1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thử nghiệm kích thích cá sặc rằn sinh sản với kích thích tố khác nhau ở liều lượng thấp

33 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 312,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm ngày càng hoàn thiện quy ưình sản xuất giống đáp ứng nhu cầu con giống ngàycàng đa dạng cho người dân, đề tài kích thích cá Sặc Rằn sinh sản với các liều lượngkích thích tố khác nha

Trang 1

THỬ NGHIỆM KÍCH THÍCH CÁ SÃC RẰN SINH SẢN VỚI KÍCH THÍCH TỐ KHÁC NHAU

Ở LIỀU LƯƠNG THẤP

1

Trang 2

LỜI CẢM TA

Sau 2 tháng thực tập từ tháng 4 năm 2010 đến tháng 6 năm 2010, tại phường Lê Bình quận Ninh Kiều - TP cần Thơ, áp dụng những kiến thức đã học kết hợp với kinhnghiệm thực tế, nay luận văn đã được chỉnh sửa và hoàn thành

-Trước hết em xin chân thành cảm tạ Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Tây Đô đã tạomọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian học tập tại trường

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Kiểm, thầyNguyễn Thành Tâm đã tận tình chỉ dạy cho em trong quá trình học tập đã hướng dẫnchỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn đến tất cả quý Thầy Cô Khoa Sinh Học ứng Dụng Trường Đại Học Tây Đô đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những kiến thức quýbáu ừong suốt thời gian học và tạo mọi điều kiện thuận lợi để luận văn được hoànthành, tạo dựng hành ưang để em bước vào cuộc sống sau này

-Cuối cùng em xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè, cùng tập thể lớp thuỷ sản KI đã giúp

đỡ, động viên em trong suốt quá ừình học tập và thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ !

Cần thơ, ngày tháng nămSinh viên thực hiện

Trang 3

TÓM TẮT

Cá Sặc Rằn Ợrichogaster pectorralỉs) một loài cá quen thuộc và được xem là đặc sản của

đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) nhờ phẩm chất thịt thơm, ngon, có giá trị ở sảnphẩm tưoi và đặc biệt là sản phẩm làm khô Nhờ khả năng chịu đựng tốt với các điềukiện môi trường mà cá Sặc Rằn được chú ý và ngày càng phát triển rộng rãi

Nhằm ngày càng hoàn thiện quy ưình sản xuất giống đáp ứng nhu cầu con giống ngàycàng đa dạng cho người dân, đề tài kích thích cá Sặc Rằn sinh sản với các liều lượngkích thích tố khác nhau được thực hiện với 3 thí nghiệm, mỗi thí nghiệm được thựchiện với 3 nghiệm thức khác nhau về nồng độ và chia làm 2 đợt sản xuất (đợt thứ 1 tiếnhành vào cuối tháng 4, đợt 2 tiến hành vào cuối tháng 5)

Kết quả sử dụng kích thích tố LRH-a + Motilium qua 2 đợt cho cá Sặc Rằn sinh sảnnhận thấy liều lượng 100 |ig LRH-a + 5 mg Motilium cho kết quả sinh sản tốt với sứcsinh sản thực tế trung bình 149.934 trứng/kg, các chỉ tiêu sinh sản như tỷ lệ đẻ 66,5%,

tỷ lệ thụ tinh của trứng 73%, tỷ lệ nở 77%, tỷ lệ sống cá con 91%

Đối với việc sử dụng não thuỳ thì ở cả hai đợt sinh sản cá đều không sinh sản

So với việc sử dụng LRH-a + Motilium và não thuỳ, kích thích tố HCG + não thuỳđược cho là hormon sử dụng có hiệu quả để kích thích cá Sặc Rằn sinh sản và liềulượng thích hợp từ 1.000 Ul/kg - 1.500 Ul/kg kết hợp với 2 mg não thuỳ, sức sinh sảnthực tế trung bình dao động khoảng 177.000 trứng/kg, tỷ lệ đẻ 100%, tỷ lệ thụ tinhưung bình 68%, tỷ lệ nở 71%, tỷ lệ sống cá con 83%

TA khóa: cá £Vc R 'lĩ, Trichogaster pectorrali,sinh s H n, kích thích t-1.

