TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT LÊ THỊ TRANG LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT NHẢY XA KIỂU ƯỠN THÂN CHO HỌC SINH NỮ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
LÊ THỊ TRANG
LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT NHẢY XA KIỂU ƯỠN THÂN CHO HỌC SINH NỮ KHỐI 11 TRƯỜNG THPT HÀN THUYÊN - BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP TDTT - GDQP
HÀ NỘI - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
LÊ THỊ TRANG
LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT NHẢY XA KIỂU ƯỠN THÂN CHO HỌC SINH NỮ KHỐI 11 TRƯỜNG THPT HÀN THUYÊN - BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP TDTT - GDQP
Hướng dẫn khoa học
ThS TẠ HỮU MINH
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Lê Thị Trang
Sinh viên lớp K36 GDTC - GDQP, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, chưa được bảo vệ trước một Hội đồng khoa học nào Toàn bộ những vấn đề đưa ra bàn luận, nghiên cứu đều mang tính cấp thiết và đúng với thực tế khách quan của trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2014
Sinh viên
Lê Thị Trang
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Đánh giá trình độ kỹ thuật 8 Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn những sai lầm thường mắc 26 Bảng 3.2 Kết quả quan sát sư phạm những sai lầm thường mắc
của 30 học sinh nữ lớp 11 khi học kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân”
27
Bảng 3.3 Kết quả phỏng vấn những nguyên nhân dẫn đến sai
lầm
29
Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra test tại chỗ bật nhảy bằng 2 chân
thực hiện ưỡn thân và gập thân rơi xuống đất trước thực nghiệm
Bảng 3.7 Kết quả phỏng vấn lựa chọn sử dụng bài tập nhằm
khắc phục những sai lầm thường mắc cho học sinh nữ
khối 11 trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh (n=20)
34
Bảng 3.8 Kết quả phỏng vấn lựa chọn sử dụng thời gian cho
một buổi tập luyện nhảy xa cho học sinh nữ khối 11
trường THPT Hàn Thuyên (n=20)
36
Bảng 3.9 Kết quả phỏng vấn lựa chọn sử dụng số buổi tập trong
một tuần học kỹ thuật nhảy xa cho học sinh nữ khối 11
Trang 6cát sau thực nghiệm Bảng 3.12 Kết quả kiểm tra thành tích nhảy xa kiểu “ưỡn thân”
Bảng 3.14 So sánh số học sinh của 2 nhóm còn mắc phải những
sai lầm trong kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” sau thực nghiệm
41
Bảng 3.15 So sánh kết quả học sinh thực hiện kỹ thuật của test
kiểm tra tại chỗ bật nhảy bằng 2 chân thực hiện ưỡn thân và gập thân rơi xuống hố cát trước và sau thực nghiệm
42
Bảng 3.16 So sánh, đánh giá thành tích nhảy xa kiểu “ưỡn thân”
của 2 nhóm trước và sau thực nghiệm
42
Bảng 3.17 So sánh điểm kỹ thuật nhảy xa kiểu ”ưỡn thân” trước
và sau thực nghiệm
43
Bảng 3.18 So sánh tỷ lệ học sinh còn mắc phải những sai lầm
trong kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” trước và sau thực nghiệm
Trang 7MỤC LỤC
Đặt vấn đề 1
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Cơ sở thực tiễn của sáng kiến 7
1.3 Nguyên lý kỹ thuật của môn nhảy xa 12
1.4 Cơ sở lý luận của giảng dạy động tác 14
1.5 Các phương pháp giảng dạy 16
1.6 Cơ sở lý luận để đề phòng và loại trừ những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” 17
1.7 Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi học sinh THPT 18
Chương 2: Nhiệm vụ, phương pháp và tổ chức nghiên cứu 21
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3 Tổ chức nghiên cứu 23
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 24
3.1 Thực trạng những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” của các em học sinh nữ khối 11 trường THPT Hàn Thuyên 24
3.2 Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân cho các em học sinh nữ lớp 11 trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh 33
Kết luận và kiến nghị 49
1 Kết luận 49
2 Kiến nghị 50
Tài liệu tham khảo 51 Phụ lục
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại ngày nay khoa học phát triển như vũ bão, công cuộc xây dựng quê hương đất nước đổi mới hằng ngày, vì vậy tri thức giảng dạy trong nhà trường là những kiến thức cơ bản, hiện đại, sát thực tiễn, dùng làm chìa khóa để mở cánh cửa khoa học, là cái vốn mà thế hệ trẻ có thể vận dụng vào cuộc sống, tiếp tục học và tự bồi dưỡng trong suốt cuộc đời Vậy trang bị kiến thức phổ thông cho học sinh phổ thông là một việc làm vô cùng quan trọng nhằm góp phần xây dựn g đất nước phồn vinh GDTC là một trong những nội dung giáo dục quan trọng của nhà trường nhằm đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức theo tinh thần về nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VIII Mục tiêu của GDTC là phát triển toàn diện tố chất thể lực, hình thể, nâng cao sức khỏe, phát triển các thành tích thể thao đồng thời góp phần phát triển nhân cách con người học sinh
GDTC đem lại cho học sinh một sức khỏe tốt, một cơ thể phát triển hài hòa để tạo tiền đề góp phần thúc đẩy học tốt các môn học khác Ngày nay trong hệ thống GDTC nước ta, điền kinh là một môn thể thao có một vị trí rất quan trọng nó là một trong những nội dung thi đấu tại các kỳ Đại hội quốc gia, khu vực và quốc tế Chính vì vậy, điền kinh được phổ biến giảng dạy trong các trường phổ thông, là nội dung chính nhằm phát triển tố chất thể lực chung Việc nâng cao thành tích môn học điền kinh trong các trường THPT là yếu tố cần thiết, nhưng để đạt được thành tích cao đòi hỏi kỹ thuật càng phải được hoàn thiện
Môn nhảy xa là một trong những hoạt động cơ bản nhằm phát triển các
tố chất thể lực, tăng cường sức khỏe cho học sinh Là môn học chính khóa
Trang 9trong chương trình GDTC, là nội dung thi đấu trong Hội khỏe các cấp từ địa phương đến cấp trung ương
Nhảy xa “ưỡn thân” có kỹ thuật tiên tiến thường được sử dụng nhiều
