£ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHẠM THỊ NGA ` vá ^ LOI MO DAU Trong những năm qua, hoạt động tiên tệ, tín dụng và ngân hàng của hệ thống Ngân hàng Thương mại không ngừng được đổi mới
Trang 1NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUÁ
TIN DUNG NGAN HAN
§1 Nguồn gốc ra đời và sự phát triển của hoạt động tín dụng Trang 2
- Tin dung Trung han;
- Tin dung dai han
2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
- Tin dụng sản xuất kinh doanh;
- Tin dung tai trợ xuất nhập khẩu;
- - Tín dụng tiêu dùng
3 Căn cứ vào đối tượng cho vay
- _ Tín dụng vốn lưu động;
- _ Tín dụng vốn cố định
4 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm
- Tin dung cé bao đảm;
- Tin dung khéng cé bao dam
1 Khái nệm
2 Vai trò của lãi suất tín dụng
3 Các loại lãi suất tín dụng
Trang 2
§4 Nguyén tac ctia tin dung va bao dam tin dung Trang 10
1 Nguyên tắc của tín dụng
2 Những vấn đề cơ bản của bảo đảm tín dụng
Khái niệm
Thiệt hại do những biến cố rủi ro gây ra
Những nguyên nhân làm phát sinh rủi ro
Những rủi ro liên quan đến đảm bảo tín dụng
Biện pháp hạn chế rủi ro
TÍN DỤNG NGẮN HẠN
1 Vai trò đối với các tổ chức tín dụng
2 Vai trò đối với các doanh nghiệp
3 Vai trò đối với nên kinh tế
§2 Các hình thức tín dụng ngắn hạn Trang 20
1 Cho vay thông thường
2 Một số nghiệp vụ tín dụng khác
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUÁ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
CHƯƠNG II
GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHƯƠNG NAM
Trang 3§5 Đánh giá chung về kết quả hoạt động kinh doanh của PNB năm 2004 Trang 39
1 Công tác chỉ đạo - điều hành
2 Kết quả hoạt động của một số chỉ tiêu Trang 40
PHAN II
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUA HOAT ĐỘNG, TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHƯƠNG NAM
CHUONG I MỘT SỐ QUY ĐINH CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN
TẠI PNB
§2 Các hình thức hợp đồng tín dụng ngắn hạn Trang 51
§5 Điều kiện cho vay và mức vay, mức vay và hé sơ cho vay Trang 53
CHUONG II
ĐÁNH GIÁ HIEU QUẢ CUA HOAT DONG TIN DUNG NGAN HAN TAI
NGAN HANG THUONG MAI CỔ PHẦN PHƯƠNG NAM
Trang 4§1 Kết luận
§2 Kiến nghị
PHẦN 3 KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
Trang 78 Trang 80
Trang 5£ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHẠM THỊ NGA
` vá ^
LOI MO DAU
Trong những năm qua, hoạt động tiên tệ, tín dụng và ngân hàng của
hệ thống Ngân hàng Thương mại không ngừng được đổi mới và hoàn thiện, phản ánh rõ nét trong việc góp phần vào chống lạm phát, hình thành và định hình từng bước các cơ chế quản lý và đưa chúng vào vận hành trong cuộc
sống, sắp xếp và bố trí một mạng lưới ngân hàng phù hợp với yêu cầu quản lý
và kinh doanh Trong số những thành tích bước đầu rất quan trọng của hoạt động tiển tệ - tín dụng và ngân hàng theo cơ chế thị trường là chúng ta đã ngày càng nhận thức đầy đủ hơn các quy luật vận động của các phạm trù lãi
suất, tài chính, tín dụng, lưu thông tiễn tệ và từ đó đã có những biện pháp xử
lý, can thiệp một cách mạnh mẽ, kịp thời và có hiệu quả
Qua quá trình hình thành và phát triển của hệ thống các ngân hàng thương mại ở nước ta đã có những đóng góp đáng kế cho sự ổn định và phát
triển kinh tế của cả nước cũng như của thành phố Hồ Chí Minh Bằng những
thành tích bước đầu này đã khẳng định trong thực tế tính đúng đắn của đường
lối và phương hướng cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong việc nắm bắt và
sử dụng một công cụ có tầm quan trọng đặc biệt như tiền tệ — tín dụng và
ngân hàng trong hoạt động kinh tế và quản lý nền kinh tế quốc dân
Hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác trong toàn bộ các hoạt động của Ngân hàng, tín dụng là nội dung kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng thương mại Tín dụng của các ngân hàng thương mại có ý nghĩa quan trọng không những
đối với bản thân của hệ thống ngân hàng thương mại mà còn đối với toàn bộ
nên kinh tế, nó tạo ra khả năng tài trợ cho các hoạt động công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp của đất nước Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại thì tín dụng ngắn hạn lại giữ một tỷ trọng rất lớn trong toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng Ngân hàng thương mại là người cung cấp
chủ yếu các khoắn cho vay ngắn hạn cho các doanh nghiệp Ngoài ra, Ngân
hàng thương mại thực hiện một khối lượng cho vay ngắn hạn đáng kể đối với
nông dân, người buôn bán và các tổ chức tài chính phi ngân hàng Các hoạt động cho vay này được các ngân hàng thương mại quan tâm, chúng có Ít rủi ro tín dụng và rủi ro lãi xuất hơn các loại cho vay dài hạn và nói chung, chúng lưu hoạt hơn nhiễu so với các hình thức cho vay khác
Chính vì tầm quan trọng của hoạt động tín dụng ngắn hạn, nên tôi chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Nam ” làm luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 6
f LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAM THỊ NGA
chuyển giao tiễn hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng trong một thời gian
nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả giá trị và lãi
xuất theo thời hạn đã thỏa thuận
Quan hệ tín dụng có thể diễn tả theo mô hình sau:
Trang 7
E3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAM TH] NGA
2 Nguén gốc ra đời và sự phát triển của tín dụng
Trong thời kỳ tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy cùng sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động được mở rộng thì quan hệ
H-T cũng được hình thành và bước đầu phát triển tiễn tệ ngày càng thể hiện
Đây chính là những điểu kiện tiền để làm nay sinh những quan hệ tín
dụng, ban đầu người ta cho vay qua lại bằng hiện vật và thời kỳ sau người ta cho vay chủ yếu dưới dạng tiền tệ, mặt khác cũng trong thời kỳ này song song
với sự hình thành những gia đình cá thể là sự thay đổi về cách thức phân phối
thu nhập của xã hội Sự khác nhau ngày càng lớn về mức độ thu nhập dẫn đến
sự phân hóa giàu nghèo, cũng là lúc hình thành hai giai cấp trong xã hội với
thực trang đó để có tiền đóng thuế, nộp tô để bù đắp những thiếu hụt trong
cuộc sống hàng ngày, những người nghèo không còn con đường nào khác là phải vay mượn của những người giàu với những lãi suất rất cao, mà người đi
vay thì chủ yếu sử dụng vào mục đích tiêu dùng phi sản xuất nên không thể
trả nổi nợ nên họ phải phụ thuộc vào những chủ nợ Quan hệ tín dụng trong giai đoạn nay là tín dụng nặng lãi và đã phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ
sang chế độ phong kiến
Cho đến khi Chủ nghĩa tư bản ra đời, quá trình tái sản xuất giản đơn với qui mô nhỏ hẹp được thay thế bằng quá trình tái sản xuất mở với qui mô lớn
cả về chiêu rộng lẫn chiều sâu Khi giai cấp tư sản đã phát triển đủ sức họ đã
tự góp vốn lại và cho nhau vay với lãi suất vừa phải, họ đã thiết lập quan hệ
tín dụng cho riêng mình và tước đoạt vai trò độc quyển về tín dụng và cũng là
thời điểm mở đầu cho chặn đường mới ngày càng phát triển hơn và hệ thống
tín dụng đã góp phần tích cực cho sự phát triển của xã hội
Trong nên kinh tế hiện đại ngày nay cùng với yêu cầu khách quan của các lĩnh vực trong nền kinh tế (sản xuất, tiêu dùng, xây dựng ) Hệ thống tín
dụng cũng được mở rộng về phạm vi họat động, qui mô tín dụng và đa dạng các hình thức cho vay Ngày nay, tín dụng là một bộ phận không thể thiếu
được trong quá trình phát triển nền kimh tế của một quốc gia nói riêng và cả
thế giới nói chung
3 Bản chất của tín dụng
Quan hệ tín dụng đã tổn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế -
xã hội Tuy nhiên, dù vận động ở hình thức sản xuất nào, đối tượng vay mượn
là hàng hóa hay tiền tệ thì tin dụng cũng mang 3 đặt trưng cơ bản sau :
- Chỉ thay đổi quyền sử dụng mà không thay đổi quyển sở hữu vốn
tín dụng
2 SVTH: PHAN VAN TUAN TRANG 3
Trang 8€Q LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
- Có thời hạn tín dụng được xác định do sự thỏa thuận giữa người đi vay
và người cho vay
- Người sở hữu vốn tín dụng được hưởng một phần thu nhập dưới hình
thức lợi tức
