Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1_
PHẠM NGỌC SƠN
QU¶N Lý HO¹T §éNG GI¸O DôC §¹O §øC NGHÒ NGHIÖP
CHO SINH VI£N HäC VIÖN NG¢N HµNG
TRONG BèI C¶NH HIÖN NAY
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN THỨC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Xuân Thức Trong suốt quá trình thực hiện cho đến khi hoàn thành luận văn này, em đã nhận được sự quan tâm cũng như sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Xuân Thức
Em cũng xin chân trọng cảm ơn toàn thể các giảng viên, cán bộ quản lý tại Học viện Ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cũng như tham gia vào khảo sát của tác giả giúp cho luận văn được hoàn thành đạt hiệu quả cao nhất
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Học viện Quản
lý giáo dục đã truyền đạt và giúp đỡ em trong những năm học vừa qua
Tuy nhiên, luận văn này không thể tránh khỏi có những thiếu sót, em mong nhận được sự chỉ dạy của các thầy cô để luận văn này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 05 tháng 07 năm 2016
Học viên
Phạm Ngọc Sơn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Học viện Quản lý giáo dục
Khoa Sau đại học Tên em là: Phạm Ngọc Sơn
Lớp: K11A
Em xin cam đoan bài luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng
em Các số luệ trình bày trong phạm vi luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn của mình
Hà Nội, ngày 05 tháng 07 năm 2016
Học viên
Phạm Ngọc Sơn
Trang 4BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BGD&ĐT : Bộ giáo dục và đào tạo
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
GVCQ : Giáo viên chuyên quản
HSSV : Học sinh sinh viên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN I
LỜI CAM ĐOAN II
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN III
MỤC LỤC IV
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ VIII
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thiết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho sinh viên 6
1.1.2 Các nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 12
1.2.1 Quản lý 12
1.2.2 Giáo dục đạo đức 13
1.2.3 Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong bối cảnh hiện nay 14
1.3 Bối cảnh hiện nay và vấn đề đặt ra cho giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong trường đại học 16
1.3.1 Bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục hiện nay 16
1.3.2 Tình hình đạo đức của sinh viên trong bối cảnh hiện nay 17
1.3.3 Yêu cầu đặt ra đối với giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 20
1.4 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong bối cảnh hiện nay 22
Trang 61.4.1 Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên 22
1.4.2 Nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 25
1.4.3 Hình thức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 29
1.4.4 Một số đặc điểm tâm, sinh lý của sinh viên 32
1.4.5 Tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 34
1.5 Nội dung quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên của trường đại học 36
1.5.1 Lập kế hoạch giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 36
1.5.2 Tổ chức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 37
1.5.3 Chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 37
1.5.4 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 38
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 38
Kết luận chương 1 .39
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY .40
2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 40
2.1.1 Mục đích khảo sát 40
2.1.2 Nội dung khảo sát 40
2.1.3 Phương pháp khảo sát 40
2.1.4 Mẫu khảo sát và địa bàn khảo sát (trình bày vài nét về Học viện Ngân hàng) 40
2.2 Thực trạng các biểu hiện hành vi đạo đức nghề nghiệp của sinh viên Học viện Ngân hàng 43
2.2.1 Thực trạng các biểu hiện hành vi đạo đức nghề nghiệp của sinh viên Học viện Ngân hàng 43
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đạo đức nghề nghiệp của sinh viên Học viện Ngân hàng 46
2.2.3 Mức độ thực hiện hình thức, phương pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng 49
2.4 Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng 50
Trang 72.4.1 Lập kế hoạch giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học
viện Ngân hàng 50
2.4.2 Tổ chức bộ máy giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 51
2.4.3 Chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 53
2.4.4 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 54
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 55
2.6 Đánh giá thực trạng quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng 58
2.6.1 Thành công và nguyên nhân 58
2.6.2 Hạn chế và nguyên nhân 59
Kết luận chương 2 .59
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG HỌC VIỆN NGÂN HÀNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY .60
3.1 Nguyên tắc đề xuất 60
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 60
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 60
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 60
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 61
3.2 Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay 61
3.2.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ về giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 61
3.2.2 Tăng cường kế hoạch hóa công tác quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 64
3.2.3 Đổi mới đánh giá kết quả rèn luyện cho sinh viên 66
3.2.4 Tổ chức phối hợp và phát huy vai trò của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên, Câu lạc bộ giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 67
3.2.5 Phát huy tính tự quản, tự giáo dục của sinh viên trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 69
Trang 83.2.6 Xây dựng chế độ động viên khen thưởng kỷ luật kịp thời và hợp
lý đối với sinh viên trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp 71
3.2.7 Xây dựng môi trường dư luận tích cực trong tập thể sinh viên 72
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 74
3.4 Tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của biện pháp quản lý giáo đục đạo đức 75
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 75
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 75
3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 76
3.4.4 Tiêu chí và thang đánh giá 76
Kết luận chương 3 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Kiến nghị 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Thực trạng về hành vi đạo đức của sinh viên Học viện Ngân hàng 45
Bảng 2.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 48
Bảng 2.3: Mức độ thực hiện việc tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng 49
Bảng 2.4: Lập kế hoạch giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 50
Bảng 2.5: Thực trạng chỉ đạo giáo dục đạo đức nghề nghiệp ở Học viện Ngân hàng 53
Bảng 2.6: Kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng hiện nay 54
Bảng 2.7: Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng 56
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 77
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 79
Bảng 3.3: Mối quan hệ giữa tính cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp 81
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ thang đánh giá tính cần thiết của các biện pháp 77
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp 79
Biểu đồ 3.3: Mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi 81
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong lịch sử phát triển của loài người luôn gắn liền với giáo dục