trong thi đấu, tuy nhiên thành tích đạt được chưa cao nguyên nhân còn nhiều sai lầm trong khi thực hiện kỹ thuật Ở nước ta việc nghiên cứu áp dụng các phương tiện, phương pháp tập luyện tiên tiến vào giảng dạy, đặc biệt trong các trường phổ thông vấn đề nghiên cứu và áp dụng các bài tập nhằm khắc phục những sai lầm trong giảng dạy kỹ thuật còn nhiều hạn chế
Trong giảng dạy việc nắm bắt kỹ thuật là quan trọng mà trong khi tập luyện người tập rất hay mắc phải những sai lầm khi học kỹ thuật, vì vậy trong giảng dạy nhanh chóng tìm ra những sai lầm thường mắc cũng như nguyên nhân của nó là việc rất khó, nhưng việc xác định vận dụng các biện pháp và bài tập để sửa chữa những sai lầm đó lại quan trọng hơn Vấn đề nghiên cứu các biện pháp tập luyện nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong kỹ
thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” được rất nhiều giáo viên môn thể dục quan
tâm, chú ý song đều đề cập đến các giai đoạn kỹ thuật quan trọng, thiếu đánh giá một cách hệ thống và toàn diện Một số giáo viên giảng dạy thể dục trong chương trình ít áp dụng đến bài tập sửa chữa những sai lầm mà học sinh thường mắc, do vậy ảnh hưởng chung đến kết quả học tập và thành tích thi đấu
Trong các năm học gần đây thông qua quá trình giảng dạy, trao đổi giáo viên trong trường và một số trường khác trong huyện học sinh thường mắc những sai lầm rất cơ bản trong học kỹ thuật Như chạy đà không ổn định, tốc
độ chưa cao, góc độ giậm nhảy thấp, bước bộ, miết chân, và đẩy hông nhiều
em làm chưa tốt Chính các yếu tố này đã ảnh hưởng rất nhiều đến thành tích học tập và thi đấu Các yếu tố đó lại chính là kết quả giai đoạn chạy đà, giậm nhảy tạo ra Hiện nay, thành tích môn nhảy xa của học sinh trường THPT Hàn
Trang 10Thuyên - Bắc Ninh còn thấp so với thành tích môn nhảy xa của các trường trong khu vực đặc biệt là với các em học sinh nữ Xuất phát từ những lý do
trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Lựa chọn một số bài tập nhằm khắc
phục những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh”
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Vị trí, vai trò của công tác GDTC trong việc phát triển con người toàn diện
Lênin cho rằng “Con người toàn diện là con người phát triển về mọi mặt, được chuẩn bị về mọi mặt, biết làm mọi việc, đảm nhiệm được nhiều chức năng trong xã hội” Con người phát triển toàn diện phải có sự phát triển hài
hoà giữa thể chất và tinh thần
GDTC kết hợp các mặt giáo dục trở thành phương tiện gián tiếp nâng cao hiệu quả sản xuất Còn là phương thức duy nhất để đào tạo ra con người phát triển toàn diện Trong hướng dẫn thực hiện chương trình GDTC trường
học của Bộ Giáo dục đào tạo có đề cập tới “GDTC được thực hiện trong hệ
thống nhà trường từ mầm non đến đại học, góp phần đào tạo những công dân phát triển toàn diện GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục đào tạo, nhằm giúp con người phát triển cả về trí tuệ, cường tráng về thể lực, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức GDTC trong các nhà trường nhằm từng bước nâng cao trình độ văn hoá thể chất của học sinh, sinh viên”.[12]
1.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục nói chung và GDTC nói riêng
Công tác GDTC trong các trường học ở nước ta là bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục đào tạo Là một mặt cơ bản của quá trình giáo dục toàn
diện Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã khẳng định “Cùng với
khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo là chìa khoá mở cửa để đất nước bước vào tương lai với đội ngũ khoa học vững vàng”[11] Nghị quyết TW2 khoá
Trang 12VII năm 1996 cũng khẳng định “Giáo dục đào tạo cùng với khoa học kỹ thuật
phải trở thành quốc sách hàng đầu” Muốn xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì con người luôn là nhân tố cơ bản, là động lực quan trọng quyết định sự thành công, sự phát triển của xã hội Chính vì vậy, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã xác định cụ thể vấn đề đầu tiên để phát triển xã hội chính là phải quan tâm,
coi trọng đến việc thực hiện “chiến lược con người” trong mọi lĩnh vực hoạt
động, vấn đề con người ở đây chính là con người có sự phát triển toàn diện, tức là không chỉ phát triển về trí tuệ, đạo đức mà còn phải cường tráng về thể chất Chăm lo cho mọi người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của mọi ngành trong đó có Giáo dục Cụ thể là GDTC trong nhà trường
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1991 về công tác GDTC
khẳng định “Về công tác TDTT cần coi trọng nâng cao chất lượng GDTC
trong trường học tổ chức và hướng dẫn, vận động nhân dân tham gia rèn luyện thân thể hàng ngày ”[5] Chỉ thị 112 CT ngày 09 tháng 05 năm 1989
của Hội đồng Bộ trưởng về công tác TDTT trong những năm trước mắt có
viết “Đối với học sinh, sinh viên trước hết nhà trường phải thực hiện nghiêm
túc việc dạy và học môn TDTT theo chương trình quy định”[1] Chỉ thị 36
CT-TW của Ban bí thư trung ương Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn
mới nêu rõ “Cải tiến chương trình giảng dạy đào tạo giáo viên TDTT tạo
điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC ở tất cả các trường học”[2] Ngày 7/3/1995 Thủ tướng chính phủ cũng ra chỉ thị 113/TTG
về xây dựng và quy hoạch phát triển ngành TDTT, về GDTC trong trường học Trong hội nghị GDTC trong trường phổ thông toàn quốc (Hải Phòng
08/1996), Phó thủ tướng Nguyễn Khánh đã nói “Ước vọng của chúng ta là
mỗi thanh niên cả nam và nữ đều có thể lực cường tráng, cùng với tâm hồn trong sáng và trí tuệ phát triển”[4]