4 Chức năng và vai trò của tín dụng
4.1 Chức năng của tín dụng
a Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ:
Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai quá trình thống nhất trong
sự vận hành của hệ thống tín dụng Sự có mặt của tín dụng được xem như là
chiếc cầu nối giữa các nguồn vốn và nhu cầu về vốn trong nền kinh tế
Ở khâu tập trung, tín dụng là nơi tập trung những nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội
^ “+ : nw -Ä ^ , ` : z 4 À nw
Ở khâu phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng là nơi đáp ứng nhu cau von
cho các doanh nghiệp, các cá nhân và cho cả ngân sách
b Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chỉ phí lưu thông cho xã hội:
Họat động tín dụng góp phân tiết kiệm khối lượng tiền mat va chi phí
lưu thông được biểu hiện như sau :
- Tín dụng tạo điều kiện thay thế tiền mặt bằng các công cụ lưu thông
tín dụng như: kỳ phiếu thương mại, séc Từ đó giảm bớt khối lượng tiền mặt,
cdc chi phí về in ấn, phát hành, bảo quản tiền
- Tín dụng tạo điểu kiện làm xuất hiện tiền ghi sổ, thông qua công tác
không dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ trong hầu hết các giao dịch giữa các
doanh nghiệp và cá nhân qua hệ thống Ngân hàng Điều này một mặt trực
tiếp tiết kiệm khối lượng tiền mặt cần phát hành vào lưu thông Mặt khác khi
hình thức thanh toán không dùng tiền mặt phát triển các doanh nghiệp tập
trung dự trữ tiền mặt vào tài khoản Ngân hàng, sẽ làm giảm chỉ phí bảo quản
và cất trữ tại doanh nghiệp Đồng thời nếu thanh toán qua Ngân hàng nhanh
chóng thì sẽ giúp thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa nhanh hơn đồng thời
giảm chi phí bảo quản hàng hóa
- Tín dụng tạo điểu kiên tăng nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ, tín dụng
phát huy chức năng, tập trung và phân phối lại vốn tiển tệ đã góp phần
chuyển những khỏan vốn nhàn rỗi đang nằm ở trạng thái nằm yên trong xã
hội đưa vào chu chuyển phục vụ cho sản xuất —- lưu thông hàng hóa
Trang 9
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHẠM THỊ NGA
- Phản ánh và kiểm soát các họat động kinh tế thông qua huy động và cho vay tín dụng sẽ phản ánh được mức độ phát triển của nền kinh tế về các mặt: khối lượng tiền tệ nhàn rổi trong xã hội, nhu cầu vốn của nền kinh tế
Mặt khác, qua họat động cho vay Ngân hàng có điều kiện nhìn tổng quát vào cấu trúc tài chính của từng đơn vị vay vốn Từ đó sẽ phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm chế độ quản lý kinh tế của nhà nước
Thông qua nghiệp vụ trung gian thanh toán hộ, Ngân hàng có điều kiện tăng cường vai trò kiểm soát bằng đồng tiền các đơn vị kinh tế vì mọi quá trình hình thành và sử dụng vốn của các doanh nghiệp đều dược phản ánh qua
số liệu trên những tài khoản tiền gởi tại Ngân hàng
4.2 Vai trò của tín dụng :
Trên cơ sở phát huy những chức năng vốn có, tín dụng thể hiện ba vai trò tích cực đối với các mặt trong đời sống kinh tế -xã hội cụ thể là:
* Thứ nhất: Tín dụng góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì sự họat động liên tục đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp tổn tại đồng thời ở cả ba giai đọan: dự trữ - sản xuất-lưu thông, nên hiện tượng thiếu vốn tạm thời tại các doanh nghiệp là thường xuyên, bởi vì doanh nghiệp không đủ có lượng tiên lớn để dự trữ cho
cả ba giai đọan Tín dụng đã góp phần điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đọan, tín dụng với tư cách là nơi tập trung đại bộ phận vốn nhàn rổi sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tư và phát triển Nói cách khác, tín dụng luôn là người trợ thủ đắc lực cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, là người đồng hành trong trên con đường phát triển kinh tế
Tín dụng của các NHTM có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh
tế, nó tạo khả năng tài trợ cho các hoạt động Công nghiệp, Thương nghiệp và Nông nghiệp của đất nước Mặc dù các hoạt động đầu tư của các NHTM thường được quan niệm tách rời với tín dụng, nhưng xét về kết quả xã hội và kinh tế chúng đều giống nhau Do thu nhập của nhà nước không phải lúc nào cũng yương ứng với các khoản chi, đòi hỏi phải tạm thời vay nợ tại các NHTM không phải là việc không thể xảy ra Do đó,, việc cung cấp tín dụng ngân hàng cho những trường hợp như vậy có khả năng làm cho các hoạt động của Chính phủ được trôi chảy Nhìn chung, việc cải thiện tình hình thiếu hụt ngân sách không phải lúc nào cũng bằng các nghiệp vụ ngân khố mà chính là từ việc Chính phủ phát hành trái phiếu dài hạn Thật vậy, khi ngần hàng mua các chứng khoán công cộng ngân hàng thực hiện việc cung ứng vốn cho Nhá nước nhằm cải thệ¡n tình hình vốn của ngân sách và Nhà nước sử dụng vốn đó vào
2 SVTH: PHAN VAN TUAN TRANG 5
Trang 10
(2 LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Th.S PHAM TH] NGA
việc xây dựng trường học, bệnh viện và các cơ sở hạ tầng khác Chính nhờ
việc sử dụng vốn vào các mục đích như thế, mức sống của mỗi người dân có
điều kiện được nâng cao
* Thứ hai: Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả
Một trong những chức năng chủ yếu của NHTM là khả năng tạo tiền Chức năng này được thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng và đầu tư của các NHTM trong mối quan hệ với hệ thống Ngân hàng Nhà nước Sức mạnh của hệ thống NHTM nhằm tạo tiền mang ý nghĩa kinh tế to lớn Hệ thống tín dụng năng động là điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế theo một hệ số tăng trưởng vững chắc Nếu tín dụng ngân hàng không tạo được tiên để mở ra những điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và những hoạt động của nó thì trong nhiều trường hợp sản xuất không thực hiện được và nguồn tích lũy từ lợi nhuận và các nguồn khác sẽ bị hạn chế; hơn thế nữa, các đơn vị sản xuất
có thể phải gánh chịu tình trạng ứ đọng vốn luân chuyển không được sử dụng trong quá trình sản xuất Một thực tế như thế có thể không mang lại hiệu quả, trong khi xuất hiện tình trạng vốn không được sử dụng vào những giai đoạn cụ thể của qua 1trình sản xuất, nhưng trong các thời kỳ cao điểm mang tính thời
vụ của các hoạt động doanh nghiệp, lại không đủ vốn để thúc đẩy nhu cầu sản xuất kinh doanh
Nền kinh tế cần một số cung tiền tệ vừa đủ và không được phép vượt,
nếu tiền cung ứng tăng quá nhanh tất yếu lạm phát sẽ xuất hiện và những hậu quả xấu mà quá trình kinh tế sẽ phải chịu đựng Do đó, Tín dụng đã trực tiếp giảm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu thông Trong điểu kiện nền kinh
tế bị lạm phát tín dụng được xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu
làm giảm lạm phát
Mặt khác, họat động tín dụng còn mở rộng công tác thanh tóan không dùng tiển mặt ,nay cũng là nhân tố tích cực làm giảm tiền mặt trong lưu thông Lãi suất tín dụng trở thành công cụ điều tiết nhạy bén và linh họat để đưa tiền vào lưu thông hay rút tiển ra khỏi lưu thông, qua đó tạo sự phù hợp giữa khối lượng tiền với yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế
* Thi ba: Tin dụng góp phần ổn định đời sống tạo công ăn việc làm,
như phát triển kinh tế gia đình, mua sắm nhà cửa, tư liệu sinh họat Ngoài việc
phát triển loại hình tín dụng dân cư, Nhà nước còn thành lập các quỹ xóa đói
Trang 11Œ1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
giảm nghèo, cho vay theo chương trình tín dụng của EC Tấc cả các việc làm này không nằm ngoài mục đích cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, tạo công ăn việc làm qua đó góp phân ổn định tiền tệ, dẫn đến ổn định giá cả,
ổn định đời sống kinh tế xã hội
§2 CÁC HINH THUC TIN DUNG
1 Căn cứ vào thời hạn cho vay:
a Tín dụng ngắn hạn:
Là loại hình tín dụng có thời hạn dưới một năm thường được dùng để cho vay bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu cá nhân Đối với một ngân hàng thương mại thì tín dụng ngắn hạn chiếm
tỷ trọng cao nhất
b Tín dụng trung hạn:
Là loại hình tín dụng có thời hạn cho vay từ 1 nam đến 5 năm, cho vay
nhằm để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và
xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh
c Tin dung dai han:
Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, với mục đích cho vay là để
xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có qui mô lớn
2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
a Tín dụng sản xuất kinh doanh:
Là loại tín dụng cung cấp cho các nhà doanh nghiệp để nhằm tiến hành sản suất và kinh doanh
b Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu:
Là hình thức cung cấp tín dụng cho hoạt động thu mua hoặc sản xuất
hàng hóa để xuất khẩu, hoặc cho các nhà nhập khẩu
Trang 12£9 LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
Là loại tín dụng được cấp để hình thành vốn lưu động của các đơn vị
kinh doanh, như cho vay để dự trữ hàng hóa đối với các xí nghiệp thương nghiệp, cho vay để mua phân bón, thuốc trừ sâu đối với các hộ sản xuất nông
nghiệp Tín dụng vốn lưu động thường cho vay để bù đắp mức vốn lưu động
thiếu hụt tạm thời Loại tín dụng này thường chia thành các loại sau: cho vay
dự trữ hàng hóa, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ
dưới hình thức chiết khấu thương phiếu
b Tín dụng vốn cố định:
Là loại tín dụng nhằm để hình thành tài sản cố định, loại tín dụng nầy
thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỷ thuật,
mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình mới, thời hạn cho vay loại này
thường là trung — dài hạn
Ngoài các loại tín dụng nói trên còn có các loại tín dụng đặt biệt khác như: tín dụng leasing, tín dụng factoring, tín dụng trả góp
4 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm
không cần tài sản đảm bảo
§3 LÃI SUẤT TÍN DỤNG
1 Khái niệm
Lãi suất tín dụng là giá cả của tiên vay, hay giá cả của quyền sử
dụngvốn, được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm trên cơ sở tiền vay mà người đi vay phải trả cho người cho vay trong một khoản thời gian nhất định
Trang 13
2 Vai trò của lãi suất tín dụng
- Lãi suất tín dụng là công cụ để kich thích tiết kiệm
- Lãi suất tín dụng là công cụ điều hành nền kinh tế vĩ mô, là công cụ
quan trọng để thực hiện chính sách tiền tệ, là vũ khí sắc bén để kiểm chế hoặc chống lạm phát
- Lãi suất tín dụng là công cụ để thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất kinh doan có hiệu quả hơn, sử dụngvốn một cách thận trọng hơn và tiết kiệm
hơn
- Lãi suất tín dụng là công cụ giúp Ngân hàntg thương mại tạo ra lợi nhuận cho mình, đồng thời cũng là phương tiện để các Ngân hàng cạnh tranh
lẫn nhau ( giẩm lãi suất cho vay hoặc tăng lãi suất huy động )
3 Các loại lãi suất tín dụng
a Lãi suất đơn và lãi suất kép
Lãi suất đơn là lãi suất mà khi tính lợi tức, người ta chỉ tính trên số vốn
vay ban đầu trong suốt thời gian vay và không chuyển lợi tức thành vốn để
tính lợi tức cho chu kỳ sau
Công thức lãi suất đơn : Vạ = V,(1 + n.1t) Với : Vạ : lãi suất đon cho vay
V, : vốn tín dụng
1L : lãi suất một chu kỳ
t :thdi gian vay
n : số chu kỳ
Lãi suất kép là loại lãi suất mà khi tính lợi tức, người ta nhập lợi tức của
chu kỳ trước vào vốn gốc để tính lợi tức cho chu kỳ sau
Công thức lãi suất kép: Vạ= Vu(1 + IД
b Lãi suất kinh doanh của Ngân hàng thương mại
- Lãi suất huy động: Lãi suất tiền gởi có kỳ hạn, lãi suất tiền gởi không
kỳ hạn, lãi suất tiết kiệm, lãi suất kỳ phiếu, lãi suất trái phiếu, tín phiếu
Ya SVTH: PHAN VAN TUAN TRANG 9
Trang 14£2 LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
- Lãi suất cho vay (lãi suất cho vay bằng nội tệ, ngoại tệ, vàng )
loại này nếu phân theo kỳ hạn gồm: lãi suất cho vay ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn
- Lãi suất chiết khấu các chứng từ có giá; lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng trung ương: lãi suất tái cấp vốn, tái thế chấp; lãi suất liên ngân
hàng, lãi suất thỏa thuận
§4 NGUYÊN TẮC CỦA TÍN DỤNG VÀ BẢO ĐẢM TÍN DỤNG
1 Nguyên tắc của tín dụng
a hoàn trả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho các ngân hàng thương mại tồn tại
và họat động một cách bình thường Bởi vì nguồn vốn cho vay của Ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động Đó là một bộ phận tài sản của các sở hữu chủ
mà Ngân hang tạm thời quản lý và sử dụng, Ngân hàng: cũng có nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu rút tiền của khách hàng khi họ yêu cầu Nếu các khoản tín dụng không được hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng
b Nguyên tắc sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả
Tín dụng cung ứng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và yêu cầu
về phát triển kinh tế — xã hội trong từng giai đọan phát triển Đối với các đơn
vị kinh tế, tín dụng cũng đáp ứng các mục đích cụ thể trong quá trình họat động sản xuất kinh doanh để thúc đẩy các > don vị hoàn thành sản xuất kinh doanh của mình
Tín dụng đúng mục đích và có hiệu quả không những là nguyên tắc mà còn là phương châm họat động của tín dụng Hiệu quả đó trước hết là đẩy nhanh nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa, tạo ra nhiều khối lượng sản phẩm, dịch vu, đồng thời tạo điều kiên tăng tích lãy để thực hiện tái sản
xuất mở rộng
c Nguyên tắc đảm bảo tiền vay phải theo quy định của chính phủ
Quá trình cung ứng vốn tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế, không kể được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào đều làm tăng sức mua của xã hội, làm tăng khối lượng tiền của nền kinh tế Làm tăng áp lực đối với lượng hàng hóa trên thị trường Ngoài ra, do tính chất vận động của vốn tín dụng là gắn liền với sự vận động của vật tư hàng hóa, gắn liên với hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế Do đó cần thực
a SVTH: PHAN VAN TUAN TRANG 10
Trang 153 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAM THỊ NGA
hiện nguyên tắc đảm bảo cho những khoảng tín dụng đang thực hiện Tài sản
đảm bảo có thể được thực hiện bằng : Tín chấp, thế chấp, cầm cố, bảo lãnh
2 Những vấn đề cơ bản của việc đảm bảo tín dụng
Trong các nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng, việc đảm bảo tiền vay có
ý nghĩa không kém phần quan trọng Điều này xét cho cùng là nhằm đảm bảo lợi nhuận và hạn chế rủi ro cho Ngân hàng Mặt khác việc đảm bdo tién vay cần thiết cho việc bảo đảm bảo quản tài sản có của Ngân hàng, bởi vì tài sản
đó hầu như là toàn bộ tiên vay (tiển ký thác của khách hàng) Các hình thức
bảo đảm tín dụng thường được sử dụng hiện nay là:
a Đảm bảo đối nhân:
Là sự cam kết của một hoặc nhiều người về việc trả nợ cho Ngân hàng
thay cho một khách hàng vay vốn khi khách hàng này không trả được nợ,
những người này phải thỏa mãn một số điều kiện sau:
- Có đầy đủ năng lực hợp pháp
- Có năng lực tài chính lành mạnh
- Có kha năng trả nợ thay cho khách hàng
Đảm bảo đối nhân là đảm bảo cấp 2, với ý nghĩa này nó dựa vào khả
năng chỉ trả của người vay nợ Nó thường được vật chất hóa dưới hình thức
một sự bảo lãnh hoặc bảo chứng
b Đảm bảo đối vật:
Một đảm bảo đối vật, đó là tài sản mà người vay nợ đem thế chấp hoặc
cầm cố cho chủ nợ, nó cho phép chủ nợ cấp một khoản tín dụng phù hợp với một đảm bảo chắc chắn Một đảm bảo tín dụng đối vật luôn luôn là một yếu
tố tài sản, có thể là một yếu tố động sản hoặc bất động sản
Tài sản thế chấp: Là hình thức đầm bảo mà trong đó tài sản không phải
giao cho Ngân hàng, Ngân hàng chỉ sở hữu tạm thời về mặt giá trị Còn người đem thế chấp vẫn còn quyền sử dụng tài sản đó
Tài sản thế chấp bao gồm các tài sản là bất động sản như:
- Nhà xưởng, nhà ở, các công trình kiến trúc, vật kiến trúc
- Quyền sử dụng đất hợp pháp
- Các loại ao hỗ nuôi trồng thủy hải sản
- Các loại vườn cây ăn quả, vườn cây công nghiệp, rừng lâm nghiệp
Tài sản thế chấp phải thỏa mãn hai điều kiện sau :
- La tai san có giá trị và giá trị sử dụng
2 SVTH: PHAN VAN TUAN TRANG 11
Trang 16
£Q LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
- Là sở hữu hợp pháp của bên thế chấp
Tài sản cầm cố: Là hình thức đẩm bảo mà trong đó khách hàng phải
đem cả tài sản và các giấy tờ chứng nhận tài sản đó giao cho Ngân hàng
Những tài sản có thể đem đi cầm cố hiện nay là: vàng bạc, đá qúi, đồ trang
sức, các chứng từ có giá đang lưu hành, máy móc thiếc bị, vật tư hàng hóa
