Từ những năm 60 của thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của Ngôn ngữ học Văn bản, ngôn ngữ học đã mở rộng phạm vi và có sự chuyển hướng lớn sang nghiên cứu những vấn đề liên quan đến văn bản, diễn ngôn, ngữ dụng học và phong cách tác giả nói chung là tất cả những vấn đề của ngôn ngữ học có ý nghĩa đối với thực tiễn xã hội. Cho tới nay, có thể thấy sự phát triển của ngôn ngữ học văn bản được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu được gọi là giai đoạn “các ngữ pháp văn bản” có nội dung nghiên cứu chủ yếu là những cách thức liên kết, tính hiểu được của văn bản, những cách chuyển đổi sự quy chiếu người và vật, sự phân bố phần đề và phần thuyết,... Giai đoạn sau giai đoạn hiện nay, được gọi là giai đoạn nghiên cứu phân tích diễn ngôn. Ở đó, các nhà ngôn ngữ học đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng, quan tâm đến mặt ý nghĩa, sự sử dụng của văn bản, những mối quan hệ của nội dung câu nói với hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ nhằm tạo cách diễn đạt đúng và đạt hiệu quả giao tiếp cao. Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu chỉ là các phần tử. Ngoài các câu phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Giữa chúng phải có sợi dây liên hệ chặt chẽ tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trọn vẹn, rõ ràng và mạch lạc. “Tính liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu trở thành văn bản Trần Ngọc Thêm”. Chính vì vậy đối với mỗi văn bản, phương tiện liên kết là nhân tố quan trọng, đồng thời cũng là yêu cầu bắt buộc. Để tạo thành văn bản liên kết, các câu trong đó phải gắn bó với nhau theo một nguyên tắc nhất định và theo những phương thức nhất định. Có rất nhiều phép liên kết thể hiện trong văn bản (phép lặp, phép thế, phép đối, phép liên tưởng,…) trong đó các từ nối là những phương tiện quan trọng chỉ ra một cách tường minh mối liên hệ giữa các phát ngôn trên văn bản. Theo Nguyễn Đức Dân, việc dùng từ nối để liên kết các phát ngôn là một hiện tượng phổ biến và hợp lý. Phổ biến vì ta có thể gặp hiện tượng này ở mọi tác giả, mọi thể loại. Hợp lý vì nhiệm vụ của từ nối chính là thực hiện chức năng liên kết. Như ta đã biết, có nhiều phương tiện nối để tạo mối liên kết trên văn bản, đó có thể là từ, cụm từ, đoạn văn. Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi chỉ xem xét dạng thể hiện của phép nối bằng các phương tiện là từ và cụm từ. Trong số gần 100 đơn vị từ nối tiếng Việt theo các phạm trù khác nhau, chúng tôi chọn khảo sát nhóm từ ngữ nối thuộc phạm trù “giải thích minh họa”. Đây là nhóm từ ngữ nối thuộc quan hệ logic diễn đạt được biểu thị bằng các từ ngữ nối như: nghĩa là, tức là, nói cách khác, nói khác đi (thì), ví dụ, chẳng hạn, cụ thể là,… Từ trước tới nay, liên kết logic nói chung chưa được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu. Có thể kể đến một vài công trình tiêu biểu như “Hệ thống liên kết văn bản trong tiếng Việt” của Trần Ngọc Thêm, “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” của Diệp Quang Ban… Tuy nhiên trong những nghiên cứu này vấn đề mới chỉ dừng lại ở chỗ giới thiệu nét khái quát nhất chứ chưa đi vào nghiên cứu cụ thể, toàn diện tất cả vai trò, hoạt động của những từ nối làm phương tiện liên kết. Nhóm từ ngữ này cũng được nghiên cứu khá sâu và kỹ trên phương diện ngữ pháp nhưng trên bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng lại chưa được dành nhiều sự quan tâm. Chỉ mới hơn 10 năm trở lại đây khi mà dụng học có chỗ đứng và được xem là một địa hạt hiệu quả trong việc giải thích những hiện tượng ngôn ngữ trong hoạt động tương tác ngôn từ thì các tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Hiệp,… mới chú ý nhiều tới nhân tố dụng ngôn của nhóm từ này. Chính vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi mạnh dạn chọn góc nhìn từ lý thuyết 3 bình diện của ngôn ngữ học để khảo sát những đặc điểm của nhóm các từ ngữ nối thuộc phạm trù “giải thích minh họa” trên cơ sở nguồn tư liệu là các tác phẩm trong Hồ Chí Minh tuyển tập (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1978). Như chúng ta đã biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy không phải là một nhà lý luận nhưng các trước tác của Người lại thể hiện rất rõ những ý nghĩa lập luận sắc bén, đanh thép về các vấn đề được nói đến. Việc sử dụng linh hoạt các từ ngữ nối thuộc phạm trù “giải thích minh họa” đã góp một phẩn làm nên sự phong phú trong văn phong Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn các tác phẩm của Hồ Chí Minh làm tư liệu khảo sát. Với đề tài Khảo sát nhóm từ nối thuộc phạm trù “giải thích minh họa” theo lí thuyết 3 bình diện (trong tác phẩm Hồ Chí Minh tuyển tập) chúng tôi hy vọng sẽ góp thêm một nghiên cứu nhỏ dưới góc nhìn mới về tính liên kết trong văn bản nói chung. Đồng thời, luận văn sẽ góp phần mở rộng, bổ sung về mặt lí luận của ngôn ngữ học văn bản và lí thuyết phân tích diễn ngôn.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGHIÊM THỊ HẢI
KHẢO SÁT NHÓM TỪ NỐI THUỘC PHẠM TRÙ “GIẢI THÍCH- MINH HỌA”
THEO LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN
(TRONG TÁC PHẨM HỒ CHÍ MINH TUYỂN TẬP)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2Hà Nội, 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGHIÊM THỊ HẢI
KHẢO SÁT NHÓM TỪ NỐI THUỘC PHẠM TRÙ “GIẢI THÍCH- MINH HỌA”
THEO LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN
(TRONG TÁC PHẨM HỒ CHÍ MINH TUYỂN TẬP)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Tình
Trang 3Hà Nội, 2017
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn "Khảo sát nhóm từ nối thuộc phạm trù “giải thích- minh họa” theo lí thuyết ba bình diện (trong tác phẩm Hồ Chí Minh tuyển tập) là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được
đưa ra trong luận văn là trung thực Mọi tham khảo trong luận văn đều đượctrích dẫn rõ nguồn, đảm bảo tính khách quan của tư liệu và bản quyền tác giả
Học viên
Nghiêm Thị Hải
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô trong khoa
Ngôn ngữ học- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều
kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Em đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Phạm Văn Tình đã
hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
cao học này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nghiêm Thị Hải
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN 7
1.1 Khái niệm văn bản 7
1.2 Liên kết văn bản 14
1.2.1 Khái niệm về tính liên kết 14
1.2.2 Phương tiện liên kết và phương thức liên kết 16
1.2.3 Phép nối 18
1.2.4 Các từ nối thuộc phạm trù “giải thích- minh họa” 21
1.3 Ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học 22
1.3.1 Bình diện kết học 23
1.3.2 Bình diện nghĩa học 24
1.3.3 Bình diện dụng học 26
1.4 Vài nét về tác gia Hồ Chí Minh 27
1.5 Tiểu kết 31
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM KẾT HỌC CỦA NHÓM TỪ NỐI THEO PHẠM TRÙ “GIẢI THÍCH- MINH HỌA" TRONG TÁC PHẨM “HỒ CHÍ MINH TUYỂN TẬP” 33
2.1 Dẫn nhập 33
2.2 Đặc điểm cấu trúc của nhóm từ nối trong các phát ngôn 34
2.2.1 Vị trí của nhóm từ nối trong các phát ngôn 34
2.2.3 Miêu tả các từ và cụm từ thuộc phạm trù “giải thích- minh họa” trong Hồ Chí Minh tuyển tập 36
2.3 Đặc điểm cấu tạo và chức năng ngữ pháp của nhóm từ nối trong các phát ngôn 43
2.3.1 Cụm từ nối “thứ nhất là…, thứ hai là…/ một là…, hai là… 43
2.3.2 Từ nối (có/ thế) nghĩa là 43
Trang 72.3.3 Từ nối “bởi vì” 44
2.3.4 Từ nối “chẳng hạn (như)” 45
2.3.5 Từ nối “như sau” 46
2.3.6 Từ nối “tức là” 47
2.3.7 Từ nối “ví dụ/ thí dụ” 49
2.4 Tiểu kết 50
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC CỦA NHÓM TỪ NỐI THEO PHẠM TRÙ “GIẢI THÍCH- MINH HỌA" TRONG TÁC PHẨM “HỒ CHÍ MINH TUYỂN TẬP” 51
3.1 Dẫn nhập 51
3.2 Phép nối với vấn đề liên kết ngữ nghĩa 52
3.3 Giá trị nghĩa học và dụng học của nhóm từ nối thuộc phạm trù “giải thích- minh họa” trong “Hồ Chí Minh tuyển tập” 54
3.3.1 Cụm từ thứ nhất là… thứ hai là…/ một là (vì)…hai là (vì)… 55
3.3.2 Từ nối (có/ thế) nghĩa là 57
3.3.3 Từ nối “bởi vì” 59
3.3.4 Từ nối “chẳng hạn (như)” 61
3.3.5 Từ nối “như sau” 62
3.3.6 Từ nối “tức là” 65
3.3.7 Từ nối “ví dụ/ thí dụ” 67
3.4 Tiểu kết 69
