Đề bài: Câu 1: Hãy nêu những quy định của pháp luật Việt Nam về việc bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực việc làm và liên hệ với thực tiễn. Câu 2: A kí HĐLĐ với DN X thời hạn 3 năm. SAu khi ký hợp đồng, tháng 2217. A và một số lao động khác được DN X cử sang làm việc cho DN Y trong thoài hạn 1 năm với mức lương 5 triệu đồng tháng. Mức lương của những lao động có cùng công việc với anh A ở DN Y là 7 triệu đồng tháng. Tháng 12 năm 2017, A bị lập biên bảo vì hành vi trộm cắp tài sản của DN. Sau khi tiến hành các thủ tục xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật,giám đốc DN Y đã ra quyết định sa thải A vì lý do A đã vi phạm nội quy lao động của công ty Y và vi phạm điều 126 của BLLĐ. Hỏi: 1. Việc DN X cử lao động của mình sang làm việc cho DN Y là hoạt động gì? Để thực hiện hoạt động này, DN X phải đảm bảo những điều kiện gì? 2. Nhận xết về vấn đề thời hạn và tiền lương của A khi sang làm việc cho DN Y. 3. DN Y có quyền ra quyết định sa thải với A không? Tại sao?
Trang 1Đề bài:
Câu 1: Hãy nêu những quy định của pháp luật Việt Nam về việc bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực việc làm và liên hệ với thực tiễn
Câu 2:
A kí HĐLĐ với DN X thời hạn 3 năm SAu khi ký hợp đồng, tháng 2/2-17
A và một số lao động khác được DN X cử sang làm việc cho DN Y trong thoài hạn 1 năm với mức lương 5 triệu đồng/ tháng Mức lương của những lao động
có cùng công việc với anh A ở DN Y là 7 triệu đồng/ tháng Tháng 12 năm
2017, A bị lập biên bảo vì hành vi trộm cắp tài sản của DN Sau khi tiến hành các thủ tục xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật,giám đốc DN Y đã ra quyết định sa thải A vì lý do A đã vi phạm nội quy lao động của công ty Y và vi phạm điều 126 của BLLĐ
Hỏi:
1 Việc DN X cử lao động của mình sang làm việc cho DN Y là hoạt động gì? Để thực hiện hoạt động này, DN X phải đảm bảo những điều kiện gì?
2 Nhận xết về vấn đề thời hạn và tiền lương của A khi sang làm việc cho
DN Y
3 DN Y có quyền ra quyết định sa thải với A không? Tại sao?
Trang 2A MỞ ĐẦU
Trong thị trường lao động, có những đối tượng lao động đặc thù, có sức cạnh tranh thấp hơn, cần được bảo vệ và có những chính sách hỗ trợ để đảm bảo việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động, trong đó phải kể đến một lực lượng đông đảo là lao động nữ Vì những đặc thù về sinh học, lao động nữ yếu thế hơn lao động nam rất nhiều, dẫn đến việc tìm kiếm việc làm hết sức khó khăn Vậy pháp luật lao động Việt Nam có những quy định gì về việc bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực việc làm?
