hội Ấn Độ cổ, trung

đại là sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế - xã hội theo mô hình “ Công

xã nông thôn”, trong đó chế độ công hữu về ruộng đất là cơ sở để tìm hiểu toàn

bộ lịch sử Ấn Độ cổ đại Chính vì kết cấu kinh tế này mà ở Ấn Độ cổ đại đã không có quan hệ chiếm hữu nô lệ như ở xã hội Hy Lạp cổ đại, nô lệ chưa bao giờ là lực lượng sản xuất chủ yếu Do vậy đã không phát sinh ra sự phân chia đối kháng mà tạo nên quan hệ giai cấp, đẳng cấp rất phức tạp và nghiêm ngặt, bao gồm 4 đẳng cấp chính: Brahman (tăng lữ) là đẳng cấp cao quý nhất; Ksatrya (quý tộc); Vaisya (bình dân tự do); Ksudra (cùng đinh, nô lệ)

2.2 Trung Quốc cổ đại:

2.2.1 Thời kỳ thứ nhất: Hạ - Thương - Tây Chu:

Nhà Hạ ra đời khoảng thế kỷ XXI tr.CN, đánh dấu sự mở đầu chế độ chiếm hữu nô lệ Nhà Hạ sớm định cư, sản xuất ổn định, chăn nuôi phát triển Quan hệ xã hội là quan hệ nô lệ theo kiểu gia trưởng phương Đông Chưa có sự phân biệt rõ rệt giữa tư liệu sản xuất và người lao động Quan niệm về Nhà nước mới manh nha hình thành Khoảng nửa đầu thế kỷ XVII tr.CN, Thành Thang

Trang 5

-thủ lĩnh bộ tộc Thương lật đổ vua Kiệt nhà Hạ, sau nhà Thương dời về đất Ân nên còn gọi là nhà Ân Khoảng thế kỷ XI tr.CN, con Chu Văn Vương là Chu Vũ Vương giết vua Trụ nhà Thương, lập ra nhà Chu (Tây Chu)

Thời Tây Chu có những đặc điểm là thực hiện quốc hữu hóa tư liệu sản xuất (ruộng đất) và sức lao động Có sự phân biệt giữa thành thị và nông thôn, nhưng thành thị chưa có nền kinh tế độc lập

2.2.2 Thời kỳ thứ hai: thời Đông Chu (thời Xuân Thu (722481) -Chiến quốc (481-221)).

Từ thế kỷ VIII-III tr.CN, xã hội nhà Chu bước vào thời kỳ biến động lớn, toàn diện, kéo dài Giai đoạn lịch sử này gọi là thời Đông Chu, trong đó có hai thời kỳ nhỏ là Xuân Thu và Chiến quốc

Trong thời kỳ này, công cụ bằng sắt ra đời đã thay thế công cụ bằng đồng, bằng đá Nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ Bước đầu hình thành và phát triển thương nghiệp nên thành thị có cơ sở kinh tế tương đối độc lập

Đất đai trước thuộc nhà Vua, nay bị chiếm làm của tư Giai cấp quý tộc nhà chu bị mất đất, mất dân, địa vị kinh tế bị sa sút, vai trò chính trị chỉ còn là hình thức Các nước chư hầu không chịu phục tùng, mang quân thôn tính lẫn nhau, tự xưng là bá vương Từ đó, làm nảy sinh một loạt mâu thuẫn xã hội: mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc mới lên, có tiềm lực về kinh tế nhưng lại không được tham gia chính quyền với lớp quý tộc cũ của nhà Chu đang nắm chính quyền; mâu thuẫn giữa những người sản xuất nhỏ với quý tộc nhà Chu nói chung và mâu thuẫn trong nội bộ nhà Chu (giữa những người cấp tiến và những người bảo thủ…), xã hội biến động, chiến tranh, loạn lạc, các mối quan hệ xã hội, trật tự xã hội bị đảo lộn

Trang 6

Có thể nói, thời kỳ này xã hội có sự chuyển biến mạnh mẽ từ xã hội nô lệ sang xã hội phong kiến Điều kiện xã hội đó đã hướng con người đi theo hướng hám danh, hám lợi, ít chú ý đến nhân, nghĩa

Sự chuyển biến sôi sục đó đã làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm các “kẻ sĩ” luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những hình mẫu của một xã hội trong tương lai Đây được gọi là thời kỳ “Bách gia chư tử” (trăm nhà

trăm thầy), “Bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng) Và chính trong quá trình

ấy đã sản sinh ra các nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái Triết học khá hoàn chỉnh

3 Điều kiện về tư tưởng, văn hóa của Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại: 3.1 Ấn Độ cổ đại:

Người Ấn Độ cổ đại tích lũy được nhiều kiến thức về thiên văn, sáng tạo

ra lịch pháp, giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực… Toán học xuất hiện rất sớm, đã phát minh ra số thập phân, tính được trị số pi, biết về đại số lượng giác, phép khai căn, giải được phương trình bậc 2, 3 Trong lĩnh vực y học