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của Ngôn ngữ họcVăn bản, ngôn ngữ học đã mở rộng phạm vi và có sự chuyển hướng lớn sangnghiên cứu những vấn đề liên quan đến văn bản, diễn ngôn, ngữ dụng học vàphong cách tác giả- nói chung là tất cả những vấn đề của ngôn ngữ học có ýnghĩa đối với thực tiễn xã hội
Cho tới nay, có thể thấy sự phát triển của ngôn ngữ học văn bản được chiathành hai giai đoạn: giai đoạn đầu được gọi là giai đoạn “các ngữ pháp vănbản” có nội dung nghiên cứu chủ yếu là những cách thức liên kết, tính hiểuđược của văn bản, những cách chuyển đổi sự quy chiếu người và vật, sự phân
bố phần đề và phần thuyết, Giai đoạn sau- giai đoạn hiện nay, được gọi làgiai đoạn nghiên cứu phân tích diễn ngôn Ở đó, các nhà ngôn ngữ học đi sâunghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng, quan tâm đến mặt ý nghĩa, sự sử dụngcủa văn bản, những mối quan hệ của nội dung câu nói với hoàn cảnh sử dụngngôn ngữ nhằm tạo cách diễn đạt đúng và đạt hiệu quả giao tiếp cao
Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu chỉ là các phần tử Ngoài cáccâu- phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bảnchỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câuxung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Giữa chúng phải có sợidây liên hệ chặt chẽ tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trọn vẹn, rõ ràng vàmạch lạc “Tính liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biếnmột chuỗi câu trở thành văn bản- Trần Ngọc Thêm” Chính vì vậy đối vớimỗi văn bản, phương tiện liên kết là nhân tố quan trọng, đồng thời cũng làyêu cầu bắt buộc
Để tạo thành văn bản liên kết, các câu trong đó phải gắn bó với nhau theomột nguyên tắc nhất định và theo những phương thức nhất định Có rất nhiềuphép liên kết thể hiện trong văn bản (phép lặp, phép thế, phép đối, phép liên
Trang 9tưởng,…) trong đó các từ nối là những phương tiện quan trọng chỉ ra mộtcách tường minh mối liên hệ giữa các phát ngôn trên văn bản Theo NguyễnĐức Dân, việc dùng từ nối để liên kết các phát ngôn là một hiện tượng phổbiến và hợp lý Phổ biến vì ta có thể gặp hiện tượng này ở mọi tác giả, mọi thểloại Hợp lý vì nhiệm vụ của từ nối chính là thực hiện chức năng liên kết Như ta đã biết, có nhiều phương tiện nối để tạo mối liên kết trên văn bản,
đó có thể là từ, cụm từ, đoạn văn Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi chỉxem xét dạng thể hiện của phép nối bằng các phương tiện là từ và cụm từ Trong số gần 100 đơn vị từ nối tiếng Việt theo các phạm trù khác nhau, chúngtôi chọn khảo sát nhóm từ ngữ nối thuộc phạm trù “giải thích- minh họa” Đây lànhóm từ ngữ nối thuộc quan hệ logic diễn đạt được biểu thị bằng các từ ngữ nối
như: nghĩa là, tức là, nói cách khác, nói khác đi (thì), ví dụ, chẳng hạn, cụ thể là,
…
Từ trước tới nay, liên kết logic nói chung chưa được đề cập nhiều trongcác công trình nghiên cứu Có thể kể đến một vài công trình tiêu biểu như
“Hệ thống liên kết văn bản trong tiếng Việt” của Trần Ngọc Thêm, “Văn bản
và liên kết trong tiếng Việt” của Diệp Quang Ban… Tuy nhiên trong nhữngnghiên cứu này vấn đề mới chỉ dừng lại ở chỗ giới thiệu nét khái quát nhấtchứ chưa đi vào nghiên cứu cụ thể, toàn diện tất cả vai trò, hoạt động củanhững từ nối làm phương tiện liên kết
Nhóm từ ngữ này cũng được nghiên cứu khá sâu và kỹ trên phương diệnngữ pháp nhưng trên bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng lại chưa được dành nhiều
sự quan tâm Chỉ mới hơn 10 năm trở lại đây khi mà dụng học có chỗ đứng vàđược xem là một địa hạt hiệu quả trong việc giải thích những hiện tượng ngônngữ trong hoạt động tương tác ngôn từ thì các tác giả tiêu biểu như: NguyễnĐức Dân, Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Hiệp,… mới chú ýnhiều tới nhân tố dụng ngôn của nhóm từ này
Trang 10Chính vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi mạnh dạn chọn góc nhìn từ lýthuyết 3 bình diện của ngôn ngữ học để khảo sát những đặc điểm của nhómcác từ ngữ nối thuộc phạm trù “giải thích- minh họa” trên cơ sở nguồn tư liệu
là các tác phẩm trong Hồ Chí Minh tuyển tập (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1978) Như chúng ta đã biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy không phải là một nhà lýluận nhưng các trước tác của Người lại thể hiện rất rõ những ý nghĩa lập luậnsắc bén, đanh thép về các vấn đề được nói đến Việc sử dụng linh hoạt các từngữ nối thuộc phạm trù “giải thích- minh họa” đã góp một phẩn làm nên sựphong phú trong văn phong Hồ Chí Minh Chính vì vậy, chúng tôi quyết địnhchọn các tác phẩm của Hồ Chí Minh làm tư liệu khảo sát
Với đề tài Khảo sát nhóm từ nối thuộc phạm trù “giải thích- minh họa” theo lí thuyết 3 bình diện (trong tác phẩm Hồ Chí Minh tuyển tập)
chúng tôi hy vọng sẽ góp thêm một nghiên cứu nhỏ dưới góc nhìn mới về tínhliên kết trong văn bản nói chung Đồng thời, luận văn sẽ góp phần mở rộng, bổsung về mặt lí luận của ngôn ngữ học văn bản và lí thuyết phân tích diễn ngôn
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi là một đề tài luận văn cao học, chúng tôi lựa chọn các từnối thuộc phạm trù “giải thích- minh họa” để nghiên cứu những đặc trưng cơbản về mặt kết học khi chúng đóng vai trò là những liên từ trong các mệnh đề
Từ những kết hợp đặc trưng đó tiến tới nghiên cứu những biểu hiện quan hệngữ nghĩa, ngữ dụng của các từ ngữ nối trong hoạt động ngôn ngữ
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là nhóm từ ngữ nối theo phạm trù “giải
thích- minh họa” gồm các từ như: nghĩa là, tức là, nói cách khác, nói khác đi (thì), ví dụ, chẳng hạn, cụ thể là, thứ nhất là, thứ hai là,…
Nguồn ngữ liệu khảo sát mà chúng tôi lựa chọn là tác phẩm Hồ Chí Minhtuyển tập của Nxb Sự thật Tác phẩm gồm 2 tập với tổng số 167 bài viết (Tập1: 88 bài, Tập 2: 79 bài) của Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác từ năm 1920 đếnnăm 1969
Trang 113 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Ngoài nước
Năm 1976, M.A.K Halliday và R Hassan đã công bố cuốn “Cohesion in English”- “Phép liên kết trong tiếng Anh”, đây có thể xem là công trình đầu
tiên đánh dấu lịch sử nghiên cứu về phép nối
Đến năm 1998, ấn bản lần 2 của của M.A.K Halliday về “An introduction
to Funtional Grammar” - Dẫn luận ngữ pháp chức năng (Hoàng Văn Vân
dịch) Trên cơ sở công trình thứ nhất năm 1976, Halliday tiến hành bổ sung
và sửa chữa những vấn đề có liên quan, đặc biệt là về liên kết Công trình nàytrình bày và phân tích khá kĩ về khái niệm Cú (Clause) và xem Cú là kháiniệm cơ sở để soi sáng các góc độ khác của văn bản Đây là công trình đượcnhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao và được xem là nền tảng khi nghiên cứuvăn bản nói chung và phép nối nói riêng
Năm 2008, công trình bằng tiếng Anh của David Nunan “Introducing Discourse Analysis” - “Dẫn nhập phân tích diễn ngôn” được hai dịch giả Hồ
Mỹ Huyền và Trúc Thanh dịch Trong công trình này, tác giả đã đề cập đếnvấn đề liên kết, trong đó có phép nối Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra bốn loại quan
hệ ngữ nghĩa chủ yếu trong phép nối, đó là: nghịch đối, bổ sung, thời gian vànguyên nhân Những lí thuyết của công trình này có thể được xem là cơ sở líthuyết nghiên cứu ngữ nghĩa, ngữ dụng của phép nối trong tiếng Việt
3.2 Trong nước
Năm 1980, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội đã
ra mắt cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” của Hoàng Trọng Phiến [54] Đây được
xem là cơ sở để xem xét các quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của phép nối sau này
Năm 1985, công trình của Trần Ngọc Thêm “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” [60] đã được công bố đánh dấu bước phát triển mới của việc
nghiên cứu văn bản nói chung và phép nối nói riêng Công trình đã đề cập đến
khái niệm “liên kết văn bản” và bước đầu phân tích “các phương thức liên kết
Trang 12giữa các phát ngôn” Trong đó, dựa trên các loại phát ngôn, tác giả đã chia
phép liên kết thành hai loại cơ bản: phép nối lỏng và phép nối chặt
Năm 2001, Nhà xuất bản Giáo dục ra mắt công trình “Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt” của Nguyễn Thị Việt Thanh [55].Trong đó, tác giả đã chia