Trang 13Nhìn chung các chỉ thị, văn bản, nghị quyết của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác TDTT và GDTC trong nhà trường đều có chung quan điểm nhằm lãnh đạo, chỉ đạo để TDTT nước nhà ngày càng phát triển, phong trào luyện tập TDTT phát triển rộng khắp, để mỗi người dân Việt Nam đều có sức khoẻ tốt phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tố quốc Đối với GDTC
trong chương trình cải cách giáo dục số 134 có viết “Mục đích của GDTC
nước ta là: bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện có sức khoẻ dồi dào, thể chất cường tráng, dũng khí kiên cường để kế tục
sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng”[3]
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến đề tài
GDTC trong trường học được đánh giá là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của nền giáo dục Xã hội chủ nghĩa Hoạt động GDTC trong các trường được tiến hành với mục đích tăng cường thể chất học sinh, nâng cao trình độ thể thao của các em, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá và giáo dục học sinh phát triển toàn diện, có khả năng phục vụ đắc lực cho sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nước nhà
GDTC là một mặt, một bộ phận của quá trình giáo dục Do đó, khái niệm GDTC nằm trong khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng GDTC là một hình thức giáo dục nhằm trang bị cho học sinh vốn kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản, cần thiết trong cuộc sống và những tri thức chuyên môn, phát triển các tố chất thể lực và tăng cường sức khoẻ GDTC trong trường học là một hoạt động giáo dục, vì nó được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch và có
hệ thống nhằm truyền thụ tri thức văn hoá thể chất từ người thầy sang học trò GDTC mang đầy đủ các đặc điểm của quá trình sư phạm Đó là vai trò chủ đạo điều khiển của giáo viên trong giảng dạy, tính chủ động tích cực của học sinh trong học tập Nội dung đặc trưng của GDTC là dạy học động tác và giáo
Trang 14dục tố chất vận động Hai mặt này không đồng nhất song lại liên quan mật thiết với nhau
- Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người Thể chất con người bao gồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng thích ứng Phát triển thể chất
là một quá trình hình thành và biến đổi có quy luật các thuộc tính về hình thái, chức năng tự nhiên của cơ thể dưới ảnh hưởng của điều kiện sống trong đó có GDTC Vì thế, phát triển thể chất là sự thay đổi về hình thái, kích thước và chức năng của cơ thể trong suốt cuộc đời mỗi cá nhân Phát triển thể chất vừa
là quá trình tự nhiên (nó tuân thủ cả quy luật tự nhiên và sinh học) vừa là quá trình xã hội Vì nó phụ thuộc vào hai yếu tố: Môi trường tự nhiên và môi trường giáo dục Trong đó yếu tố môi trường giáo dục có tác động một cách tích cực, chủ động
- Chất lượng GDTC: Là hiệu quả quá trình phát triển thể chất của học sinh - cụ thể là tăng sức khỏe, tăng khả năng hoạt động thể lực và khả năng thích nghi với điều kiện sống thay đổi GDTC là một mặt vừa riêng lẻ, vừa không thể tách khỏi quá trình giáo dục Trên thực tế nhiệm vụ giáo dục đạo đức, ý chí, thẩm mĩ, trí tuệ; giáo dưỡng thể chất và giáo dục các tố chất thể lực bao giờ cũng được giải quyết đồng thời trong một quá trình thống nhất
Đó là quá trình giáo dục toàn diện
1.2 Cơ sở thực tiễn của sáng kiến
1.2.1 Khái niệm, vai trò, tác dụng của bài tập bổ trợ chuyên môn
- Khái niệm kỹ thuật:
Kỹ thuật của các bài tập thể chất là những cách thức thực hiện các hành động vận động và nhờ các cách thức đó mà nhiệm vụ vận động được giải quyết một cách hợp lý và có hiệu quả cao hơn
Để đạt được thành tích tốt nhất trong điền kinh nói chung và nhảy xa
kiểu “ưỡn thân” nói riêng VĐV phải có kỹ thuật thực hiện động tác hợp lý
Trang 15và hiệu quả nhất Kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm cá nhân của VĐV và điều kiện thực hiện động tác
Kỹ thuật động tác tốt phải dựa trên nền tảng của thể lực tốt bởi có sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo được phát triển ở mức độ cao Cũng chỉ có nắm kỹ thuật hợp lý mới phát huy được trình độ thể lực Do
đó, muốn thành tích tốt, điều quan trọng là phải tính đến mối quan hệ giữa việc phát triển các tố chất thể lực với việc tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật Công trình nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ hoàn thiện kỹ thuật của VĐV nhảy xa tác giả VB.Pôpop đưa ra công thức sau:
Trang 16thuật động tác, nắm vững các động tác thực hành, đánh giá được động tác khi thực hiện, xác định những sai lầm và tìm cách sửa chữa Tất cả đều được giải quyết phần lớn nhờ các bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình huấn luyện
- Khái niệm bài tập bổ trợ chuyên môn:
Cho đến nay khái niệm về bài tập bổ trợ và bài tập bổ trợ chuyên môn
có những cách trình bày sau:
Theo PGS Nguyễn Toán và TS Phạm Danh Tốn thì cho rằng: “Bài tập
bổ trợ chuyên môn là các bài tập phù hợp với các yếu tố của đối tượng thi đấu cùng các biến dạng của chúng, cũng như các bài tập dẫn dắt tác động có chủ đích và có hiệu quả đến sự phát triển của tố chất và các kỹ xảo của vận động ở chính ngay môn thể thao đó"[4] Còn một số các nhà khoa học nước
ngoài thì cho rằng: Bài tập tập bổ trợ còn là một trong những biện pháp giảng dạy bao gồm các bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập tăng cường các tố chất thể lực Quan điểm của các học giả Trung Quốc về bài tập bổ trợ chuyên môn là những bài tập mang tính chuyên biệt cho từng kỹ thuật và từng môn thể thao khác nhau
Những khái niệm này, tuy có khác về cách trình bày nhưng luôn có sự thống nhất về ý nghĩa Vậy ta có thể hiểu về khái niệm bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập mang tính chất chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực mang tính chuyên biệt cho từng kỹ thuật và từng môn thể thao khác nhau