Những tài sản không đủ điều kiện để nhận cầm cố và thế chấp như:
- Các tài sản còn đang tranh chấp
- Tài sản thuộc lọai cấm kinh doanh, mua bán, chuyển nhượng theo quy định của nhà nước
- Tài sản không thuộc sở hữu hợp pháp của bên đi vay
- Tài sản đang bị niêm phong, tạm giữ, phong tỏa của cơ quan có
- Nợ khó đòi là khỏan nợ mà sau một thời gian nhất định kể từ khi Ngận hàng đã chuyển sang nợ khó đòi mà vẫn không thu được nợ thì Ngân hàng sẽ chuyển sang nợ khó đòi
2 Thiệt hại do những biến cố rủi ro gây ra
a Đối với Ngân hàng :
Trang 17
(2 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHẠM THỊ NGA
Khi xảy ra rủi ro tín dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, cụ thể là làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng và dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng chi trả cho khách hàng khi khách hàng yêu cầu rút tiền, nếu ở mức độ nghiêm trọng có thể Ngân hàng sẽ dẫn đến phá sản
b Đối với nên kinh tế:
Do họat động của Ngân hàng có liên quan đến họat động của nên kinh
tế, khi rủi ro tín dụng xẩy ra nếu dẫn đến một vài Ngân hàng bị phá sản mà
không có các biện pháp ngăn chặn kịp thời, nó sẽ lây lan đến các Ngân hàng
khác Nếu như toàn bộ hệ thống Ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ làm cho hệ
thống Ngân hàng của một quốc gia yếu đi hoặc sụp đổ thì nên kinh tế cũng sẽ
bị khủng hoảng
3 Những nguyên nhân làm phát sinh rủi ro:
a Nguyên nhân phát sinh từ khách hàng vay von:
- Khách hàng là cá nhân vay vốn: sẽ không hoàn trả nợ cho Ngân hàng một cách đầy đủ khi gặp những nguyên nhân sau :
+ Thu nhập không ổn định theo chiều hướng giảm
+ Gặp tai nạn lao động, bị sa thải, thất nghiệp, hoặc gặp tai nạn bất
- Khách hàng là các doanh nghiệp: việc trả nợ cho Ngân hàng sẽ bị
ảnh hưởng khi doanh nghiệp gặp những nguyên nhân sau:
+ Bộ máy quản lý yếu kém
+ Khả năng tài chính yếu kém
+ Sử dụng vốn sai mục đích
+ Thị trường cung cấp vật tư, nguyên liệu bị đột biến, cạnh tranh theo
hướng bất lợi
+ Thị trường tiêu thụ bị thu hẹp và mất luôn thị trường tiêu thụ
+ Có những tai nạn bất ngờ xẩy ra tại doanh nghiệp
*a SVTH: PHAN VĂN TUẤN TRANG 13
Trang 18£2 LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
+ Chính sách quần lý kinh tế của nhà nước sẽ làm cho doanh nghiệp
gặp khó khăn trong kinh doanh, thu nhập giảm, lợi nhuận giảm nên việc trả nợ
sẽ khó khăn
b Nguyên nhân từ phía Ngân hàng :
- Ngân hàng không dự đoán được sự biến động của nền kinh tế dẫn
đến việc cung cấp tín dụng cho những ngành sẽ suy thoái trong tương lai
- Do Ngân hàng chạy theo lợi nhuận, cạnh tranh thị trường, nhiều tổ
chức tín dụng đã xem nhẹ các nguyên tắc thể lệ tín dụng
- Do Ngân hàng thiếu kiểm soát và quản lý tín dụng
- Việc phân tích khách hàng chưa hoàn thiện, thiếu thận trọng, dẫn đến việc cung cấp tín dụng cho những khách hàng có năng lực tài chính yếu kém
- Đánh giá giá trị tài sản thế chấp, cầm cố không chính xác, cao hơn
giá trị của tài sản, dẩn đến rủi ro từ tài sản thế chấp, cầm cố
- Không dự đoán được giá trị tương lai của tài sản
- Nhận cầm cố, thế chấp những tài sản khó phát mãi
c Những nguyên nhân khác
- Tình hình kinh tế xã hội trong nước :
+ Khủng hoảng kinh tế: doanh nghiệp dễ bị phá sản dẫn đến không
trả nợ dược cho Ngân hàng
+ Thời kỳ lạm phát cao: chi phí cho việc sản xuất, dịch vụ cao ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp làm cho việc trả nợ của doanh nghiệp
gặp nhiều khó khăn
- Tình hình kinh tế chính trị thế giới: Kinh tế ngày nay mang tính chất
toàn cầu, mỗi quốc gia là tế bào của nên kinh tế thế giới, do đó sự biến động của quốc gia này sẽ ảnh hưởng đến các quốc gia khác Bất cứ một sự thay đổi kinh tế- chính trị đột ngột nào cũng ảnh hưởng đến thị trường cung cấp nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp có quan hệ làm ăn với các nước đó, làm giảm khả năng trả nợ cho Ngân hàng
4 Những rủi ro liên quan đến đảm bảo tín dụng
a Về đảm bảo đối nhân: người đảm bảo không có khả năng thực hiện lời cam kết của mình khi khách hàng ởi vay không hoàn trả nợ cho Ngân hàng
Trang 19LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
- Tài sản không tiêu thụ được không phát mãi được
- Tài sản được định giá cao, do đó khi phát mãi không thu hồi đủ nợ
- Tài sản thế chấp, cầm cố không thực hiện đúng qui định của nhà nước
5 Biện pháp hạn chế rủi ro:
- Phân tích, đánh giá các rủi ro tín dụng có thể xẩy ra đối với khách
hàng vay vốn, để đưa ra các biện pháp, chính sách tín dụng với số tiền khác
nhau, thời hạn khác nhau hoặc không cho vay
- Phân chia các rủi ro bằng cách không tập trung cho vay một số Ít
khách hàng, một số ngành kinh tế
- Không cho một khách hàng vay vượt quá 15% vốn tự có và quỹ dự
trữ của Ngân hàng
- Tổng số vốn cho 10 khách hàng vay nhiều nhất không vượt quá 30 %
tổng số dư nợ cho vay của ngân hàng
- Phân tích đánh giá từng khách hàng một cách thường xuyên nắm lý
lịch từng khách hàng
- Nguyên cứu chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia
- Thường xuyên nhận thông tin từ các cơ quan cung cấp thông tin
- Lập Trung tâm phòng ngừa rủi ro tín dụng: Trung tâm phòng ngừa rai ro tin dung của nhà nước là một tổ chức dịch vụ của Ngân hàng Trung ương nhằm thực hiện nhiệm vụ thu thập, phân tích, cung cấp thông tin Qua đó giúp các Ngân hàng phòng ngừa các rủi ro có thể xẩy ra khi cung cấp tín dụng Do đó, để giúp cho Ngân hàng hoạt động tốt, có hiệu quả thì trung tâm
- Phân tích tổng hợp các thông tin, cung cấp thông tin theo yêu cầu của
tổ chức tín dụng với thời gian nhanh nhất Tuy nhiên để trung tâm thực hiện
tốt nhiệm vụ thì các tổ chức tín dụng cũng phải thực hiện các nhiệm vụ:
+ Cung cấp các thông tin về các đơn vị có quan hệ tín dụng, đặc biệt
là các khách hàng có dư nợ lớn
a SVTH: PHAN VĂN TUẤN TRANG 15
Trang 20A LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHẠM THỊ NGA
+ Mỗi lần cho vay hoặc thu nợ thì tổ chức tín dụng cũng phải liên tục cung cấp thông tin, đồng thời khi phát hiện khách hàng vay vốn xẩy ra các sự
cố không bình thường cũng phải báo ngay cho trung tâm
Những Ngân hàng hoạt động tốt đều coi trọng quy trình và thể lệ cho vay là cơ sở thu hồi nợ, đảm bảo lành mạnh về vốn đầu tư và sinh lợi Có bốn giai đoạn chính trong tiến hành quản lý rủi ro tín dụng:
© Khởi đầu cho vay đến khi giải ngân và mục tiêu kinh doanh được
chấp nhận, rủi ro được xem xét khi phê chuẩn và lập hồ sơ
© Giám sát khách hàng vay và theo dõi trả nợ
© Thu hồi nợ
@ Đo lường rủi ro ngay từ giai đọan đầu cho đến khi thu hồi được hết nợ
Trong thực tế 4 giai đọan trên đều được thực hiện dựa vào chính sách, thủ tục, kiểm soát và chế độ quản lý thông tin, là điểm trọng yếu của quy trình quản lý tín dụng
TÍN DỤNG NGẮN HẠN
§1 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGẮN HẠN
1 Vai trò của tín dụng ngắn hạn đối với các tổ chức tín dụng:
Tín dụng ngắn hạn chiếm một tỉ trọng khoảng 60-70% trong nghiệp
vụ tài sản có của một ngân hàng thương mại, do vậy nó có một vai trồ rất
quan trong
a Là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sự thành bại của Ngân
hàng thương mại
Mục tiêu của một ngân hàng thương mại thường phải đạt đến lợi nhuận
và sự mở rộng qui mô hoạt động kinh doanh của mình Cho vay là nguồn thu
tạo ra doanh thu và lợi nhuận quan trọng nhất cho các ngân hàng thương mại trong những năm gần nay khoảng 2/3 lợi tức nghiệp vụ ngân hàng có từ tién lãi cho vay
Ngân hàng luôn luôn muốn có một thời hạn tín dụng càng ngắn càng tốt
vì thời hạn tín dụng ngắn cho phép ngân hàng tránh được các rủi ro về lãi suất
và khả năng thanh toán cũng được đảm bảo
2 SVTH: PHAN VĂN TUẤN TRANG 16
Trang 21
£0 LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
b Có mối quan hệ với các nghiệp vụ khác của ngân hàng thương mại: Đối với công tác huy động vốn: hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng nếu tốt sẽ tạo điều kiện cho đồng vốn của Ngân hàng luân chuyển đều đặn và có kế hoạch Điều này sẽ đảm bảo vững chắc cho khả năng thanh toán các khoảng vốn huy động của Ngân hàng từ nền kinh