Trang 4

CAM KẾT KẾT QUẢ

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi

và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nàokhác

Ngày tháng năm

Trang 5

• •

DANH MỤC TỪ VIẾT TÁT

ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long

HCG: Human Chorionic Gonadotropin

LRH-a: Lutienizing Releasing Hormon:

TGHƯ: Thời gian hiệu ứng

Trang 6

CHƯƠNG 1 ĐÃT VẤN ĐẺ

Ợrichogaster pectorralis) là loài cá có chất lượng thịt thơm ngon, được xem là đặc sản

của ĐBSCL, có giá trị ở cả sản phẩm tưoi và đặc biệt là sản phẩm làm khô

Cá Sặc Rằn sống ở vùng trũng phèn, rừng tràm, ruộng lúa ven biển, được nhiều ngưòidân chọn nuôi theo nhiều mô hình nuôi khác nhau: vườn ao chuồng (VAC), Heo - Cá

Cá Sặc Rằn có khả năng thích nghi tốt với điều kiện bất lợi của môi trường: mực nướcthấp, nhiệt độ cao, độ ưong thấp, ngoài ra do có cơ quan hô hấp phụ nên cá có thể sốngđược môi trường có pH thấp, hàm lượng oxy thấp (Bonsoom, 1986)

Sản lượng cá Sặc Rằn tương đối cao so với một số loại cá đồng khác Tuy nhiên, ưongnhững năm gần đây sản lượng cá Sặc Rằn ngoài tự nhiên đã giảm đáng kể, sản lượng

cá khai thác ít đi, cở cá thu hoạch nhỏ, chủ yếu tập trung ở một số địa phương thuộctỉnh Cà Mau, Kiên Giang, An Giang Một số vùng khác thì sản lượng cá Sặc Rằn đã ưởnên khan hiếm Việc đưa cá Sặc Rằn vào sinh sản nhân tạo nhằm cung cấp giống đảmbảo đủ nhu cầu con giống cho ngưòi nuôi vẫn chưa thật sự mang lại hiệu quả cao.Nguyên nhân là khi kích thích cho cá sinh sản thì sức sinh sản thực tế biến động lớn,phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ, chất lượng cá bố mẹ không ổn định

Hiện nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về việc cho cá Sặc Rằn sinh sản nhân tạo, tuynhiên các kết quả của những tác giả này hoàn toàn khác biệt nhau và cũng chưa thể xácđịnh được liều lượng kích thích tố thấp nhất gây rụng trứng ở cá Sặc Rằn

Vì vậy, việc tìm ra liều lượng kích thích tố thấp nhất có tác dụng tốt lên sự sinh sản của

cá rất quan trọng Do đố đề tài: ” Th ử n gh i ệ m k í ch t hí c h cá S ặ c R ằ n s i n h

s ả n v ó i cá c l o ạ i k í ch t hí c h t ố k há c n h a u ở cá c l i ề u l ư ợ n g t h ấp ”

được thực hiện

Trang 7

1.2 Mục tiêu

• Xác định liều lượng kích thích tố thấp nhất có tác dụng gây rụng và đẻ trứng ở

cá Sặc Rằn

• Rèn luyện và nâng cao kỹ năng sản xuất giống cá Sặc Rằn

• Chủ động nguồn giống, góp phần hoàn chỉnh quy ưình sản xuất giống cá Sặc Rằn

Trang 8

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Đặc đỉễm phân loại và phân bố của cá Sặc Rằn

2.1.1 Đặc điểm phân loạỉ

Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) định loại cá Sặc Rằn như sau:

Bộ phụ: AnabantoỉdeỉHọ: AnabantidaeGiống: Trichogaster

Loài: Trichogaster pectoralis (Regan, 1910)

Tên tiếng Anh: Snakeskin Gouramy Tên địa phương: Cá Sặc Rằn, cá

Trang 9

Cá có dạng hình thuỗn Miệng nhỏ, hướng lên trên Hàm dưới ưồ Đầu phủ vẩy Mắtlớn Vi lưng có các tia cứng ngắn, tia mềm kéo dài Có một số vẩy nhỏ chồng lên gốc

vi lưng Vi hậu môn rất dài Vi ngực phát triển Cá có màu xám sậm nâu với các tiaxanh đen hoặc xám đen chạy dọc bề mặt cơ thể và có một ít vân ngang màu nâu đậm.Trên vi lưng, vi hậu môn, vi đuôi có chấm đen sậm nhỏ

Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) sau khi phân tích 23 mẫu thu thập ởnhiều nơi tại vùng ĐBSCL đã mô tả về cá Sặc Rằn như sau: Đầu nhỏ, dẹp bên Mõmngắn Miệng hơi hướng trên Mắt lớn Thân cá dẹp bên vẩy lược phủ khắp thân vàđầu, có một số vẩy nhỏ chồng lên gốc vi hậu môn, vi đuôi, vi bụng, vi ngực Đườngbên bắt đầu từ mép trên lỗ mang, cong lên phía trên một đoạn ngắn rồi uốn cong tớitrục giữa thân sau đó chạy ngoằn ngoèo đến giữa gốc vi đuôi Khởi điểm vi lưng ngangvới vẩy đường bên thứ 17 - 19 Ở cá đực khi trưởng thành, vi lưng kéo dài tới khỏi gốc

vi đuôi còn cá cái thì vi này ngắn, chưa tới gốc vi đuôi Gốc vi hậu môn kéo dài Khởiđiểm vi hậu môn ngang với vẩy đường bên thứ 5 và phần cuối nối với vi đuôi Gai vilưng, vi hậu môn cứng, nhọn Tia phân nhánh đầu tiên của vi bụng kéo dài có thể chạmtới ngọn vi đuôi Vi đuôi chẽ hai, rãnh chẻ cạn và phần cuối cuả 2 thùy vi đuôi tròn.Phần bụng của thân và đầu có màu xanh đen hoặc xám đen và lợt dần xuống bụng Cónhiều sọc đen nằm xiên vắt ngang thân cá Chiều rộng 2 sọc lớn hơn khoảng cách 2sọc Ở cá nhỏ các sọc ngang chưa rõ nhưng có 1 sọc dọc chạy từ mõm tới gốc vi đuôi

và ở gốc vi đuôi có 1 chấm đen tròn Chấm và sọc này lợt dần và mất hẳn khi cá lớn

Vi cá có màu xanh đen hoặc xám đen

Từ những dẫn liệu thu thập được cho thấy có đôi chỗ khác nhau trong các mô tả.Những điểm khác nhau này, biểu hiện sự thay đổi trong nội bộ loài khi cá sống trongcác vùng địa lý khác nhau với điều kiện sinh thái không giống nhau Đó cũng là kếtquả của sự biến dị thích nghi trong những vùng mà cá Sặc Rằn phân bố (Nguyễn VănKiểm vàcsv, 1999)

Các công trình nghiên cứu đi sâu vào việc tìm hiểu về các đặc điểm sinh vật học, các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá Sặc Rằn nói riêng và các loài cá khác nói chung rất cần thiết và quan trọng để phát triển hơn nữa nghề nuôi cá ở vùng ĐBSCL

Trang 10

Theo Hoưa và Pilay (1962) cho rằng cá Sặc Rằn phân bố tự nhiên ở các nước thuộckhu vực Đông Nam Á như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Campuchia và NamViệt Nam Cá có thể sinh sản rộng rãi ở kênh rạch, ruộng lúa, rừng ừàm, ao, hồ Cá SặcRằn đặc biệt thích sống ở các thuỷ vực có nhiều cây cỏ thuỷ sinh và có nhiều chất hữu

cơ Tại Việt Nam, trong vùng châu thổ sông MeKong, cá phân bố tập ừung trong cácvùng trũng ngập nước quanh năm, sinh sản tự nhiên trong ao, ruộng, kinh mương nơichúng cư trú, đặc biệt là những nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh với nhiều chất hữu cơ.Ngoài ra, cá Sặc Rằn còn có khả năng sử dụng các loại thức ăn khác nhau do con ngưòicung cấp: bột ngũ cốc, xác bã động thực vật, bột cá Hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang

là vùng phân bố tập ừung và có sản lượng cao hiện nay ở ĐBSCL Loài cá này cũng

được nuôi phổ biến trong ruộng lúa và ao gia đình (Nguyễn Văn Kiểm và csv, 1999).

2.2 Đặc điểm sinh học

2.2.1 Sinh trưởng

Cá Sặc Rằn sinh trưởng chậm, ở các ao nuôi và các thủy vực tự nhiên ở ĐBSCL, cá cótrọng lượng khoảng 50 - 80 g/con sau 1 năm nuôi, sau 2 năm có thể đạt từ 100 - 150g/con Cá lớn nhanh ừong 7 tháng đầu, cá lớn nhanh vào mùa mưa, vào mùa khô sứclớn cá giảm (Lê Như Xuân, 1993)

Theo Lê Như Xuân ( 1 9 9 3 ) nếu nhiệt độ trong khoảng 28 - 3 0 ° c thời gian phát ừiển phôi 24h - 26h Cá con sau khi nở ra sẽ tự dinh dưỡng bằng noãn hoàng trong 2 - 3

ngày Sau khi hết noãn hoàng cá con sẽ xuống dưói lớp nước sâu hơn để kiếm thức ăn