dưới nhiều hình thức khách nhau, sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của kinh tế xã hội và ngược lại giáo dục có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội Khi xã hội phát triển thì giáo dục được coi
là động lực và vừa là mục tiêu cho việc phát triển xã hội
Bác Hồ kính yêu đã dạy “Người có đức mà không có tài làm việc gì
cũng khó, người có tài mà không có đức thì vô dụng” Giáo dục phải là bồi
dưỡng được đức, cái vốn quý của một con người, tuy nhiên không phải ai cũng thấm nhuần được tư tưởng đó Đạo đức là mặt cốt lõi của nhân cách, nó cho phối quan hệ con người với con người; con người với xã hội và thiên nhiên để hình thành và phát triển nhân cách thì phải hình thành và rèn luyện các phẩm chất đạo đức Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là trách nhiệm của toàn xã hội mà trong đó nhà trường giữ vai trò trọng trách Vì vậy, việc quan tâm tới công tác quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong nhà trường là một việc làm cần thiết
Hiện nay, toàn cầu hóa diễn ra trong mọi mặt của đời sống xã hội nhiều sinh viên có ý chí vươn lên trong học tập, có hoài bão khát vọng lớn Tuy nhiên, cũng dưới tác động của nền kinh tế thị trường và cơ chế mở cửa và do nhiều nguyên nhân khác, hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên có xu hướng ngày càng tăng Một số hành vi vi phạm pháp luật của sinh viên khiến gia đình và xã hội lo lắng như: vi phạm giao thông, đua xe trái phép, bạo lực học đường, quay cóp bài, mua điểm, cờ bạc, facebook, lên mạng xã hội bàn tán và nói các câu khiếm nhã (anh hùng bàn phím), bán hàng đa cấp với hình thức lừa đảo Một số hành vi lệch chuẩn khác về mặt đạo đức như: sống hưởng
Trang 11thụ, chạy theo đồng tiền, xa hoa, lãng phí, lười lao động và học tập, thiếu ý thức rèn luyện, không dám đấu tranh với cái sai, thờ ơ vô cảm, vị kỷ
Đạo đức được coi là nền tảng trong phẩm chất, nhân cách con người, đạo đức là gốc, là cốt lõi của nhân cách Do đó trong nhà trường phải luôn chú trọng giáo dục cả đức lẫn tài Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng dạy:
“Dạy cũng như học phải chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc rất quan trọng” “Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải cuộc sống xã hội bình thường, ổn định” [25] Trong công cuộc phát triển đất nước,
Đảng và Nhân dân ta đòi hỏi thế hệ trẻ, thanh niên, học sinh, sinh viên phải trở thành lực lượng tiên phong có tài năng, đạo đức, có tinh thần trách nhiệm
và lý tưởng sống cao đẹp Họ là lực lượng nòng cốt tin cậy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
1.2 Học viện Ngân hàng trong những năm qua đã có những chuyển
biến trong các mặt giáo dục khi nên kinh tế đang trong thời kỳ khó khăn, sinh viên tốt nghiệp ra trường có việc làm chiếm tỷ lệ cao, được sự đánh giá tốt của các nhà tuyển dụng Sinh viên khi ra trường có được nền tảng kiến thức tốt, đạo đức nghề nghiệp được truyền đạt trong các môn học tại nhà trường Đối với ngành Ngân hàng thì đạo đức nghề nghiệp được đánh giá cao vì các yếu tố khách quan và chủ quan Chỉ cần một người có sự lệch lạc trong đạo đức sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho đơn vị và cho xã hội
Xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan như đã nêu, tôi lựa
chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay”
Trang 123 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho sinh viên trong bối cảnh hiện nay
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay
4 Giả thiết khoa học
Trong những năm qua, công tác quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ở Học viện Ngân hàng đã đạt được những kết quả nhất định song vẫn còn có những hạn chế Nếu đề xuất và áp dụng biện pháp quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp phù hợp hơn với yêu cầu đổi mới giáo dục và thực tế của nhà trường thì sẽ nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên, nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên Học viện Ngân hàng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tìm hiểu về một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên đại học trong bối cảnh hiện nay
5.2 Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay
Trang 136 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên của Học viện Ngân hàng
- Về khách thể khảo sát:
Nhóm 1: Cán bộ quản lý
Nhóm 2: Giảng viên
- Về địa bàn nghiên cứu: Học viện Ngân hàng
- Về thời gian lấy số liệu: 2011 - 2016
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích các vấn đề lý luận về quản lý, công tác quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng Tập hợp, phân tích, hệ thống hóa các tài liệu, văn bản có liên quan đến giáo dục, giáo dục đạo đức nghề nghiệp của một số tác giả, công trình đã được công bố
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động quản lý và hiệu quả ban đầu của các biện pháp quản
lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ở một số đơn vị của Học viện Ngân hàng: Phòng Quản lý người học, Văn phòng Đảng Đoàn, Trung tâm hỗ trợ đào tạo
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Chúng tôi dùng bảng phiếu hỏi gồm những câu hỏi đóng và mở nhằm trưng cầu ý kiến cán bộ, giảng viên và sinh viên về một số vấn đề sau:
- Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ở Học viện Ngân hàng
- Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng
Trang 14- Khảo sát tính cần thiết và khả thi của biện pháp quản lý giáo dục đạo đức
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Để làm rõ những vấn đề trong nội dung nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn một số giảng viên, cán bộ quản lý, cán bộ Đoàn về công tác quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên Học viện Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến của các chuyên gia về biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên
7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Nhằm khảo sát đánh giá thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên tại Học viện Ngân hàng và góp phần đề xuất biện pháp cho vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh hiện nay
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu
Dùng công thức toán học để xử lý kết quả nghiên cứu nhằm rút ra các kết luận khái quát về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho sinh viên
Hoạt động nghề nghiệp là phương thức sống chủ yếu nhất của con người Vì vậy, ĐĐNN chính là một phần quan trọng trong đạo đức xã hội Để sống, con người phải lao động và để lao động có kết quả tốt nhất, con người phải tuân thủ ĐĐNN Sự phát triển kinh tế xã hội ở bất kỳ thời đại nào cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất và đạo đức nghề nghiệp là nhân tố thúc đẩy Tuy nhiên để tự giác tuân thủ đạo đức nghề nghiệp trong học tập, lao động, sản xuất, trước hết con người phải có nền tảng về đạo đức xã hội nói chung, tích cực, chủ động vận dụng chuẩn mực đạo đức vào mối quan hệ nghề nghiệp, nâng cao giá trị đạo đức và việc thực thiện và tuân thủ đạo đức
sẽ gia tăng lợi ích kinh tế
Năm (1986 - 1987) theo đề nghị của UNESCO đã có cuộc điều tra quốc
tế về giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI nhằm mục đích nghiên cứu các vấn đề về giá trị đạo đức và giáo dục về giá trị đạo đức Cuốn tài liệu "Giá trị trong hành động" của Trung tâm Canh tân và Công nghệ giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á, xuất bản năm 1992 Tài liệu trình bày về vấn đề đưa giáo dục giá trị vào nhà trường và cộng đồng các nước Inđônêxia, Philíppin, Malaysia và Thái Lan