đã xuất hiện những danh y nổi tiếng, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, bằng thuốc thảo mộc

Nét nổi bật của văn hóa Ấn Độ cổ, trung đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng, tôn giáo và tâm linh Văn hóa Ấn Độ cổ, trung đại được chia làm ba giai đoạn: khoảng từ thế kỷ XXV-XV tr.CN gọi là nền văn minh sông Ấn; Từ thế kỷ XV-VII tr.CN gọi là nền văn minh Vêda; Từ thế kỷ VI - I tr.CN là thời kỳ hình thành các trường phái Triết học tôn giáo lớn gồm 2 hệ thống đối lập nhau là chính thống và không chính thống

Các trường phái chính thống bao gồm Triết học Samkhya, Mimansa, Vêdanta, Yoga, Nyaya, Vaisesyka là các trường phái trung thành với kinh Vêda, kinh Upanisahd, đạo Bàlamôn truyền thống, tin ở thần linh Phái không chính

Trang 7

thống bao gồm đạo Jaina, Lokayata, Phật giáo, không tin ở thần linh và bị coi là

tà giáo

3.2 Trung Quốc cố đại:

3.2.1 Thời kỳ thứ nhất: Hạ - Thương - Tây Chu:

Trong thời kỳ thứ nhất này, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí là thế giới quan thống trị trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc bấy giờ Nhà Chu kế thừa tư tưởng tôn giáo thờ thần tổ tiên của nhà Ân,

ngoài ra còn thờ Thượng đế Nhà Chu cho rằng nhà Ân không được “mệnh trời”

nên không được trời bao dung Nay nhà Chu được Thượng đế ban phước nên con cháu nhà Chu phải dốc lòng tôn kính, gần gũi

Về tri thức khoa học: người Ân - Thương đã biết làm lịch theo mùa và rất

có giá trị đối với sản xuất nông nghiệp, đã quan sát được sự vận động của Mặt Trăng và một số vì sao Xác định được chu kỳ của thủy triều, quy luật sinh trưởng của cây trồng từ đó làm ra lịch âm lịch

Về tư tưởng tôn giáo: đã vượt qua tín ngưỡng thời kỳ tín ngưỡng Totem (hình thức tôn giáo đầu tiên), bước vào giai đoạn tôn giáo thờ thần tổ tiên, toàn thị tộc có một vị thần toàn năng

Về tư tưởng đạo đức, chính trị: chưa có quan niệm rõ ràng về đạo đức, về quyền lợi, về nghĩa vụ đối với xã hội, chỉ tôn sùng đối với người đứng đầu thị tộc

Thời kỳ này những tư tưởng Triết học đã xuất hiện, tuy chưa đạt tới mức

là một hệ thống Những tư tưởng đó gắn chặt thần quyền và thế quyền, ngay từ đầu nó đã lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị - xã hội với lĩnh vực đạo đức luân lý Do xuất phát và gắn liền với cuộc sống còn thô sơ nên trong tư tưởng Triết học xuất hiện những quan niệm có tính chất duy vật mộc mạc, những

tư tưởng vô thần tiến bộ đối lập lại chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị đương

Trang 8

thời Tư tưởng cơ bản về đạo đức nhà Chu có thể gói gọn trong 2 chữ Đức và Hiếu

3.2.2 Thời kỳ thứ hai: thời Đông Chu (thời Xuân Thu (722481) -Chiến quốc (481-221)).

Trung Quốc thời kỳ này có 9 trường phái Triết học chính (gọi là Cửu lưu hoặc Cửu gia) gồm: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm Dương gia, Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia Trừ Phật giáo được du nhập từ Ấn Độ sau này, các trường phái Triết học được hình thành vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc được bổ sung hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử trung cổ, đã tồn tại trong suốt quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Trung Quốc cho tới thời cận đại

Có thể khẳng định rằng, khi nghiên cứu lịch sử Triết học là nghiên cứu sự phát sinh, phát triển, sự kế tiếp nhau của các trường phái, học thuyết, phương pháp Triết học trong lịch sử Do vậy, việc nghiên cứu lịch sử Triết học Ấn Độ, Trung Quốc cổ, trung đại không thể bỏ qua những điều kiện, tiền đề về đặc điểm

tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, tôn giáo… của hai vùng này thời cổ đại Những yếu tố tiền đề, điều kiện ấy đã làm xuất hiện các trường phái Triết học khác nhau trong lịch sử và quy định những đặc điểm nổi bật của nền Triết học phương Đông cổ, trung đại và lưu giữ giá trị, sức ảnh hưởng cho đến tận ngày nay

II ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ, TRUNG ĐẠI:

1 Triết học phương Đông nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan

hệ giữa con người với tự nhiên:

Những tộc người cổ đại phương Đông là Arya, Dravida ở Ấn Độ và Trung Á; Hạ Vũ, Ân Thương, Chu Hán ở Trung Quốc; Lạc Việt ở Việt Nam… sớm định cư canh tác nông nghiệp Thiên nhiên ưu đãi, quanh năm cây cối xanh tươi,

Trang 9

hoa trái xum xuê hòa quyện con người với trời đất bao la, giữa con người và tự nhiên hình như không có gì tách biệt Cái cơ sở ban đầu hiển nhiên ấy dần dần

được người phương Đông khái quát thành tư tưởng “Thiên nhân hợp nhất”.