Chiều dài tối đa của cá khoảng 25 cm Theo Quách Thanh Hùng và csv (1999) nếu cá

đực và cá cái cùng tuổi thì cá đực có trọng lượng nhỏ hơn, lý do khiến cá đực có trọnglượng nhỏ hơn cá cái có thể là do trong quá trình sinh sản cá đực thường phải giữ tổ vàchăm sóc đàn cá con nên chúng thường ăn ít hoặc đôi khi bỏ ăn Cá ương ưong ao đạtchiều dài 2-3 cm sau 30 - 35 ngày, thức ăn cho cá ban đầu là động vật phiêu sinh cókích thước nhỏ như luân trùng, các chất lơ lửng, tảo khi cá lớn hơn thì ăn nhiều loạithức ăn hơn, cá ăn thiên về thực vật

Đối với cá Sặc Rằn, vì phân bố chủ yếu ừên đồng ruộng hay các vùng trũng phèn ngậpnước, nên thời điểm hình thành vòng tuổi rất có thể là các tháng mùa khô Bởi vì trongnhững tháng này cá thường tập trung ở ao, đìa, kênh mương với mật độ cao, môitrường khắc nghiệt, thiếu thức ăn (Trương Thủ Khoa và Nguyễn Minh Trung, 1980).Trong điều kiện ĐBSCL những nghiên cứu trước đây cho rằng, độ béo của cá thườngđạt cao nhất vào các tháng mùa khô, tới đầu mùa mưa Tương phản với độ béo là sự

Trang 11

phát triển lớn dần lên của tuyến sinh dục Độ béo giảm dần ở các tháng mùa mưa, kếtthúc mùa sinh sản và sau đó lại tiếp tục một chu kỳ mới (Trương Quan Trí, 1987).

2.2.2 Sinh sản

Ho ra và Pillay (1962) cho rằng cá Sặc Rằn thành thục lần đầu sau 7 tháng tuổi Khithành thục có thể phân biệt dễ dàng cá đực, cá cái bằng các biểu hiện bên ngoài củadấu hiệu sinh dục phụ Smith (1945) cho biết cá Sặc Rằn ở Thái Lan đến thời kỳ thànhthục, ở cá đực phần tia mềm vây lưng kéo dài tới hoặc vượt khỏi gốc vi đuôi, còn cácái thì vi này rất ngắn và không bao giờ chạm tới gốc vi đuôi Hiện tượng tương tự nhưvậy cũng thấy ở cá Sặc Rằn phân bố tại ĐBSCL (Nguyễn Tường Anh, 2004) Ngoàichỉ tiêu căn bản này, cũng có thể phân biệt cá đực với các sọc ngang đậm nét chạy từlưng xuống bụng rõ hơn cá cái và miệng của nó cũng lớn hơn (Lê Như Xuân, 1993;Trương Thủ Khoa và Nguyễn Minh Trung, 1980) Sự phát triển tuyến sinh dục của cáSặc Rằn ở vùng ĐBSCL theo mùa rất rõ (Lê Như Xuân, 1993; Trương Thủ Khoa vàNguyễn Minh Trung, 1980) Vào mùa khô (Tháng 1- tháng 2), phần lớn tuyến sinh dụccủa cá ở giai đoạn II, sang tháng 3 tăng dần giai đoạn III và đã thấy xuất hiện những cáthể có tuyến sinh dục ở thời kỳ đầu của giai đoạn IV Trong khoảng thời gian ngắn củathời điểm giao mùa, mùa khô sang mùa mưa, là sự chuyển biến rất nhanh của tuyếnsinh dục Thời kỳ này, tuyến sinh dục cá phần lớn ở giai đoạn IV chỉ một số ít cá cótuyến sinh dục ở giai đoạn III Khi mùa mưa tới, nhất là sau những ưận mưa đầu mùa,

cá tìm tới những nơi nước cạn ven bờ, nhiều cây cỏ thủy sinh để sinh sản Cá sinh sảntrong suốt mùa mưa nên trong đàn luôn xuất hiện những cá thể ở nhiều giai đoạn thànhthục khác nhau (giai đoạn IV, V, VI) và giai đoạn trung gian VI - II Ở thời điểm cuốimùa mưa (tháng 10 - thángl 1), ít bắt gặp cá thành thục giai đoạn IV, tuyến sinh dụccủa cá phần lớn lúc này ở giai đoạn VI, VI - II và giai đoạn II Hệ số thành thục(HSTT) là một chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng sinh sản, cũng như các vấn đề

có liên quan khác Ở ĐBSCL khi tuyến sinh dục chuyển sang giai đoạn IV, HSTT cũngtăng dần và đạt giá trị cao vào tháng 5, tháng 6 với số liệu lần lượt là 11,22% và12,97% và có thể đạt tới 22% (Nguyễn Tường Anh, 2004) HSTT giảm dần ở các thángcuối mùa mưa, đầu mùa khô (Tháng 10,11, 12, 1, 2) (Lê Như Xuân, 1993; Trương ThủKhoa và Nguyễn Minh Trung, 1980)