Cho thuê lại lao động là một ngành nghề mới được quy định trong BLLĐ
2012, hứa hẹn mở ra một “chân trời mới” để các doanh nghiệp có thể khai thác
và kinh doanh Tuy nhiên, vì là lĩnh vực mới nên việc nắm bắt quy định của pháp luật của các doanh nghiệp chưa tốt, việc vi phạm pháp luật còn nhiều Thông qua việc xử lý tình huống bài tập, hi vọng có thể làm rõ và áp dụng một
số quy định của pháp luật về cho thuê lại lao động
Tác giả xin trình bày đề 1 trong bộ bài tập môn Luật lao động 2 Trường đại học Luật Hà Nội để làm rõ hai vấn đề trên Bài làm còn nhiều thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của thầy cô để hoàn thiện hơn
I LÝ THUYẾT
1 Quy định của pháp luật về việc bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực việc làm
Chính sách tạo việc làm là một trong các chính sách hàng đầu của quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội Ở Việt Nam, chính sách việc làm gắn liền với các quy định về bình đẳng giới, việc bảo vệ người lao động nữ trong lĩnh vực việc làm được quan tâm đặc biệt, nhờ vậy đã
có những chuyển biến tích cực, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích cũng như nâng cao vị thế của lao động nữ trong thị trường lao động
2
Trang 3Lao động nữ là người lao động thuộc giới nữ và khi tham gia quan hệ lao động có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người lao động, đồng thời, đượcpháp luật lao động dành cho những quy định áp dụng riêng
Bộ luật Lao động 2012 và các văn bản pháp luật có liên quan quy định rõ
về việc bảo hộ lao động nữ trong lĩnh vực việc làm như sau:
Trách nhiệm của nhà nước:
Hiến pháp cũng như pháp luật lao động quy định những trách nhiệm chung của nhà nướcđể một mặt người lao động nữ có quyền làm việc như nam giới, mặt khác có thể có việc làm thường xuyên phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh Theo đó: mọi người có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, không phân biệt đối xử về giới tính thành phần xã hội Đối với lao động
nữ, Nhà nước còn có trách nhiệm đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng với nam giới, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện
để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng tãi chế độ làm việc không trọng ngày, không trọng tuần, giao việc làm tại nhà Khoản 2 điều 5 nghị định 85/2015/NĐ - CP quy định:
“Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động:
a) Ưu tiên tuyển dụng, sử dụng phụ nữ vào làm việc khi người đó đủ điều kiện, tiêu chuẩn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ;
b) Thực hiện các chính sách đối với lao động nữ tốt hơn so với quy định của pháp luật.”
Các quy định nêu trên mặc dù mới chỉ là những quy định chung mang tính nguyên tắc nhưng cũng là những định hướng thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của Nhà nước đối với lao động nữ
Trách nhiệm của người sử dụng lao động:
Nếu trách nhiệm của Nhà nước chỉ mang tính nguyên tắc thì đối với người
sử dụng lao động, pháp luật đã xã định những trách nhiệm rất cụ thể trong lĩnh vực việc làm của người lao động
Trang 4- Đầu tiên, người lao động phải đảm bảo quyền bình đẳng giới trong lao động Điểm a khoản 1 điều 5 Nghị định 85/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một
số điều của bộ luật lao động về chính sách đối với lao động nữ ghi nhận:
“Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện quyền bình đẳng giữa
lao động nữ và lao động nam trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, tiền lương, khen thưởng, thăng tiến, trả công lao động, các chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, điều kiện lao động, an toàn lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, các chế độ phúc lợi khác về vật chất và tinh thần;”.
Trong tuyển dụng cũng như thực hiện hợp đồng lao động, lao động nữ cần được đối xử công bằng về mọi mặt, cần đươc tạo điều kiện để phát huy hết giá trị của bản thân trong nền kinh tế thị trường Thực hiện chính sách bình đẳng giới là điều kiện quan trọng để gia tăng khả năng cạnh tranh về việc làm cho lao động nữ ở Việt Nam
- Thứ hai, theo quy định của pháp luật lao động, có một số công việc cấm
sử dụng lao động nữ như:
“1 Công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.
2 Công việc phải ngâm mình thường xuyên dưới nước.
3 Công việc làm thường xuyên dưới hầm mỏ.” (điều 160 BLLĐ 2012)
Trách nhiệm của người sử dụng lao động là điều chuyển lao động nữ đang làm các công việc này sang làm những công việc khác phù hợp Các công việc này được quy định trong danh mục công việc cấp sử dụng lao động nữ của Bộ LĐTB&XH và Bộ Y Tế, gồm những công việc trong môi trường độc hại hoặc đặc biệt độc hại ảnh hưởng một cách nghiêm trọng đến sực khỏe sinh sản của lao động nữ
- Thứ ba, Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi (trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt
4
Trang 5hoạt động) Ngoài ra, người sử dụng lao động cần đảm bảo việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản theo quy định tại điều 158 BLLĐ 2012:
“Lao động nữ được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 157 của Bộ luật này; trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản.”