liên kết lời nói thành hai phương thức: ngữ kết học và ngữ dụng học Phươngthức ngữ kết học lại được chia thành ba tiểu loại: liên kết duy trì chủ đề, liênkết phát triển chủ đề và liên kết logic Trong đó, phép nối thuộc phương thứcliên kết logic
Năm 2006, quyển “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt: Văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn” của Diệp Quang Ban được tái bản lần thứ 3 [5] Trong
công trình này, tác giả đã đề cập đến phép liên kết, trong đó có phép nối Tácgiả Diệp Quang Ban đã chia phép nối thành hai loại cơ bản: phép nối lỏng vàphép nối chặt
Năm 2007, Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Dụng học Việt Ngữ”
[32] đã chia phép nối thành bốn loại theo quan hệ ngữ nghĩa của chúng: đồnghướng, ngược hướng, nhân quả và thời gian - trình tự Ngoài ra, tác giả còn đềcập đến liên kết hồi chỉ và liên kết khứ chỉ
Một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về vấn đề liên kết trong luậnvăn của mình: Phan Thu Trang (2001), Dương Thị Bích Hạnh (2003), PhanThị Thu Hà (2004), Vũ Thị Thu Hương ( 2012), Thái Thị Như Quỳnh (2013),Nguyễn Thị Thu (2014), Lê Thị Thùy Linh (2015)… Các luận văn này đề cậptới phép nối hoặc phép liên kết từ vựng trên những nguồn tư liệu khác nhau
Có thể thấy việc nghiên cứu về các phép liên kết trong văn bản là mốiquan tâm của khá nhiều tác giả tuy nhiên các nghiên cứu này chưa hệ thống
và chưa chi tiết, nhất là trong việc đi sâu vào nghiên cứu các từ và cụm từ làmphương tiện nối kết trong văn bản chưa được các tác giả quan tâm đúng mức
4 Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Về mặt lý luận, đề tài này sẽ mô tả và rút ra những đặc điểm của các từngữ nối thuộc phạm trù “giải thích- minh họa” thể hiện trong văn bản dựa trên
Trang 13lý thuyết 3 bình diện Điều này sẽ đóp góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiệnviệc nghiên cứu hệ thống các phương thức liên kết trong văn bản
Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu các từ ngữ nối thuộc phạm trù “giảithích- minh họa” trên cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng sẽgiúp cho công tác giảng dạy văn bản và liên kết văn bản trong nhà trườnghiệu quả hơn Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu sẽ giúp ích cho việc phân tíchvăn bản trong các tình huống có từ nối Nhờ đó mà học sinh, sinh viên, ngườigiảng dạy, thậm chí các nhà nghiên cứu có thể sử dụng từ, ngữ, câu một cáchchính xác về nghĩa trong quá trình tạo lập văn bản (cả nói và viết); phục vụcông tác soạn thảo văn bản, biên soạn sách giáo khoa, giảng dạy và học tậptrong trường phổ thông
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi đã sử dụng những phươngpháp sau:
- Phương pháp phân tích diễn ngôn, sử dụng để tiến hành phân tích cácchiết đoạn văn bản, mệnh đề, đoạn văn từ đó đưa ra những kết luận về phạm
vi hoạt động và chức năng của các từ nối này trong vai trò là các tác tử logic
- Phương pháp phân tích cú pháp- ngữ nghĩa: nghiên cứu các từ ngữ nốithuộc phạm trù “giải thích- minh họa” thông qua các biểu thức logic củachúng Từ những biểu thức logic này, chúng tôi sẽ phân tích phạm vi hoạtđộng và chức năng của các từ nối này khi đi vào thực tiễn của hoạt động ngônngữ
- Ngoài ra luận văn còn sử dụng các thủ pháp thống kê, phân loại, so sánhnhằm làm rõ vai trò chức năng nhiệm vụ mà các từ nối thuộc phạm trù khảosát đảm nhận trong văn bản
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn có bố cục gồm
3 chương:
Trang 14Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết có liên quan.
Chương 2: Đặc điểm kết học của nhóm từ nối thuộc phạm trù “giải
thích-minh họa” trong tác phẩm Hồ Chí Minh tuyển tập
Chương 3: Đặc điểm nghĩa học và dụng học của nhóm từ nối thuộc phạm
trù “giải thích- minh họa” trong tác phẩm Hồ Chí Minh tuyển tập
Trang 15PHẦN NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN
1.1 Khái niệm văn bản
Thuật ngữ ‘văn bản’ trong các ngôn ngữ Ấn-Âu đều bắt nguồn từ chữ tinh ‘textus’ có nghĩa là ‘dây bện, vải’ Người hiểu “văn bản” trực tiếp trongnghĩa “tấm vải” là Barthes 1973 trong bài “Phân tích văn bản (đối với) mộtthần thoại của Edgar Poe” trong Kí hiệu học truyện kể và văn bản(Sémiotique narrative et textuelle, Larousse, 1973, tr 52-53) Tác giả viết:
La-“Phân tích văn bản đòi hỏi … khai thác văn bản như là một mảnh vải… như
là một dải bện của những giọng khác nhau, của những mạng phức hợp cùngmột lúc đan quyện vào nhau và cũng chưa hoàn tất”
Hiện nay liên quan đến thuật ngữ này còn có các thuật ngữ như discourse
được dịch là diễn ngôn (Đỗ Hữu Châu, 1993) và có khi cũng là ngôn bản(Hoàng Vân Vân, 2001)
Trước khi ngôn ngữ học ra đời thì phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ họcchưa bao giờ vượt qua giới hạn của câu Có nhà ngôn ngữ học còn cho rằng:Câu luôn luôn được coi là đơn vị hoàn chỉnh Đơn vị cao nhất được nghiêncứu trong phạm vi ngôn ngữ học
Năm 1953, nhà ngôn ngữ học Đan Mạch L Hjelmeslev là người đầu tiên
đề cập đến ngôn ngữ học văn bản đã viết: Cái duy nhất đến với ngành nghiêncứu ngôn ngữ với tư cách khởi đầu […] đó là văn bản trong tính hoàn chỉnhtuyệt đối không tách rời của nó”.[A.A Reformatskij]
Những năm 70 của thế kỷ trước, ngôn ngữ học văn bản đã nhanh chóngđạt tới thời kỳ phát triển nhất, thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhànghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam Cũng từ đây, văn bản được coi
là đối tượng nghiên cứu và trở thành đơn vị cao nhất của ngôn ngữ học
Qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo, chúng tôi nhận thấy ở giai đoạnđầu của ngôn ngữ học văn bản, các nhà nghiên cứu thường dùng thuật ngữ
Trang 16“text” để chỉ đối tượng nghiên cứu là các đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu Khi
đó, tên gọi văn bản, ngôn bản được dùng để chỉ chung những sản phẩm giaotiếp bằng lời âm và chữ viết mà có thuộc tính liên kết và mạch lạc; khi địnhnghĩa thì chưa có sự đối lập với thuật ngữ diễn ngôn Sở dĩ như vậy là vì ởthời kỳ đầu, trọng tâm chú ý của việc nghiên cứu tập trung hơn ở các sự kiệngiao tiếp bằng chữ viết, ngôn liệu cũng lấy từ các văn bản viết, do đó tên gọivăn bản được dùng một cách phổ biến Chẳng hạn, năm 1976 Halliday &Hasan đặt văn bản ở một mặt bằng khác hẳn câu: “Một văn bản là một đơn vịngôn ngữ trong sử dụng Nó không phải là một đơn vị ngữ pháp loại như mộtmệnh đề hay một câu; mà nó cũng không được xác định bằng kích cỡ của nó[ ], nó là một cái khác với câu về chủng loại Tốt hơn nên xem xét một vănbản như một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải của hình thức mà là của ýnghĩa.” [6, tr 196]
Năm 1980, nhà nghiên cứu Loseva (thuộc Liên Xô cũ) cũng ghi nhận:
“Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trưng là tính hoànchỉnh về ý và cấu trúc và thái độ nhất định của tác giả đối với điều được thôngbáo [ ] Về phương diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi làmột câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ vựng- ngữ pháp.”[6, tr 197] Tác giả này đã thừa nhận thái độ của người tạo văn bản như mộtphần tất yếu của văn bản; thái độ đó có phần trùng hợp với “mục đích giaotiếp” mà các nhà nghiên cứu diễn ngôn sau này thường nhắc đến
Ở nước ta, Trần Ngọc Thêm là người đầu tiên nghiên cứu văn bản vớicông trình “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” Ông xác định: “ Văn bản
là một hệ thống mà các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu phần tử,trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí củamỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nóiriêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan
hệ và liên hệ ấy.” [60, tr 22] Định nghĩa này đã nêu được các yếu tố tạo
Trang 17thành văn bản là các câu- phần tử và cấu trúc của văn bản với mạng lưới liênkết được hiểu rộng theo hai chiều quan hệ và liên hệ
Ở giai đoạn thứ hai và tiếp cho đến hiện nay, ngôn ngữ nói được quan tâmnhiều hơn trước, tạo nên thế cân bằng với ngôn ngữ viết trong sự nghiên cứu.Người ta cố gắng phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết nên có xu hướngdùng văn bản để chỉ sản phẩm và phương tiện giao tiếp chữ viết (lời chữ),dùng diễn ngôn để gọi tên sản phẩm và phương tiện giao tiếp nói miệng (lờiâm) Do vậy các định nghĩa về văn bản được đưa ra thường có sự đối lập vớiđịnh nghĩa về diễn ngôn Trước tiên có thể kể đến một vài nhà nghiên cứu đãxác định khái niệm văn bản như một sự quy ước dùng khi cần xác định đốitượng để làm việc mà không đi vào bản thể của đối tượng nghiên cứu, như:
“Tôi sẽ sử dụng thuật ngữ văn bản để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết củamột sự kiện giao tiếp Sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (vídụ: một bài thuyết giáo, một cuộc thoại tình cờ, một cuộc giao dịch mua bán)hoặc ngôn ngữ viết (ví dụ: một bài thơ, một quảng cáo trên báo, một áp phíchdán tường, một bảng kê các thứ mua sắm, một tiểu thuyết) Tôi sẽ để thuậtngữ diễn ngôn lại để chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh.”[24, tr 21]
“Chúng ta sẽ dùng từ văn bản như là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệungôn từ của một hành vi giao tiếp” và “việc thu băng một hành vi giao tiếp sẽlưu giữ lại văn bản.” [33; tr 5, tr 27] Khi xác định khái niệm, các nhà nghiêncứu thường đặt văn bản và diễn ngôn ở trên cùng một bình diện nhưng cónhững đặc trưng nhất định phân biệt với nhau Chẳng hạn, năm 1989 GuyCook định nghĩa: “Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết được ở mặthình thức, bên ngoài ngữ cảnh” còn “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữđược nhận biết là có nghĩa, thống nhất và có mục đích.” [24, tr 20] Chúng tôi
có thể hiểu định nghĩa này là: Giả sử có một tài liệu ngôn ngữ (bằng chữ hoặcbằng âm), nếu chỉ xét ở bề mặt từ ngữ (với những nội dung mà chúng diễn đạt
Trang 18là chúng ta đã phân tích tài liệu đó như một văn bản (còn gọi là phân tích vănbản đối với nó); còn nếu xét tài liệu đó trong quan hệ với ngữ cảnh tình huống
và ý định, mục đích của người phát là chúng ta đã phân tích nó như một diễnngôn (gọi là phân tích diễn ngôn đối với tài liệu đó) Như vậy, phân tích vănbản cũng là một bộ phận trong phân tích diễn ngôn Hiện nay ý tưởng củaGuy Cook được nhiều người sử dụng trong phân tích diễn ngôn
Trong Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học (1994) do R E Asher chủbiên, văn bản được định nghĩa bằng ba nghĩa ứng với ba lĩnh vực nghiên cứu:
“Văn bản:
1 Một quãng được viết hay được phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc,
đề tài- chủ đề v.v của nó, hình thành nên một đơn vị, như một truyện kể, mộtbài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường v.v
2 Văn học trước hết được coi như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa vớisách, [ ]
3 Trong phân tích diễn ngôn, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viếtcòn diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn được dùngbao gồm cả văn bản.” [6, tr 200]
Theo chúng tôi, đây là một sự định nghĩa bao quát được các cách hiểu vềvăn bản, không chỉ trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung mà còn cả cáchhiểu văn bản trong văn học và trong bộ môn phân tích diễn ngôn vốn đangthịnh hành trong ngôn ngữ học hiện nay Không nói đến nghĩa 2, chúngtôi cho rằng nghĩa 1 và nghĩa 3 thể hiện hai quan niệm rộng và hẹp về kháiniệm văn bản Nghĩa 1 là quan niệm rộng về văn bản, được dùng trong nghiêncứu ngôn ngữ học nói chung Theo đó, văn bản bao gồm cả dạng nói và dạngviết của sản phẩm và phương tiện giao tiếp ngôn ngữ Đây cũng là một quanniệm tương đối phổ biến mà chúng ta có thể thấy trong các công trình củaM.A.K Halliday & R.Hasan cũng như của Diệp Quang Ban, chẳng hạn:“Mộtvăn bản có thể là được nói ra hay là được viết ra, là văn xuôi hay là thơ, là
Trang 19một đối thoại hay là một đơn thoại Nó có thể là một cái gì đó từ một câu tụcngữ đơn lẻ cho đến cả một vở kịch trọn vẹn, từ một tiếng kêu cứu nhất thời cho đến một cuộc thảo luận suốt ngày tại một uỷ ban” [4, tr 31]
Năm 1989, Halliday & Hasan tiếp tục khẳng định văn bản là ngôn ngữtrong giao tiếp, có tính mục đích được tạo ra trong ngữ cảnh giao tiếp và cóthể được diễn đạt bằng các phương tiện khác nhau: “Văn bản là ngôn ngữthực hiện một chức năng giao tiếp cụ thể, trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.Văn bản đối lập với các từ, các câu bị tách khỏi ngữ cảnh giao tiếp Văn bản
có thể ở hình thức ngôn ngữ nói, viết hay bất kỳ phương tiện diễn đạt nào” Trong một công trình gần đây nhất, tác giả Diệp Quang Ban định nghĩa:
“Văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lờiviết, hoặc lớn, hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài như một truyện kể, bài thơ,một đơn thuốc, một biển chỉ đường” [4, tr 193] Theo tác giả, định nghĩa trên
có thể dùng chung cho cả thuật ngữ diễn ngôn khi chưa cần phân biệt hai thuậtngữ này Diệp Quang Ban cho rằng, đặc trưng của văn bản gồm 5 yếu tố:
1 Yếu tố chức năng: Văn bản có đích hay chủ định của chủ thể tạo ra
văn bản, cụ thể là người tạo văn bản dùng lời nói hay chữ viết của mình đểthể hiện một hành động nào đó nhằm tác động người nghe (như hỏi, sai khiến,trình bày, cảm ơn, mời chào,…) Cũng chính chức năng này của văn bản gắntrực tiếp với chức năng cơ bản của ngôn ngữ: chức năng giao tiếp
2 Yếu tố nội dung: Văn bản có một hoặc vài ba đề tài- chủ đề xác
định-giúp phân biệt văn bản với chuỗi câu nối tiếp lạc đề, hoặc xa hơn nữa, phânbiệt với chuỗi câu không mạch lạc, tình cờ đứng cạnh nhau, tạo ra "chuỗi bấtthường về nghĩa" hay "phi văn bản"
3 Mạc lạc và liên kết: Là yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản, trong
đó nổi rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài- chủ đề là mạch lạc đây làyếu tố giúp phân biệt văn bản với "phi văn bản" ở mặt tổ chức nội dung
Trang 204 Yếu tố chỉ lượng: Văn bản được thể hiện bằng sự nối tiếp tuyến tính của
nhiều câu- phát ngôn, đây chính là cơ sở hiện thực cho mạch lạc và liên kết
5 Yếu tố định biên: Văn bản có biên giới bên trái (đầu vào) và biên giới
bên phải (đầu ra) và nhờ đó có tính kết thúc tương đối- yếu tố này giúp phânbiệt những văn bản khác nhau khi nhiều văn bản được tập hợp lại như một bàitập nghiên cứu, một tờ báo
Mỗi đặc trưng giống như một dấu hiệu có tác dụng khác nhau nhưngchúng đều có một điểm chung đó là giúp cho văn bản mạch lạc hơn, tườngminh hơn
Như vậy, các nhà nghiên cứu nói trên có quan niệm rộng về khái niệm vănbản Theo đó có thể nhận ra các yếu tố quan trọng trong văn bản, như:
- Văn bản có thể ở dạng nói miệng hoặc ở dạng viết
- Văn bản có thể dài, cũng có thể ngắn
- Cấu trúc của văn bản bao gồm cả cấu trúc hình thức lẫn cấu trúc nghĩa
- Văn bản có đề tài (hoặc chủ đề)
Quan niệm hẹp về khái niệm văn bản được thể hiện trong nghĩa 3 nêu ởphía trên Theo quan niệm này, văn bản là một dạng thể hiện (bằng chữ viết)của diễn ngôn và diễn ngôn bao gồm văn bản Đây là một cách hiểu đượcdùng phổ biến hiện nay ở các nhà nghiên cứu ngữ dụng học và phân tích diễnngôn Họ thường ưa dùng thuật ngữ diễn ngôn để gọi tên chuỗi những đơn vịngôn ngữ vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của giao tiếp, bao gộp các kiểuloại diễn ngôn: nói và viết (tương tự như cách dùng tên gọi văn bản ở thời kỳđầu) khi cần thì dùng thuật ngữ văn bản dành cho diễn ngôn viết
Chẳng hạn, Đỗ Hữu Châu xác định:“Tuỳ theo đường kênh, hay tuỳ theodạng ngôn ngữ được sử dụng mà chúng ta có diễn ngôn nói hay diễn ngônviết Chúng tôi sẽ gọi các diễn ngôn viết là các văn bản Văn bản là nhữngdiễn ngôn liên tục do một người tạo nên” [8, tr 35]Trong một công trình
Trang 21khác, ông nói rõ hơn về quan niệm của mình: “Ngôn bản hay diễn ngôn baogồm cả ngôn bản dạng nói và ngôn bản dạng viết Văn bản là thuật ngữchuyên dùng cho các ngôn bản dạng viết” [10, tr 18]
Tóm lại, qua nghiên cứu, chúng tôi thấy khái niệm văn bản (và diễn ngôn)
đã được sử dụng trong tiến trình phát triển của ngôn ngữ học, theo thời gian
đã có các xu hướng như sau:
- Đầu tiên tên gọi văn bản được dùng để chỉ chung loại đơn vị ngôn ngữvừa là sản phẩm vừa là phương tiện của giao tiếp, có liên kết và mạch lạc,thường được lấy là đối tượng khảo sát, phân tích
- Xu hướng thứ hai dùng tên gọi văn bản để chỉ sản phẩm- phương tiệngiao tiếp bằng chữ viết, dùng tên gọi diễn ngôn để chỉ sản phẩm- phương tiệngiao tiếp bằng âm thanh (lời âm)
- Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phân tích diễn ngôn nhưmột xu hướng nghiên cứu trong ngôn ngữ học, người ta thường sử dụng diễnngôn giống như việc dùng văn bản ở giai đoạn đầu, tức là dùng tên gọi diễnngôn để chỉ chung chuỗi đơn vị ngôn ngữ là đối tượng nghiên cứu bất kể nó ởdạng thức nói miệng hay viết ra (hoặc được ghi âm lại)