Ở Trung Quốc, nơi mà nền triết học có truyền thống lịch sử lâu đời nhất, hình thành cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên Đó là những kho tàng tư tưởng phản ánh lịch sử phát triển của những quan điểm của nhân dân Trung Hoa về tự nhiên, xã hội và quan hệ con người với thế giới xung quanh, họ coi con người là tiểu vũ trụ trong hệ thống lớn trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một Như vậy con người cũng chứa đựng tất cả những tính chất, những điều huyền bí của vũ trụ bao la Từ điều này cho ta thấy hình thành

ra các khuynh hướng như: khuynh hướng duy tâm của Mạnh Tử thì cho rằng vũ trụ, vạn vật đều tồn tại trong ý thức chủ quan vầ trong ý niệm đạo đức Trời phú

cho con người Ông đưa ra quan điểm “vạn vật đều có đầy đủ trong ta” Ta tự

xét mình mà thành thực, thì có cái thú vui nào lớn hơn nữa Ông dạy mọi người phải đi tìm chân lý ở ngoài thế giới khách quan mà chỉ cần suy xét ở trong tâm,

“tận tâm” của mình mà thôi Như vậy theo ông chỉ cần tĩnh tâm quay lại với chính mình thì mọi sự vật đều yên ổn, không có gì vui thú hơn Còn theo Thiện Ung thì cho rằng: vũ trụ trong lòng ta, lòng ta là vũ trụ Đối với khuynh hướng duy vật thô sơ - kinh dịch thì biết đến cùng cái tính của con người thì cũng có thể biết đến cái tính của vạn vật, trời đất: trời có chín phương, con người có chín khiếu Ở phương Đông khuynh hướng duy vật chưa rõ ràng đôi khi còn đan xen với duy tâm, mặc dù nó là kết quả của quá trình khái quát những kinh nghiệm thực tiến lâu dài của nhân dân Trung hoa thời cổ đại Quan điểm duy vật được thể hiện rõ ở học thuyết Âm dương, tuy nó còn mang tính chất trực quan, chất phác, ngây thơ và có những quan điểm duy tâm, thần bí về lịch sử xã hội nhưng trường phái triết học này đã bộ lộ rõ khuynh hướng duy vật và tư tưởng biện

Trang 10

chứng tự phát của mình trong quan điểm về cơ cấu và sự vận động, biến hoá của

sự vật hiện tượng trong tự nhiên cũng như trong xã hội

Ở Ấn độ tư tưởng triết học Ấn độ cổ đại được hình thành bắt nguồn từ thế giới quan thần thoại, tôn giáo, giải thích vũ trụ bằng biểu tượng các vị thần mang tính chất tự nhiên, có nguồn gốc từ những hình thức tôn giáo tối cổ của nhân

loại Ở Ấn độ nguyên tắc “thiên nhiên hợp nhất” lại có màu sắc riêng như:

Xu hướng chính của Upanishad là nhằm biện hộ cho học thuyết duy tâm,

tôn giáo trong kinh Vêđa về cái gọi là “tinh thần sáng tạo tối cao” sángtạo và chi

phối thế giới này Để trả lời câu hỏi cái gì là thực tại cao nhất, là căn nguyên của tất cả mà khi nhận thức được nó, người ta sẽ nhận thức được mọi cái còn lại và

có thể giải thoát được linh hồn khỏi sự lo âu khổ nào của đời sống trần tục và

ràng buộc của thế giới này là “tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman, là thực thể duy

nhất, có trước nhất, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ra và nhập về với nó sau khi chết Tóm lại Brahman là tinh thần vũ trụ, là đấng sáng tạo duy nhất, là đại ngã, đại đinh, là vũ trụ xung quanh cái tồn tại thực

sự, là khách thể

Còn Atman là tinh thần con người, là tiểu ngã, là cái có thể mô hình hoá,

là chủ thể và chẳng qua chỉ là linh hồn vũ trụ cư trú trong con người mà thôi

Linh hồn con người (Atman) chỉ là sự biểu hiện, là một bộ phận của “tinh thần tối cao” Vì Atman “linh hồn” là cái tồn tại trong thể xác con người ở đời sống

trần tục, nên ý thức con người lầm tưởng rằng linh hồn, “cái ngã” là cái khác với

“linh hồn vũ trụ”, khác với nguồn sống không có sinh, không có diệt vong của

vũ trụ

Vậy nên kinh Vêđa nối con người với vũ trụ bằng cầu khẩn, cúng tế bắt chước hoà điệu của vũ trụ bằng lễ nghi, hành lễ ở hình thức bên ngoài Còn kinh Upanishad quay vào hướng nội để đi từ trong ra, đồng nhất cá nhân với vũ trụ bằng tri thức thuần tuý kinh nghiệm

Ngày đăng: 24/04/2018, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w