Ngoài khả năng lao động, lao động nữ còn gánh thiên chức làm mẹ, đây cũng là một trong các lý do khiến cho sức cạnh tranh của lao động nữ trong thị trường lao động không lớn Theo quy định của luật Bảo hiểm xã hội, thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ kéo dài 6 tháng Khoảng thời gian này tương đối dài, có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất của doanh nghiệp, nhất là các công việc đặc thù, khó tìm được người thay thế tạm thời Những năm qua, thực
tế cho thấy nhiều doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng với lao động nữ sau thời gian thai sản với lý do không còn công việc cũ Điều 158 BLLĐ 2012 quy định nhằm đảm bảo ổn định việc làm cho người lao động nữ, để nữ giới yên tâm thực hiện thiên chức của mình Tuy nhiên, điều này gây ra khá nhiều bất lợi cho doanh nghiệp, giữ lại công việc cho người lao động nữ sau thai sản đã khó, “bố trí việc làm khác” càng không dễ dàng
Mục đích cơ bản của các quy định trên nhằm tạo điều kiện cho lao động nữ
có việc làm phù hợp với mọi điều kiện, hoàn cảnh; có thu nhập ổn định, có thời gian làm việc, nghỉ ngơi hợp lý đảm bảo sức khỏe lao động và sức khỏe sinh sản, phát huy tốt năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa giữa cuộc sống lao động
và cuộc sống gia đình Đảm bảo cho lao động nữ thực hiện thiên chức làm mẹ
mà không làm ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
1.2 Những chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp sử dụng lao động
nữ
Nhằm thực hiện bảo vệ lao động nữ, Nhà nước đã có nhiều chính sách
ưu đãi dành cho các doanh nghiệp sử dụng lao động nữ
Trang 6- Đầu tiên, đó là chính sách về thuế Theo khoản 4 điều 153 BLLĐ 2012, Nhà nước phải “Có chính sách giảm thuế đối với người sử dụng lao động có sử dụng nhiều lao động nữ theo quy định của pháp luật về thuế.” Theo đó, người
sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động nữ được Nhà nước giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp Các khoản chi tăng thêm cho lao động nữ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Bộ Tài chính
- Thứ hai, được sử dụng nguồn vốn từ quỹ quốc gia về việc làm Cụ thể, oanh nghiệp có dự án vay vốn khả thi và tạo thêm việc làm mới cho lao động nữ thì được vay vốn với lãi suất thấp từ quỹ quốc gia về việc làm theo quy định tại điểm a và điểm b Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 03/2014/NĐ-CP ngày 16/1/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm
Trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế, để hạn chế người lao động bị mất việc làm thì doanh nghiệp được lập dự án đề nghị hỗ trợ
từ quỹ quốc gia về việc làm theo điểm b, khoản 2, Điều 4 Nghị định số 03/2014/ NĐ-CP ngày 16/1/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm
- Thứ ba, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ thì được hưởng thêm các ưu đãi sau: Được ưu tiên sử dụng một phần trong tổng số vốn đầu tư hàng năm của doanh nghiệp để chi cho việc cải thiện điều kiện làm việc cho lao động nữ; Được cho thuê đất, được vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội để đầu tư xây dựng nhà trẻ, mẫu giáo cho người lao động.1
2 Thực tiễn áp dụng những quy định về bảo vệ lao động nữ
2.1 Thành tựu
Trong những năm vừa qua, nhờ có Nhà nước tạo điều kiện cũng như có những chính sách trong bảo hộ lao động nữ, tình hình giải quyết việc làm cho lao động nữ đã có những chuyển biến tốt đẹp, đạt được những thành tựu nhất định
1 http://dantri.com.vn/chinh-sach/nhieu-ho-tro-cho-doanh-nghiep-su-dung-lao-dong-nu-1425059744.htm
6
Trang 7- Thứ nhất, về số lượng lao động nữ có việc làm: Hiện nay, lao động nữ chiếm khoảng 48,5% trong tổng số lao động Số lao động nữ được tạo việc làm trong năm 2013 chiếm 48%, đạt chỉ tiêu kế hoạch Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, giải quyết được một phần nhu cầu việc làm cho lao động nữ Trong năm 2013, tuyển mới dạy nghề đạt trên 1,732 triệu người trong đó nữ chiếm 42%, đạt 91,15% kế hoạch (tăng 14% so với thực hiện năm 2012)