Việc nghiên cứu khái niệm văn bản của chúng tôi không nhằm tìm hiểulịch sử vấn đề mà nhằm xác định, lựa chọn một cách hiểu về văn bản với tưcách là đối tượng nghiên cứu để có thể phân tích, miêu tả một thuộc tính nhỏtrong bản thể của đối tượng đó: một phép liên kết câu trong văn bản tiếngViệt Và chúng tôi nhận thấy khái niệm văn bản (cùng các vấn đề lý thuyếtliên quan) của Halliday & Hasan qua sự giới thiệu, áp dụng vào tiếng Việt củaDiệp Quang Ban là chỗ dựa chắc chắn, thuận tiện cho bước đầu khảo sát,nghiên cứu của chúng tôi
1.2 Liên kết văn bản
1.2.1 Khái niệm về tính liên kết
Trang 22Trừ một số ít văn bản chỉ có một từ, một ngữ hay một câu ra, phần lớn cácloại văn bản là tập hợp của nhiều câu Tuy nhiên, văn bản không đơn giản làphép cộng của nhiều câu Halliday& Hasan có quan điểm cho rằng yếu
tố quan trọng quyết định một tập hợp câu có tạo nên hay không tạo nên vănbản tuỳ thuộc vào quan hệ liên kết bên trong mỗi câu và giữa các câu vớinhau, điều này tạo ra “tính văn bản” (text ture) Và tính văn bản được tạo rachủ yếu nhờ quan hệ liên kết giữa các câu
Liên kết là một hiện tượng rất dễ nhận biết, đó là thứ quan hệ nghĩa giữahai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu theo kiểu giải thích nghĩa cho nhau.Nói chi tiết hơn, liên kết là thứ quan hệ giữa hai yếu tố ngôn ngữ mà muốnhiểu nghĩa cụ thể của yếu tốt này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia vàtrên cơ sở đó hai câu chứa chúng mới liên kết được với nhau
Halliday& Hasan đã đưa ra một hệ thống các loại hình quan hệ liênkết được thiết lập một cách hình thức trong văn bản, cung cấp các “sợi dây”nối kết, ràng buộc các câu lại với nhau Đó là các quan hệ tiếp nối, thay thế,qui chiếu, tỉnh lược và quan hệ từ vựng; tương ứng với các quan hệ đó là các phương thức liên kết
1 Phép nối (conjunctinon; chỉ ra tính liên tục) Ngữ pháp và
ngữ pháp-
từ vựng
2 Phép quy chiếu (reference; tạo nối kết giữa các yếu tố)
3 Phép tỉnh lược và phép thế (ellipsis & substitution; chỉ ra
tính liên tục)
4 Phép liên kết từ vựng (lexical; lựa chọn các từ ngữ) gồm
ba phép nhỏ:
- Lặp từ ngữ (repetition)
- Dùng từ ngữ đồng nghĩa (synonymy), gần nghĩa (như từ ngữ
thượng danh- superordinates, từ ngữ trong quan hệ cấp
loại-hyponymy) và từ ngữ trái nghĩa (antonymy)
Từ vựng
Trang 23- Phối hợp từ ngữ
(Nguồn: [4, tr 352])Tiếp thu quan niệm về liên kết của Halliday & Hasan vào nghiên cứu liênkết trong tiếng Việt, tác giả Diệp Quang Ban định nghĩa: “Liên kết, xét tổngthể, là một bộ (tập hợp) các hệ thống ngữ pháp từ vựng phát triển một cáchchuyên biệt thành một nguồn lực có thể vượt qua các biên giới của câu, giúpcho các câu trở thành một chỉnh thể Liên kết, xét cụ thể, là kiểu quan hệnghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thểcủa yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó haicâu (mệnh đề) chứa chúng liên kết được với nhau Các kiểu quan hệ nghĩanày làm thành những cấu hình nghĩa của liên kết, hay những khuôn hình tạosinh diễn ngôn” [4, tr 347]
Hai định nghĩa nêu trên được xây dựng dựa vào khả năng vượt quabiên giới câu của sự liên kết, để giúp cho một chuỗi câu trở thành một thểtoàn vẹn, và cụ thể là bằng cách giải thích nghĩa cho nhau giữa hai yếu tốnằm trong hai câu khác nhau, thường là xét hai câu kề cận nhau
Ví dụ: Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta
(Hồ Chí Minh)
Từ đó trong câu thứ hai trên đây là từ có nghĩa chưa cụ thể, muốn
hiểu nghĩa của nó thì phải tìm ở câu trước Nghĩa của toàn bộ câu trước cótác dụng giải thích nghĩa cho từ đó ở câu sau Mối quan hệ giải thích nghĩanày giúp cho câu sau liên kết với câu trước
Hiện tượng liên kết nêu trên không chỉ là quan niệm của Halliday và DiệpQuang Ban mà hầu hết các nhà phân tích văn bản đều có chung quan niệmnhư vậy Họ thường chú trọng vào sự nối kết liền mạch của hai câu kế cậnnhau bằng cách chú ý đi tìm những yếu tố ngôn ngữ (dấu hiệu hình thức) diễnđạt sự liên kết
Trang 24Như vậy, tính liên kết chính là yếu tố quan trọng có tác dụng nối các câuthành một văn bản Trong quá trình nghiên cứu, các nhà ngôn ngữ học tuy cócách nhìn nhận khác nhau về liên kết nhưng đây vẫn là đối tượng được quantâm nghiên cứu nhiều trong văn bản bởi đó chính là hình thức góp phần tườngminh hóa các kiểu quan hệ giữa các phát ngôn Có thể định nghĩa một cáchđơn giản: liên kết văn bản là những dấu hiệu hình thức chỉ ra các kiểu quan hệnghĩa giữa các câu trong văn bản.
Hiện tượng liên kết này cũng gặp trong những khúc đoạn lời nói lớn hơncâu như đoạn văn, chương, phần trong văn bản Tuy nhiên, cả trong nhữngkhúc đoạn đó, về thực chất, đó vẫn là hiện tượng liên kết giữa những câu cóquan hệ nghĩa với nhau thông qua các phương tiện liên kết, chỉ có điều lànhững câu này không nằm trong cùng một đoạn văn Cho nên, trên thực tế,người ta ít bàn đến sự liên kết đoạn văn và sự liên kết trên đoạn văn
1.2.2 Phương tiện liên kết và phương thức liên kết
1.2.2.1 Phương tiện liên kết
Phương tiện liên kết là các yếu tố hình thức cụ thể của ngôn ngữ tham giavào việc tạo ra sự nối kết câu với câu Các phương tiện này là những hệ thốngcon trong hệ thống từ vựng hay ngữ pháp của một ngôn ngữ Cho nên liên kết
là bộ phận trong hệ thống của một ngôn ngữ xác định
Chẳng hạn các từ đây, đấy, đó, thế, vậy, nó, hắn, chúng, họ, chúng nó, làm thành một hệ thống con do chúng có chức năng hồi chỉ, khứ chỉ có tácdụng tạo tính liên kết trong văn bản; các từ vì, nếu, tuy, để, mà, nhưng, là hệthống con các quan hệ từ có chức năng nối kết các từ ngữ, các câu; cả các từđồng nghĩa, trái nghĩa, gần nghĩa, bao nghĩa, v.v cũng là những hệ thống controng hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ và cũng có tác dụng liên kết vănbản theo phép liên kết từ vựng
Liên kết trong văn bản là hiện tượng chung cho nhiều ngôn ngữ nhưng cácphương tiện ngôn ngữ cụ thể dùng cho liên kết có thể khác nhau trong những
Trang 25ngôn ngữ khác nhau Trong tiếng Việt, tham gia vào hệ thống các phương tiệnliên kết văn bản trước hết là các quan hệ từ; các từ ngữ cố định có chức năngnối kết (quán ngữ); các loại “đại từ”: đại từ nhân xưng, các từ xưng hô, đại từthay thế, đại từ chỉ định, xác định (chỉ từ); và nhiều đơn vị từ vựng khác
Sự liên kết có thể diễn ra giữa câu với câu hoặc giữa đoạn văn này vớiđoạn văn khác trong cùng một văn bản Tuy nhiên, về thực chất, sự liên kếtchỉ diễn ra giữa: các câu có liên quan với nhau về nghĩa, và những câu này cóthể đứng gần nhau, hoặc đứng trong những đoạn văn khác nhau hay trongnhững phần văn bản cụ thể lớn hơn Cho nên chúng tôi chỉ xem xét sự liên kếtgiữa câu với câu, mà không bàn đến sự liên kết giữa những cấu tạo ngôn ngữlớn hơn câu Còn sự liên kết giữa các dạng câu đơn (mệnh đề) trong một câughép thực ra cũng là sự liên kết câu với câu, nhưng nó đã được xem xét từphương diện ngữ pháp trong nội bộ câu ghép, nên không cần lặp lại ở đây
1.2.2.2 Phương thức liên kết
Phương thức liên kết (phép liên kết) là cách thức sử dụng các phương tiệnliên kết có đặc tính chung vào việc liên kết câu với câu Các phương tiện liênkết thường khác nhau, những phương tiện thuộc cùng một lớp từ thì có nhữngđặc tính chung của cả lớp như đặc tính thay thế, hồi chỉ của các đại từ: hắn, y,
nó, chúng, đây, đó, thế, vậy; đặc tính nối kết của các quan hệ từ: và, còn,nhưng, vì, nên, nếu
Hoạt động cụ thể một cách có quy luật của từng lớp phương tiện liên kếtlàm thành phương thức liên kết, chẳng hạn việc dùng các quan hệ từ và các từngữ có chức năng tương tự với chúng để liên kết câu được gọi là phép nối;dùng các đại từ để thay thế, hoặc hồi chỉ các yếu tố ngôn ngữ khác trong vănbản, có tác dụng liên kết câu được gọi là phép quy chiếu Trong hoạt động cụthể nói trên, đặc tính của các phương tiện đồng loại trong mỗi phép liên kếtthể hiện thành những cấu hình nghĩa xác định Chẳng hạn phép liên kết bằngcác đại từ thay thế có cấu hình nghĩa “thay thế” giữa từ ngữ được thay thế với
Trang 26từ ngữ thay thế, trên cơ sở đó quan hệ hồi chiếu, khứ chiếu phát huy tác dụng.Phép liên kết nối có các cấu hình nghĩa kiểu bổ trợ, nguyên nhân, điều kiện,v.v chỉ ra tính “tiếp nối” liên tục từ mệnh đề này sang mệnh đề khác, từ câunày sang câu kia.