Cũng như một số loài thuộc giống Trichogaster, khi sinh sản cá Sặc Rằn bắt cặp và tìmđến vùng nước ven bờ, nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh để đẻ Hoạt động sinh sản bắt đầuvới tổ làm bằng bọt của cá đực, sau đó trứng đẻ ra ngoài được thụ tinh và cũng chính

cá đực dùng miệng gom trứng lại rồi đặt vào tổ bọt (Hora và Pillay, 1962; Lê NhưXuân, 1993) Sức sinh sản của cá Sặc Rằn dao động 200.000 - 300.000 trứng/kg cá cái.(Nguyễn Tường Anh, 2004) Kể từ khi trứng thụ tinh, trong điều kiện nhiệt độ nước27- 29 °c cá nở sau 20h - 23h Trong suốt thời gian kể từ khi trứng đẻ tới lúc nở và

11

Trang 12

dinh dưỡng bằng noãn hoàng, cá đực thường xuyên bơi lội quanh tổ để bảo vệ và dùng

vây quạt nước cung cấp oxy cho trứng (Nguyễn Văn Kiểm và csv, 1999).

Thời gian tái phát dục ở cá Sặc Rằn có thể từ 25 - 30 ngày, trong điều kiện đầy đủ thức

ăn cá Sặc Rằn có thể đẻ được 3 - 4 lần /năm (Phạm Văn Khánh, 2005)

2.2.3 Dinh dưỡng

Cũng như nhiều loài cá khác, ở thời kỳ đầu sau khi nở, cá dinh dưỡng bằng noãnhoàng Sau khi noãn hoàng tiêu biến cá chuyển sang ăn thức ăn bên ngoài (Lê NhưXuân, 1993) Thức ăn ở thời kỳ đầu gồm nhiều loại như phiêu sinh động vật (Ciliata,Rotiíera, Copepoda, Cladocera), phiêu sinh thực vật (Bacillariophyceae,Cyanophyceae, ITagellata, Chlorophyceae và mùn bã hữu cơ) Ở thời kỳ trưởng thành,cấu tạo bộ máy tiêu hoá của cá phù hợp với loài ăn tạp Những loại thức ăn thườngxuyên bắt gặp và chiếm khối lượng lớn ừong ruột cá Sặc Rằn gồm: mùn bã hữu cơ,thực vật phiêu sinh, động vật phiêu sinh, mầm non thực vật cũng như các loại thực vậtthủy sinh mềm trong nước Ngoài ra, cá cũng sử dụng tốt các loại thức ăn do con ngườicung cấp như: bột ngũ cốc các loại, động vật và khi thiếu thức ăn chúng ăn cả trứng

của chính nó (Quách Thanh Hùng và csv, 1999).

2.2.4 Khả năng thích nghi vói môi trường

Cá Sặc Rằn có thể sống được ở nước thiếu hoặc không có oxy ừong một thời gian nhờ

có cơ quan hô hấp phụ Ngoài ra, cá còn có khả năng chịu được môi trường nướcnhiễm bẩn, có hàm lượng hữu cơ cao và môi trường có hàm lượng pH thấp (pH có thể

từ 4 - 4,5) (Nguyễn Tường Anh, 2004)

Nguyễn Phú Trí (1990) cho rằng cá Sặc Rằn sinh trưởng và phát ừiển tốt ở nhiệt độ từ

24 - 30 °c và nhiệt độ thích ứng của cá dao động từ 11- 39 °c.

Trong thời kỳ phát ừiển của phôi, cũng như các loài cá nuôi khác, phôi cá Sặc Rằn rấtnhạy cảm với các yếu tố môi trường: nhiệt độ, oxy hoà tan, pH, Nếu các yếu tố môitrường ổn định hoặc biến động ừong khoảng thích hợp thì phôi cá phát triển bìnhthường, cá con sinh ra khoẻ mạnh

Trong các yếu tố môi trường nêu trên thì nhiệt độ là yếu tố có tác động rất lớn Nhiệt độ thích hợp cho quá ừình phát triển phôi cá từ 27 - 29 °c

(Nguyễn Thị Ngọc Thuý, 1998)