- Thứ hai, theo báo cáo quốc gia “Kết quả 15 năm thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam” được UNDP và Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố tháng 9/2015: Vấn đề việc làm cho lao động nữ trong khu vực phi nông nghiệp đã được nâng cao đáng kể cả về chất và lượng Năm 2014, 42% lao động trong khu vực phi nông nghiệp là nữ Lao động nữ tại khu vực thành thị tham gia tích cực vào các công việc phi nông nghiệp cao hơn so với khu vực nông thôn Tuy nhiên, điều đặc biệt là các cơ hội việc làm phi nông nghiệp cho phụ
nữ nông thôn lại tăng nhanh hơn so với phụ nữ thành thị
- Thứ ba, sự chênh lệch về tiền lương giữa lao động nữ và lao động nam cũng được thu hẹp đáng kể Năm 2009, tỷ lệ tiền lương trên giờ của nam giới so với nữ giới là 114,8%, nghĩa là với mỗi 100.000 đồng/giờ mà nữ giới kiếm được cho một công việc, nam giới được trả 114.800/giờ Khoảng cách này đã được thu hẹp xuống còn 106,7% vào năm 2014.2
Mặc dù khoảng cách tiền lương giữa lao động nữ và nam đã được thu hẹp, nhưng nữ giới vẫn gặp nhiều bất lợi hơn nam giới trong lĩnh vực phi nông nghiệp Thu nhập của nữ giới vẫn thấp hơn nam giới mặc dù trình độ học vấn tương đương nhau do phụ nữ thường phải đảm nhiệm những công việc có vị thế thấp hơn nam giới
2.2 Hạn chế
Thứ nhất, tỷ lệ lao động nữ trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam còn quá cao 59% đối với nữ Trong khi lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực lao đông năng suất thấp, mức cải thiện năng suất lao động rất chậm nên thu nhập của người lao động thấp, thấp nhất so với các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ
Trang 8Thứ hai, tỷ lệ lao động nữ làm các nghề đơn giản rất ở Việt Nam cũng rất cao – 44% - cho thấy, trình độ sản xuất của nền kinh tế còn thấp, cung - cầu lao động trình độ thấp vẫn là chủ yếu Điều đó đặt ra vấn đề làm thế nào để cải thiện được việc làm, giảm số việc làm giản đơn, tạo điều kiện và cơ hội để nhiều phụ
nữ tiếp cận được việc làm trình độ cao
Thứ ba, tỷ lệ lao động làm việc dễ bị tổn thương (tự làm, làm việc gia đình, làm việc không có hợp đồng lao động,…) ở Việt Nam cũng rất cao, trên 60%, trong đó tỷ lệ nữ chiếm khoảng 2/3 Số liệu này phản ánh trình độ phát triển thị trường lao động của Việt Nam còn thấp (không có hợp đồng), phụ nữ ít cơ hội hơn so với nam giới Cùng với tình trạng thị trường lao động trình độ thấp là hệ thống an sinh xã hội, đảm bảo phúc lợi xã hội về tiền lương – thu nhập, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội, đào tạo và đào tạo lại nâng cao trình độ,… đối với người lao động sẽ còn nhiều hạn chế Đây là thách thức vô cùng lớn trong việc cải thiện chất lượng việc làm và thực hiện các tiêu chuẩn việc làm bền vững đối với cả lao động nam và nữ
Thứ tư, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động Việt Nam nhìn chung là thấp, khoảng 85% lực lượng lao động nữ không có bằng cấp, chưa
kể đến các kỹ năng mềm hay ngoại ngữ; chỉ có chưa đầy 9% lực lượng lao động
có trình độ cao đẳng, đại học và trên trên đại học - Đây là những thách thức, hạn chế rất lớn đối với cả lao động nam và lao động nữ của Việt Nam trong hội nhập3
2.3 Kiến nghị và giải pháp
Theo nhiều chuyên gia, muốn thúc đẩy bình đẳng giới và cải thiện điều kiện làm việc, tăng thu nhập của lao động nữ, cần đẩy mạnh truyền thông về bình đẳng giới, nâng cao nhận thức của cả nam và nữ lao động tại nơi làm việc Việc thúc đẩy này phải được xem là một trong những hoạt động thường xuyên, liên tục Hình thức và phương pháp truyền thông đa dạng, phong phú với nhiều đối tượng Bên cạnh đó, cần nâng cao các kỹ năng, trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lao động nữ; Tiếp tục thực hiện đổi mới mạnh mẽ hơn nữa khuôn khổ
3 http://laodongxahoi.net/binh-dang-gioi-va-nang-cao-chat-luong-viec-lam-cho-ca-nam-va-nu-1303334.html
8
Trang 9pháp lý nói chung (cả xây dựng chính sách, thực hiện chính sách) đặc biệt là các chính sách có liên quan trực tiếp đến lao động - việc làm, đào tạo nghề, chống phân biệt đối xử với phụ nữ… Thúc đẩy giáo dục, cơ hội tiếp cận giáo dục góp phần giảm bất bình đẳng giới trong nhận thức xã hội nói chung
II BÀI TẬP
1 Việc DN X cử lao động của mình sang làm việc cho DN Y là hoạt động gì? Để thực hiện hoạt động này, DN X phải đảm bảo những điều kiện gì?