- Vai trò, tác dụng của bài tập bổ trợ chuyên môn:
Theo các nhà khoa học, các nhà chuyên gia thể thao thì các bài tập bổ trợ chuyên môn là một biện pháp quan trọng trong giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật
Như đã biết một số kỹ thuật thường cấu trúc các chuỗi động tác gắn kết
có trình tự, có sự phối hợp có liên quan, có tác động lẫn nhau, thúc đẩy hoặc
Trang 17hạn chế nhau để cùng thực hiện một yếu lĩnh kỹ thuật động tác nào đó Một
kỹ thuật khó thường gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn, nhiều cử động nên cùng một lúc người học không thể hình thành ngay các kỹ năng cũng như các đường mòn liên hệ trên vỏ não các cử động đó Do vậy, người ta phân nhỏ kỹ thuật nhất là kỹ thuật phức tạp thành các giai đoạn động tác khác nhau
Ví dụ: Trong nhảy xa người ta phân kỹ thuật ra thành bốn giai đoạn:
Chạy đà, giậm nhảy, trên không, rơi xuống và kết thúc
Trên cơ sở đó người học nắm bắt từng phần sau đó liên kết lại thành kỹ thuật hoàn chỉnh Ở mỗi giai đoạn kỹ thuật để giúp người học hình thành các
kỹ thuật người ta sử dụng các bài tập:
- Mang tính chuẩn bị, nhằm đưa người tập vào trạng thái sinh lý thích hợp với việc tiếp thu kỹ thuật
- Mang tính dẫn dắt nhằm làm cho người tập nắm được các yếu lĩnh từ
dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến liên hoàn của một
số kỹ thuật cần học
- Mang tính chuyển đổi từ động tác này sang động tác khác với không gian và thời gian khác nhau, nhằm tạo ra sự lợi dụng các khả năng đã có, hình thành ra các khả năng mới và có thể để đáp ứng cho người học thực hiện thuận lợi các kỹ năng đang học, người ta còn cần tập các bài tập bổ trợ thể lực chuyên môn cho người tập
Ví dụ: Muốn thực hiện được động tác giậm nhảy tốt, người tập phải có
cảm giác đà chính xác, điểm giậm nhảy và góc độ đặt chân hợp lý, đồng thời cần phải có sức bật của đôi chân thì động tác giậm nhảy mới có hiệu quả tốt
Vì vậy, đi đôi với các bài tập bổ trợ chuyên môn nói ở trên, người ta cũng rất chú trọng đưa vào trong chương trình giảng dạy các bài tập để tăng cường một số tố chất thể lực chuyên môn cần thiết Có thể nói các bài tập bổ trợ chuyên môn vừa là biện pháp nắm kỹ thuật, vừa là khâu quan trọng
Trang 18để hoàn thiện và nâng cao kỹ thuật, nhất là kỹ thuật phức tạp và khó Vừa là một khâu quan trọng để thúc đẩy nhanh quá trình hình thành kỹ năng vận động
1.2.2 Xu thế nghiên cứu sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong thể thao nói chung và giảng dạy môn nhảy xa nói riêng
Do vai trò tác dụng to lớn của các bài tập bổ trợ chuyên môn đối với quá trình giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật nên nhiều nước có nền thể thao phát triển, đặc biệt là các nước có nền công nghệ phát triển đã đầu tư cải tiến vận dụng thành quả của các ngành khoa học khác để tạo ra nhiều các bài tập bố trợ chuyên môn
- Việc tập luyện môn nhảy xa trên thế giới vào các thập kỷ 60 của thể kỷ
XX về trước chủ yếu diễn ra trên các hố cát và các đường chạy bằng đất nện hoặc xỉ than Do vậy các hình thức của các bài tập bổ trợ chuyên môn cũng đơn điệu, nghèo nàn Từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX nhờ có khoa học phát triển nên có sự ra đời của các máy móc tập luyện, đường chạy nhựa tổng hợp đã làm phong phú hơn, đa dạng hơn các bài tập bổ trợ, càng đáp ứng có chủ đích các yêu cầu chuyên biệt của các môn thể thao hơn
- Hiện nay các nhà khoa học đã phát hiện mối liên hệ giữa ngũ quan (xúc giác, thính giác, khứu giác, vị giác, thị giác) đều có tác động quan trọng với việc nắm bắt kỹ năng, kỹ xảo và phát triển các tố chất vận động Vì vậy ngoài việc dùng giáo cụ trực quan hoặc ngôn ngữ, nhiều chuyên gia thể thao đã dùng ánh sáng, âm thanh tiếng động như tiếng trống, kèn trong tập luyện để tác động vào tâm lý cũng như quá trình hưng phấn của người tập giúp cho việc tập luyện bổ trợ đạt hiệu quả cao
- Nhịp sinh học được các nhà khoa học Fuse và Swaplôta (Mỹ) đề xuất vào thế kỷ XIX Theo 2 ông: Nếu tính từ ngày sinh thì cứ 23 ngày là một chu
kỳ thể lực, 28 ngày là một chu kỳ tình cảm, 33 ngày là một chu kỳ trí lực Nếu
Trang 19tập luyện vào nhịp sinh học cao nhất của thể lực, trí lực hoặc tình cảm thì hiệu quả sẽ cao hơn, còn các ngày khác cần có sự điều chỉnh thích hợp Khi mở rộng kỹ năng cơ thể, nếu tập luyện vào thời điểm nhịp sinh học cao sẽ có hiệu quả cao nhất (sinh lý học TDTT)
- Đặc biệt trong hình thành nhịp điệu động tác Ví dụ: Trong nhảy xa
muốn thực hiện tốt giai đoạn giậm nhảy thì VĐV phải dùng lực bao nhiêu kg/1kg trọng lượng cơ thể, nhịp điệu chạy đà ra sao để đặt đúng chân vào điểm giậm nhảy, các góc độ của giậm nhảy đã hợp lý chưa, tư thế của tay đã đúng chưa v.v tất cả những vấn đề đó đều phải được mô hình hoá và chương trình hoá Người tập sẽ bám vào mô hình và chương trình hoá mà dùng các bài tập để hoàn thiện và nâng cao kỹ thuật, nâng cao thể lực và thành tích thể thao
Tóm lại: Từ những xu thế trên, để nâng cao hiệu quả bài tập bổ trợ
chuyên môn đang ngày được các nước có nền thể thao tiên tiến sử dụng rộng rãi trong giảng dạy và huấn luyện thể thao Họ coi đó là những biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy và huấn luyện các môn thể thao nói chung và môn nhảy xa nói riêng
1.3 Nguyên lý kỹ thuật của môn nhảy xa
Nhảy xa là một hoạt động không có chu kỳ bao gồm nhiều động tác liên kết với nhau một cách chặt chẽ từ chạy đà - giậm nhảy - trên không - rơi
xuống đất Kỹ thuật nhảy xa “ưỡn thân” là kỹ thuật khó và phức tạp, phù hợp
với những người nhảy có trình độ tập luyện cao
Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện nhảy xa “ưỡn thân” được chia
làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn chạy đà
- Giai đoạn giậm nhảy
- Giai đoạn trên không
Trang 20- Giai đoạn rơi xuống và kết thúc
Để có thành tích nhảy xa tốt thì người tập phải biết phối hợp chặt chẽ các giai đoạn với nhau Tốc độ chạy đà là tiền đề cho cơ sở giậm nhảy, chạy đà phải đảm bảo tốc độ chính xác, tính ổn định và phải tạo được tốc độ nằm ngang lớn nhất và tạo được điều kiện thuận lợi nhất cho giai đoạn giậm nhảy (ở 6-8 bước cuối)
Ở giai đoạn giậm nhảy, chạy đà ở bước cuối cùng phải thay đổi hướng của trọng tâm cơ thể từ tư thế chạy sang tư thế bay Ý nghĩa của giai đoạn giậm nhảy là tạo ra tốc độ bay ban đầu lớn nhất và có góc độ bay hợp lý, vì giai đoạn giậm nhảy quyết định đến thành tích nên để giậm nhảy tốt người nhảy phải biết phối hợp kỹ thuật và có sự chuẩn bị về sức mạnh tốc độ Yêu cầu của nhảy xa là phải kéo dài thời gian bay trên không của trọng tâm cơ thể nhờ sự nỗ lực của người nhảy trong chạy đà và giậm nhảy Như vậy, để có thành tích tốt thì khi kết thúc giậm nhảy phải tạo được tốc độ bay ban đầu và góc độ bay ban đầu hợp lý tối đa Trong khi bay do không có điểm tựa nên mọi hoạt động của người nhảy không làm thay đổi quỹ đạo bay nhờ hoạt động bồi thường:
X=
Trong đó X: là hoạt động bồi thường
P: là trọng lượng cơ thể hoạt động (kg) L: là quãng đường di chuyển của bộ phận cơ thể (cm) B: là trọng lượng cơ thể (kg)
Và nó có tác dụng giữ thăng bằng tốt Kết thúc giai đoạn bay người nhảy phải tận dụng điểm chạm đất xa nhất so với trọng lượng cơ thể thì thành tích
sẽ tốt hơn Muốn vậy người nhảy phải cố gắng với chân ra xa, về trước đồng thời đánh tay và thân trên gập nhiều về phía trước để giúp không bị đổ người
ra phía sau làm ảnh hưởng đến thành tích
Trang 21Tóm lại: Nhảy xa ưỡn thân là một kỹ thuật phức tạp, là sự liên kết chặt
chẽ các giai đoạn Vì vậy trong huấn luyện và giảng dạy việc hoàn thiện các giai đoạn kỹ thuật là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được Nếu kỹ thuật sai sẽ dẫn đến định hình động tác sai và khó sửa
1.4 Cơ sở lý luận của giảng dạy động tác
Giảng dạy kỹ thuật thể thao sử dụng toàn bộ tất cả các biện pháp có mục đích, có tổ chức nhằm làm cho học sinh có khả năng tiến hành các động tác thể thao bằng một kỹ thuật được nắm vững một cách có phối hợp và thích hợp
Kỹ thuật các môn thể thao nói chung cũng như kỹ thuật các môn điền kinh nói riêng là hệ thống chuyên môn của các động tác tiến hành đồng thời
và tuần tự theo phương hướng tổ chức hợp lý hoạt động tương hỗ giữa lực bên trong và bên ngoài với mục đích tận dụng đầy đủ và hiệu quả những lực
ấy để đạt thành tích cao Như vậy nắm vững kỹ thuật điền kinh trước hết cần nắm cách dùng lực chính xác dẫn tới sự di chuyển hợp lý trong không gian, thời gian của cơ thể hoặc bộ phận cơ thể Nghiên cứu kỹ thuật môn điền kinh cần phải nhìn nhận đến nguyên lý kỹ thuật chung cơ bản, cơ bản hơn là phải dựa vào nguyên lý lực học và đặc điểm bản thân để tìm tới phương pháp thực hiện hợp lý nhất, hiệu quả nhất cho học sinh
Cơ sở sinh lý của nắm vững kỹ thuật là kết quả lặp đi lặp lại nhiều lần tạo ra đường dây liên hệ thần kinh tạm thời và hình thành phản xạ có điều kiện Quá trình của hệ thần kinh đào tạo điều kiện hoàn thành những động tác theo yêu cầu đã đề ra, hình thành thói quen Từ cơ sở lý luận giảng dạy kỹ thuật động tác phân chia thành 3 giai đoạn tương đương với 3 giai đoạn hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động:
- Giai đoạn giảng dạy ban đầu:
Trang 22Mục đích của giai đoạn này là dạy học các nguyên lý kỹ thuật động tác, hình thành kỹ năng thực hiện nó, để đạt được mục đích trên cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
+ Tạo khái niệm chung về động tác và tư thế tâm thu tốt để tiếp thu kỹ thuật động tác
+ Ngăn ngừa và loại trừ những cử động không cần thiết
+ Hình thành nhịp điệu chung của động tác
- Giai đoạn giảng dạy đi sâu chi tiết:
Mục đích giảng dạy ở giai đoạn này là đưa trình độ tiếp thu ban đầu còn “thô thiển” đối với kỹ thuật động tác lên mức tương đối hoàn thiện Nếu ban đầu còn chủ yếu tiếp thu cơ sở kỹ thuật thì ở giai đoạn này phải tiếp thu chi tiết kỹ thuật đó Nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn này:
+ Cần có sự chính xác hóa kỹ thuật động tác theo các đặc tính không gian, thời gian, nhiều động lực của nó sao cho tương ứng với đặc điểm người tập
+ Hoàn thiện nhịp điệu động tác, thực hiện nhịp điệu động tác tự nhiên, liên tục
+ Tạo tiền đề để thực hiện động tác biến dạng
- Giai đoạn hoàn thiện kỹ thuật:
Mục đích của giai đoạn này là để đảm bảo cho người tập tiếp thu và vận dụng các động tác hoàn thiện trong thực tế Nhiệm vụ của giai đoạn này là:
+ Củng cố kỹ xảo để có về kỹ thuật động tác
+ Mở rộng biến dạng các kỹ thuật động tác để có thể thực hiện nó hợp
lý trong các điều kiện khác nhau, lúc nào cũng phải biểu hiện các tố chất thể lực ở mức độ cao
+ Hoàn thiện sự cá biệt hóa kỹ thuật động tác cho phù hợp với đặc điểm năng lực cá nhân
Trang 23Tóm lại: Trong quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác phải chú ý đến kỹ
thuật động tác để lựa chọn các bài tập và sử dụng các phương pháp giảng dạy động tác Việc lựa chọn các bài tập cũng như việc sử dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm người tập thì giảng dạy mang lại hiệu quả cao
1.5 Các phương pháp giảng dạy
Giảng dạy điền kinh là một quá trình giáo viên vận dụng các phương pháp và phương tiện chuyên môn để truyền thụ những kiến thức và kỹ năng cho người học Do tính chất phức tạp và phong phú của kỹ thuật điền kinh, việc xây dựng và hình thành các phương pháp giảng dạy được dựa trên những