12

Trang 13

2.3 Sơ lược tình hình nuôi cá Sặc Rằn

2.3.1 Sơ lược tình hình nuôi cá Sặc Rằn trên thế giới

Theo Soong (1948) trích dẫn bởi Lê Như Xuân (1997) mặc dù không phân bố tự nhiên

ở Mã Lai, song những năm đầu thập kỹ 20 cá Sặc Rằn đã được nhập từ Thái Lan Sảnlượng cá Sặc Rằn nuôi trong ruộng lúa tại Mã Lai thường chiếm gần 50% so với tổngsản lượng các loài cá đồng được nuôi cùng Tại Thái Lan, cá Sặc Rằn bắt đầu đượcnuôi từ năm 1922, cũng là thời điểm đánh dấu cho nghề nuôi cá của nước này TheoYoonpundh (1992) trích dẫn bởi Nguyễn Thị Ngọc Hà (2009) cho rằng loại hình nuôiquảng canh được áp dụng nhiều với diện tích từ 3 - 20 ha Tuy nhiên, nuôi cá Sặc Rằntại nước này có xu hướng giảm dần, thí dụ từ năm 1986 sản lượng cá Sặc Rằn là 18%đến năm 1989 chỉ còn 13,4% ừên tổng sản lượng cá nước ngọt Cũng theo Yoonpundh(1992) nguyên nhân giảm sản lượng là do: việc quản lý không chặt do diện tích nuôilớn, thiếu kiến thức về nuôi cá, nguồn giống không ổn định Vào năm 1991, cục nghề

cá Thái Lan cho biết, sản lượng cá Sặc Rằn chiếm khoảng 10,8% tương đương 9,7% vềgiá trị so với tổng sản lượng cá nước ngọt của Thái Lan (Komtorn Kaewpaitoon,1994)

2.3.2 Sơ lược và hiện trạng nuôi cá Sặc Rằn ở ĐBSCL

Cá Sặc Rằn tăng trưởng chậm so với các loài cá khác, nhưng với đặc điểm thích nghitốt với điều kiện môi trường khắc nghiệt và phổ thức ăn rộng nên có thể nuôi cá SặcRằn với nhiều mô hình khác nhau Hiện nay cá Sặc Rằn không chỉ tiêu thụ nội địa màcòn xuất khẩu sang một số thị trường khác trên thế giới ở dạng cá khô Nuôi cá SặcRằn đang là một xu hướng cho phát triển nuôi cá nước ngọt để cung cấp nguồn thựcphẩm có tiếng này Việc chủ động sản xuất giống nhân tạo và nuôi cá thương phẩmcũng phát ưiển tại nhiều nơi ở Nam bộ như Tây Ninh, cần Thơ, Hậu Giang, An Giang,

Cà Mau Hiện nay có nhiều mô hình nuôi ghép cá Sặc Rằn với các loài cá khác như

cá Rô Đồng, cá Hường, cá Lóc trong đó cá Sặc Rằn thường được ghép với tỷ lệ daođộng từ 30 - 70% tuỳ thuộc vào dạng mô hình nuôi

Gần đây bên cạnh các mô hình nuôi kếp hợp thì có thể áp dụng phương pháp nuôi đơndưói dạng bán thâm canh hay thâm canh cá Sặc Rằn ừong ao đất với mật độ cá thả daođộng từ 5 - 7 con/m2 tăng lên 30 - 40 con/m2 (Dương Nhựt Long, 2009) Tuy nhiên, vớicác hình thức nuôi bán thâm canh hay nuôi ghép từ thực tế cho thấy các mô hình nàycho hiệu quả không cao do thời gian nuôi kéo dài, năng suất thấp, do đó việc thực hiện

mô hình nuôi thâm canh cá Sặc Rằn đang được ngưòi nuôi thuỷ sản quan tâm

Thông qua số liệu từ các trạm nông, khuyến ngư của các tỉnh cần Thơ, Hậu Giang vàmột số huyện của tỉnh An Giang cho thấy rằng năng suất nuôi nuôi cá Sặc Rằn của các

mô hình nuôi như sau: Với mô hình nuôi cá kết hợp với heo, mật độ thả là 10 - 15con/m2, năng suất cá Sặc Rằn từ 4 - 5 tấn/ha (tối đa là 7 - 8 tấn/ha) Mô hình nuôi ghépcác loại cá với nhau, mật độ thả 10 - 20 con/m2, năng suất đạt 3 - 4 tấn/ha Trong quá