tế một cách đầy đủ và đúng hạn Đây là yếu tế hết sức cần thiết trong công
tác huy động vốn của ngân hàng
Ngoài ra, trên cơ sở hoạt động tín dụng tốt sẽ góp phần làm cho ngân
hàng ngày càng vững mạnh, đây cũng là một yếu tố hết sức cần thiết tạo nên
uy tín của ngân hàng, nâng cao sức cạnh tranh trong huy động vốn của ngân
hàng
Đối với nghiệp vụ thanh toán: thông thường các tổ chức kinh tế thường
mở tài khoản thanh toán chính tại nơi họ gíao dịch tín dụng, thanh toán bằng chuyển khoản thông qua tài khoản của người vay hoặc người cung cấp, do vậy nếu công tác tín dụng (ngắn hạn) được thực hiện tốt sẽ góp phần mở rộng nghiệp vụ thanh toán của Ngân hàng thương mại
Ngoài ra như đã trình bày ở trên, một ngân hàng thương mại có hoạt động tín dụng vững mạnh sẽ tạo được lòng tin đối với khách hàng trong nền kinh tế trong việc giao dịch thanh toán qua ngân hàng
Đối với kinh doanh ngoại hối: hoạt động tín dụng nội tệ có mối quan hệ nhất định đối với hoật động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng Thông qua
các hoạt động cho vay (ngắn hạn), tài trợ xuất nhập khẩu đối với các đơn vị
làm hàng xuất khẩu thì Ngân hàng thương mại sẽ từng bước nâng cao vị trí của mình trên thương trường quốc tế, góp phần thực hiện chính sách ngoại hối của quốc gia
e Góp phần thực hiện chiến lược kinh doanh của một Ngân Hàng thương mại:
Hoạt động tín dụng ngắn hạn chiếm tỉ trọng lớn trong nghiệp vụ tài sản
có của một ngân hàng thương mại, do vậy chiến lược kinh doanh của một
ngân hàng thương mại trong từng thời kỳ đối với nền kinh tế sẽ thể hiện chính
sách thắt chặt hay mở rộng tín dụng của Ngân hàng nhà nước nó chung và qua các Ngân hàng thương mại nói riêng Sự thành bại của hoạt động tín dụng
ngắn hạn của Ngân hàng thương mại sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại
trong việc thực hiện chiến lược kinh doanh của một ngân hàng thương mại
2 Vai trò tín dụng ngắn hạn đối với các doanh nghiệp:
a Góp phần vào sự tổn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trang 22
€ LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Th.S PHAM TH] NGA
Trong kinh doanh, do đặc điểm mỗi nghành nghề khác nhau cho nên nhu cầu vốn cũng khác nhau Họ biết chắc ở mức độ nào họ có lời khi họ vận dụng hết nguồn vốn hiện có, nhưng còn một phần vốn vay ngân hàng, vốn vay này cần để đảm bảo các sản phẩm nông sản khỏi hư hoặc phục vụ cho quá trình vận chuyển hàng hóa, trong trường hợp không được vay họ có thể không thực hiện được hợp đồng mua bán vơi doanh nghiệp khác hoặc họ phải vay nặng lãi dẫn tới làm ăn thua lỗ, nhanh chóng phá sản, khi được cấp tín dụng kịp thời có thể giúp họ tổn tại và phát triển
b Góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả của các xí nghiệp của các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh :
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức Nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sử dụng vốn có hiệu quả
Khi sử dụng vốn vay Ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng, tức là phải đảm bảo hoàn trả nợ vay đúng hạn và tôn trọng các điều kiện khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng
Khi đi vay doanh nghiệp phải tính toán nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, tăng cường vòng quay của vốn, tạo điều kiện nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp Nếu không trả vốn và lãi đúng hạn doanh nghiệp sẽ bị mất uy tín đối với Ngân hàng, Ngân hàng sẽ dè đặt trong cho vay đối với doanh nghiệp hoặc không cho vay hoặc doanh nghiệp phải chịu các chế tài như chịu lãi suất của nợ quá hạn, tuyên bố mất khả năng chỉ trả, truy tố trước tòa tất
cả những điều này hoàn toàn bất lợi cho các doanh nghiệp, cho nên một doanh nghiệp có thiện chí làm ăn, thì luôn quan tâm đến chế độ hạch toán kinh tế của mình, quản lí vốn vay để tạo ra hiệu quả đích thực
c Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài: Trong tình hình hiện nay, phát triển kinh tế của một nước luôn gắn liền với thị trường thế giới, với chính sách mở cửa kinh tế, tín dụng Ngân hàng trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau
Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong VIỆC mở rộng xuất khẩu hàng hóa và
hiện đại hóa nền kinh tế đất nước
3 Vai trò của tín dụng ngắn hạn đối với nền kinh tế:
a Tài trợ vốn cho nền kinh tế :
Tín dụng ngắn hạn tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất được tiến
hành một cách liên tục, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển
Ya SVTH: PHAN VĂN TUẤN TRANG 18
Trang 23
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHẠM THỊ NGA
Trong nền sản xuất hàng hóa, thường xuyên có hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời Để duy trì và mở rộng sản xuất phải giải quyết mâu thuẫn trên
Với vai trò: đi vay để cho vay của Ngân hàng thương mại và qua nghiệp vụ tín
dụng đã góp phần to lớn trong việc điều hòa vốn cho toàn bộ nền kinh tế tao
điều kiện cho sẩn xuất được liên tục, đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa
b Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất :
Hoạt động của Ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử
dụng, mà vốn này nằm phân tán khắp mọi nơi, trong tay các doanh nghiệp,
các cơ quan nhà nước và của cá nhân, trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh
tế Tuy nhiên quá trình đâu tư tín dụng không phải rãi đều cho mọi chủ thể có nhu cầu, mà việc đầu tư thực hiện một cách tập trung, chủ yếu là cho các xí
nghiệp lớn, những xí nghiệp kinh doanh có hiệu quả
c Tin dung là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển
và ngành kinh tế mũi nhọn :
Trong điểu kiện nước ta, nông ngiệp là ngành sản xuất đáp ứng nhu cầu
cần thiết cho xã hội đang trong quá trình công nghiệp hóa Vì vậy trong giai đoạn trước mắt Nhà nước phải tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp để giải
quyết những nhu cầu tối thiểu của xã hội đồng thời tạo điều điện để phát triển các ngành kinh tế khác
Bên cạnh đó Nhà nước còn tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành
kinh tế mũi nhọn, mà phát triển các ngành này sẽ tạo cơ sở và lôi cuốn các
ngành kinh tế khác như sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác dầu khí
d Tạo điều kiện tiết kiệm chỉ phí lưu thông tiền tệ :
Chức năng của tín dụng Ngân hàng là tập trung và phân phối,
thay thé tién kim loai bằng tiền tín dụng Ngân hàng Thương mại phát hành
tién tín dụng dưới hình thức là con số, gọi là bút tệ Điều này sẽ giúp cho
Ngân hàng và khách hàng giảm được các chi phí như: đếm, bảo quản, vận
chuyển, cất giữ
e Tạo điều kiện điều hòa lưu thông tiền tệ từ đó góp phần ổn định
tiền tệ :
Với một hệ thống tín dụng năng động có vai trò cực kỳ quan trọng như
là người mở đầu, người tham gia và có khi như là người nâng đỡ và quyết định
moi qua trinh san xuất
Nếu tín dung không tạo được tiền nhằm mở ra các quá trình sản xuất
và với các hoạt động của nó thì trong nhiều trường hợp không thể tiến hành
+ SVTH: PHAN VĂN TUẤN TRANG 19
Trang 24Œ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAM THỊ NGA
trôi chẩy quá trình sản xuất và do đó không tạo được các nguồn tích lũy cần thiết cho chính bản thân Ngân hàng Thương mại và cho nền kinh tế
Nếu tiền cung ứng tăng quá nhanh, tất yếu lạm phát sẽ xuất hiện và
những hậu quả xấu của nó đương nhiên nền kinh tế phải gánh chịu Ngân
hàng thông qua con đường tín dụng phát hành và thu hồi tiền khi cần thiết ,
thực hiện vai trò của nó như là một kênh dẫn để thông qua đó tiền cung ứng
được tăng lên hoặc giảm xuống phù hợp với chính sách tiền tệ quốc gia
§2 CÁC HÌNH THỨC TÍN DỤNG NGẮN HẠN
Cùng với việc phát triển của nền kinh tế và việc mở rộng qui mô kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại, sản phẩm tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng ngày càng đa dạng Những hình thức tin dung ngắn hạn mà Ngân hàng Thương mại đang ứng dụng bao gồm :
1 Cho vay thông thường :
Cho vay thông thường là một nghiệp vụ tín dụng được thực hiện trên cơ