Tại Viện Đại học Doulas Mauson, bang Adelaid, Nam Úc, một số tác giả cho rằng: ĐĐNN là một yêu cầu không thể thiếu của bất cứ loại hình công việc nào Mỗi loại nghề nghiệp đòi hỏi những người trong từng nghề nghiệp cần phải hội đủ các thành tố đó là: Tri thức, thái độ, kỹ năng Mỗi một nghề
Trang 16nghiệp thường có một chuẩn mực đạo đức riêng biệt Các tác giả không nói trực tiếp vào ĐĐNN, nhưng đề cập sâu về thái độ nghề nghiệp, những phẩm chất cần thiết của người làm mỗi nghề
Có lẽ chưa bao giờ ngành ngân hàng lại bị “soi” nhiều như mấy năm trở lại đây Đặc biệt hiện nay, nhạy cảm của nền kinh tế dường như cũng
“nhìn” cả vào ngành “làm dâu trăm họ” này Nhất là gần đây có không ít các
vụ “xì căng đan” bởi cán bộ ngân hàng gây nên “Con sâu làm rầu nồi canh” Những vụ tiêu cực của một số cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp đã tạo nên những vết nhơ cho ngành Và một điều cũng khá nhạy cảm, là có dư luận cho rằng, một số ngân hàng lớn, có uy tín trong xã hội đã lạm dụng cụm
từ “đổi mới, trẻ hóa nguồn nhân lực” để thay thế những cán bộ có kinh nghiệm lâu năm, có đạo đức nghề nghiệp Liệu đây có là một trong những nguyên nhân khiến lòng người xao động dẫn đến hành vi tiêu cực
Rủi ro đạo đức có thể xảy ra ở bất kỳ các khâu nào trong ngành ngân hàng, nhưng xuất hiện nhiều và rõ nét hơn ở nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, bảo lãnh, tiền gửi và ngân quỹ Bởi vậy, bên cạnh những yêu cầu về trình độ chuyên môn, thì đạo đức nghề nghiệp và bề dày kinh nghiệm luôn là một trong những yếu tố quan trọng được đặt lên hàng đầu trong khâu tuyển dụng đào tạo, quy hoạch và bổ nhiệm của các ngân hàng
ĐĐNN trong ngành Ngân hàng được xuất phát từ đặc điểm, chức năng,
nhiệm vụ của ngành, cùng với mục tiêu của Học viện Ngân hàng là phải đào tạo ra các lớp người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, vừa có phẩm chất đạo đức trong sáng Nói tới nguồn nhân lực trong ngành ngân hàng Đó là những chủ thể của hoạt động kinh tế, có đầy đủ những năng lực phẩm chất, tạo nên nhân cách của họ Từ đó làm nên sức mạnh của tập thể đơn vị Sức mạnh của nguồn lực con người trong mỗi doanh nghiệp trong thể hiện thông qua sức mạnh mỗi cá nhân Bác Hồ đã từng căn dặng chúng ta: “Vì lợi ích
Trang 17mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Đối với ngành Ngân hàng, cách đây gần 1 thế kỷ, Lênin đã từng đánh giá: “Không có những Ngân hàng lớp sẽ không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội” Ở nước ta hiện nay, ngành ngân hàng có vai trò hết sức to lớn trong công việc thu hút mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, là trung tâm tiền tệ, thanh toán tron nền kinh tế Để ngành Ngân hàng giữ được vai trò mũi nhọn của mình trong nền kinh tế thì việc phát triển nguồn nhân lực cho Ngành là một vấn đề hết sức quan trọng Việc đào tạo, xây dựng và phát triển những con người có trí tuệ, có năng lực thực hành, vừa phải có nhân cách đạo đức mới tạo ra sự phát triển nhanh chóng và bền vững của ngành Ngân hàng Bác Hồ đã từng nhắc nhở cán bộ Tài chính - Ngân hàng: “Cán bộ kinh tế tài chính phụ trách nhiều tiền của mà chưa hoàn thành thông thạo việc quản lý tiền của Cho nên chúng ta cần phải ra sức học tập, quản lý tài sản quốc gia mà ngành mình phụ trách, đồng thời trau rồi đạo đức cách mệnh: Cần, kiệm, liêm, chính, một lòng, một dạ phục vụ tổ quốc, phục
sự nhân dân, tẩy trừ những thói tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu để cùng nhau tiến bộ”
Trong ngành Ngân hàng có những quy tắc đạo đức nghề nghiệp như sau: Quy tắc 1: Tuân thủ pháp luật và quy định của Ngân hàng
Quy tắc 2: Xây dựng mối quan hệ làm việc tôn trọng và đối xử công bằng Quy tắc 3: Sử dụng thời gian làm việc và tài sản của Ngân hàng đúng mục đích và hiệu quả
Quy tắc 4: Không lợi dụng chức quyền để tư lợi
Quy tắc 5: Đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau
Quy tắc 6: Quản lý các xung đột về lợi ích
Quy tắc 7: Trách nhiệm với Khách hàng
Quy tắc 8: Trách nhiệm với xã hội và môi trường
Trang 18Quy tắc 9: Minh bạch và bảo mật thông tin
Quy tắc 10: Trách nhiệm báo cáo
1.1.2 Các nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Nhà nghiên cứu người Úc Rowe có ý kiến mạnh mẽ cho rằng chất lượng giảng viên là một yếu tố quyết định của học sinh Chất lượng dạy và học ảnh hưởng đến kết quả nhận thức tình cảm và hành vi sinh viên… Những
gì quan trọng nhất là chất lượng giảng dạy của giáo viên, lại do các nhà quản
lí đã đề ra chiến lược hỗ trợ giáo viên phát triển chuyên nghiệp! Burant và Chubbuck đã đưa ra khuyến nghị khẩn cấp tổ chức việc bồi dưỡng nâng cao đạo đức nghề nghiệp thông qua các chương trình đào tạo giáo viên: Chúng tôi tin rằng sự chú ý của chúng tôi trong đào tạo giáo viên phải thay đổi đáng kể đến hình thành không chỉ có kiến thức và kĩ năng mà là tình cảm đạo đức làm nền tảng Giảng dạy và giáo dục đạo đức không thể tách nó ra một cách biệt lập Đạo đức luôn luôn là kịch bản được thể hiện trong các lớp học, trong hành động của giáo viên, dù cố ý hay không, và sự phức tạp môi trường lớp học khiến các hoạt động của giáo viên cần phải luôn thay đổi định hướng, thay đổi các hoạt động của mình cho phù hợp Do đó sự quan tâm, tìm hiểu cụ thể của các nhà quản lý đến sự hình thành đạo đức của giáo viên trước khi tiến hành tổ chức bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp cho họ là rất quan trọng
Thể hiện quan điểm này, tác giả đã than phiền rằng “Đào tạo giáo viên
đã bỏ qua việc dạy đạo đức”, và thúc giục, nhấn mạnh hơn giáo dục đạo đức
và đạo đức nghề nghiệp phải được đặt lên trên hết bởi vì các chương trình đào tạo giáo viên là “vị trí ban đầu để làm quen giáo viên mới với tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp mà họ đã lựa chọn” Hơn nữa, như Snook(2003) chỉ ra, bởi
vì giáo dục nhằm thay đổi con người theo những cách riêng, và sử dụng phương pháp này liên quan đến cá nhân các mối quan hệ thứ bậc dạy học là
Trang 19một nghề mà vấn đề đạo đức là trung tâm và do đó cung cấp giáo dục đọa đức nghề nghiệp để quy chuẩn hành vi của giáo viên là rất quan trọng
Tại Hội nghị Trung ương bảy, khóa X, Đảng ta xác định: “Thanh niên
là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trong quyết định tương lại, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo” [16, tr.35], trong đó có sinh viên Sinh viên là một lực lượng xã hội đặc thù, là lực lượng tinh túy trong thanh niên Thực tiễn cách mạng Việt Nam chỉ cho chúng ta thấy rằng, sinh viên là những người gắn bó với phong trào cách mạng của Đảng bằng nhiệt huyết, bằng lương tâm, bằng chính phẩm chất của mình Tổ chức sinh viên yêu nước cũng đã thành lập từ rất sớm Ngoài ra, có thể kể đến
ở đây phong trào sinh viên tình nguyện hiện nay đã chứng minh được mình luôn là lực lượng xã hội đặc biệt Với họ, sức sống của tuổi trẻ, tri thức khoa học, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Mặt khác, sinh viên còn là lực lượng dự bị cho đội ngũ trí thức của đất nước
và khi họ trở thành những trí thức thì sự đóng góp của họ cho đất nước càng
to lớn, càng có ý nghĩa hơn Trong thư “Gửi Đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủ nghĩa”, Ph.Ăngghen viết rằng: Các bạn hãy cố gắng làm cho thanh niên ý thức rằng giai cấp vô sản lao động trí óc phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên
Trong rất nhiều tác phẩm, bài viết, bài nói chuyện của mình, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đạo đức và việc giáo dục đạo đức đối với việc hình thành, phát triển và bồi dưỡng nhân cách Trong đó, nổi bật nhất là tác phẩm “Đường cách mệnh” được Hồ Chí Minh viết năm
1927, là cuốn sách bồi dưỡng cho lớp cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam đi theo học thuyết Mác - Lênin và con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại - con đường cách mạng vô sản mà Người đã lựa chọn
Trang 20Mở đầu cuốn sách - bài nói về “Tư cách một người cách mệnh”, Hồ Chí Minh đã nêu lên một quan điểm lớn: phải có cái đức để đi đến cái trí Vì khi đã có “cái trí” thì “cái đức” chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã chấp nhận, đã đi theo Những khái niệm như: trung, hiếu, nhân, nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính… đã
có trong Nho giáo từ mấy trăm năm trước trước công nguyên; khái niệm dân chủ, tự do, công bằng, bác ái đã xuất hiện từ thời cổ đại Hy Lạp - La Mã, chúng đã bị xuyên tạc trong nhiều thế kỷ qua, nhưng Hồ Chí Minh đã đưa vào
đó những nội dung mới, đồng thời, bổ sung những khái niệm, những phạm trù đạo đức của thời đại mới Vì vậy, những giá trị đạo đức mới đã được hoà nhập với những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Hơn nữa, những giá trị đạo đức truyền thống lại được nâng lên tầm cao mới
Cấu trúc nhân cách của con người nói chung, và của sinh viên nói riêng, giữa phẩm chất đạo đức và năng lực luôn có mối quan hệ khăng khít, trong đó, điều ưu tiên hàng đầu phải là đạo đức Nói cách khác, đạo đức là yếu tố nền tảng của nhân cách Giáo dục đạo đức để hoàn thiện nhân cách sinh viên là một quá trình đấu tranh giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu; cái tích cực với cái tiêu cực trong mỗi chủ thể đạo đức sinh viên Theo số liệu thống
kê của một số tổ chức cơ quan hay các đề tài nghiên cứu khoa học, cũng như những đánh giá của Đảng ta về công tác sinh viên, hiện lên trước mắt chúng
ta một bức tranh đa màu sắc mà ở đó sự đan xen, lẫn lộn giữa cái tốt với cái xấu, cái tiến bộ với cái lạc hậu… trong đời sống sinh viên… đòi hỏi chúng ta phải khẩn trương hơn nữa, quyết liệt hơn nữa, cụ thể hơn nữa trong công tác giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ hôm nay khi họ còn ngồi trên ghế giảng đường Tại Hội nghị lần thứ 7 (khóa X) Đảng ta đề ra “Mục tiêu cụ thể trong những năm trước mắt, trọng tâm từ nay đến năm 2010 là: Nâng cao nhận thức
chính trị, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên, nhất là học sinh, sinh
Trang 21viên (người trích nhấn mạnh) Tập trung giáo dục, định hướng, cổ vũ thanh
niên thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tạo chuyển biến thực sự trong đạo đức, lối sống và hành động của thanh niên” [4]
Nhận xét: Hiện nay các công trình nghiên cứu về đạo đức đã được nghiên cứu nhiều, nhưng các nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp còn rất mỏng, chưa được nghiên cứu nhiều
Nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng chưa được ai nghiên cứu
Vì vậy nghiên cứu của tác giả đã xác định được điểm mới Kết quả nghiên cứu sẽ phục vụ trực tiếp cho công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Học viện Ngân hàng
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra
Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định Trong Từ điển tiếng Việt có nêu: Quản lý là “tổ chức
và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” Khái niệm này tương đồng với các khái niệm chỉ đạo, điều hành, điều khiển Khái niệm quản
lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước Khái niệm chung nhất về quản lý nhà nước được hiểu cô đọng ở việc “tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội theo pháp luật”
Trang 22Theo F Taylor: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất Sau này ông Lerence chủ tịch hiệp hội các nhà kinh doanh
Mỹ đã khái quát quan điểm của F Taylor và cho rằng: Quản lý là thông qua người khác để đạt được mục tiêu của mình
Cùng thời với F Taylor, nhà quản lý hành chính người Pháp là H Fayon
lại định nghĩa quản lý theo các chức năng của nó Theo H Fayon: “Quản lý là
dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra.”
Ở Việt Nam tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức(chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [23, tr.74]
Theo Nguyễn Quốc Chí và Đặng Thị Mỹ Lộc: “ Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [24, tr.16]
Từ ý kiến của các nhà khoa học trên có thể hiểu quản lý là cách thức
tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra Quản lý vừa là một khoa học, vừa
là một nghệ thuật
1.2.2 Giáo dục đạo đức
Giáo dục theo nghĩa rộng là giáo dục xã hội được coi là lĩnh vực hoạt động của xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm xã hội - lịch sử, chuẩn bị cho thế hệ trẻ trở thành lực lượng tiếp nối sự phát triển xã hội, kế thừa và phát triển nền văn hóa của loài người và dân tộc
Trang 23Giáo dục theo nghĩa hẹp là giáo dục trong nhà trường, trong đó là quá trình tác động có tổ chức, có kế hoạch, có quy trình chặt chẽ nhằm mục đích cung cấp kiến thức, kỹ năng hình thành thái độ, hành vi cho thiếu niên, xây dựng và phát triển nhân cách theo quy mô mà xã hội đương thời mong muốn
Giáo dục đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội Nhờ đó con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình vì thế công tác giáo dục đạo đức góp phần vào việc hình thành, phát triển nhân cách con người mới phù hợp với từng giai đoạn phát triển
Theo giáo sư Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “GDĐĐ là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục”
Có khái niệm GDĐĐ là quá trình tác động tới học sinh của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho sinh viên ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và cuối cùng quan trọng nhất là hình thành cho họ thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội Song giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng “GDĐĐ cho học sinh là bộ bận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa”
1.2.3 Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong bối cảnh hiện nay
Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt được kết quả theo mục tiêu xác định
Về bản chất quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp là quá trình tác động
có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia quá trình hoạt
Trang 24động giáo dục đạo đức nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đạo đức Chính xuất phát từ ý nghĩa như vậy của GD giá trị mà T.Makiguchi nhấn mạnh:
“Nhân phẩm hình thành là quá trình sáng tạo giá trị… các nàh giáo dục phải tập trung mọi nỗ lực làm cho nền giáo dục hồi sinh để nó thúc đẩy con người tham gia tích cực vào quá trình sáng tạo giá trị… sao cho tất cả những năng lực tiềm tàng của mình được thực hiện hóa, nghĩa là tạo nên các giá trị và hiện thực hóa các giá trị đó Giúp con người biết cách sống như những con người tạo giá trị, đó là mục đích của GD” Quản lý giáo dục đạo đức là tổ chức điều hành công tác giáo dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của nền giáo dục
Quản lý giáo dục ĐĐNN cho SV ở cấp độ vi mô là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý nhà trường tới khách thể quản lý nhằm giúp hoạt động giáo dục ĐĐNN đạt được kết quả mong muốn, làm cho các thành viên trong trường có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, tính cấp thiết của công tác giáo dục ĐĐNN trong trường đại học; huy động được các nguồn lực của nhà trường cho các hoạt động giáo dục ĐĐNN của SVSP để đạt được những mục tiêu đã xác định
Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa: Quản lý giáo dục ĐĐNN cho SV
là sự tác động có chủ thể quản lý tới khách thể quản lý bằng các biện pháp phù hợp nhằm hướng hoạt động giáo dục ĐĐNN cho SV đạt được kết quả theo mục tiêu đã xác định
Cụ thể hóa khái niệm giáo dục ĐĐNN cho SV ta có thể thấy:
- Xét ở góc độ chức năng quản lý thì quản lý giáo dục ĐĐNN cho SV
bao gồm quản lý xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá trong công tác giáo dục ĐĐNN của nhà trường
Trang 25- Xét trên phương diện nội dung quản lý thì bao gồm: quản lý mục tiêu,
nội dung, phương pháp, hình thức, phương diện - điều kiện, quản lý hoạt động của GV, SV, các lực lượng khác
1.3 Bối cảnh hiện nay và vấn đề đặt ra cho giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong trường đại học
1.3.1 Bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục hiện nay
Theo một báo cáo gần đây do Chính phủ Việt Nam và Liên Hiệp Quốc công bố tháng 9/2015 thì Việt Nam đã hoàn thành một loạt mục tiêu phát triển thiên niên kỉ như xóa đói nghèo cùng cực, phổ cập giáo dục tiểu học, thúc đẩy bình đẳng giới trong giáo dục; và Việt Nam cũng đã đạt một số tiêu chí về y
tế như giảm tỉ lệ tử vong bà mẹ và tỉ lệ tử vong trẻ em Việt Nam cũng hoàn thành mục tiêu về kiểm soát bệnh sốt rét và lao, giảm tỉ lệ lưu hành HIV/AIDS, và sắp hoàn thành các mục tiêu về phổ cập dịch vụ y tế sinh sản
và nâng cao sức khỏe bà mẹ
Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2011-2020 sẽ tập trung vào cải cách cơ cấu, đảm bảo bền vững môi trường, bình đẳng xã hội cũng như các vấn đề mới nảy sinh trong quá trình ổn định kinh tế vĩ mô Chiến lược xác định ba lĩnh vực “đột phá” bao gồm: Phát triển nguồn nhân lực (nhất
là nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghiệp hiện đại và đổi mới sáng tạo) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, và Phát triển hạ tầng
Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội 5 năm 2011-2015 cụ thể hóa các mục tiêu cho 5 năm đầu thực hiện Chiến lược, trong đó bao gồm tăng trưởng kinh tế có chất lượng và bền vững, cải thiện điều kiện sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, tăng cường bảo vệ môi trường, và giảm nhẹ và phòng tránh tác động của biến đổi khí hậu Ngoài cụ thể hóa 3 lĩnh vực đột phá trong Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội ra, trong Kế hoạch 2011-2015 cũng xác định
3 lĩnh vực tái cơ cấu trọng yếu cần thực hiện thành công, đó là khu vực ngân
Trang 26hàng, doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công Tuy nhiên, bản dự thảo Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội 2016-2020 gần đây cũng đã nhìn nhận rằng mức độ hoàn thành các mục tiêu ưu tiên cải cách giai đoạn 2011-2015 còn hạn chế và nhấn mạnh cần phải đẩy nhanh các biện pháp cải cách này trong giai đoạn 2016-2020 thì mới có thể hoàn thành mục tiêu đề ra trong chiến lược 10 năm Bản dự thảo Kế hoạch 2016-20 cũng thấy rằng vẫn còn cả thách thức và cơ hội trong quá trình tiếp tục hội nhập kinh tế theo chiều sâu bởi lí
do tất cả các loại thuế quan sẽ bị kéo về 0, do đó cần phải chủ động hòa nhập
và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô trong vòng 5 năm tới
Trong bối cảnh hiện nay, khi mặt trái của kinh tế thị trường, những thách thức của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập thế giới, đặc biệt những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch đang tác động mạnh mẽ đến đạo đức và lối sống của học sinh, sinh viên Đặc biệt là những thông tin xấu, độc hại lan truyền trên internet, những âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; lối sống thực dụng, vị kỷ, cùng sự tha hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã và đang tác động tiêu cực đến đạo đức và lối sống trong giới trẻ, khiến cho không ít người chạy theo lối sống thực dụng, sa ngã, hư hỏng, xa rời các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, có thái độ thờ ơ, bàng quan trước các sự kiện kinh tế, chính trị của đất nước Một
số thanh niên mơ hồ về bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù
1.3.2 Tình hình đạo đức của sinh viên trong bối cảnh hiện nay
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sinh viên có nhiều cơ hội để thực hiện ước mơ, khát vọng của mình, đồng thời cũng đứng trước những thách thức mới Xây dựng lối sống văn minh, hiện đại, thấm nhuần sâu sắc đạo đức truyền thống dân tộc sẽ góp phần tạo nên bản lĩnh của sinh viên, giúp họ vượt qua những khó khăn, thực hiện lý tưởng cao đẹp của
Trang 27tuổi trẻ, phấn đấu rèn luyện, học tập vì ngày mai lập thân, lập nghiệp, vì hạnh phúc của bản thân, vì tiền đồ của đất nước
Học sinh, sinh viên là lực lượng đông đảo, chiếm trên 1/3 dân số và trên 1/2 lực lượng lao động xã hội, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đây là lực lượng xã hội tương đối đông đảo trong lực lượng thanh niên Đa số sinh viên có tuổi đời từ 18- 22,23 học tập ở trình độ cao đẳng, đại học đang chuẩn bị những nền tảng tri thức, kỹ năng cần thiết cho các hoạt động chuyên môn nghề nghiệp sau này Một trong những biểu hiện đặc thù của sinh viên là chỗ họ luôn nêu cao khả năng tự ý thức, tự đánh giá và luôn luôn muốn tự khẳng định mình trong cuộc sống Ngoài ra họ cũng là những người giàu hoài bão, ước mơ, dám nghĩ, dám làm Tuy nhiên do tuổi đời còn ít, lại thiếu trải nghiệm trong cuộc sống cùng với đặc điểm tâm - sinh lý của tuổi trẻ nên nhiều khi không ít sinh viên tỏ ra bồng bột, nóng vội, thiếu kiên nhẫn… Do đó quan tâm đến giáo dục, rèn luyện đội ngũ này phát triển một cách toàn diện cả về đạo đức, lối sống lẫn trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ để họ thực sự trở thành những chủ nhân tương lai của nước nhà là vô cùng cần thiết Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”[25] Trong Di chúc thiêng liêng, một lần nữa Người căn dặn: “Đảng phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng họ thành những người kế tục sự nghiệp cách mạng vừa hồng vừa chuyên Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết” Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự
Trang 28nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội"[25]
Điều nguy hiểm hiện nay là đã xuất hiện một bộ phận thanh niên sinh viên tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, sống ích kỷ, chạy theo lợi ích vật chất, coi đồng tiền là trên hết, xa hoa, lãng phí, lười lao động, và thiếu ý thức rèn luyện, không dám đấu tranh với cái sai, thờ ơ vô cảm, vị kỷ càng nhiều hơn
Cá biệt có một số sinh viên sống bê tha, không chịu học tập, buông tha bản thân, dần dần đánh mất chính mình, sống chìm đắm trong thế giới ảo, không chịu phấn đấu, tốn tiền cho những danh tiếng ảo Ví dụ như vấn đề các hot girl trên mạng, các game thủ võ lâm truyền kỳ, những cá nhân sinh viên nghe theo lời dụ dỗ không làm hoặc làm ít nhưng vẫn có thu nhập khủng (Bán hàng
đa cấp), những lời dụ dỗ đi làm lấy kinh nghiệm sớm mà không biết những việc đó không đem lại một chút kinh nghiệm mà chỉ làm mất thời gian, một số
ít sinh viên nghe lời dụ dỗ của các nhà truyền đạo với tư tưởng truyền đạo không đúng với đường lối chủ trương của Đảng và nhà nước… đã xuất hiện trong thời gian gần đây
Một số sinh viên do được sự nuông chiều của gia đình, quen đòi hỏi hưởng thụ, sống ích kỷ, ỷ lại, ít quan tâm đến người khác Số sinh viên này cũng dễ rơi vào tình trạng bị bạn bè rủ rê đi theo con đường xấu, mắc phải các
tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, vi phạm pháp luật, đua xe trái phép Nhiều
vụ án được khám phá trong thời gian gần đây cho thấy tỷ lệ phạm tội trong thanh niên có chiều hướng gia tăng Khi đất nước mở cửa giao lưu với thế giới thì những luồng văn hóa, những giá trị khác lạ, trong đó, có những văn hóa đi ngược với thuần phong, mỹ tục của dân tộc cũng đã tràn vào và tác động không nhỏ đến lối sống của học sinh, sinh viên.Tại Đại hội lần thứ IX Hội Sinh viên Việt Nam (nhiệm kỳ 2013 - 2018) Ban Chấp hành Trung ương Hội có nhận định: “Một số sinh viên còn thờ ơ về chính trị, sống thực dụng,
Trang 29chạy theo những trào lưu, xu thế lệch lạc, mắc vào các tệ nạn xã hội, thậm chí
vi phạm pháp luật Bên cạnh đó, không ít sinh viên chưa xác định rõ mục tiêu, động cơ học tập đúng đắn, dẫn đến thiếu ý chí phấn đấu, rèn luyện, kỹ năng mềm chưa tốt, ảnh hưởng đến năng lực làm việc khi ra trường”
1.3.3 Yêu cầu đặt ra đối với giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Để phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng cân đối giữa "dạy người, dạy chữ, dạy nghề", trong đó, "dạy người" là mục tiêu cao nhất, trước mắt cần tăng cường hơn nữa công tác giáo dục đạo đức - lối sống cho sinh viên để hình thành và phát triển những phẩm chất đạo đức, những giá trị nhân cách trong họ, mà sự phát triển những phẩm chất đạo đức, những giá trị nhân cách vừa là kết quả vừa là mục tiêu trực tiếp của giáo dục đạo đức Luật Giáo dục năm 2005 của nước ta đã ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[11] Tinh thần đó tiếp tục được khẳng định tại Đại hội lần thứ XI của Đảng Tại Đại hội lần này, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành” cho học sinh, sinh viên [34]
Giáo dục tại các trường học không chỉ là giáo dục tri thức, kỹ năng hành nghề mà một nội dung không kém phần quan trọng nữa là phải giáo dục đạo đức, rèn luyện lối sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên Nội dung giá trị đạo đức cần giáo dục cho sinh viên trước hết là nội dung các phạm trù đạo đức học, như: thiện và ác; hạnh phúc, lương tâm, nghĩa vụ đạo đức; trách
Trang 30nhiệm… cho đến các nguyên tắc của đạo đức mới, như: chủ nghĩa yêu nước; chủ nghĩa tập thể; lao động sáng tạo; chủ nghĩa nhân đạo cộng sản…
Thông qua giáo dục đạo đức sẽ giúp người học hình thành được ý thức đạo đức trên cơ sở đó có được hành vi chứa đựng giá trị đạo đức cao Đây là yêu cầu khách quan của sự nghiệp "trồng người", nó giúp đào tạo ra thế hệ con người Việt Nam vừa "hồng" vừa "chuyên" nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Trong thời gian qua, việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên đã có những chuyển biến tích cực Nội dung, hình thức giáo dục phong phú, đa dạng được triển khai sâu rộng trong nhà trường, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sinh hoạt đoàn, hội, cùng các hoạt động tình nghĩa như: đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập, quyên góp giúp đỡ các bạn ở vùng thiên tai, lũ lụt, chung sức vì cộng đồng, hướng về các địa bàn khó khăn giúp
đỡ các hộ nghèo, hoạt động tình nghĩa vì biên cương hải đảo… Đến nay các phong trào này đã đi vào nề nếp ở trường đại học, cao đẳng trên cả nước Các hoạt động đó đã tạo nên xu hướng tích cực về đạo đức và dần dần hình thành trong các em thói quen tốt về những nghĩa cử cao đẹp Số sinh viên xếp loại rèn luyện tốt ngày càng nhiều hơn, chính số này đã có sức lôi cuốn mạnh hơn đối với
bộ phận còn lại Nền nếp học tập, sinh hoạt, trật tự vệ sinh trong trường, nơi công cộng và việc chấp hành luật lệ giao thông có sự tiến bộ rõ rệt
Mỗi sinh viên mang trong mình những giá trị đạo đức tốt đẹp thì sẽ có lối sống và nếp sống lành mạnh, một ý chí mạnh mẽ vượt lên mọi khó khăn vì đạo đức chính là động lực thúc đẩy các hành động anh hùng Cuộc vận động Sinh viên Việt Nam học tập và làm theo lời Bác; Chiến dịch sinh viên tình nguyện hè; Chưong trình tiếp sức mùa thi; Hoạt động hiến máu tình nguyện; Sinh viên xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, lành mạnh v.v.do Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam, Trung ương Đoàn TNCS Hồ chí Minh phát
Trang 31động đã và đang thu hút hàng triệu lượt học sinh, sinh viên tham gia Qua các phong trào hoạt động chính trị - thực tiễn này mà tình cảm, niềm tin đạo đức được củng cố và không ngừng được nâng lên, lối sống lành mạnh được hình thành và phát triển trong hàng ngũ học sinh, sinh viên
Một trong những quan điểm chỉ đạo để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được Hội nghị Trung ương tám khóa XI đề ra là: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” Đây là một trong cá quan điểm chỉ đạo có tính chất xuyên suốt để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.[34]
Thực hiện quan điểm chỉ đạo này, trước mắt cần “Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội”
1.4 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong bối cảnh hiện nay
1.4.1 Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên
Khẳng định giáo dục đạo đức là mối quan tâm hàng đầu, là một trong những tâm nguyện lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác giáo dục trong nhà trường, giáo dục đạo đức cho các em sinh viên không chỉ là giáo dục cho các em học những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, mà ngay các thầy,
cô giáo cũng phải là những tấm gương đạo đức cho các em
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng sự nghiệp “trồng người” và công tác đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và của nhân dân ta Cho nên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mặc dù bận rộn với vô vàn công việc lãnh đạo công cuộc kháng chiến và kiến quốc
Trang 32nhưng Người vẫn rất quan tâm và giành nhiều thời gian cho sự nghiệp giáo dục Đặc biệt, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong lễ khai giảng của năm học đầu tiên dưới chế độ mới - chế độ dân chủ nhân dân, Người đã viết thư gửi các em học sinh bày tỏ mong muốn và đặt niềm tin của mình vào thế hệ trẻ Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” Và theo Người, một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục, của các nhà trường là phải hết sức coi trọng giáo dục đạo đức cho người học, nhất là thế hệ trẻ
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp giáo dục, phải đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức Trước hết, đó là vì sự nghiệp, vì cuộc sống của chính các em học sinh để sau này, các em trở thành những con người tốt, những công dân tốt, có ích cho bản thân, gia đình và đất nước Người cho rằng, việc dạy trẻ cũng như trồng cây non Cây non được trồng tốt thì sau này cây sẽ lên tốt Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các em sẽ thành người tốt Theo Người, tài phải đi đôi với đức, đức đi đôi với tài, nếu chỉ có tài mà không có đức thì là người vô dụng “Vì tương lai của con em ta”, đó là khẩu hiệu và cũng là nhiệm vụ Người giao cho đội ngũ các thầy giáo, cô giáo trong việc chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ
Ngày nay, chúng ta thấy rằng, có nhiều học sinh, sinh viên chăm ngoan, học giỏi, đạt thành tích cao trong học tập, nghe lời cha mẹ, thầy cô, song cũng còn nhiều em mải chơi, lười học, làm trái lời cha mẹ, sa vào những tệ nạn xã hội Vì thế, giáo dục đạo đức cần phải được chú trọng Đây là nhiệm vụ vừa mang tính trước mắt, vừa mang tính lâu dài của nền giáo dục nước nhà