1.2.3 Phép nối
1.2.3.1 Khái niệm phép nối
Khác với các phép liên kết quy chiếu, thế, tỉnh lược, phép nối không phải làcách để nhắc người đọc phải liên hệ với những sự vật, sự việc, hành động đã được
đề cập ở trước đó mà phép nối là nhằm để báo hiệu các mối quan hệ Những mốiquan hệ này chỉ có thể hiểu được qua việc tham khảo các phần khác của văn bản
Có thể hiểu phép nối như sau: "Phép nối (conjunction) là việc sử dụng tại vị tríđầu câu, hoặc trước vị tố (trước động từ ở vị ngữ) những từ ngữ có khả năng chỉquan hệ để làm bộc lộ kiểu quan hệ giữa hai câu có quan hệ với nhau, và bằngcách đó liên kết hai câu này với nhau." [3, tr 375]
Một số trường hợp các câu trong một văn bản có thể quan hệ với nhau màkhông cần đến mối quan hệ được báo hiệu tường minh của phép nối
Ví dụ: 1 Nga mở cửa Anh ta bước vào nhà.
2 Nga mở cửa Rồi anh ta bước vào nhà.
Việc đứng cạnh nhau của hai câu trong (1) cũng cho ta hiểu mối quan hệ
thuận logic (mở cửa- vào nhà) Quan hệ từ rồi trong (2) không tạo ra quan hệ
thuận logic mà chính mối quan hệ thuận logic đã tự nó giúp ta hiểu được quan
hệ nghĩa của hai câu Từ rồi ở đây chỉ làm rõ thêm việc một hành động đã xảy
ra sau một hành động khác
Phép nối là một trong 5 phương thức liên kết văn bản tiếng Việt và được
sử dụng nhiều trong quá trình tạo lập văn bản Cùng với sự phát triển củangôn ngữ học văn bản hướng vào nghiên cứu các mặt nghĩa, coi liên kết thuộc
về hệ thống ngôn ngữ, phép nối cũng được nghiên cứu theo hướng đi sâu vào
Trang 27phân tích các quan hệ ngữ nghĩa của các phương tiện nối khi chúng đảmnhiệm chức năng liên kết văn bản
Mối liên kết giữa hai phát ngôn chủ yếu là liên kết về mặt ngữ nghĩa Đó làmặt liên kết nội dung Các phương tiện nối là biểu hiện của liên kết hình thức
1.2.3.2 Các phương tiện liên kết của phép nối trong văn bản tiếng Việt
Một trong những hệ thống dấu hiệu xác nhận sự liên kết giữa các câu trongvăn bản là các phương tiện liên kết câu Để văn bản được chính xác và rõ ràngcần sử dụng các phương tiện liên kết vì qua chúng người đọc, người nghehiểu được nội dung của văn bản Phép nối là một trong những phép liên kết cótần số sử dụng cao so với phép tỉnh lược, phép thế, phép đối và phép lặp.Phép nối sử dụng các phương tiện nối kết sau đây :
- Quan hệ từ, chỉ quan hệ bình đẳng như và, vả lại, rồi, còn, nhưng,hay, chỉ quan hệ phụ thuộc như vì, (cho) nên, nếu, tuy, để và những từ cógiá trị tương đương Những quan hệ do những từ này diễn đạt là những quan
hệ logic giữa hai bộ phận do chúng nối kết lại
- Quan hệ từ bình đẳng,
- Quan hệ từ phụ thuộc,
- Tổ hợp chứa quan hệ từ và đại từ thay thế,
- Những tổ hợp từ ngữ khác có ý nghĩa quan hệ và tác dụng liên kết
1.2.3.3 Các kiểu quan hệ được tạo ra bằng phương tiện liên kết nối trong tiếng Việt
Trang 28Trật tự sắp xếp của các yếu tố ngôn ngữ (ở dạng ngôn ngữ nói hay ngônngữ viết) đều tuân theo các quy luật hoạt động chặt chẽ của trật tự tuyến tính,điều này hoàn toàn đúng như lời phát biểu của F de Saussure trong [51, tr.126-127]:
- "Vốn là vật nghe được, cái biểu hiện diễn ra trong thời gian", " nhữngyếu tố của nó hiện ra lần lượt cái này tiếp theo cái kia"
- "Nguyên lí này là hiển nhiên ", " đó là một nguyên lí cơ bản dẫn tới
vô số những hệ quả" "Toàn bộ cơ chế của ngôn ngữ đều do nó chi phối".Trong văn bản khi phản ánh một hoặc nhiều đối tượng, nhiều quan hệ trongcùng một lúc các câu sẽ tự nó phải xuất hiện theo một trình tự nhất định Đểgiúp các câu diễn đạt được chặt chẽ logic người ta đã sử dụng những thủthuật, những phương thức khác nhau Trong đó phương thức nối là một trongnhững phương thức được sử dụng nhiều và đạt hiệu quả cao Có được điềunày là nhờ sự đa dạng của các phương tiện nối và đặc biệt là các kiểu quan hệ thường gặp giữa các câu liên kết với nhau bằng phép nối
Theo Diệp Quang Ban [1, tr 251] có 6 kiểu quan hệ thường gặp giữa các câu liên kết với nhau bằng phép nối là:
- Quan hệ điều kiện,
- Quan hệ tương phản (bao gồm cả quan hệ nhượng bộ)
Theo Phạm Văn Tình [66, tr 46], từ nối được chia thành các phạm trùnhư sau:
- Hợp- tuyển: gồm các từ và cụm từ nối: và, hay (là), hoặc (là),…
Trang 29- Tương phản: nhưng, song, trái lại, ngược lại, tuy vậy, tuy nhiên, mặc dù,
- Minh họa, giới thiệu: ví dụ, chẳng hạn, thứ nhất là, thứ hai là, như sau…
- Giả thiết, nguyên nhân: nếu, bởi vì, miễn là,…
- Kết quả, tổng kết: vì vậy, cho nên, vậy nên, do đó, rốt cuộc, nhìn chung,
để cho, để rồi, tóm lại, nói chung,…
1.2.4 Các từ nối thuộc phạm trù “giải thích- minh họa”
Trong giao tiếp nói năng hay trình bày lập luận, người ta thường diễn đạt
theo hai xu hướng: diễn dịch hoặc quy nạp Quy nạp là lập luận được trình
bày đi từ các ý chi tiết, cụ thể nhằm hướng tới ý khái quát nằm ở cuối đoạn.Các câu trên được trình bày bằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút
ra nhận xét, đánh giá chung Câu chủ đề trong chuỗi phát ngôn quy nạp đặt ởcuối đoạn Trong khi đó diễn dịch lại là hướng lập luận mà trong đó câu chủ
đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai ý tưởngchủ đề, mang ý nghĩa minh hoạ, cụ thể Các câu triển khai được thực hiệnbằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèmnhững nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết
Phạm trù “giải thích- minh họa” thuộc hướng diễn đạt diễn dịch tức là đi
từ nguyên lí chung đến những kết luận cụ thể theo những luận chứng, luận cứ.Trong các phát ngôn đó vai trò của các từ nối được khẳng định Các từ/ cụm
Trang 30từ nối chính là những dấu hiệu về mặt hình thức giúp thể hiện một cách tườngmình về mặt nội dung Mục tiêu của chúng tôi trong luận văn này là bước đầunhận diện chính xác các dấu hiệu hình thức, từ đó đi sâu phân tích sự liên kết
về mặt nội dung của các phát ngôn cũng như trong toàn văn bản
Giải thích (động từ) có ý nghĩa làm cho hiểu rõ hơn; còn minh họa (độngtừ) là làm rõ thêm, sinh động thêm nội dung của tác phẩm văn học hoặc củabản trình bày bằng những hình thức dễ thấy, dễ hiểu và dễ cảm
Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu các từ nối, cụm từ nối thuộc
phạm trù “giải thích- minh họa” như: nghĩa là, tức là, nói cách khác, nói khác
đi (thì), ví dụ, chẳng hạn, cụ thể (là),…
1.3 Ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học
F.de Saussure cho rằng, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt “Tín hiệungôn ngữ liên kết không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm vớimột hình ảnh âm thanh”; “Hai yếu tố này gắn bó khăng khít với nhau và đã có cáinày là có cái kia” [13, tr 30] Như vậy, F de Sausure đã xác đinh tính hiệu ngônngữ một cách riêng rẽ và chỉ ra hai mặt quy định lẫn nhau trong ngôn ngữ là cáibiểu hiện và cái được biểu hiện Cùng với thời gian, hướng nghiên cứu tổng hợpngôn ngữ trên ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng đã ra đời Đây là sự
bổ sung kịp thời và đầy đủ cho những học thuyết trước đó để mang đến cho ngônngữ học một hướng nghiên cứu toàn diện hơn
Ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học trong ngôn ngữ học được xâydựng trên nền tảng lý thuyết ba bình diện của tín hiệu do Charles SandersPeirce và Charles William Morris khởi xướng Họ cho rằng, quá trình tín hiệuhóa có chung một cấu trúc gồm ba phần: phương tiện tín hiệu (cái biểu đạt) lànhững sự vật hoặc hiện tượng có tư cách tín hiệu, cái được biểu đạt là cáiđược tín hiệu chỉ ra hoặc biểu thị; người tạo lập hoặc người sử dụng là ngườidùng tín hiệu [13, tr 18]