kỹ thuật tự nhiên của con người Trong đó quan trọng hơn cả là quy luật hình thành định hình động lực trong quá trình giảng dạy kỹ thuật Chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp giảng giải:
Giảng giải là phương pháp người dạy sử dụng lời nói để diễn đạt nội dung thông tin, phân tích từng chi tiết kỹ thuật hay toàn bộ kỹ thuật động tác nhằm giúp cho người học tiếp thu đầy đủ, hiểu rõ nội dung và nắm được phương pháp kỹ thuật đó
- Phương pháp trực quan:
Trực quan là phương pháp người dạy trực tiếp làm mẫu hoặc dùng phim, tranh, ảnh kỹ thuật để diễn đạt nội dung thông tin để giúp cho người tập hiểu rõ từng kỹ thuật động tác nhất là động tác khó
- Phương pháp giúp đỡ trực tiếp:
Phương pháp giúp đỡ trực tiếp là phương pháp người dạy trực tiếp tác động vào người học sinh giúp cho học sinh có khái niệm đúng đắn hoặc có cảm giác về cơ bắp, về không gian và nhịp điệu động tác, phương pháp này sử dụng nhiều trong giai đoạn đầu, khi học sinh chưa thể làm được toàn bộ động tác một cách chính xác hoặc chưa có cảm giác về không gian, thời gian và dùng lực khi thực hiện động tác
Trang 24- Phương pháp giảng dạy toàn bộ:
Chúng tôi thực hiện hoàn thiện toàn bộ kỹ thuật của nhảy xa kiểu “ưỡn
thân” vì như vậy sẽ tạo cho các em thực hiện có tính liên tục không ảnh
hưởng đến tính nhịp điệu của động tác
- Phương pháp giảng dạy phân chia:
Khi giảng dạy các động tác kỹ thuật phức tạp có nhiều giai đoạn để giảng dạy giúp cho học sinh tiếp thu được các chi tiết kỹ thuật động tác
Chúng tôi để phối hợp vận dụng phương pháp phân chia và phương pháp toàn bộ trong quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác, giúp cho học sinh nắm vững chi tiết động tác và hoàn thiện kỹ thuật một cách chính xác
1.6 Cơ sở lý luận để đề phòng và loại trừ những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân”
Trong dạy học ban đầu bao giờ cũng có những lệnh lạc đáng kể trong khi thực hiện động tác so với hình mẫu quy định Do đó cần phải đề phòng và loại trừ ở mức có thể những lệch lạc làm xuyên tạc, méo mó đối với kỹ thuật động tác Những sai lệch tiêu biểu là: thêm động tác phụ không cần thiết; động tác lệch lạc về phương hướng, biên độ; nỗ lực cơ bắp không đúng mức; nhịp điệu chung của động tác bị sai Những sai lệch đó thường là tự nhiên, khó tránh khỏi do các quy luật tự nhiên trong lúc hình thành bước đầu các cơ chế vận động Nhưng cũng do thiếu sót trong phương pháp dạy học Hiệu quả dạy học phụ thuộc nhiều vào những cách chủ động ngăn ngừa và loại trừ những sai lầm đó
Môn nhảy xa về kỹ thuật động tác thực hiện mang tính quy luật tự nhiên của con người Nên trong lúc học kỹ thuật nhảy xa không thể tránh được những sai lầm Vì vậy, trong quá trình giảng dạy kỹ thuật người giáo viên cần phải có những bài tập phù hợp để sửa chữa những sai lầm thường
mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” cho học sinh
Trang 251.7 Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi học sinh THPT
Việc nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của các em ở giai đoạn này là rất quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn trong huấn luyện Đặc biệt là đối với các
em học sinh nữ lứa tuổi này về mặt sinh lý của các em có những đặc điểm khác biệt so với các bạn nam Đánh dấu một bước đi hoàn chỉnh về cơ thể Dấu hiệu nổi bật của thời kỳ này là thời kỳ phát dục mạnh, tuyến nội tiết tăng cường hoạt động kích thích cơ thể lớn nhanh mà chủ yếu là phát triển chiều dài của tay và chân
Ở lứa tuổi này các em thường mắc một số chứng bệnh gây rối loạn chức năng, biểu hiện đau đầu, mất ngủ, tính cáu gắt …ngoài ra còn biểu hiện rối loạn tuần hoàn máu dẫn đến tim có tiếng đập phụ, tim đập có tiếng phổi
Trong giai đoạn này hệ thống thần kinh tiếp tục phát triển nhanh và đi với khả năng hoàn thiện tư duy, phân tích tổng hợp trừu tượng hóa phát triển thuận lợi cho sự hình thành rất nhiều hệ thống của đường liên hệ tạm thời Trong giai đoạn này hệ thống nội tiết hoạt động mạnh mẽ có tính đặc thù để lại dấu vết (hiện tượng lưu dấu vết) Lưu dấu vết được củng cố qua tập luyện lặp lại sẽ tạo nên đường liên hệ tạm thời và định hình động lực tự động hóa
Quá trình hưng phấn chiếm ưu thế so với quá trình ức chế, chức năng điều khiển ức chế trên vỏ não cũng trở nên rõ nét, ức chế phát triển nhanh là
cơ sở cho việc thực hiện bài tập chi tiết kỹ thuật Hệ hô hấp, dung tích sống cũng như thông khí phổi tối đa ở các em có tập luyện thể thao đều cao hơn các em không tập luyện ở cùng lứa tuổi Trong hoạt động thể lực, thông khí phổi của các em tăng lên chủ yếu là tăng tần số hô hấp chứ không phải độ sâu
hô hấp, nên hấp thụ tối đa (VO2 max) của các em thấp hơn so với người lớn, nhưng lại cao hơn so với các em cùng lứa tuổi không tập thể thao
Trang 261.7.1 Hệ vận động
a, Hệ xương
Ở lứa tuổi THPT xương của các em đang ở thời kỳ phát triển mạnh mẽ
về bề dày và quá trình cốt hóa diễn ra rất nhanh Màng xương phát triển dày lên bao bọc quanh sụn với sự tham gia của các chất liệu, của tổ chức phần mềm đơn giản trong các chất cơ bản của xương chứa trong tế bào xương (quyết định tới lực đẩy và kéo), thông qua cấu trúc chất lượng tạo xương còn chưa hoàn thiện nhưng vẫn thích ứng với lượng vận động mà xương phát triển hơn và đàn hồi hơn, nhưng cũng vì điều này nếu sử dụng lượng vận động không hợp lý dễ gây cong vẹo
Sự cốt hóa hoàn toàn của xương là quá trình lâu dài, phức tạp, nó điều khiển các hóc môn có chức năng lượng vận động ngắt quãng ngang tính chất đè nén gây tối đa (chu kỳ ngắt quãng), thúc đẩy sự phát triển chiều dài kích thích chức năng
đối với sự phát triển bề dày của xương thể hiện chủ yếu ở lực kéo
b, Hệ cơ