Việc doanh nghiệp X cử lao động của mình sang làm việc cho doanh nghiệp Y là hoạt động cho thuê lại lao động
Khoản 1 điều 53 BLLĐ 2012 quy định:
“Cho thuê lại lao động là việc người lao động đã được tuyển dụng bởi
doanh nghiệp được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động khác, chịu sự điều hành của người sử dụng lao động sau và vẫn duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động.”
Thứ nhất: A và doanh nghiệp X kí hợp đồng lao động có thời hạn 3 năm Như vậy A đã được tuyển dụng bởi doanh nghiệp X Vì cho thuê lại là hoạt động kinh doanh có điều kiện, nên doanh nghiệp X phải đáp ứng đủ các điều kiện được luật định trước khi hoạt động trong lĩnh vực này Mặc dù, không trực tiếp khai thác và sử dụng sức lao động của người lao động nhưng theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp X sẽ có tư cách là “người sử dụng lao động” trong hợp đồng lao động với A
Thứ hai : A được doanh nghiệp X cử đi làm việc cho doanh nghiệp Y Như vậy, đây là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết hoạt động cho thuê lại lao động Doanh nghiệp X không thuê A chỉ để phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của mình, mà còn để cho doanh nghiệp Y thuê lại người lao động nhằm kiếm lợi nhuận từ hoạt động này Theo đó, doanh nghiệp X và doanh nghiệp Y sẽ phải ki hợp đồng cho thuê lại lao động
Trang 10- Điều kiện về ngành nghề cho thuê lại lao động: Nghị định 55/2013/NĐ –
CP ban hành có kèm theo phụ lục 5 quy định về các công việc được sử dụng lao động cho thuê lao để thực hiện Nhóm công việc này gồm 19 công việc được liệt
ke cụ thể, ví dụ biên – phiên dịch, vệ sĩ, dọn dẹp…
- Điều kiện về chủ thể được cho thuê lại lao động: Các chủ thể muốn kinh doanh ngành nghề cho thuê lại lao động cần phải được cấp giấy phép cho thuê lại lao động sau khi đã thỏa mãn những điều kiện luật định Theo quy định tại điều 5 Nghị định 55/2013/NĐ-CP hướng dẫn Bộ Luật lao động về việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, việc ký quỹ và Danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động, doanh nghiệp phải đáp ứng đủ các điều kiện sau mới được cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động:
“1 Đã thực hiện ký quỹ 2.000.000.000 đồng;
2 Bảo đảm vốn pháp định theo quy định tại Điều 6 Nghị định này;
3 Có trụ sở theo quy định tại Điều 7 Nghị định này;
4 Người đứng đầu doanh nghiệp bảo đảm điều kiện theo quy định tại Điều
8 Nghị định này.”
2 Nhận xét về vấn đề thời hạn và tiền lương của A khi sang làm việc cho
DN Y
Về thời hạn:
Theo dữ kiện đề bài, A và các công nhân khác được DN X cử sang làm việc cho DN Y 1 năm Thời hạn này đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật về
thời hạn cho thuê lại lao động Theo đó, khoản 2 điều 54 quy định: “Thời hạn
cho thuê lại lao động tối đa không quá 12 tháng.”
Hiện tại, vì những hạn chế trong quản lý cũng như đảm bảo quyền và nghĩa
vụ cho người lao động, Việt Nam vẫn chưa khuyến khích hoạt động cho thuê lại lao động giữa các doanh nghiệp Thời hạn 12 tháng tương ứng với thời hạn của hợp đồng lao động theo công việc hoặc theo thời vụ, tránh việc một công ty trở thành một “nhà mua giới lao động” lợi dụng những “kẽ hở” của pháp luật để bắt tay với công ty khác bóc lột sức lao động, chèn ép người lao động trong công việc Tuy nhiên thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng người lao
10