Mỗi thời đại, mỗi chế độ xã hội có những tư tưởng và quan niệm khác nhau về đạo đức Chế độ mới ở nước ta - chế độ dân chủ nhân dân - cũng cần
Trang 33phải có đạo đức mới Nói chuyện tại Trường Cán bộ tự vệ mang tên Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới” Đạo đức mới để làm nên con người mới: con người xã hội chủ nghĩa Nhiệm vụ của nhà trường dưới chế độ dân chủ nhân dân là đào tạo nên những con người
có đạo đức, có kiến thức, văn hoá, kỹ năng lao động nghề nghiệp chứ không phải đào tạo ra “một lũ cao bồi” Đồng thời, Người còn chỉ ra rằng, trong xã hội vẫn tồn tại tình trạng nhiều người có thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp, do đó giáo dục đạo đức mới chính là nhằm cải hoá những tư tưởng không đúng đắn đó
Giáo dục đạo đức có tầm quan trọng lớn lao, song không phải ở đâu và trong thời gian nào các lực lượng giáo dục cũng nhận thức được đúng đắn và đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề Điều này cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra Ngày 14 - 1 - 1963, trong buổi họp với Ban Bí thư bàn về công tác tuyên giáo năm 1963, khi nghiêm khắc phê bình công tác giáo dục trong thời gian qua còn “máy móc”, “rập khuôn”, “học nhưng không hành”, ít chú ý tới giáo dục đạo đức, đạo đức công dân còn kém…, Người đã yêu cầu các cấp giáo dục cần phải chấn chỉnh ngay hiện tượng này
Giáo dục đạo đức mới là hoạt động giáo dục về nhận thức đạo đức và là hoạt động thực hành đạo đức mới cho sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng Về phương diện hoạt động giáo dục nhận thức, các hình thức giáo dục chủ yếu là giảng giải, truyền đạt những tri thức về đạo đức, những yêu cầu chuẩn mực đạo đức trong các quan hệ xã hội, gia đình Về phương diện thực hành, thông qua những yêu cầu, chuẩn mực trong các quan hệ xã hội, chủ thể giáo dục đạo đức mới định hướng cho sinh viên tu dưỡng, rèn luyện nhằm
“khuyến khích, cổ vũ thanh niên, sinh viên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại Hình thành lớp
Trang 34thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Chủ thể giáo dục - đào tạo đạo đức mới bao gồm xã hội (Đảng, Nhà nước, nhà trường, các tổ chức chính trị - xã hội), gia đình và sự tu dưỡng rèn luyện đạo đức của cá nhân sinh viên Chức năng giáo dục đạo đức mới của Nhà nước đối với sinh viên thể hiện ở chức năng quản lý nhà nước đối với ngành giáo dục Các tổ chức chính trị, xã hội, đặc biệt là đoàn thanh niên
có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho thanh niên, sinh viên trong nhà trường Nhà trường là thiết chế xã hội thực hiện chức năng giáo dục, đào tạo tài và đức cho nguồn nhân lực cao của đất nước Trong đó, có nhiệm vụ quan trọng là giáo dục đạo đức cho sinh viên
Như vậy, chăm lo giáo dục đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cùng với giáo dục thể chất, văn hoá, giáo dục chuyên môn, nghiệp vụ giáo dục đạo đức mới góp phần hoàn thiện các mặt, đức, trí, thể, mỹ cho sinh viên Việt Nam nói riêng, thanh niên Việt Nam nói chung - thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng nước nhàr
1.4.2 Nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Mỗi con người nói chung, mỗi sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng đều chịu ảnh hưởng một hệ tư tưởng xã hội nhất định Hệ tư tưởng
xã hội của sinh viên Việt Nam hiện nay là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam Để giúp sinh viên có thế giới quan khoa học, phương pháp luận khoa học, xác định được lý tưởng của mình, họ tất yếu phải được học tập các môn lý luận chính trị một cách nghiêm túc Lãnh đạo nhà trường phải có nhận thức đúng đắn của
Trang 35hoạt động giáo dục này; phải có biện pháp đúng đắn trong thực tiễn để nâng cao chất lượng giáo dục môn lý luận chính trị đã được xác định
Các trường đại học và cao đẳng là những cơ sở đào tạo nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước Mục tiêu đào tạo của các trường là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của công dân; đào tạo lớp người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức và ý chí vươn lên đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hiện nay, trong hầu hết các trường đại học và cao đẳng không có bộ môn đạo đức học Sự thiếu sót này làm hạn chế mục tiêu đào tạo đã được xác định Vì thế, lãnh đạo các nhà trường cần có nhận thức mới về giáo dục đạo đức, có nhận thức mới
về nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam Từ đó, có hành động mới xây dựng bộ môn đạo đức học để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Đạo đức mới chỉ được hình thành trên cơ sở sự tự giác tu dưỡng của mỗi sinh viên Nó đòi hỏi mỗi người phải tự giác rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn, học tập, trong các mối quan hệ của mình, không tự lừa dối; phải thấy
rõ cái hay, cái tốt, cái thiện cũng như cái chưa tốt, cái xấu, cái ác của mình để khắc phục Nội dung tu dưỡng đạo đức mới của sinh viên hiện nay
Một là, sinh viên phải biết sống có lý tưởng Sinh viên ngày nay phải biết sống có lý tưởng, bởi khi có lý tưởng sống tốt đẹp, sinh viên mới thấy rõ được mục đích, ý nghĩa cao đẹp của cuộc sống, từ đó đem tài năng, trí tuệ, sức mạnh của mình để phục vụ cho bản thân và cho xã hội Khi đã hình thành cho mình được lý tưởng sống tốt đẹp, sinh viên cũng sẽ biết đâu là điểm mạnh của bản thân để phát huy và đâu là điểm yếu để hạn chế khắc phục Sống có
lý tưởng cao đẹp, sinh viên cũng sẽ tự nâng mình lên tới tầm cao của thời đại mới Sống có lý tưởng cũng là trách nhiệm của mỗi thanh niên đối với đất
Trang 36nước Để xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN Việt Nam, vai trò của sinh viên nói riêng và thanh niên nói chung là rất quan trọng Do vậy, việc xác định được cho mình lý tưởng đấu tranh vì hạnh phúc của xã hội, của Tổ quốc, của nhân dân và phấn đấu cho lý tưởng đó thành hiện thực là một trong những nội dung tu dưỡng đạo đức cách mạng hiện nay của sinh viên Việt Nam
Hai là, sinh viên phải xây dựng thái độ chính trị đúng Thái độ chính trị
là tình cảm chính trị của mỗi người trước các vấn đề chính trị, thời sự của đất nước Tình cảm chính trị là sản phẩm tổng hợp của tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ và tình cảm thẩm mỹ, trong đó, tình cảm trí tuệ là cơ sở, nền tảng Nội dung của tình cảm chính trị thể hiện rất phong phú, đó là lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, yêu khoa học, lòng nhân ái, ham học hỏi, yêu cái đẹp, ghét sự bất công xã hội…
Thái độ chính trị đúng đắn, biểu hiện là thái độ khách quan, được xây dựng trên cơ sở hệ thống tri thức lý luận chính trị khoa học, xuất phát từ thực tiễn của đất nước, từ lợi ích chung của xã hội; mọi cử chỉ, lời nói, việc làm biết suy nghĩ thật chín chắn, thận trọng, biết làm chủ mình, luôn bình tĩnh, sáng suốt, không hấp tấp, không vội vàng; biết dùng sự hiểu biết đúng đắn của mình, giúp đỡ mọi người cùng hiểu, tổ chức hành động đúng
Thái độ chính trị đúng có vai trò quan trọng, làm cho mỗi người phấn chấn, hăng hái, tạo nên sức mạnh tinh thần và thể chất, thúc đẩy mọi người hoàn thành tốt nhiệm vụ Ý thức chính trị đúng đắn của sinh viên hiện nay thể hiện ở kết quả học tập và rèn luyện về lý tưởng, về lập trường giai cấp, về trình độ lý luận chính trị, về thực hiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Cho nên trong quá trình tu dưỡng đạo đức cách mạng, mỗi sinh viên phải hết sức coi trọng việc xây dựng thái độ chính trị đúng nhằm góp phần tích cực thực hiện tốt các mục tiêu đã xác định