Ở lứa tuổi này cơ của các em phát triển nhanh để đi đến hoàn thiện Tuy nhiên sự phát triển ấy không đồng đều và chậm hơn so với hệ xương Các cơ hoạt động nhiều phát triển hơn các cơ tham gia hoạt động ít, cơ chi trên phát triển nhanh hơn cơ chi dưới, khối lượng cơ tăng nhanh nhưng thể tích cơ tăng không đều chủ yếu là nhỏ và dài Do vậy khi cơ hoạt động chóng dẫn đến mệt mỏi Vì vậy trong quá trình sửa chữa, khắc phục sai lầm cần chú ý phát triển
cơ bắp cho các em
1.7.2 Hệ thần kinh
Ở lứa tuổi này hệ thần kinh trung ương đã khá hoàn thiện, hoạt động phân tích vỏ não về tri giác có xu hướng sâu sắc hơn Khả năng nhận biết cấu trúc động tác và tái hiện chính xác hoạt động vận động được nâng cao Do hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến yên, tuyến sinh dục, làm cho tính hưng
Trang 27phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng
đã ảnh hưởng đến hoạt động thể lực Đặc biệt ở các em nữ tính nhịp điệu giảm sút nhanh chóng, khả năng chịu đựng lượng vận động yếu Vì vậy, khi giảng dạy giáo viên cần tránh những sai lầm trong kỹ thuật và phải nhanh chóng sử dụng các biện pháp khắc phục những sai lầm mà các em đã mắc phải, phải thay đổi hình thức tập luyện để nâng cao tính tự giác tích cực trong học tập
1.7.3 Hệ hô hấp
Ở lứa tuổi này hệ hô hấp phát triển mạnh nhưng chưa đều (đặc biệt là phổi) khung ngực còn hẹp nên các em thở nhanh và nông, không có sự ổn định của dung tích sống Đó là nguyên nhân làm cho tần số hô hấp của các em tăng cao khi hoạt động thể lực và gây nên hiện tượng thiếu oxi dẫn đến mệt mỏi
1.7.4 Hệ tuần hoàn
Ở lứa tuổi này hệ tuần hoàn phát triển mạnh để kịp thời phát triển toàn thân, tim lớn hơn, khả năng co bóp của tim phát triển mạnh, do đó nâng cao khá rõ lưu lượng máu trên phút Mạch lúc bình thường chậm, nhưng khi vận động thì tần số mạch lên nhanh Phản ứng của tim đối với các lượng vận động đã khá chính xác, tim dẻo dai hơn Từ những đặc điểm sinh lý của học sinh THPT mà ta lựa chọn những bài tập bổ trợ nhằm khắc phục những sai lầm trên căn bản khối lượng, cường độ vận động sao cho phù hợp Đặc biệt chú ý đối xử cá biệt trong quá trình sửa sai để nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập
Trang 28CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tiến hành giải quyết những nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ 1: Thực trạng những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật
nhảy xa kiểu “ưỡn thân”của học sinh nữ khối 11 trường THPT Hàn Thuyên
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập nhằm
khắc phục những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn
thân” cho các em học sinh nữ khối 11 trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết 2 nhiệm vụ của đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phân tích và tổng hợp tài liệu khoa học là một phương pháp được sử dụng rộng rãi nhằm mục đích tiếp thu các nguồn thông tin khoa học hiện đại của nhân loại, các tài liệu khoa học đã được công bố
Để làm cơ sở cho việc xây dựng và đề xuất các biện pháp cần nghiên cứu sử dụng các tài liệu chuyên môn về giảng dạy huấn luyện môn nhảy xa Từ đó nhận thức được các vấn đề có liên quan đến đề tài, hoàn chỉnh các nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu cũng như tiến hành tổ chức các quá trình nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp này giúp nhà nghiên cứu tiếp cận với đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm mục đích theo dõi các buổi học tập, rèn luyện để thu thập số liệu và đánh giá các ưu và nhược điểm của đối tượng nghiên cứu Việc quan sát này được tiến hành liên tục trong quá
Trang 29trình nghiên cứu để đánh giá diễn biến của quá trình nghiên cứu từ khi bắt đầu đến khi kết thúc nghiên cứu, nhờ đó sẽ nâng cao được độ tin cậy của đề tài
2.2.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Là phương pháp sử dụng các test, phương pháp sử dụng trên đối tượng nghiên cứu, so sánh mối tương quan kết quả kiểm tra từ đó đánh giá hiệu quả của quá trình giảng dạy
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các test sau:
- Tại chỗ bật nhảy bằng 2 chân thực hiện ưỡn thân và gập thân rơi xuống đất
- Kiểm tra thành tích kỹ thuật nhảy xa ưỡn thân
2.2.4 Phương pháp phỏng vấn
Là phương pháp thông qua trao đổi, phỏng vấn, tham khảo ý kiến của một số giáo viên, huấn luyện viên điền kinh từ đó có cơ sở chắc chắn việc lựa chọn các bài tập, thời gian hợp lí nhằm khắc phục các sai lầm thường mắc cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Hàn Thuyên
Qua thực nghiệm so sánh về thành tích và kỹ thuật giữa hai nhóm trước
và sau khi thực nghiệm.Từ đó đưa ra kết luận
Trang 302.2.6 Phương pháp toán thống kê
Kết quả nghiên cứu thu được sau khi phỏng vấn và kiểm tra sư phạm được
xử lí bằng phương pháp toán học thống kê với các công thức sau:
Công thức tính hệ số trung bình cộng (X):
n
X X
n
i i
) (
1
2 1
n
X X X
X
B A
n
i
B B n
i
A A
Công thức quan sát: t=
B A
B A
n n
X X
Dựa vào giá trị của T quan sát để tìm T trong bảng ở ngưỡng xác suất P
tương ứng với độ tự do:
- Nếu | í |> ả thì sự khác biệt có ý nghĩa ở ngưỡng P < 5%
- Nếu | í |< ả thì sự khác biệt không có ý nghĩa ở ngưỡng P >5%
2.3 Tổ chức nghiên cứu
2.3.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 05 năm 2014
2.3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Chủ thể nghiên cứu: Là các bài tập nhằm khắc phục những sai lầm
thường mắc khi học kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” cho các em học sinh
nữ khối 11 trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh
- Khách thể: Gồm 30 học sinh nữ khối 11 THPT Hàn Thuyên và chia
thành 2 nhóm, mỗi nhóm 15 học sinh Nhóm thứ nhất (nhóm A) là nhóm đối
chứng Nhóm thứ 2 (nhóm B) là nhóm thực nghiệm Để đánh giá hiệu quả
chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh song song hai nhóm thực nghiệm và
đối chứng