sở hợp đồng tín dụng mà trong đó khách hàng được quyền sử dụng một số tiền vay nhất định trong một thời gian vay nhất định
Nghiệp vụ này thường được áp dụng cho khách hàng vay vốn có tính
chất không thường xuyên, sản xuất kimh doanh mang tính thời vụ, chưa được ngân hàng tin tưởng
Khi có nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động đơn vị vay làm đơn xin vay theo mẫu qui định kèm theo phương án sản xuất kinh doanh, số vốn đã có, số
vốn xin vay mục đích sử dụng, thời hạn vay và kế họach trả nợ gởi đến tổ
chức tín dụng để được xem xét cho vay
Theo cách cho vay này thuận lợi ở chỗ: Ngân hàng có thể tính lãi vay
ngay khi ký kết hợp đông và khách hàng thì chủ động được nguồn vốn
Tuy nhiên về phía khách hàng phải chấp nhận một khoản lãi trả trước
cho Ngân hàng để nhận được khoản vốn trước khi sử dụng
2 Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là một nghiệp vụ tín dụng mà trong đó Ngân hàng
cho khách hàng vay được sử dụng hết số thiếu trong một giới hạn nhất định có
ghi trên hợp đồng tín dụng và trong một thời gian xác định
Trang 25
<2) LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
Nếu phương thức này sử dụng 2 tài khoản: tài khoản cho vay và tài khoản tiền gởi thì được gọi là tín dụng luân chuyển, trường hợp chỉ sử dụng
một tài khoản vãng lai thì được gọi là tín dụng thấu chỉ
* Đặc điểm:
Ngân hàng áp dụng cho từng khách hàng một hạn mức tín dụng tùy thuộc vào nhu câu sản xuất kinh doanh của đơn vị hoặc tùy thuộc vào nhu cầu từng cá nhân
Nhu cầu Tổng nhu cầu Doanh số bán theo gía
kinh doanh xuất kinh doanh Vòng quay vốn lưu động
Vòng quay Gia tri sản lượng hàng hóa thực hiện
vốn lưu động Tài sản lưu động dự trữ bình quân
Khách hàng được sử dụng vốn vay trong hạn mức một cách chủ động Doanh số cho vay có thể lớn hơn hạn mức tín dụng, mức độ lớn hơn tùy thuộc vào tính luân chuyển của vốn hoặc một hạn mức dự phòng
Tín dụng hạn mức là một kỹ thuật cấp vốn mà số dư nợ thường xuyên
biến động, vì vậy Ngân hàng khi áp dụng lọai cho vay này không thực hiện được các đảm bảo tín dụng mà chỉ dựa vào năng lực tài chính, phương án kinh
doanh và uy tín của khách hàng
Hạn mức tín dụng thỏa thuận chưa phải là khoản tiền Ngân hàng đã cho
vay mà chỉ khi nào khách hàng sử dụng thì mới gọi là dư nợ, việc thu lãi cũng
dựa vào số dư nợ thực tế
Theo cách cho vay này, thuận lợi ở chỗ:
- Thủ tục đơn giản, thuận tiện Quy trình cho vay thu nợ của Ngân hàng phù hợp quy trình luân chuyển vật tư hàng hóa của khách hàng
- Ngân hàng không quần lý doanh số cho vay, tạo điểu kiên cho khách
hàng sử dụng vốn một cách chủ động, linh họat theo kế họach vay vốn đã thỏa
thuận, giảm chỉ phí trả lãi tiền vay cho Ngân hàng
Tuy nhiên vẫn có một số nhược điểm:
- Việc kiểm tra, kiểm sóat trong từng lần phát tiền vay của Ngân hàng
bị hạn chế, Ngân hàng bị động về vốn
- Ngân hàng gặp rủi ro cao
THU VIEN
Ya SVTH: PHAN VĂN TUẤN
Trang 26
- Ngân hàng không xác định được kỳ han nợ và không giám sát được việc trả nợ từng đối tượng vay vì thế việc chuyển nợ quá hạn không được chính xác
- Ngân hàng thu lãi thấp
- Khách hàng dễ sử dụng vốn sai mục đích
2 Một số nghiệp vụ tín dụng khác:
a Tín dụng chấp nhận:
Là tín dụng mà Ngân hàng chấp nhận chuyển tiền mà khách hàng lập
cho mình với điều kiện khách hàng hoàn trả tiền vay khi thương phiếu đến
hạn chỉ trả Như vậy Ngân hàng sẽ có thể chỉ trả kỳ phiếu được suất trình Việc chấp nhận của các Ngân hàng lớn thường là đảm bảo chắc chắn khi
chuyển kỳ phiếu cho người thứ ba Người phát hành kỳ phiếu sau khi được
Ngân hàng chấp nhận có thể sử dụng kỳ phiếu cho các mục đích klhác nhau
Đôi khi kỳ phiếu nằm lại Ngân hàng đã chấp nhận nó hoặc được chiết khấu
ngay khi chấp nhận Để thực hiện nghiệp vụ chấp nhận, Ngân hàng thu một khoản tiền hoa hông Khi chấp nhận Ngân hàng chỉ đồng ý nhận chỉ trả kỳ phiếu trong trường hợp người phát hành kỳ phiếu không có tiền chỉ trả Tín
dụng chỉ xẩy ra khi người phát hành kỳ phiếu không có tiền ở Ngân hàng khi tới hạn chỉ trả kỳ phiếu
b Tín dụng bảo lãnh:
Bảo lảnh của Ngân hàng là môt hợp đồng trong đó Ngân hàng cam kết
thực hiện thay nghĩa vụ trả nợ của người vay nợ nếu người này không thực
hiện được đối với chủ nợ của mình
Việc bảo lãnh cũng giống như hình thức cho vay chỉ khác là Ngân hàng
không cấp tiền mà chỉ cấp chữ ký nhưng độ rủi ro thù hoàn toàn giống nhau,
vì vậy để được Ngân hàng cấp bảo lãnh khách hàng cũng phải thỏa mản đây
đủ các điều kiện như cấp một khoản tín dụng
Bảo lãnh thường được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Bảo lãnh để khách có thể đi vay Ngân hàng khác, đặc biệt là để đi vay
các Ngân hàng nước ngoài
- Bảo lãnh thanh toán về mua chịu hàng hóa, đặc biệt là mua hàng hóa
của nước ngoài
- Bảo lãnh về đóng thuế cho nhà nước
- Bảo lãnh về các hợp đồng đấu thầu
c Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá:
Trang 27
f3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
Là hình thức tín dụng ngắn hạn được thực hiện dưới hình thức chuyển
nhượng quyển sở hữu thương phiếu cho Ngân hàng để nhận được một khoản tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lợi tức chiếc khấu Ngân hàng
được hưởng lợi trên toàn bộ số tiển của thương phiếu, đồng thời số tiền đó được khấu trừ ngay khi chiết khấu, Ngân hàng chỉ cấp cho khách hàng số tiền
còn lại
Khách muốn xin chiết khấu phải lập bảng kê và đem thương phiếu đó nộp cho Ngân hàng Nếu Ngân hàng đồng ý chiết khấu thì khách hàng phải lập thủ tục bối thự trên thương phiếu sau đó Ngân hàng sẽ tính toán lợi suất chiết khấu để khấu trừ vào mệnh giá của thương phiếu
Cách tính số tiên chiết khấu thương phiếu:
e Nếu tính theo lãi đơn:
chiết khấu thương phiếu chiếtÁ&hấu
e© Nếu tính theo lãi kép:
Số tiền Mệnh giá thương phiếu
chiết khấu (1 + lãi suất chief chau)” nan
* Ý nghĩa của nghiệp vụ chiết khấu:
Chiết khấu thương phiếu tạo điều kiện cho những nhà kinh doanh lưu
động hóa được các trái quyền, giải quyết được nhu cầu vốn kịp thời phục vụ
cho nhu cầu sản xuất kinh doanh một cách liên tục
Chiết khấu thương phiếu là một hình thức cho vay đơn giản, ít rủi ro,
thời hạn cho vay ngắn, mức độ đảm bảo tương đối cao vì cả hai người chủ nợ
và con nợ đều đảm bảo cho món nợ đó
Thông qua nghiệp vụ chiết khấu mà các Ngân hàng có thể tái chiết khấu tại Ngân hàng nhà nước khi cần thiết
Trang 28
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHẠM THỊ NGA
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
Hoạt động của ngân hành cũng là một hoạt động kinh tế, do đó nó cũng
áp dụng các phương pháp phân tích kinh tế để đánh giá hiệu quả hoạt động của mình:
1 Phương pháp chỉ tiết:
Đây là phương pháp sử dụng rộng rãi trong phân tích hoạt động kinh
doanh Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chỉ tiết theo các hướng
khác nhau Thông thường trong phân tích, phương pháp chỉ tiết được thực hiện theo những hướng sau:
- Chỉ tiết theo bộ phận cấu thành chỉ tiêu: các chỉ tiêu biểu hiện kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm nhiều bộ phận cấu thành Từng bộ phận biểu hiện chỉ tiết về một khía cạnh nhất định của kết quả kinh doanh Phân tích chi
tiết các chỉ tiêu cho phép đánh giá một cách chính xác, cụ thể kết quả kinh doanh đạt được Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong phân tích
mọi mặt kết quả hoạt động kinh doanh Ví dụ: khi phân tích kết quả sẵn xuất
ta có chỉ tiêu giá trị sản lượng được chỉ tiết theo các bộ phận như: giá trị thành
phẩm làm bằng nguyên liệu của đơn vị, làm bằng nguyên liệu của người đặt hàng, giá trị dụng cụ tự chế, giá trị sản phẩm dở dang Trong phân tích chỉ
tiêu giá thành bao gồm các bộ phận như: chỉ phí nguyên liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, chi phí tiền lương, khấu hao thiết bị máy
móc, chỉ phí phân xưởng Đến lượt mình từng bộ phận lại bao gồm nhiều chi
tiết cụ thể khác nhau Ví dụ: chỉ phí sản xuất chung trong chỉ tiêu giá thành lại
bao gồm: lương chính, phụ của nhân viên quản lý phân xưởng, hao mòn tài
sản cố định dùng chung cho phân xưởng, chi phí phục vụ và quản lý phân
xưởng