Trang 14

trình nuôi, thức ăn sử dụng cho cá là thức ăn tự chế (cám + các loại phụ phẩm của nhàmáy chế biến thuỷ sản, hay cá tạp ) kết hợp với thức ăn công nghiệp, trong đó thức ăn

tự chế chiếm tỉ lệ cao hơn (từ 60 - 70%) Do đó, khi thả nuôi kết hợp cá Sặc Rằn vớicác đối tượng nuôi khác thì năng suất thường không cao và cở cá khi thu hoạch thườngnhỏ, không đáp ứng cho việc làm cá khô xuất khẩu Hiện nay, mô hình nuôi đơn cá SặcRằn ở các tỉnh ĐBSCL không nhiều, do đó chưa có số liệu thống kê chính xác về diệntích cũng như tình hình nuôi của mô hình này Theo số liệu tại tỉnh Tiền Giang có 1 vài

hộ nuôi chuyên canh cá Sặc Rằn (khoảng 4ha) khi sử dụng thức ăn công nghiệp, hàmlượng đạm từ 32 - 35%, năng suất sau 8 tháng nuôi đạt 15 - 20 tấn/ha Hiện nay, tại AnGiang, An Phú là huyện có ngưòi nuôi cá Sặc Rằn tập trung nhiều nhất Việc duy trì vàphát triển nguồn lợi cá đồng gồm 4 loài cá: cá Lóc, cá Rô Đồng, cá Trê Vàng, cá SặcRằn đã được thực hiện ở ngư trường sông Trẹm tỉnh Cà Mau Chính quyền địa phươngđang qui hoạch vùng nuôi thương phẩm cá Sặc Rằn nhằm cung cấp nguồn nguyên liệucho xuất khẩu (Phạm Minh Thành, 2006)

Tuy nhiên, trong quá trình nuôi, người nuôi cũng gặp phải khó khăn như: Kỹ thuậtương nuôi còn hạn chế nên sản phẩm thu hoạch thường không đạt được kích cỡ thươngphẩm, vì vậy hiệu quả mang lại chưa cao Việc ương cá Sặc Rằn từ bột lên giống chưaphát triển mạnh ở các xã thuộc huyện An Phú - An Giang (là huyện có số lượng hộnuôi cá Sặc Rằn nhiều nhất hiện nay) do nông dân chưa nắm bắt kịp thời những kỹthuật đã được chuyển giao hoặc chưa vận dụng các kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cáSặc Rằn một cách có hiệu quả (Huỳnh Ngọc Dũng, 2008) Từ thực trạng trên, việcnghiên cứu về nuôi cá Sặc Rằn thương phẩm, sử dụng thức ăn công nghiệp là yêu cầucần thiết nhằm góp phần nâng cao năng suất sản lượng cá Sặc Rằn, chuyển giao mộtcách rộng rãi các kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá Sặc Rằn, đa dạng sản phẩm xuấtkhẩu nhằm nâng cao hiệu quả, lợi nhuận cho ngưòi dân

2.4 Các biện pháp kích thích cá sinh sản

2.4.1 Sinh sản tự nhiên

Theo Nguyễn Văn Kiểm và csv (1999) vùng phân bố của cá Sặc Rằn tập trung ở

ĐBSCL trong đó chủ yếu là hai khu vực rừng u Minh thượng thuộc hai tỉnh Cà Mau

và Kiên Giang Đây là vùng đất nhiễm phèn trung bình và nhẹ, có thể bị nhiễm mặnvào mùa khô

Vào mùa mưa nhiệt độ hạ thấp, mức nước tăng dần làm thay đổi tính chất của môitrường nước, kích thích sự phát triển của thức ăn tự nhiên, thúc đẩy cá tìm đến môitrường thích họp để sinh sản

Phương pháp cho đẻ tự nhiên rất đơn giản ít tốn công sức nhưng tỷ lệ hao hụt caothường thì do cá đẻ không tập trung, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá conthấp: thông thường cá được giữ trong ao vào mùa khô cho đến khi mùa mưa tới mựcnước trên ruộng đạt khoảng 10-20 cm (vào tháng 5 - 6) đây là thời điểm tốt để thả cá ra

Trang 15

ruộng và cá sẽ đẻ rộ sau 5 - 7 ngày Cá con sinh ra và lớn lên trong ruộng lúa với nguồnthức ăn sẵn có ưong tự nhiên.

2.4.2 Cho cá đẻ nhân tạo

Trong sinh sản nhân tạo theo Chung Lân và csv (1969) cho rằng: nguyên lý của kích

thích sinh sản là dựa vào nguyên lý chung về sinh vật học, ưong quá trình sinh sản tựnhiên của cá, đồng thời vì biết rằng ưong ao nuôi không đủ điều kiện sinh thái làm thoảmãn những yêu cầu về sinh sản của cá bố mẹ mà ngưòi ta dùng phương pháp tiêm chấtkích thích

Vì thế, kích thích tố là một yêu cầu cần thiết để tạo cho cơ thể cá có một điều kiện nhấtđịnh thoả mãn về sinh lý, sinh thái cho cơ thể cá tiến hành sinh sản Trên cơ sở đó kíchthích sinh sản nhân tạo cá Sặc Rằn bằng các loại kích thích tố cũng được nhiều tác giảnghiên cứu Các loại kích thích tố như HCG, não thuỳ, LRH-a, đều có tác dụng làmrụng trứng và kích thích cá Sặc Rằn sinh sản tốt