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu
- Trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh
- Trường ĐHSPHN2 Xuân Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” cho các em học sinh nữ khối 11 trường THPT Hàn Thuyên
3.1.1 Thực trạng giảng dạy và tập luyện kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn
thân” của học sinh nữ trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh
3.1.1.1 Thực trạng của việc giảng dạy và tập luyện tại các giờ học chính khoá
Qua điều tra tổng số giáo viên đang giảng dạy TDTT tại trường THPT Hàn Thuyên là 6 giáo viên, trong đó có 1 giáo viên có thâm niên trên 35 năm còn lại 5 giáo viên đều dưới 35 năm Từ quan sát cho thấy cơ sở vật chất để giảng dạy tập luyện của trường gồm có: 1 sân Cầu lông - 30 đôi vợt Cầu lông,
1 sân Bóng rổ - 10 quả Bóng rổ, 1 sân Bóng chuyền - 10 quả Bóng chuyền, đường chạy 100m, hố cát nhảy xa
Qua phỏng vấn trực tiếp các giáo viên đang giảng dạy tại trường thì mỗi lớp sẽ phải học 2 tiết trên một tuần, mỗi tiết 45 phút và sẽ có 2 nội dung được giảng dạy Theo phân phối chương trình môn nhảy xa có 24 tiết, trong
đó có 1 tiết kiểm tra còn lại 23 tiết để học kỹ thuật và phát triển thể lực
3.1.1.2 Đánh giá thực trạng nhảy xa kiểu “ưỡn thân” của các em học sinh
nữ khối 11 trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh
Qua quan sát các em tập luyện và kiến thức kỹ năng đã tích lũy được trong nhà trường, chúng tôi nhận thấy đa số học sinh nữ chưa thực hiện đúng
kỹ thuật và thường mắc những sai lầm rất cơ bản trong học kỹ thuật Như chạy đà không ổn định, tốc độ chưa cao, góc độ giậm nhảy thấp, thiếu thời kỳbước bộ, chưa miết được chân, chưa đẩy hông nhiều em làm chưa tốt Chính các yếu tố này đã ảnh hưởng rất nhiều đến thành tích học tập và thi
Trang 32đấu Các yếu tố đó lại chính là kết quả giai đoạn chạy đà, giậm nhảy tạo ra Công việc huấn luyện kỹ thuật của trường THPT Hàn Thuyên còn nhiều bất cập và chưa thực sự đem lại hiệu quả cho các em học sinh, điều này cho thấy đây có thể là một trong những yếu tố làm cho các em chưa định hình đúng kỹ thuật Qua thực trạng cho thấy chúng ta cần có những biện pháp để nâng cao
kỹ thuật và nâng cao thành tích cho các em học sinh nữ khối 11 trường THPT Hàn Thuyên Việc chính là phải lựa chọn và áp dụng một số bài tập nhằm khắc phục những sai lầm mà các em thường mắc phải
3.1.2 Những sai lầm thường mắc khi học kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân”
Kỹ thuật nhảy xa ưỡn thân tương đối phức tạp, đòi hỏi người thực hiện phải đảm bảo độ chính xác cao Trong quá trình học kỹ thuật, học sinh thường mắc những sai lầm khác nhau do những nguyên nhân khác nhau
Để tìm hiểu rõ những sai lầm và nguyên nhân dẫn đến những sai lầm
đó trong quá trình học kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” mà đa số học sinh
mắc phải, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
a, Phỏng vấn xin ý kiến đánh giá về những sai lầm thường mắc khi học kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân”
Để xác định những sai lầm chung nhất, cơ bản nhất mà học sinh thường mắc phải, chúng tôi tiến hành phỏng vấn hỏi trực tiếp, gián tiếp qua các giáo viên, huấn luyện viên có kinh nghiệm trong giảng dạy và huấn luyện.S
Dùng phiếu phỏng vấn (mẫu phiếu ở phần phụ lục 1) để xin ý kiến về những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa ưỡn thân và nguyên nhân dẫn đến những sai lầm đó
Số người mà chúng tôi tiến hành phỏng vấn là 20 người, bao gồm các giáo viên giảng dạy TDTT tại các trường THPT trong tỉnh Bắc Ninh Sau khi thu phiếu phỏng vấn và sử lý số liệu chúng tôi đã thu được kết quả được trình bày ở bảng 3.1:
Trang 33Bảng 3.1: Kết quả phỏng vấn những sai lầm thường mắc (n=20)
2 Chạy đà đặt chân giậm không chính xác 14 70
3 Không tạo được tư thế chuẩn bị cho giậm nhảy 6 30
5 Bước cuối quá dài và đặt bằng cả gót chân 15 75
6 Khi thực hiện giậm nhảy đặt bằng gót chân hoặc mũi
7 Giậm nhảy bị lao hoặc bị đổ về sau 19 95
8 Giậm nhảy không duỗi hết bàn chân 9 45
9 Chưa thực hiện được động tác bước bộ trên không 19 95
10 Không đẩy được hông, không ưỡn được thân 20 100
11 Chưa thực hiện được động tác thả ép chân lăng ra
sau
8 40
12 Khi thực hiện kết thúc động tác ưỡn thân tay,
chân, thân người chưa phối hợp tốt
Sai lầm 2: Chạy đà đặt chân giậm không chính xác chiếm 70%
Sai lầm 5: Bước cuối quá dài và đặt bằng cả gót chân chiếm 75%
Trang 34Sai lầm 7: Giậm nhảy bị lao hoặc bị đổ về sau chiếm 95%
Sai lầm 9: Chưa thực hiện được động tác bước bộ trên không chiếm 95%
Sai lầm 10: Không đẩy được hông, không ưỡn được thân chiếm 100%
Sai lầm 12: Khi thực hiện kết thúc động tác ưỡn thân tay, chân, thân người chưa phối hợp tốt chiếm 90%
b, Kết quả điều tra sư phạm điều tra về những sai lầm thường mắc khi học kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân”
Trên đây là những sai lầm cơ bản nhất học sinh thường mắc phải mà chúng tôi thu thập được qua quá trình phỏng vấn xin ý kiến của các giáo viên giảng dạy thể dục tại các trường THPT trong tỉnh Bắc Ninh
Để xác định chính xác những sai lầm mà học sinh thường mắc nhất, chúng tôi tiến hành quan sát sư phạm trên 30 em học sinh nữ khối 11 trong giờ học nhảy xa của trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh, chúng tôi đã ghi chép những học sinh mắc phải những sai lầm trong bảng 3.2:
Bảng 3.2: Kết quả quan sát sư phạm những sai lầm thường mắc của
30 học sinh nữ lớp 11 khi học kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” (n=30)
sinh mắc phải
mũi bàn chân
4 13.3
Sai lầm 7: Giậm nhảy bị lao hoặc bị đổ về sau 28 93.3 Sai lầm 8: Giậm nhảy không duỗi hết bàn chân 6 20 Sai lầm 9: Chưa thực hiện được động tác bước bộ trên không 27 90