- Chỉ tiết theo thời gian: Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình Do nhiều nguyên nhân khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình
đó trong từng đơn vị thời gian thường không đồng đều nhau Ví dụ: trong sản
xuất, sản lượng sản phẩm thực hiện từng tháng, quý trong năm không đều
nhau Tương tự trong thương mại, doanh số mua bánn từng thời gian trong năm
cũng không bằng nhau Việc phân tích chỉ tiết theo thời gian giúp ta đánh giá
được nhịp điệu, tốc độ phát triển của hoạt động kinh doanh qua các thời kỳ
khác nhau, từ đó tìm nguyên nhânm và giải pháp có hiệu lực cho công viỆvc kinh đoanh Phân tích chỉ tiết theo thời gian cũng giúp ta nghiên cứu đồng thời
nhịp điệu của các chỉ tiêu có liên quan với nhau như: lượng mua vào, dự trữ với lượng hàng bán ra, lượng vốn được cấp (huy động) với khối lượng công
việc xây lắp hoàn thành, lượng nguyên vật liệu cấp phát với khối lượng sản
Trang 29
phẩm sản xuất từ đó phát hiện những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ
thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh
- Chi tiết theo địa điểm: Kết quả kinh doanh được thực hiện bởi các phân xưởng, tổ, đội sản xuất hay các cửa hàng, trạm, trại, xí nghiỆp trực
thuộc doanh nghiệp Phân tích chỉ tiết theo địa điểm giúp ta đánh giá kết quả
thực hiện hạch toán nội bộ Thông qua các chỉ tiêu khoán khác nhau như:
khoán doanh thu, khoán chi phí, khoán gọn cho các bộ phận mà đánh giá
mức khoán đã hợp lý chưa và việc thực hiện các mức khoán như thế nào
Cũng thông qua việc thực hiện các mức khoán mà phát hiện các bộ phận tiên
tiến hoặc lạc hậu trong việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh, khai thác các
khả năng tiểm tàng về sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn trong kinh doanh
Chi tiết theo từng địa điểm còn được biểu hiện là từng vị trí khác nhau trong tiêu thụ sản phẩm như: theo từng vùng, theo từng địa phương, theo từng
loại thị trường Toàn bộ kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được tổng hợp
từ các địa điểm như trên
2 Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng lâu đời và phổ biên
nhất So sánh trong phân tích là đối chiêu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế
đã được lượng hoá có cùng một nội dung, một tính chất tương tự để xác định
xu hướng mức độ biến động của chỉ tiêu Nó cho phép ta tổng hợp được những
nét chung, tách ra được những nét riêng của các hiện tượng được so sánh, trên
cơ sở đó đánh giá được các mặt phát triển hay kém phát triển, hiệu quả hay
kém hiệu quả để tìm các giải pháp quản lý tối ưu trong mỗi trường hợp cụ thể
Vì vậy để tiến hành so sánh bắt buộc phải giải quyết những vấn đề cơ bản như
xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện so sánh, mục tiêu so sánh
nw nw nx z x A x 2 hd A 4 `
- Số gốc để so sánh: tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích mà ta
Z : ww x Z ` ⁄ ⁄ vy z Z
xác định số gốc để so sánh và do đó có nhiều dạng so sánh khác nhau
- So sánh các số liệu thực hiện với các số liệu định mức, kế hoạch, số
trong phương án giúp ta đánh giá mức độ biến động so với mục tiêu đã đặt ra
- So sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước (năm trước, quý trước,
tháng trước) giúp ta nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của
hiện tượng
- So sánh số liệu của thời gian này với số liệu cùng kỳ của thời gian
trước giúp ta nghiên cứu nhịp điệu thực hiện kinh doanh trong từng khoảng
thời gian
- So sánh số liệu thực hiện với các thông số kinh tế kỹ thuật trung bình
hoặc tiến tiến giúp ta đánh giá được mức độ phấn đấu của doanh nghiệp
Trang 30
- So sánh số liệu của doanh nghiệp mình với doanh nghiệp tương đương, điển hình hoặc doanh nghiệp thuộc đối thủ cạnh tranh giúp ta đánh giá được
mạnh mạnh mặt yếu của doanh nghiệp
- So sánh số liệu thực tế với mức hợp đồng đã ký, tổng nhu cầu giúp ta
biết được khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường
- So sánh các thông số kinh tế kỹ thuật của các phương án kinh tế khác nhau giúp ta lựa chọn được phương án tối ưu
3 Phương pháp loại trừ: (hay còn gọi là phương pháp thay thế)
Một chỉ tiêu kinh tế chịu sự tác động của nhiễu nhân tố Ví dụ: chỉ tiêu
doanh số bán hàng của một công ty ít nhất chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi 02 nhân tố: Khối lượng bán hàng và giá cả hàng bán Cho nên thông qua phương
pháp loại trừ cho phép các nhà phân tích nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của
từng nhân tố lên chỉ tiêu cần phân tích Trong thực tế, phương pháp loại trừ
được sử dụng trong phân tích dưới 02 dạng:
- Phương pháp thay thế liên hoàn: là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố lên chỉ tiêu phân tích bằng cách thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ
tiêu khi nhân tố đó thay đổi Sau đó, so sánh trị số của chỉ tiêu vừa tính được
với trị số của chỉ tiêu khi chưa có biến đổi của nhân tố cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó
Nguyên tắc sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn:
- Xác định đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng lên chỉ tiêu kinh tế phân tích
và thể hiện mối quan hệ các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích bằng một công thức nhất định
- Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng trong công thức theo trình tự nhất định
- Xác định ảnh hưởng của nhân tố nào thì lấy kết quả tính toán của bước
trước để tính mức độ ảnh hưởng và cố định các nhân tố còn lại
4 Phương pháp số chênh lệch:
Đây là phương pháp biến dạng của phương pháp thay thế liên hoàn Nhưng cách tính đơn giản hơn và cho phép tính ngay được kết quả cuối cùng bằng cách xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào, thì trực tiếp dùng số chênh lệch về giá trị kỳ phân tích so với kỳ kế hoạch của nhân tố đó
5 Phương pháp liên hệ cân đối:
Trong hoạt động kinh doanh có những hiện tượng kinh tế mà giữa chúng tồn tại mối quan hệ cân bằng về lượng, ví dụ: cân đối giữa tổng giá trị tài sản
a SVTH: PHAN VĂN TUẤN TRANG 26
Trang 31
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAM THỊ NGA
với tổng nguồn vốn hình thành tài sản của công ty, cân đối giữa thu và chỉ tài
chính, giữa xuất và nhập, tồn kho và sử dụng vật tư
Cho nên, để phân tích tỉ mỉ tình trạng hoạt động của công ty người ta áp dụng phương pháp liên hệ cân đối, thực chất của phương pháp này là người ta
xác định ảnh hưởng của chỉ tiêu này đối với chỉ tiêu khác trong một mối quan
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Giấy phép đăng ký kinh doanh số 0059056/GP-UB ngày 06 tháng 4 năm 1993 của Uỷ Ban Nhân Dân
TP.Hồ Chí Minh
Ngày 19/05/1993 PNB đã chính thức đi vào hoạt động với tổng số vốn
điều lệ là 10 tỷ VND có 38 cổ đông, vốn điều lệ được hình thành từ 5.000 cổ
- phần với mệnh giá mỗi cổ phần là 2.000.000 VND, đây là loại cổ phân có ghi
tên Tổng tài sản của PNB khi mới thành lập là 31,2 tỷ đồng, vốn huy động là
20,4 tỷ đồng, dư nợ cho vay là 31,2 tỷ đông; lợi nhuận năm đầu tiên hoạt động
là 258 triệu đồng
Để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, từ năm 1997 đến tháng 10/2003, PNB đã tiến hành sáp nhập thành công 05 ngân hàng thương mại cổ phần và tổ chức tín dụng vào PNB Cụ thể: năm 1997 sáp nhập Ngân hàng
thương mại cổ phân Đồng tháp, năm 1999 sáp nhập Ngân hàng thương mại cổ
phần Đại Nam, năm 2001 sáp nhập ngân hàng Nông thôn Châu Phú, năm
2002 mua lại quỹ tín dụng Định Công, năm 2003 mua Ngân hàng thương mại
cổ phân Nông thôn Cái Sắn Kết quả sau giai đoạn sáp nhập đến nay: mạng
lưới phát triển rộng khắp tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ, An
Ya SVTH: PHAN VĂN TUẤN TRANG 27
Trang 32
Œ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
Giang, Đồng Tháp, Đà Nẵng, Bình Thuận Trước khi sáp nhập, PNB chỉ có 01
hội sở và 01 chi nhánh, đến tháng 12/2004 đã phát triển thành 44 đơn vị gồm:
01 hội sở, 01 sở giao dịch, 15 chỉ nhánh cấp I, 17 chỉ nhánh cấp II, 05 chi
nhánh cấp II, 04 phòng giao dịch và 01 công ty quản lý và khai thác tài sản
Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện tất cả các nghiệp vụ Ngân hàng bao gồm: nghiệp vụ tín dụng, bảo lãnh, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, nghiệp vụ kiều hối,
huy động vốn đầu tư, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài
nước và các dịch vụ ngân hàng khác
Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam là một trong những Ngân
hàng hoạt động có hiệu quả trong hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần
hiện nay Tính đến cuối năm 2004, tổng tài sản của PNB tăng 139,1 lần từ
31,2 tỷ năm 1993 tăng lên 4.339,511 tỷ đồng năm 2004; Vốn điều lệ tăng
32,17 lân từ 10 tỷ lên 321,680 tỷ đồng; Tổng vốn huy động tăng 188,76 lần từ 20,7 tỷ đồng tăng lên 3.928 tỷ đồng; Tổng số dư nợ cho vay tăng 141,1 lần từ 21,600 tỷ đồng tăng lên 3.046 tỷ đồng; Lợi nhuận trước thuế tăng 279,31 lần
từ 258 triệu tăng lên 72,061 tỷ đồng năm 2003; Nợ quá hạn luôn ở dưới mức cho phép < 5%; Lập quỹ dự phòng rủi ro đầy đủ theo quy định
Với các tốc độ tăng bình quân cho thấy: Ngân hàng đang từng bước mở
rộng quy mô kinh doanh, mở rộng họat động kinh doanh và thực hiện rất có
hiệu quả Trong đó, tốc độ cho vay bình quân tăng lên cũng rất nhanh, năm
2002: 1.687 tỷ đồng sang năm 2003 tăng lên 2.531 tỷ đồng và năm 2004 dat
đến 4.538 tỷ đồng Đạt tốc độ tăng hơn: 164,5%/năm
Hoạt động hiệu quả trong kinh doanh, PNB không ngừng mở rộng mạnh
lưới hoạt động đến những vùng kinh tế trọng điểm của đất nước, xây dựng hội
sở chính khang trang và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng nhằm phục vụ
khánh hàng tốt hơn tạo nền tang phát triển vững mạnh trong tương lai; đảm
bảo lợi ích cho người lao động, thu nhập của CNV ngày càng tăng, tăng lợi tức cho cổ đông; quan tâm đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho lãnh đạo và CNV Hiện nay Ngân hàng có đội ngũ nhân viên có độ tuổi bình quân rất trẻ, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Ngân hàng trong tương lai vì
sẽ có nhiều sự năng động, sự thích ứng với nên kinh tế đang từng bước đổi
mới theo hướng phát triển hiện nay Tính đến ngày 12/2004 tổng số CBCNV
toàn hệ thống có 839 người (trong đó trình độ trên đại học, đại học, cao đẳng
chiếm trên 60%) Bên cạnh đó, lãnh đạo của PNB cũng rất chú trọng đến công tác hoạt động Đảng, đoàn thể; thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa,
từ thiện
Trang 33
<Q LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Th.S PHAM THI NGA
Với các lĩnh vực kinh vô cùng phong phú, ngày càng mở rộng và tăng quy mô phát triển bằng cách mở rộng địa bàn hoạt động cũng như tăng các nghiệp vụ kinh doanh mới đã giúp Ngân hàng khẳng định vị trí và uy tín của mình trên thương trường trong nước cũng như trên thế giới Ngoài ra PNB cũng góp phần đáng kể vào công cuộc kiến thiết, xây dựng, đổi mới và phát triển của TP.HCM nói riêng và của đất nước nói chung
Hiện nay Ngân hàng là thành viên của mạng thanh toán toàn cầu SWIFT, c6 giao dịch đại lý với nhiều ngân hàng và nhiều quốc gia trên thế giới
§2 CÁC CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG CHÍNH CỦA PNB
NHTMCP Phương Nam thức hiện hầu hết các nghiệp vụ của một Ngân
hàng thương mại, cụ thể các lĩ nh vực sau:
1 Về họat động ngân quỹ: khai thác nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
trong và ngoài nước của mọi đối tượng
- Nhận tiền gởi không kỳ hạn và có kỳ hạn bằng tiền đồng Việt Nam và
ngọai tệ
- Phát hành các lọai chứng chỉ tiền gởi, kỳ phiếu theo lãi suất do Ngân
Hàng qui định
- Nhận mở tài khoản phong tỏa để thành lập doanh nghiệp, công ty
- Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển tiền nhanh giữa các
địa phương mà Ngân hàng có đặt văn phòng
2 Về họat động tín dụng :
PNB cung ứng các hình thức tín dụng đa dạng đáp ứng nhu cầu về vốn để: bổ sungvốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ; bổ sung
vốn cố định thực hiện dự án đầu tư mới; mở rộng sản xuất, xây dựng nhà
xưởng: cải tiến kỹ thuật, hiện đại dây chuyển sản xuất cho mọi đối tượng
doanh nghiệp hoặc cá nhân với thời hạn cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; Cho vay tài trợ nhập khẩu, cho vay tài trợ xuất, nhập khẩu; Cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng
Trang 34
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAM THI NGA _
hoàn toàn có thé chuyển tiền qua PNB mà không cần phải có tài khoản tại ngân hàng Với mạng lưới chi nhánh trải rộng từ Bắc vào Nam, NHTMCP PN cung cấp cho khách hàng dịch vụ chuyển tiền : An toàn, nhanh chóng, thuận tiện, chính xác; thủ tục đơn giản, phục vụ ân cần, chu đáo, đặc biệt an toàn và
tiết kiệt chi phí khi chuyển tiền với số lượng lớn;
Chuyển tiền ra nước ngoài: PNB thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền ra nước ngoài bằng điện (T/T) qua mạng SWIFT ngay trong ngày làm việc
Khách hàng sẽ được hướng dẫn hoàn tất hồ sơ và tư vấn miễn phí cho từng
trường hợp cụ thể
Dịch vụ nhận và chỉ trả tiền chuyển từ nước ngoài về
4 Thanh toán quốc tế:
Với hệ thống mạng lười gồm 3000 trụ sở chính và chỉ nhánh của 84
ngân hàng đại lý trên thế giới, PNB phục vụ khách hàng các địch vụ thanh toán quốc tế một cách nhanh chóng, hiệu quả, thuận tiện, an toàn
PNB là thành viên của hiệp hội tài chính viễn thông liên ngân hàng
toan cau (SWIFT)
PNB nhận thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế như:
- Thực hiện tín dụng chứng từ nhập khẩu: Khách hàng sẽ được đội ngũ
nhân viên thông thạo nghiệp vụ hướng dẫn và tư vấn cụ thể về thủ tục mở L/C
và nhận được L/C trong ngày; đáp ứng được thời gian giao hàng phù hợp với
nhu cầu hàng hoá của khách hàng;
- Thực hiện tín dụng chứng từ xuất khẩu: PNB hỗ trợ, tư vấn cho quý
khách hành xem xét các điều khoản và điều kiện L/C trong qua Itrinh xuất hàng khách hàng sẽ được hỗ trợ lập bộ chứng từ đòi tiền để tuân thủ các điều khoản của L/C tránh các sai sót, bất hợp lệ Nếu bộ chứng từ hợp lệ khách hàng sẽ được ngân hàng tài trợ bằng cách chiết khấu đến 95% trị giá bộ chứng
từ xuất khẩu
- Nhờ thu kèm chứng từ
5 Về họat động kinh doanh đầu tư :
- Kinh doanh ngọai tệ, vàng bạc, đá quý
- Cấp giấy phép mang ngọai tệ ra nước ngoài cho các đơn vị , cá nhân
theo quy định của Ngân hàng nhà nước
- Đầu tư, liên doanh, liên kết
- Dịch vụ thanh tóan không dùng tiền mặt (chuyển khoản, sec )
- Kinh doanh chứng khoán,
Trang 35
3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAM THỊNGA
- Giải, làm test, chuyển tiếp điện cho Ngân hàng khác
- Dịch vụ quản lý hộ tài sản
- Thực hiện dịch vụ bảo lãnh, tái bảo lãnh trong và ngòai nước
- Kinh doanh kho vận
- Cho vay nhu cầu du học nước ngoài
- Kinh doanh các dịch vụ khác khi được nhà nước cho phép
6 Các dịch vụ khác:
- Chiết khấu các giấy tờ có giá do kho bạc Nhà nước và Chính phủ phát hành
- Chuyển tiền trong nước ngoài hệ thống PNB
- Thanh toán thể Visa, Master: bao gồm thẻ do quốc tế phát hành và Ngân hàng Á Châu phát hành
- Mua bán ngoại tệ theo giá niêm yết mỗi ngày
- Chỉ trả kiểu hối
ws ^ nw A nO cr - z 2 A ` a 4 Z
- Xác nhận số dư trên tài khoản tại PNB cho các cá nhần và tổ chức có yêu cầu
- Dịch vụ về ngân quỹ: kiếm đếm, xác định thậtgiả cất giữ hộ Việt
nam đồng và các dịch vụ về ngân quỹ
Trang 36
Ị
General meeting of Sharcholders
Ị
MRA
sees ere, , " HH ~ Ba ˆ 3 - `
Bạn Kiểm tra : Hội đồng quản trị Bạn Cô van
Supervisory Commitee " Board of Management, Consultancy Commitee
P Marketing P Kiểm soát nội hộ P Hành chính
° Marketing Dept Internal Supervisory Dept Administration Dept.»
47 HA AY SB BH ‘TRH
s Sales Dept Human Resource Dept »
einternational Settlement Dept Satistic/Planning Deptte
Ma RA ke Zu th oe fab STO ay a Pr
° Money Business Dept, Lepal Dept *
Accounting Dept Computer Dept °
Trang 37Ban Bao vệ toà nhã e)
Board of House Mafiagement
Cty QL Ne: '& KTIS
; ebt- Management & Exploitation com
Trang 38Ong Mr Lé Anh Kiét
¡iW § & %J# # &
Bà / Mrs Bao Thi Hing Linh Ong / Mer, 86 Quéc Hing
Ủy viên & P.TGĐ Ủy viên
Member & Vice ( Manager Member
%# 9£ ä ải t8 06 HỆ ý W # £
Trang 39He th tae
Ong / Mr.Nguyén Đương Thảo
Kiểm soát viên
Supervisor
#64z
Ong / Mr, Ngé Dinh Phat
Kiếm soắt viên
Supervisor
4# ‡¿