Đối với cá Sặc Rằn, Nguyễn Tường Anh (2004) đã sử dụng kích thích tố HCG để cho

sinh sản, liều lượng 2.500 - 3.000 UI HCG/kg cá cái, liều tiêm cho cá đực bằng Vi liều

tiêm cho cá cái, kết quả tốt với tỉ lệ cá đẻ là 75%, tỉ lệ thụ tinh 92% và tỉ lệ nở là 95%.Trong khi đó nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nho và Lê Như Xuân (1998) cho sinh sản

cá Sặc Rằn bằng kết họp 2 loại hormon HCG và não thuỳ thể cá chép với liều lượng2.500 UI + 0,54 mg não/kg cá cái, tỉ lệ cá sinh sản 100%, tỉ lệ thụ tinh 98,5%, tỉ lệ nở94%

Tương tự Nguyễn Văn Kiểm và csv (1999) cũng cho cá đẻ bằng cách tiêm HCG với

các liều lượng khác nhau từ 500 - 5.000 Ul/kg Qua kết quả nghiên cứu cho thấy ở tất

cả các liều lượng thì cá đều sinh sản nhưng ở liều lượng 1.000 Ul/kg và 1.500 Ul/kg thìsức sinh sản đạt cao hơn so với các liều cao 4.000 - 5.000 Ul/kg

Theo Lê Như Xuân (1993) thì liều lượng HCG được sử dụng là từ 2.500 - 4.000 Ul/kgthường được sử dụng cho cá Sặc Rằn sinh sản Nhưng kết quả thu được có sự biếnđộng lớn (từ 100.000 - 230.000 trứng/kg) vì phụ thuộc vào chất lượng cá bố mẹ

Còn theo Quách Thanh Hùng và csv (1999) sử dụng HCG kết họp với não thuỳ với liều

lượng từ 500 - 4.000 UI + 0,54 mg/kg đã làm tỷ lệ đẻ trứng của cá tăng lên 17,7% sovới sử dụng HCG đơn thuần Các chỉ tiêu như tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, sức sinh sảntương đối thực tế cũng đều cao hơn các nghiệm thức sử dụng HCG đơn thuần

Sự hợp lực của các loại hormon sẽ có tác dụng làm tăng hiệu quả về mặt sinh học cũngnhư tính kinh tế trong thực tế sản xuất khi kích thích sinh sản không chỉ riêng cá SặcRằn mà còn đối với nhiều loài cá nuôi khác

Mục đích của việc phối họp HCG + não thuỳ nhằm thúc đẩy nhanh tốc độ chín cũngnhư quá trình rụng trứng ở cá Bản chất của việc kết hợp này chủ yếu là dựa ừên sự hợplực của hormom FSH có chứa ừong não và LH ưong HCG làm tăng cường các quá

Trang 16

trình chuyển hoá trong buồng trứng của cá mà nếu như một loại hormon không đủ(Nguyễn Tường Anh, 1994).

Trên đây là một số nghiên cứu của các tác giả ghi nhận được khi sử dụng hormon đểkích thích cá sinh sản tuy nhiên các kết quả này khác nhau, không ổn định và các kếtquả đều cho rằng khi sử dụng HCG với liều cao thì hiệu quả và kinh tế hon ở liều thấpnhưng cũng chưa xác định liều lượng kích thích tố thấp tối thiểu nào mà cá có thể sinhsản được cũng như việc sử dụng LRH-a hay não thuỳ thể cho kết quả sinh sản khácbiệt như thế nào so với việc sử dụng HCG đon thuần Vì vậy, mà đề tài nghiên cứu nàyđược thực hiện nhằm khẳng định liều kích tố thấp nhất tác dụng kích thích cá Sặc Rằn

Theo Nguyễn Tường Anh (2004) ở đầu vụ sinh sản, do tính nhạy cảm của nang trứngchưa cao đặc biệt là sự tiếp nhận của nang trứng đối với đối với yếu tố gây chín vàrụng trứng Do đó ở đầu mùa sinh sản nếu chỉ sử dụng HCG đon thuần thì tỷ lệ cá đẻthường thấp (do HCG không tham gia vào quá ừình thành thục của trứng), trong khi đónếu kết hợp với não thuỳ thì tỷ lệ rụng trứng có thể tăng thêm 10 - 15% (do trong nãothuỳ có yếu tố thúc đẩy cá thành thục thêm một bước là FSH) Tỷ lệ não thuỳ là 30%

so với tổng liều lượng

Ngày đăng: 24/04/2018, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w