Trang 31Tín hiệu học đã phân biệt 3 loại quan hệ là kết học (quan hệ giữa tín hiệu với tínhiệu), nghĩa học (quan hệ của tín hiệu với cái được biểu đạt) và dụng học (quan hệcủa tín hiệu với người dùng) Ngôn ngữ cũng là một dạng tín hiệu nên ngôn ngữcũng có thể xem xét ở cả ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học
1.3.1 Bình diện kết học
Kết học (syntax, syntaxe) là phương diện liên kết tín hiệu với tín hiệu đểtạo một thông điệp
Theo Peirce, trong chiều kết học, tín hiệu “được xem xét trong bản thân
nó, trong qan hệ với chính nó, bởi vì tín hiệu tự nó chỉ đơn giản là một đặctính nào đó.” [13 tr 41]
Theo Morris, kết học “là chiều của những quan hệ hình thức giữa các tín hiệuvới nhau”, “Tất cả các tín hiệu đều nằm trong quan hệ với những tín hiệu khác”
Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Nói vắn tắt, kết học là lĩnh vực nghiên cứu quan
hệ giữa tín hiệu với tín hiệu trong thông điệp” [16, tr 10]
Bình diện kết học (bình diện ngữ pháp) là bình diện nghiên cứu nhữngkhái niệm được xác định bằng các tiêu chuẩn hình thức thuần túy Đó lànhững cách thức và quy tắc kết hợp các từ ngữ để tạo nên cụm từ (cú phápcụm từ) và các thành phần câu, các đặc điểm và chức năng của thành phầncâu, các kiểu cấu trúc câu (cú pháp câu) với mô hình cấu trúc của chúng Các vấn đề nghiên cứu thuộc bình diện này là:
- Từ pháp học: nghiên cứu từ và các đơn vị tương đương (ngữ cố định)
- Cú pháp học: nghiên cứu cấu tạo ngữ pháp của các loại cụm từ, đặc biệt
là cụm từ chính phụ
- Cú pháp câu: nghiên cứu đặc điểm chức năng của các thành phần câu(như chủ ngữ, vị ngữ, các thành phần phụ của câu), cấu tạo của các kiểu câutheo kết cấu chủ- vị và các kiểu câu theo mục đích nói
Xem xét đặc điểm kết học của nhóm từ ngữ nối “giải thích- minh họa” làxem xét sự kết hợp của các yếu tố trong cấu trúc của câu có chứa cụm từ nối
Trang 32và sự kết hợp bên ngoài của các từ nối với những đơn vị ngôn ngữ khác khitham gia vào cấu tạo câu Vấn đè này sẽ được làm rõ ở chương 2 của luậnvăn
1.3.2 Bình diện nghĩa học
Theo Morris, “nghĩa học là lĩnh vực của những quan hệ giữa tín hiệu vớicái được biểu thị và cái được sở chỉ.”[13, tr 53] Quan điểm này được ĐỗHữu Châu cụ thể hóa: Nghĩa học là phương diện của những quan hệ giữa tínhiệu với hiện thực được nói tới trong thông điệp, nói đúng là giữa tín hiệu vớivật được quy chiếu trong thông điệp Đây là lĩnh vực của các chức năng miêu
tả, của những thông tin miêu tả, thông tin sự vật [14, tr 10]
Chúng tôi đồng tình với quan điểm của Đỗ Hữu Châu và xem đây là cơ sở
để tiếp cận đặc điểm nghĩa học của nhóm từ nối thuộc phạm trù “giải minh họa” ở chương 3 của luận văn
thích-Bình diện nghĩa học nghiên cứu nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái và nghĩabiểu trưng
1.3.2.1 Nghĩa miêu tả (nghĩa biểu hiện)
Nghĩa miêu tả (nghĩa sự vật) phản ánh sự việc, hiện tượng, hoạt động,trạng thái, tính chất,… ngoài thực tế khách quan được đưa vào ngôn ngữ Nếu
sự vật tồn tại trong thế giới ở những dạng khác nhau cơ bản là vật chất thì ýnghĩa miêu tả của từ thuộc phạm trù tinh thần của ngôn ngữ
“Nghĩa miêu tả thường được phân tích theo hướng cấu trúc vị tố- tham thể
Vị tố- tham thể là khái niệm ngữ pháp chức năng do L Tesnie đưa ra, dùng đểphân tích nghĩa miêu tả của câu Trong đó, vị tố trong cấu trúc vị tố- tham thể
là phương tiện ngôn ngữ (thường là động từ, tính từ, quan hệ từ) dùng để biểuthị đặc trưng quan hệ của sự việc được phản ánh trong câu, có quan hệ chỉ phốivới các tham thể có liên quan và thuộc phạn trù chức năng- nghĩa” [69, tr 176]
1.3.2.2 Nghĩa tình thái
Trang 33“Nghĩa tình thái là một bộ phận nghĩa quan trọng của câu- phát ngôn.Nghĩa tình tháo là một phần nghĩa quan trọng của câu thể hiện thái độ hayquan hệ giữa người nói với người nghe, giữa người nói với hiện thưc (sự tình)được phản ánh trong câu, giữa nội dung được phản ánh trong câu với hiệnthực ngoài thực tế khách quan.” [69, tr 193]
Nghĩa tình thái là thành phần nghĩa quan trọng nhưng rất phức tạp Phứctạp bởi nghĩa tình thái rất rộng và rất tinh tế, không có phương tiện cụ thể nhưnghĩa biểu hiện nên rất khó nắm bắt Nghĩa tình thái là thái độ hay quan hệgiữa người nói với người nghe; thái độ hay quan hệ giữa người nói với nộidung sự tình được phản ánh: “Nghĩa tình thái là phần nghĩa có tác dụng làmcho sự tình mà câu biểu hiện hướng đến mục đích, đến những hành động ngônngữ nhất định, hoặc thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với sựtình được đề cập đến hay đối với người nghe”[70, tr 31]
Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt, NxbGD-2000 đã đưa ra ýkiến về tình thái của phát ngôn
Tình thái của phát ngôn là chỉ quan hệ, thái độ, cách đánh giá của ngườinói đối với cái được nói đến trong câu (tức là đối với phần miêu tả của câu).Tình thái phát ngôn gồm có:
- Tình thái khách quan là tình thái có thể kiểm tra được tính đúng sai Tình tháikhách quan được phân biệt thành tình thái khẳng định và tình thái phủ định
- Tình thái chủ quan chỉ thái độ, cách đánh giá của người đối với vật, việc,hiện tượng được nói đến Tình thái chủ quan là tình thái không kiểm tra đượctính đúng sai
1.3.2.3 Nghĩa biểu trưng
Nghĩa biểu trưng là toàn bộ những ý nghĩa, khái niệm được khái quát từhình ảnh, sự vật, sự việc cụ thể được miêu tả và nhắc tới
Theo “Từ điển tiếng Việt”, biểu trưng có nghĩa là “biểu hiện một cáchtượng trưng và tiêu biểu nhất” [53, tr 80] Biểu trưng là cách người ta lấy một
Trang 34sự vật cụ thể hoặc một tính chất thích hợp để gợi ra, liên tưởng đến một cáitrừu tượng nào đó Quan hệ liên tưởng là cơ sở để tạo ra nghĩa biểu trưng Đó
có thể là liên tưởng tương đồng (ẩn dụ) hay liên tưởng tương cận (hoán dụ).Nghĩa biểu trưng mang tính ước lệ, tính quy ước và biểu hiện các hiện tượngkhái quát, trừu tượng Nghĩa biểu trưng được tạo ra trên cơ sở cái được quychiếu là tính có lí do Nó có thể được hình thành dựa trên những đặc điểm tồntại khách quan ở đối tượng, hoặc có thể dựa trên sự gán ghép theo chủ quancủa con người
1.3.3 Bình diện dụng học
Dụng học (pragmaitcs, pragmatique) nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệuvới người dùng, giữa tín hiệu với việc sử dụng tín hiệu trong các tình huống
cụ thể
Theo Pierce, trong chiều dụng học, “tín hiệu được xem xét theo các quan
hệ giữa nó và các cái lý giải” [13, tr 42]
Morris cho rằng: Dụng học “nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu và người lýgiải chúng” [13, tr 56]
Như vậy có thể hiểu rằng, trong ngôn ngữ học, dụng học nghiên cứu cách
sử dụng ngôn ngữ trong mối quan hệ với ngữ cảnh xã hôi, đặc biệt là ý nghĩacủa phát ngôn được xuất hiện trong các tình huống cụ thể
Do bản chất của ngữ dụng là sự tổng hợp của các lĩnh vực ngữ âm- âm vịhọc, cú pháp học, ngữ nghĩa học vì thế phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học rấtrộng Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào vấn đề cơ bản củangữ dụng học có liên quan đến nhóm từ ngữ nối phạm trù “giải thích- minh họa”.Như vậy, ba bình diện của ngôn ngữ học có mối quan hệ khăng khít, bềnchặt với nhau Hình thức được dùng để biểu thị nội dung ý nghĩa của các đơn
vị ngôn ngữ, muốn hiểu đúng nghĩa của đơn vị ngôn ngữ phải đặt chúng vàongữ cảnh sử dụng
1.4 Vài nét về tác gia Hồ Chí Minh
Trang 35Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho, tạilàng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyềnthống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị của thực dân phong kiến.Hoàn cảnh xã hội và sự giáo dục của gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đếnNgười ngay từ thời niên thiếu.