Trang 37Ba là, phải thực hành những chuẩn mực đạo đức cơ bản Trong xây dựng đạo đức mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những giá trị chuẩn mực của đạo đức cách mạng chung, cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới Đó là:
Trung với nước, hiếu với dân Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung với nước phải gắn liền hiếu với dân, bởi nước là nước của dân, còn dân lại là chủ nhân của đất nước Trung với nước là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, trung thành với con đường đi lên CNXH của đất nước; suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng Hiếu với dân thể hiện ở chỗ thương dân, tin dân, phục vụ nhân dân hết lòng Trung với nước, hiếu với dân đối với thanh niên, sinh viên hiện nay là: Tự nguyện, tự giác suốt đời phấn đấu cho cho độc lập của Tổ quốc, tự do cho nhân dân, xây dựng XHCN, biến lý tưởng xã hội của Đảng, của dân tộc thành hiện thực, bất chấp mọi khó khăn thử thách, kể cả hy sinh tính mạng của mình khi cần thiết; luôn coi mình
là công bộc của dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, để cho dân tin, dân phục, dân yêu
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư “Cần, kiệm, liêm, chính” là bốn chuẩn mực đạo đức, còn “chí công vô tư” là hai nguyên tắc ứng xử gắn liền với hoạt động hàng ngày của con người Đối với sinh viên hiện nay, các chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc ứng xử này biểu hiện ở sự cần cù, siêng năng, học tập, lao động, biết lập kế hoạch và sáng tạo trong hoạt động để thu được hiệu quả cao; biết tiết kiệm thì giờ, tiền của, không xa hoa, lãng phí, không phô trương, hình thức; luôn tôn trọng, giữ gìn của công, không ham địa
vị, tiền tài,
Yêu thương con người Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định, tình yêu thương con người là một trong những chuẩn mực đạo đức cao đẹp của người cách mạng Người là tấm gương thực hành đầy đủ các chuẩn mực
Trang 38yêu thương con người sâu sắc Tình yêu thương đó không chỉ ở suy nghĩ mà phải hiện thực hóa bằng hành động như: Luôn luôn biết làm điều có lợi, tránh điều hại cho dân, biết hy sinh bảo vệ dân, coi trọng việc xây dựng mối quan
hệ tốt đẹp với bạn bè, đồng chí để giúp nhau cùng tiến bộ
Tinh thần quốc tế trong sáng Tinh thần quốc tế trong sáng là tinh thần đoàn kết quốc tế, tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, với những người tiến bộ trên thế giới Mỗi sinh viên Việt Nam cần phải nắm vững quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; phấn đấu, học tập, lao động tốt để góp phần trí lực của mình nhằm phát triển tinh thần quốc tế trong sáng cho đất nước
1.4.3 Hình thức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Do những hoạt động của sinh viên thường gắn liền với nhà trường nên các trường đại học có vai trò chủ đạo nhất trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Mỗi chủ trương, hoạt động của nhà trường đều có tác động trực tiếp đến việc hình thành thế giới quan và nhân sinh quan mới cho sinh viên bởi những tri thức mà họ thu nhận được trước đó còn chưa đầy đủ Mỗi sinh viên đều có nhu cầu khám phá tri thức mới, cuộc sống mới, các giá trị mới nên nhà trường càng có vai trò quan trọng trong định hướng tư tưởng cho họ Ngay từ những buổi đầu tiên của sinh viên năm thứ nhất, các trường đại học và cao đẳng đã tiến hành kì học chính trị nhằm bồi dưỡng cho sinh viên lý tưởng, bản lĩnh, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, khơi dậy niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn Nhờ khóa học này mà mỗi sinh viên thu nhận thêm tri thức về lĩnh vực chính trị, xã hội Nhiều sinh viên đã thể hiện mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng để có thể rèn luyện, trưởng thành và cống hiến nhiều hơn nữa cho xã hội Kì học này cũng có ý nghĩa lớn trong việc giúp sinh viên nhận
Trang 39thức về tình hình đất nước, những sự kiện xảy ra trên thế giới để họ có thể xác định quan điểm, thái độ, không để kẻ xấu lợi dụng, kích động, gây mất ổn định chính trị, xã hội
Ngoài công tác giáo dục lý tưởng, nhà trường cũng chú trọng đến công tác giáo dục truyền thống cho sinh viên như: truyền thống tôn sư trọng đạo, truyền thống hiếu học, truyền thống hiếu nghĩa, uống nước nhớ nguồn… nhằm giáo dục cho sinh viên sự hiểu biết và trân trọng, giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc
Việc giáo dục đạo đức cho sinh viên cũng được gắn liền với việc giáo dục pháp luật Sinh viên ngoài việc nắm bắt những nội qui, qui chế nhà trường còn cần có những hiểu biết cơ bản về pháp luật, về an toàn giao thông, phòng chống ma tuý và các tệ nạn xã hội… Giáo dục cho sinh viên đạo đức
và pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giúp họ vừa có ý thức tự giác, chủ động vừa nhận thức được những giới hạn cụ thể trong thái độ và hành vi của mình
Giáo dục đạo đức cho sinh viên không thể chỉ ở việc tuân thủ thực hiện những qui tắc, chuẩn mực cứng nhắc Nhà trường cũng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng, giáo dục những kỹ năng “mềm” để sinh viên có thể xử lý các tình huống nảy sinh trong cuộc sống một cách tích cực nhất Để có thể đạt được mục tiêu như vậy thì nhà trường phải tạo môi trường cho sinh viên sinh hoạt, rèn luyện, phát triển toàn diện, có sức khoẻ tốt và đời sống tinh thần phong phú lành mạnh Bên cạnh đó, nhà trường cũng chú trọng bồi dưỡng thể lực tạo tiền đề vật chất để sinh viên có thể hoàn thành tốt những nhiệm vụ khác như học tập, nghiên cứu và tham gia các hoạt động xã hội
Để đạt được hiệu quả cao trong giáo dục đạo đức cho sinh viên thì bản thân mỗi giảng viên phải là tấm gương về đạo đức Những bài học đạo đức chỉ thực sự có giá trị, có tính thuyết phục khi người thuyết giảng bài học đó là
Trang 40tấm gương mẫu mực Mỗi giảng viên cần nêu cao lòng yêu nghề, thái độ công bằng, tinh thần trách nhiệm…nhằm tạo được niềm tin cho sinh viên Thầy cô ngoài việc truyền đạt tri thức còn phải định hướng và kịp thời uốn nắn hành
vi, thái độ của sinh viên, tạo cho sinh viên có điều kiện thuận lợi nhất để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống và tiếp thu một cách có chọn lọc những giá trị văn hóa mới
Nhà trường cần phát huy hơn nữa vai trò của tổ chức Đoàn và Hội trong giáo dục đạo đức cho sinh viên, phải phát huy hơn nữa tính chủ động tích cực của mình, đặc biệt là trong việc tổ chức nhiều các hoạt động tập thể với hình thức phong phú, đa dạng thu hút được nhiều sinh viên tham gia nhằm làm cho họ có nhiều điều kiện tiếp cận với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tham gia vào các hoạt động, tổ chức xã hội tạo sự gắn kết giữa cá nhân với cộng đồng
Để phát huy hơn nữa vai trò của Đoàn, Hội trong việc giáo dục nghĩa
vụ đạo đức cho sinh viên, cần có sự phối hợp với các tổ chức xã hội khác như Hội liên hiệp phụ nữ, Liên đoàn lao động, nhà trường…để tạo sự thống nhất
và hỗ trợ lẫn nhau trong công tác xây dựng và giáo dục nghĩa vụ đạo đức mới cho sinh viên
Bên cạnh những hoạt động tập thể, Đoàn và Hội cũng cần có những chủ trương hỗ trợ cho sinh viên trong học tập, tạo nhiều cơ hội cho sinh viên tìm hiểu thực tế, vừa mang tính giải trí, vừa là sự học hỏi lẫn nhau…giúp sinh viên ngày càng gắn bó, sống tình cảm và có trách nhiệm với mọi người hơn trong cuộc sống
Cần gắn kết ba chủ thể gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Gia đình chính là môi trường hình thành nhân cách bởi từ gia đình con người có những định hướng giá trị đầu tiên về cuộc sống Đây cũng là nơi gắn bó suốt cuộc đời nên môi trường gia đình có ảnh hưởng lớn đến tâm lý, tình cảm, nếp sống của mỗi người