Với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, sự nhạy bén vềchính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của cácphong trào yêu nước lúc bấy giờ Tháng 6 năm 1911, Người đã quyết tâm ra
đi tìm con đường để cứu dân, cứu nước Suốt 30 năm hoạt động, Người đã điđến nước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ Ngườihòa mình với những phong trào của công nhân và nhân dân các dân tộc thuộcđịa, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, hoạt động cách mạng và nghiêncứu các học thuyết cách mạng Năm 1917, thắng lợi của Cách mạng thángMười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản đã đưa Người đến với chủ nghĩaMác - Lênin Từ đây, Người đã nhận rõ đó là con đường duy nhất đúng đắn
để giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp
Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc đời trong sáng cao đẹp của mộtngười cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗilạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình cho Tổ quốc, chonhân dân, vì lý tưởng cộng sản, vì độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức, vìhòa bình và công lý trên thế giới
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhận mình là nhà văn, nhà thơ, màchỉ là người bạn của văn nghệ, người yêu văn nghệ Nhưng rồi chính hoàncảnh thôi thúc, nhiệm vụ cách mạng yêu cầu, môi trường xã hội và thiênnhiên gợi cảm, cộng với tài năng nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ chan chứacảm xúc, Người đã sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị Hồ Chí Minh xem vănnghệ là hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp
Trang 36Cách mạng; nhà văn cũng phải ở giữa cuộc đời, góp phần vào nhiệm vụ đấutranh và phát triển xã hội
Người đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức Văn chương trong thờiđại Cách mạng phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ Ngườinêu kinh nghiệm chung cho hoạt động báo chí và văn chương: “Viết cho ai?”,
“Viết để làm gì?”, “Viết cái gì?” và “Cách viết thế nào?” Người chú ý đếnquan hệ giữa phổ cập và nâng cao trong văn nghệ Phổ cập không có nghĩa là
hạ thấp phẩm chất của văn chương, mà phải tiếp tục nâng cao phẩm chất ấy,qua đó nâng dần trình độ thưởng thức nghệ thuật, trình độ thẩm mĩ của nhândân Các khía cạnh trên liên quan đến nhau trong ý thức và trách nhiệm củangười cầm bút
Văn chương không phải là sự nghiệp chính của Người Nhưng trong quátrình hoạt động cách mạng Người đã sử dụng văn chương như một phươngtiện có hiệu quả Sự nghiệp văn chương của Hồ Chí Minh được thể hiện trêncác lĩnh vực:
+ Những năm hai mươi của thế kỉ XX hàng loạt những bài báo đăng trên
tờ báo “ Người cùng khổ”, “Nhân đạo”, “Đời sống thợ thuyền” viết bằngtiếng Pháp và kí tên Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bộ mặt tàn ác của bọn thựcdân đối với nhân dân các nước thuộc địa Điển hình cho loại văn chính luậnnày là “Bản án chế độ thực dân Pháp”
Trang 37+ Bản án chế độ thực dân Pháp đã vạch rõ: Ép buộc hàng vạn dân bản xứđổi máu vì “mẫu quốc” trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất; Bóc lột, đầyđoạ họ trong rượu cồn, thuốc phiện; Tổ chức bộ máy cai trị đàn áp, bất chấpcông lí, vi phạm nhân quyền, đánh, giết người vô tội vạ Tác phẩm hấp dẫnngười đọc ở cứ liệu, sự việc, sự kiện chân thật và tình cảm sâu sắc mãnh liệt
và nghệ thuật châm biếm sắc sảo của Người
+ “Tuyên ngôn độc lập”; “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Lời kêugọi chống Mĩ cứu nước”, ra đời Đó là lời hịch truyền đi vang vọng khắp nonsông làm rung động trái tim người Việt Nam yêu nước Những áng văn chínhluận của Người viết ra không chỉ bằng trí tuệ sáng suốt, sắc sảo mà bằng cảtấm lòng yêu ghét phân minh, trái tim vĩ đại được biểu hiện bằng ngôn ngữchặt chẽ, súc tích
b Truyện và kí:
- Đây là những truyện Người viết trong thời gian hoạt động ở Pháp, tậphợp lại thành tập truyện và kí Tất cả đều được viết bằng tiếng Pháp Đó lànhững truyện Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con ngườibiết mùi hun khói (1922), Đồng tâm nhất trí (1922), Vi Hành (1923), Nhữngtrò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925)
- Nội dung của truyện và kí đều tố cáo tội ác dã man, bản chất tàn bạo củabọn thực dân và tay sai đối với các nước thuộc địa Đồng thời đề cao nhữngtẩm gương yêu nước cách mạng
- Bút pháp nghệ thuật hiện đại, tạo nên những tình huống độc đáo, hìnhtượng sinh động, nghệ thuật kể chuyện linh hoạt, trí tưởng tượng phong phú,vốn văn hoá sâu rộng, trí tuệ sâu sắc, trái tim tràng đầy nhiệt tình yêu nước vàcách mạng
- Ngoài tập truyện và kí, Người còn viết: Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa điđường vừa kể chuyện (1963)
c Thơ ca:
Trang 38- Nhật kí trong tù (1942 - 1943) bao gồm 134 bài thơ phần lớn là nhữngbài từ tuyệt, viết bằng chữ Hán, Người làm chủ yếu ở thời gian 4 tháng đầu.Tập nhật kí bằng thơ đã phản ánh chính xác những điều mắt thấy tai nghe củachế độ nhà tù Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch Tập thơ thể hiện sựphê phán sâu sắc
Song điều đáng lưu ý ở tập thơ Nhật kí trong tù là tính chất hướng nội Đó
là bức chân dung tự hoạ về con người tinh thần của Người Một con người cótâm hồn lớn, trí tuệ lớn Con người ấy luôn khao khát tự do hướng về tổ quốc,nhạy cảm trước cái đẹp của thiên nhiên, xúc động trước đau khổ của conngười Đồng thời nhìn thẳng vào mâu thuẫn xã hội thối nát tạo ra tiếng cườiđầy trí tuệ Bằng sự kết hợp giữa bút pháp hiện đại và cổ điển, giữa trong sánggiản dị và thâm trầm sâu sắc, Nhật kí trong tù là tập thơ sâu sắc về tư tưởngđộc đáo và đa dạng về bút pháp Đó thực sự là đỉnh cao thơ ca Hồ Chí Minh
Cách sử dụng từ nối mang ý nghĩa giải thích- minh họa trong những hoàncảnh cụ thể sẽ tạo nên những cấu trúc đặc thù để tạo thành mối liên hệ ngữ nghĩacủa các phát ngôn và tạo nên những hiệu quả nhất định về mặt thông tin
Xuất phát từ ba bình diện của tín hiệu học, lý thuyết ba bình diện ngônngữ học là một hướng nghiên cứu tổng hợp, tuy không còn mới mẻ songhướng nghiên cứu này sẽ giúp có cái nhìn khái quát hơn không chỉ về khảnăng kết hợp cấu tạo bên trong của các đơn vị ngôn ngữ mà còn thấy đượckhả năng kết hợp bên ngoài của chúng với các đơn vị ngôn ngữ khác và khám
Trang 39phá được ý nghĩa của chúng Từ đó sẽ thấy được sự vận động của các cụm từnối về cấu tạo và ý nghĩa khi sử dụng
Như chúng ta đã biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà cách mạnglỗi lạc mà sự nghiệp văn học của Người còn mang một tầm vóc lớn lao,phong phú, đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách sáng tạo Đặc biệtnhững áng văn chính luận của Người rất giàu sức sống thực tế, sắc sảo vềchình kiến, có giá trị lập luận cao được viết ra bằng chính tài năng và tâmhuyết Để thể hiện thành công các nội dung muốn chuyển tải đến người đọc,người nghe, Hồ Chủ tịch đã sử dụng nhiều thủ pháp trong quá trình tạo lậpvăn bản và một trong số đó là việc sử dụng hợp lý một cách có chọn lọc các
từ ngữ nối thuộc phạm trù “giải thích- minh họa” Càng đi sâu nghiên cứu cáctác phẩm của Người càng thấy được sự phong phú của tiếng Việt qua nhiềuhình thức thể hiện, đặc biệt là cách sử dụng từ ngữ nối trong các tác phẩm cụthể sẽ mang lại những hiệu ứng riêng, mang đậm phong cách tác giả
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM KẾT HỌC CỦA NHÓM TỪ NỐI THUỘC PHẠM TRÙ “GIẢI THÍCH- MINH HỌA”
TRONG TÁC PHẨM “HỒ CHÍ MINH TUYỂN TẬP”
2.1 Dẫn nhập
Từ nối là những phương tiện chỉ dẫn phép nối Từ nối được nghiên cứu ởgóc độ logic- ngữ nghĩa, góc độ dụng học và góc độ liên kết văn bản Có thểgọi từ nối bằng nhiều tên gọi khác nhau, khi thì là hư từ, khi là phụ từ, hệ từhoặc còn gọi là liên từ
Vai trò của các từ nối là dùng để nối các mệnh đề trong câu ghép hoặc sửdụng để liên kết các câu với nhau trong văn bản Đồng thời từ nối còn dùng
để làm rõ mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu, làm tăng tính mạch lạc chovăn bản
Từ nối có vai trò quan trọng trong việc chi phối trật tự các câu trong vănbản Nó góp phần tổ chức, sắp xếp văn bản theo một trình tự logic nhất định.Giúp làm tường minh hóa mối quan hệ giữa các câu và đồng thời chi phối vịtrí của các câu Đây chính là mối quan hệ giữa chủ ngôn và kết ngôn Kếtngôn là phát ngôn có chứa từ nối và nó luôn đứng sau chủ ngôn
Qua khảo sát tác phẩm Hồ Chí Minh tuyển tập, chúng tôi nhận thấy rằng tác
giả sử dụng các từ ngữ thuộc nhóm từ nối phạm trù “giải thích- minh họa” khánhiều Việc sử dụng nhóm từ giúp cho nghĩa của các câu rõ ràng hơn, tườngminh hơn
Sau đây là bảng thống kê các từ ngữ nối theo phạm trù “giải thích- minhhọa”: