Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường THCS huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường THCS huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường THCS huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường THCS huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường THCS huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường THCS huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường THCS huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường THCS huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THANH TÙNG
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu luận văn “Quản lý hoạt động giáo dục
giới tính cho HS trường trung học cơ sở huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội” đến nay luận văn đã hoàn thành Em xin chân thành cảm ơn các thầy
giáo, cô giáo và Hội đồng khoa học Học viện Quản lý Giáo dục đã tham gia giảng dạy, tư vấn, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến Sỹ Nguyễn Thanh Tùng đã tận tình chỉ bảo, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ tình cảm sâu sắc tới gia đình và người thân đã ủng hộ, động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng trong học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn, song không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy, cô và các bạn học viên góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 07 năm 2016
Tác giả
Phạm Thị Kiên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Phạm Thị Kiên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục 13
1.2.2 Giới và giới tính 15
1.2.3 Giáo dục giới tính 19
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục giới tính 24
1.3 Quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở các trường trung học cơ sở 25
1.3.1 Nâng cao nhận thức của giáo viên và học sinh về giáo dục giới tính trong nhà trường 26
1.3.2 Quản lý việc thực hiện chương trình theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo 27
1.3.3 Quản lý việc giảng dạy và công tác tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính 27
1.3.4 Quản lý về cơ sở vật chất và tài liệu giảng dạy giáo dục giới tính 29
1.3.5 Quản lý việc phối hợp Nhà trường – Gia đình – Xã hội 29
1.4 Các yếu tố tác động đến việc quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trong trường trung học cơ sơ 31
1.4.1 Về mặt tâm sinh lý học sinh 31
Trang 51.4.2 Về phía gia đình 31
1.4.3 Về phía nhà trường 31
1.4.4 Trình độ năng lực của cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường 32
1.4.5 Về phía xã hội 32
1.4.6 Yếu tố tác động văn hóa truyền thống 33
Kết luận chương 1 36
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 37
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 37
2.1.1 Vị trí địa lí, đặc điểm dân cư 37
2.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế và xã hội huyện Mỹ Đức 37
2.1.3 Đặc điểm tình hình giáo dục 38
2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho HS các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Đức 41
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về giáo dục giới tính trong nhà trường 41
2.2.2 Nhận thức của học sinh về giáo dục giới tính trong nhà trường 47
2.2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính 54
2.3 Nhận xét chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Đức 74
2.3.1 Ưu điểm 75
2.3.2 Hạn chế 76
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 77
Kết luận chương 2 79
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 80
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 80
Trang 63.1.1 Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn 80
3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi 80
3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính phù hợp 80
3.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ 81
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mỹ Đức 81
3.2.1 Tăng cường nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên nhà trường về hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh 81
3.2.2 Quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo dục giới tính cho cán bộ, giáo viên 83
3.2.3 Chỉ đạo tổ chức chuyên môn tích hợp nội dung giáo dục giới tính thông qua dạy học các môn học chiếm ưu thế 84
3.2.4 Tăng cường tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có tích hợp nội dung giáo dục giới tính 86
3.2.5 Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh 88
3.2.6 Tăng cường kinh phí và cơ sở vật chất cho công tác giáo dục giới tính 92
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 94
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 95
Kết luận chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
1 Kết luận 102
2 Khuyến nghị 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 7TNCS HCM: Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
TNTP HCM: Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô mạng lưới trường, lớp, HS cấp THCS 38
Bảng 2.2 Kết quả giáo dục đạo đức 5 năm qua 39
Bảng 2.3 Kết quả chất lượng giáo dục các môn văn hóa 5 năm qua 40
Bảng 2.4 Nhận thức của GV về các hình thức giáo dục giới tính 41
Bảng 2.5 Nhận thức của GV về tầm quan trọng các nội dung giáo dục giới tính 43
Bảng 2.6 Nhận thức của GV về khối lớp được giáo dục giới tính 44
Bảng 2.7 Nhận thức của GV về số tiết thực hiện giáo dục giới tính hàng tháng 44
Bảng 2.8 Nhận thức của GV về nội dung chương trình giáo dục giới tính 45
Bảng 2.9 Ý kiến của GV về thời gian giáo dục giới tính 46
Bảng 2.10 Nhận thức của GV về trách nhiệm giáo dục giới tính cho HS 46
Bảng 2.11 Ý kiến đối với việc học tập kiến thức về giáo dục giới tính của HS 47
Bảng 2.12 Kiến thức chung của HS về giới tính 48
Bảng 2.13 Kiến thức HS về giáo dục giới tính (Kết quả khảo sát 250 HS) 49
Bảng 2.14 Hiểu biết của HS về một số mục tiêu giáo dục giới tính 51
Bảng 2.15 Hiểu biết chung của HS về đặc điểm sinh lí giới tính| của bạn khác giới 52
Bảng 2.16 Hiểu biết của HS về nguồn lây nhiễm của HIV 52
Bảng 2.17 Thái độ đối với việc học tập kiến thức về giáo dục giới tính của HS 53
Bảng 2.18 Khảo sát việc thực hiện chương trình môn GDCD (các bài có nội dung giáo dục giới tính) 54
Bảng 2.19 Khảo sát việc thực hiện chương trình môn Sinh khối 8,9 (đối với GV môn Sinh khối 8,9: các bài có nội dung giáo dục giới tính) 55
Bảng 2.20 Thực trạng lập kế hoạch quản lí giáo dục giới tính cho HS 57
Bảng 2.21 Tình hình phân công GV giảng dạy giáo dục giới tính 58
Bảng 2.22 Khảo sát các biện pháp quản lý việc chuẩn bị bài lên lớp và quản lý giờ lên lớp của GV 59
Trang 9Bảng 2.23 Khảo sát về việc tổ chức cho GV tham gia tập huấn về vấn đề
giáo dục giới tính 60 Bảng 2.24 Khảo sát các hoạt động ngoại khóa về giáo dục giới tính đã được
tổ chức ở trường 61 Bảng 2.25 Khảo sát GV về các hình thức giáo dục giới tính trong hoạt động
chính khóa 62 Bảng 2.26 Khảo sát GV về các hình thức tổ chức thông qua hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp 64 Bảng 2.27 Khảo sát CSVC hiện có của các trường phục vụ công tác giáo dục
giới tính 66 Bảng 2.28 Khảo sát tình hình tài liệu giảng dạy giáo dục giới tính 67 Bảng 2.29 Khảo sát sự tư vấn của nhà trường và sự trao đổi của PHHS về
việc giáo dục giới tính HS 68 Bảng 2.30 Khảo sát về sự quan tâm của PHHS về tuổi dậy thì và việc giáo
dục giới tính cho con em 70 Bảng 2.31 Khảo sát nguồn cung cấp kiến thức giáo dục giới tính cho PHHS 72 Bảng 2.32 Khảo sát thái độ của PHHS khi con em có thắc mắc về giới tính 73 Bảng 2.33 Thực trạng công tác phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục
giới tính 73
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Kết quả đánh giá mức độ cần thiết các biện pháp đề xuất 97 Biểu đồ 3.2 Kết quả đánh giá mức độ khả thi các biện pháp đề xuất 99
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, hiện tượng bùng nổ thông tin, các phương tiện truyền thông các hình ảnh về sex, bạo lực, ma túy… được chào bán, quảng bá công khai, tràn lan, khó quản lý, kiểm soát là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ và nhận thức của tuổi vị thành niên, trong khi đó độ tuổi THCS là giai đoạn phát triển quan trọng của cuộc đời, chưa là người lớn song cũng không còn là trẻ con nên các em vẫn bỡ ngỡ trước các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, tò mò và ham muốn khám phá, nhưng kiến thức thì vô hạn, thông tin thì
đa dạng, hàng ngày các em phải tiếp xúc với nhiều môi trường, làm nhiều công việc khác nhau, trong đó có cả điều tốt xen lẫn điều xấu, vì vậy cần trang bị cho các em những hành trang vững chắc để bước vào đời vững vàng, tránh những hậu quả khôn lường do sự thiếu hiểu biết, không đi lầm đường, lạc lối ảnh hướng đến tương lai Để hoàn thiện chân, thiện, mĩ, phát triển nhân cách cho HS THCS một cách toàn diện thì giáo dục giới tính đóng một vai trò
vô cùng quan trọng
Hiện nay đã có chương trình lồng ghép nội dung giáo dục giới tính vào một số môn học ở trường phổ thông, đặc biệt ở cấp lớp THCS, vấn đề giới tính và giáo dục giới tính đã được Bộ GDĐT chỉ đạo thực hiện Tuy nhiên hiệu quả đến đâu, các bước tiến hành thế nào, hoạt động gồm những gì còn tùy thuộc vào sự quan tâm của lãnh đạo từng trường Cho đến hiện nay chưa
có một nghiên cứu mang tính tổng kết hoạt động này ở cấp THCS, gần như mới chỉ dừng lại ở mức thử nghiệm điều này dẫn đến nhận thức về các vấn đề này ở các em tại các trường học không sâu sắc, và đặc biệt sẽ thiệt thòi cho các em ở một số trường chưa áp dụng chương trình giáo dục giới tính
Xã hội ngày càng phát triển, HS được tiếp cận với các phương tiện thông tin hiện đại, những thông tin, bài viết, bài luận và phim ảnh đề cập hoặc có liên quan đến các vấn đề giới tính có thể được tìm thấy một cách dễ dàng tại
Trang 11các nhà sách, trên internet hoặc chương trình truyền hình Tuy nhiên công tác giáo dục giới tính lại còn khá mới mẻ và lúng túng trong các nhà trường, đặc biệt trường THCS
Giáo dục giới tính chỉ được dạy tích hợp trong một số bài của môn sinh học các khối lớp 6, 8, 9 và môn giáo dục công dân; không có môn riêng để dạy, thời lượng dành cho ít, còn bị xem nhẹ
Số lượng trẻ có quan hệ tình dục sớm, mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai ngày càng gia tăng Việt Nam được đánh giá là nước có tỷ lệ nạo phá thai cao thứ 3 trên thế giới trong đó phần nhiều đang ở tuổi vị thành niên
Trong những năm qua thực hiện sự chỉ đạo của các cấp ngành GDĐT thành phố Hà Nội nói chung và huyện Mỹ Đức nói riêng đã có những hoạt động tích cực trong công tác giáo dục giới tính cho HS thông qua các hoạt động ngoại khóa sinh động nhằm thu hút HS tham gia học tập tìm hiểu Tuy nhiên công tác giáo dục giới tính trong trường THCS ở huyện Mỹ Đức chưa
có những định hướng cụ thể, những biện pháp phù hợp để quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại địa phương
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý
hoạt động giáo dục giới tính cho HS trường THCS tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội” Nhằm nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt
động giáo dục giới tính cho HS THCS của huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, phù hợp và hiệu quả
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về GDGT, quản lý hoạt động GDGT và thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại các trường THCS thuộc huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho lứa tuổi HS THCS
Trang 123 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho HS trường THCS tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại
trường THCS
4.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục giới
tính trường THCS tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
4.3 Đề xuất biện pháp nhằm quản lý hoạt động giáo dục giới tính trường
THCS tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Hoạt động giáo dục giới tính ở trường THCS tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, thời gian vừa qua còn nhiều bất cập, hạn chế, hiệu quả chưa cao Nếu có những nghiên cứu, khảo sát, đánh giá cụ thể về đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi THCS, đặc điểm điều kiện vùng miền, địa phương và những tác động KT-XH, văn hóa đến hoạt động giáo dục giới tính cho HS THCS tại huyện
Mỹ Đức sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho HS THCS huyện Mỹ Đức một cách đồng bộ, khả thi và phù hợp góp phần nâng cao việc giáo dục đạo đức và văn hóa cho HS nhằm đáp ứng với yêu cầu của GD&ĐT con người Việt Nam toàn diện
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp về quản
lý hoạt động giáo dục giới tính hiện nay trong các trường THCS trên địa bàn tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Đề tài nghiên cứu trên 7 trường THCS đại diện cho các trường THCS
Trang 13của huyện Mỹ Đức bao gồm: Trường THCS Hợp Thanh; Trường THCS Tế Tiêu; Trường THCS An Tiến; Trường THCS Hợp Tiến; Trường THCS An Phú; Trường THCS Phùng Xá; Trường THCS Đại Hưng
Đối tượng khảo sát được giới hạn là các CBQL, GV môn sinh học, môn giáo dục công dân đang công tác tại 7 trường THCS nêu trên và một số PHHS
và HS thuộc khối 8, 9 ở 7 trường THCS trên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu lý luận là phương pháp nghiên cứu văn bản và tài liệu Phương pháp này được thực hiện theo các bước: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa lý thuyết
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Qua quan sát tiết dạy có nội dung giáo dục giới
tính môn sinh, môn giáo dục công dân, người nghiên cứu rút ra kết luận về hiệu quả và việc thực hiện chương trình giáo dục giới tính thông qua các bài dạy giáo dục giới tính
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các CBQL, GV, PHHS, HS để thu
nhận thông tin về các biện pháp quản lý việc thực hiện các chương trình, nhận thức và giải quyết tình huống trong quá trình giáo dục giới tính
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Đối tượng phát phiếu là CBQL,
GV môn sinh học, môn giáo dục công dân của 7 trường THCS, HS lớp 8, 9 và
PHHS tham gia ý kiến thuộc 7 trường THCS
7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Số liệu được thu thập và phân loại theo từng tiêu chí nghiên cứu Dùng phương pháp thống kê mô tả để tính tần số và độ lệch các tiêu chí, mối tương quan giữa các yếu tố
Trang 148 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục nội dung chính của đề tài gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho
HS trường THCS
- Chương 2: Thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho
HS trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho HS
trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Vấn đề giới tính và giáo dục giới tính đã được xem xét từ lâu Vào thời
kỳ tiền khoa học người xem xét giới tính và giáo dục giới tính theo quan điểm tôn giáo và đạo đức thời đó Vào thời kì này, việc giáo dục giới tính cho trẻ
em ít nhiều được chính thức hóa, người ta đã chú ý dạy dỗ cho các em gái theo mô hình giống bà và mẹ, còn dạy dỗ các em trai theo mô hình ông và bố
Ở các nước Phương Đông như Trung Quốc và Nhật Bản, người ta dạy trẻ em gái phải phục tùng bố mẹ trong hôn nhân theo kiểu “áo mặc sao qua khỏi đầu”, phải giữ gìn trinh tiết, quan hệ nam nữ tuân thủ nghiêm ngặt theo lời dạy “nam nữ thụ thụ bất thân”… ở các nước Phương Tây, người lớn hoàn toàn không nói đến cuộc sống tình dục với trẻ em
Ở thế kỷ XIX, tình yêu xác thịt và tình dục bị cấm kỵ một cách gay gắt Đến thế kỷ XX, nhu cầu giáo dục giới tính bắt đầu được chú ý và đề cao Việc nghiên cứu giới tính lúc này bắt đầu được nghiên cứu một cách nghiêm túc và khoa học Có thể kể đến “một số nhà khoa học như J Bachocen (Thụy Sĩ), J.Mac Lenan (Anh), E Wetermach (Phần Lan), Lewis Henry Morgan (Mỹ)… không những đã gắn sự phát triển quan hệ tình dục với các dạng hôn nhân và gia đình, mà còn gắn cả với những yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hóa Ngoài ra còn có thể kể đến một số công trình nổi tiếng như: “Những rối loạn tình dục” được coi là cuốn sách nghiên cứu về giới tính đầu tiên của nhà tâm
lý học người Áo Krapht Ebing, xuất bản năm 1886, ba bài thảo luận về “lý thuyết tính dục” của nhà tâm lý học người Áo gốc Tiệp Sigmund Freud, xuất bản 1905, “Ứng xử tình dục của đàn ông” của Kingsey xuất bản 1948…
Trang 16Ngay từ thời Cổ đại, giới tính đã được quan tâm tìm hiểu, tuy rằng rất thô sơ và mang màu sắc cảm tính, mê tín Từ thời kỳ xa xưa của văn minh loài người, giới tính đã được đề cập đến bằng một hệ thống thần thoại cổ đại
và các khảo luận về tình yêu như Kinh “Kamasutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidius, “chuỗi ngọc của người yêu” của Hazma… trong đó các tác giả không những đặt cơ sở các chuẩn mực về đạo đức và tôn giáo cho tình yêu, mà còn cung cấp những kiến thức về sinh học và tâm lí học tình dục [9]
Vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, các đề tài nghiên cứu giới tính được mở rộng hơn… cho đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các nhà khoa học J Bachocen (Thụy Sỹ), J Mac Lennan (Anh), E Westermach (Phần Lan), Lewis Henry Morgan (Mỹ), X.M Kovalevxki (Nga)… không những đã gặp
sự phát triển quan hệ tính dục với các dạng hôn nhân và gia đình, mà còn gắn
cả với yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hóa
- Tác giả J.P Ma-Sơ-Lô-Va (Tiệp Khắc) đã nghiên cứu các vấn đề về giới tính cho rằng “nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tự lần mò tìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động, không biết khi nào cần nói và nói như thế nào Thế hệ trẻ ngày nay khác rất xa thế hệ chúng ta Vì vậy phải dẫn dắt họ theo kiểu khác”, “Mục đích của toàn bộ chương trình giáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành không chỉ là trang bị kiến thức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng là xây dựng những quan niệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của người đàn ông và phụ nữ trong cuộc sống vợ chồng, trong gia đình và trong
xã hội” [9]
Năm 1921, tại Mỹ một Uỷ ban liên ngành được thành lập để nghiên cứu các vấn đề tính dục Uỷ ban này được hỗ trợ cho H.Kingsey cùng các cộng sự của ông nghiên cứu một cách khá toàn diện và khoa học trên quy mô rộng về các định hướng tâm lý tính dục và hành vi con người “Bản phúc trình
Trang 17của Kingsey” đã được biên soạn dựa trên những tài liệu phong phú của trên
10 ngàn cuộc điều tra khoa học khác nhau, đã được nhiều người biết đến
Nối tiếp công trình của H.Kingsey là công trình của W.Masters và V.Johnson, vào năm 1954, các tác giả này đã tập trung vào việc phát hiện các chuẩn mực trong tính dục Công trình này đã được công bố năm 1966 (sau 11 năm nghiên cứu), đã cung cấp những tham số sinh lý đáng tin cậy về đời sống tính dục của con người
Ở Nga, những công trình nghiên cứu từ năm 1903 đến 1904 của D.N Zabanov và V.I.Iakovenko mang tên: “Cuộc điều tra tính dục” đã được tiến hành trong sự đoán của Nga hoàng
Ngay từ những năm 1920 của thế kỷ XX, V.I.Lênin đã nói: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng được coi là cấp bách” A.X.Makarenko viết: “Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan hệ giữa nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục đích hạnh phúc của con người, không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó
về giới tính[1; tr.9] Các nhà khoa học cũng đã đưa ra nhiều ý kiến rất cụ thể
về nội dung, phương pháp giáo dục giới tính I.X.Kon khẳng định: “chuẩn bị cho nam nữ thanh niên bước vào cuộc sống gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện
hệ thống giáo dục đạo đức và giáo dục giới tính”, A.X.Makarenko cho rằng, thanh niên cần phải “học tập cách yêu đương, phải học tập để hiểu biết tình yêu, phải học tập cách sống hạnh phúc, và như thế có nghĩa là học tập để biết
tự trọng, học tập để biết cái vinh hạnh được làm người” [1, tr.23]
Từ năm 1968, hầu hết các địa phương của Liên Xô bắt đầu chú ý tổ chức việc hướng dẫn và tổ chức giáo dục điều trị, hướng dẫn các vấn đề về giới tính, nhất là đời sống tình dục và quan hệ hôn nhân Việc nghiên cứu và điều trị những bệnh về tình dục đã được tiến hành Tầm quan trọng của việc
Trang 18“cần phải phát triển và hoàn thiện nội dung, phương pháp giáo dục giới tính phù hợp với đạo lý” đã được thừa nhận tại kỳ họp liên tịch giữa Viện Hàn lâm khoa học y học và Viện Hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô 1971, và tại cuộc
“Hội thảo quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa về kế hoạch hóa gia đình, giáo dục giới tính, về vợ chồng và gia đình tại Varsava” năm 1977 Mục đích của việc nghiên cứu về giới tính là nhằm tìm hiểu và cung cấp một cách khoa học các kiến thức vững chắc về khoa học giới tính và giáo dục giới tính, từ đó giáo dục cho thế hệ trẻ quan niệm tiến bộ và có trách nhiệm về tình yêu như Sukhomlinxki đã nêu: “Yêu là thời kỳ khởi đầu của việc làm cha làm mẹ Yêu
có nghĩa là cảm thấy một trách nhiệm lớn lao đối với người khác, với người mình yêu và với người mình sẽ tạo ra” [1; tr12]
Như vậy các vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm Tuy cách thức tiến hành có khác nhau song đều hướng đến mục tiêu chung là kết hợp giáo dục những hiểu biết về giới tính, tình yêu, tình dục với giáo dục ý thức trách nhiệm đối với tình yêu, giáo dục đạo đức, xây dựng gia đình tốt đẹp, lành mạnh, phòng các loại bệnh liên quan đến giới tính như A.X.Makarenko đã nói: “Chúng ta phải giáo dục con
em chúng ta làm sao cho các em có thái độ đối với tình yêu như đối với một tình cảm nghiêm túc và sâu nặng, để các em sẽ được hưởng khoái cảm của mình, tình yêu của mình, hạnh phúc của mình trong khuân khổ gia đình” [1;tr45] Đó chính là nền tảng của đạo đức xã hội và sự bền vững của xã hội trong tương lai
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, những năm đầu của thập kỉ 1980, vấn đề giáo dục giới tính cho lứa tuổi vị thành niên vẫn còn bị ảnh hưởng bởi phong tục tập quán lâu đời và bị coi là điều “cấm kị”, rất nhiều người cảm thấy “xấu hổ” khó khăn khi nói về tình dục, giới tính Các thầy cô giáo, tổ chức Đoàn thanh niên
và các tổ chức xã hội gần như chưa được trang bị kiến thức đầy đủ để có thể
Trang 19tham gia giáo dục hay tư vấn về các vấn đề giới tính cho HS, thậm chí lại có quan điểm là không nên nhồi nhét vào đầu óc trẻ thơ những điều không tốt Chính những quan niệm bảo thủ trên đã làm cho trẻ kém hiểu biết về giới tính, phải đối mặt với những nguy cơ, rủi ro trong quan hệ tình dục không an toàn, về sự mang thai ngoài ý muốn
Vấn đề tổ chức hoạt động giáo dục giới tính ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý, các tổ chức chính trị - xã hội quan tâm nghiên cứu
Dự án VIE/88/P09, VIE 88/P11…cấp quốc gia do tổ chức Pathath Canada tài trợ cùng nhóm nghiên cứu là các nhà khoa học của Việt Nam đã xem xét việc giáo dục giới tính là vấn đề mẫu chốt của đức dục đối với tuổi vị thành niên nói chung và HS bậc THCS nói riêng được triển khai thực nghiệm
từ thập niên 1980 và chính thức đưa vào thực hiện rộng rãi trong các trường THCS từ năm học 1990-1991 đã mở ra một bước ngoặt quan trọng trong việc nghiên cứu, quy hoạch, xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL, GV ở các cơ
sở giáo dục trực tiếp làm công tác giáo dục giới tính có phẩm chất, có năng lực trình độ chuyên môn nhất định, có tầm nhìn trong lĩnh vực này nhằm đáp ứng kịp thời cho sự nghiệp trồng người Giáo dục giới tính bao hàm những tri thức về mối quan hệ giữa sự phát triển tình dục và nhân cách, thể chất và tinh thần của trẻ em và thanh thiếu niên thông qua các hình thức; lồng ghép vào một số môn văn hóa, sinh hoạt nội khóa, sinh hoạt ngoại khóa bằng phương pháp dạy học tích cực và việc trao đổi kinh nghiệm giáo dục để tìm ra những biện pháp tốt nhất cho việc giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông nói chung và bậc THCS nói riêng.[7,8]
- Tác giả Nguyễn Quang Dương cho rằng “Trở ngại lớn trong việc giáo dục giới tính trẻ vị thành niên là do thầy cô và cha mẹ thường chỉ chú trọng việc giáo dục bằng sức ép từ trên dội xuống và tác động một chiều, không cởi
mở, thiếu lắng nghe Điều đó càng tạo thêm hố sâu, khoảng cách giữa thầy cô,
Trang 20cha mẹ và con cái, làm giảm thiểu (có khi phản tác dụng) về hiệu quả giáo dục… chính vì vậy, mà liên kết giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong vấn
đề này là vô cùng quan trọng”
- Tác giả Võ Hưng, tại hội thảo khoa học “Đề xuất và thử nghiệm giải pháp đưa giáo dục giới tính vào trường trung học” tại TP HCM khẳng định:
“các bậc cha mẹ cần hiểu rõ mục đích giáo dục giới tính là giúp con em biết
tự tin, tự trọng và tự bảo vệ để sau này trở thành người có trách nhiệm với xã hội, biết tôn trọng nhau trong quan hệ nam nữ, tạo điều kiện để xây dựng cuộc sống hạnh phúc”.[16, tr.94]
- Dự án VIE/97/P12 đã nghiên cứu về giáo dục SKSS-VTN cho rằng:
“Vị thành niên và thanh niên là một giai đoạn trong cuộc đời con người Lớp thanh niên này được thông tri giáo dục về SKSS - VTN sẽ trưởng thành lên người lớn Lại có một lớp VTN mới cần được thông tri giáo dục về SKSS - VTN và vì vậy, nhu cầu về thông tin giáo dục SKSS-VTN cho vị thành niên
là một nhu cầu thường xuyên, liên tục” [8, tr.192]
- Dự án VIE/88/P10 đã nghiên cứu về kiến thức y học liên quan đến giới tính Đặc biệt là giáo dục sức khỏe sinh sản trong thanh niên
- Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho HS (gọi tắt là giáo dục đời sống gia đình) có kí hiệu VIE/99P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ GD&ĐT, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực Đề án đã nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: Quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của GV, HS, PHHS… ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho HS phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12
Chỉ thị 176A ngày 24 tháng 12 năm 1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nêu rõ: “Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng
Trang 21cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho HS những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái” thì công tác giáo dục giới tính cho HS sinh viên được quan tâm nhiều hơn, tập trung cho đối tượng sinh viên các trường đại học Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh… đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính
Từ khoảng năm 1990, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều
đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề có liên qua như: Giáo dục sức khỏe sinh sản, giáo dục về tình yêu trong thanh niên, HS; giáo dục đời sống gia đình; giáo dục giới tính cho HS… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được sự quan tâm nhiều của Nhà nước, Bộ GD&ĐT, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc PHHS Theo tác giả Bùi Ngọc Oánh cho rằng “Việc giáo dục giới tính cần phải được thực hiện một cách khoa học hợp lý, có phương pháp và hình thức giảng dạy thích hợp Hoạt động giáo dục này cũng phải được tiến hành bởi những người có chuyên môn, có trình độ, được đào tạo một cách chu đáo và
hệ thống, giống như việc giáo dục, giảng dạy những bộ môn khoa học khác trong nhà trường” [25, tr.159]
Ngày 4 tháng 8 năm 2008, Thủ trưởng Chính phủ đã ra Chỉ thị Số 23/2008/CT-TTG “Về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình” Trong đó nhiệm vụ của Bộ GD&ĐT là triển khai có hiệu quả hoạt động giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường
Trang 221.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục
* Quản lý
Về nguồn gốc hình thành và phát triển của khái niệm “quản lý”, đã được C.Mac khẳng định, chính là từ nhu cầu quản lý lao động xã hội: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy
mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động cá nhân chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải nghe một nhạc trưởng” [18, tr.3]
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý, sau đây là một số quan điểm chính
- Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất
- Tác giả Hồ Văn Liên cho rằng: “Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong các điều kiện biến động của môi trường làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) có hiệu quả” [18, tr.12]
- Khái quát hơn, các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Trang 23Từ những quan niệm trên có thể khái quát: Quản lý là tổ hợp các tác động chuyên biệt, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm phát huy tiềm năng của các yếu tố, các mối quan hệ chức năng, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và cơ hội để thực hiện tốt các chức năng quản lý và đạt được mục tiêu quản lý
* Quản lý giáo dục
Xét về mặt lịch sử khoa học thì khoa học quản lý giáo dục ra đời sau khoa học quản lý Cho nên, trong các nước tư bản chủ nghĩa người ta thường vận dụng quản lý xí nghiệp vào quản lý giáo dục và trường học như quản lý một loại xí nghiệp đặc biệt
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mảng công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.”.[2]
Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, nó đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm quản lý giáo dục như sau:
Theo M.I Konđacôp: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế
hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục cho sự phát triển thể lực và tâm lí trẻ em.”[2, tr.9]
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra khái niệm quản lý giáo dục như sau: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với HS.” [15,tr.16]
Trang 24Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về vật chất.”.[26; tr.9]
Như vậy, quản lý giáo dục có thể được định nghĩa như sau: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất
1.2.2 Giới và giới tính
* Giới và đặc điểm của giới:
- Giới xuất phát từ “ từ Gender” trong tiếng Anh
- Giới là một khái niệm rất phức tạp, được hiểu theo nhiều nghĩa:
+ Theo góc độ sinh học, giới được hiểu là một tập hợp những đặc điểm sinh lí cơ thể đặc trưng ở con người (ở động vật, giới ở đây có nghĩa là giống, trong động vật có giống đực và giống cái) Những đặc điểm sinh lí cơ thể thường bao gồm những đặc điểm di truyền, những hệ cơ quan sinh lí cơ thể, điển hình và quan trọng nhất là hệ cơ quan sinh dục Có hai hệ cơ quan sinh dục chính là hệ cơ quan sinh dục nam và hệ cơ quan sinh dục nữ, vì vậy loài người có hai giới là giới nam và giới nữ Giới theo nghĩa này được hiểu là giới sinh học, giới di truyền
+ Theo góc độ xã hội, giới là những đặc điểm mà xã hội tạo nên ở người nam và người nữ, là những đặc trưng xã hội ở nam và nữ Đó là giới xã hội Giới xã hội thường bao gồm nhiều vấn đề như: Vai trò, vị trí của mỗi giới, đặc điểm và nhiệm vụ của mỗi giới trong xã hội… những vấn đề này thường do xã hội quy định và biến đổi theo từng giai đoạn lịch sử, từng quốc gia, tùy theo truyền thống, phong tục tập quán của mỗi dân tộc…
Trang 25+ Tổng quát hơn có thể định nghĩa như sau:
Giới là một tập hợp người trong xã hội có những đặc điểm sinh học cơ bản giống nhau
Như vậy, giới bao gồm hai loại thuộc tính, thuộc tính sinh lí cơ thể và thuộc tính xã hội
+ Xét về mặt sinh lí cơ thể, giới là những đặc điểm bẩm sinh, có tính di truyền Yếu tố quan trọng và điển hình của giới ở đây là hệ cơ quan sinh dục
và dưới ảnh hưởng chủ yếu hoạt động của hệ cơ quan sinh dục, cơ thể con người còn có những biến đổi khác, tạo nên những đặc trưng của giới về hệ xương và hệ cơ, chiều cao và cân nặng, tỉ lệ giữa cơ và mỡ, hình dáng đặc trưng của giới của cơ thể nam và cơ thể nữ Sức lực của từng giới và về nhiều đặc điểm sinh lí cơ thể khác nhau, như nữ giới có khả năng thụ thai, sinh nở,
có hiện tượng kinh nguyệt… giới nam không có những chức năng trên, nhưng thường cao lớn khỏe mạnh hơn, có khả năng sản xuất tinh trùng…
+ Xét về mặt xã hội, giới là những đặc điểm do xã hội tạo ra, do những quy định, luật lệ, đòi hỏi… của xã hội đối với con người là nam hay nữ Ban đầu dưới ảnh hưởng của đặc tính về sinh lí cơ thể như chiều cao, tầm vóc, sức mạnh… người nam và người nữ được phân công những công việc, những vai trò khác nhau trong đời sống xã hội Dần dần ở mỗi người, mỗi giới tạo nên những đặc tính về mặt xã hội như vai trò của gia đình, địa vị xã hội, của lịch
sử tạo nên những đặc điểm, chức năng, vai trò xã hội khác nhau Giới được thể hiện ở vai trò, chức năng, nghĩa vụ xã hội, giới là tập hợp người có những vai trò chức năng xã hội nhất định
Như vậy, giới có thể được hiểu là giới sinh học hay giới xã hội
Khi nói đến giới sinh học, người ta thường chú ý nhiều đến hệ cơ quan sinh dục của con người Khi em bé lọt lòng mẹ sinh ra, người ta chỉ dựa vào
hệ cơ quan sinh dục để xếp em bé đó vào giới nam hay giới nữ (em trai hay
em gái) Khi em bé lớn lên, đặc biệt là khi bước vào thời kì dậy thì, người ta
Trang 26có thể xếp một người vào giới thứ ba nếu hoạt động của hệ cơ quan sinh dục của người đó là không bình thường
Khi nói đến giới xã hội, có nhiều vấn đề được quan tâm như:
- Vai trò của người nam, người nữ trong xã hội
- Sự phân công lao động trong xã hội cho người nam và người nữ
- Sự bình đẳng giữa giới nam và giới nữ (vấn đề bình đẳng giới)
- Những quan điểm đánh giá về vai trò của người nam và của người nữ trong xã hội
- Sự phát triển, sự tiến bộ của con người ở mỗi giới trong xã hội
- Mối quan hệ xã hội cư xử giữa hai giới
Ngày nay, trong xã hội ta, còn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp về giới xã hội như: Vấn đề bình đẳng giới, vấn đề quan hệ giữa hai giới, vấn đề giới tính
ở mỗi giới…
Tóm lại Giới: Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội
giữa nam giới và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được
* Giới tính
Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sử dụng lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như: Giới, tính dục, tình dục, sinh dục… nhiều người thường quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc hiểu về một mặt nào đó của giới tính
Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn:
+ Trước hết, theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm của giới Những đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng Vì giới vừa bao gồm những thuộc tính về sinh học và những thuộc tính về tâm lí xã hội, nên giới tính cũng bao gồm những đặc điểm về sinh lí cơ thể và tâm lí xã hội
Trang 27+ Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặc trưng của giới, giúp cho chúng ta phân biệt giới này với giới kia
Những đặc điểm trên thường mang đặc trưng của từng giới và tạo nên
sự khác biệt giữa hai giới Giới tính là những yếu tố xác định sự khác biệt giữa giới này và giới kia
Có thể định nghĩa: Giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người, tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ
- Trong đời sống con người, hai giới không thể tồn tại độc lập mà luôn tác động đến nhau, có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Sự quan hệ bị chi phối bởi nhiều đặc điểm về sinh lí, về tâm lí ở mỗi người, bởi những đặc điểm về văn hóa, chính trị phong tục tập quán của xã hội, trong đó có đặc điểm đặc trưng của mỗi giới Từ đó lại hình thành nên nhiều yếu tố mới, hiện tượng mới trong đời sống giới tính như: Sự giao tiếp giữa hai giới, quan hệ khác giới, quan hệ tình yêu, hôn nhân…
Đời sống giới tính của con người rất phong phú và đa dạng Đó là những hiện tượng tâm lí và sinh lí nảy sinh trong đời sống của mỗi người, trong mối quan hệ giữa người này với người kia, trong cuộc sống chung của mỗi người, trong sự tồn tại của xã hội Đời sống giới tính là một tổng hợp phức tạp các hiện tượng tâm lí và sinh lí có liên quan đến mỗi giới, là mọi yếu
tố mọi mặt hoạt động, mọi mối quan hệ… trong đời sống của con người, trong đời sống xã hội loài người
Đời sống giới tính là toàn bộ những hiện tượng về mặt sinh lí cơ thể xuất hiện trong con người có liên quan đến hệ cơ quan sinh dục (đời sống tình dục), những hiện tượng tâm lí đặc trưng ở mỗi giới, những hiện tượng tâm lí người trong mối quan hệ với người khác giới (tình bạn, giới, tình yêu….), những hiện tượng trong đời sống xã hội như hôn nhân, gia đình… gần đây còn xuất hiện những biểu hiện phức tạp hơn của đời sống giới tính như: Các
Trang 28quan điểm yêu đương ngoài hôn nhân, tình dục ngoài hôn nhân, tình bạn và
sự giao tiếp giữa những người khác giới…
Như vậy, khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ, toàn diện về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu và tình bạn, sự giao tiếp nam nữ…
* Một số vấn đề giới tính cần chú ý ở học sinh trung học cơ sở
HS THCS bước vào độ tuổi có những “biến cố” đặc biệt các em không hoàn toàn là trẻ con nhưng cũng chưa phải là người lớn Đây là giai đoạn quá
độ từ trẻ con sang người lớn, là giai đoạn đặc trưng với các dấu hiệu của tuổi dậy thì ở nam và nữ Đời sống xúc cảm của các em bị chi phối bởi hai yếu tố
cơ bản Đó là: sự cải tổ về mặt sinh lý (dậy thì), hoạt động giao tiếp với bạn
bè cùng lứa tuổi và với người lớn HS khối 7, 8 (độ tuổi 14,15) đã có thể nảy sinh những xúc cảm yêu đương đầu đời Do đó phải giáo dục định hướng đúng đắn cho HS thông qua giáo dục giới tính Khi tiến hành giáo dục giới tính, GV phải nắm được các đặc điểm tâm sinh lý diễn ra phức tạp của HS THCS, có sự quan tâm đúng mức đến tâm tư, nguyện vọng của các em nhằm điều chỉnh kịp thời những hành vi lệch lạc
1.2.3 Giáo dục giới tính
* Khái niệm:
Nhiều ngành khoa học những năm gần đây đã xác nhận ý nghĩa đặc biệt quan trọng của những năm tuổi thơ đối với một đời người Cha mẹ nào cũng vậy, đều có những phút ngỡ ngàng khi nhận ra trước mắt mình đứa con không còn là một cậu bé vụng dại nữa mà đã là một vị thành niên Nhiều khi cha mẹ chưa kịp nghĩ tới chuyện giáo dục con cái một cách nghiêm túc thì đặc tính cơ bản của tính cách con mình đã hình thành
Theo A.G.Khrivcova, D.V.Kolexev, “giáo dục giới tính là một quà trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng
Trang 29cũng như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với người khác”
- Giáo dục giới tính là một bộ phận hữu cơ của phức hợp các vấn đề giáo dục nhân cách, giáo dục con người mới, con người phát triển toàn diện, kết hợp một cách hữu cơ hài hòa sự phong phú về tinh thần, sự thuần khiết về đạo đức và sự hoàn thiện về thể xác Theo A.X.Makarenko, “khi giáo dục cho đứa trẻ tính ngay thẳng, khả năng làm việc, tính chân thật, tôn trọng người khác, tôn trọng những cảm xúc và hứng thú của họ là chúng ta đã đồng thời giáo dục nó về quan hệ giới tính”
Có thể nói rằng, giáo dục giới tính phải gắn liền với giáo dục đạo đức,
tư tưởng và tiến hành trên cơ sở của giáo dục đạo đức tư tưởng Giáo dục giới tính cũng phải gắn bó mật thiết với các mặt giáo dục khác trong nền giáo dục toàn diện
Theo tác giả Bùi Ngọc Oánh: “giáo dục giới tính là quá trình giáo dục con người (thanh thiếu niên), nhằm làm cho họ có nhận thức đầy đủ, có thái
độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hóa giới tính, hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính, giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống riêng cũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển” [25, tr.41]
Giáo dục giới tính là một quá trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với người khác
Giáo dục giới tính là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa em trai và em gái, thanh nam thanh nữ, giáo dục những sự kiềm chế có đạo đức, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em
Trang 30Vậy “giáo dục giới tính là quá trình giáo dục con người (thanh thiếu niên), nhằm làm cho họ có nhận thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn về giới tính
và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hóa giới tính, hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính, giúp cho họ biết tốt nhất cuộc sống riêng cũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển
* Mục đích giáo dục giới tính:
Tác giải J.P.Ma-sơ-lô-va cho rằng “Mục đích của toàn bộ chương trình giáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành không chỉ là trang bị kiến thức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng là xây dựng những quan niệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm, của người đàn ông và phụ nữ trong cuộc sống vợ chồng, trong gia đình và trong xã hội” [9,tr.38-48]
Nói một cách khác, mục đích của giáo dục giới tính là góp phần làm nhân cách phát triển toàn diện, làm con người có điều kiện xây dựng xã hội tốt đẹp, lành mạnh giáo dục giới tính có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung, đào tạo con người mới phát triển toàn diện
* Nhiệm vụ của giáo dục giới tính:
- Hình thành và trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học, thái độ
và quan niệm đúng đắn về những hiện tượng của đời sống giới tính, sinh lí tính dục, về cấu trúc và chức năng của các hệ cơ quan của cơ thể, nhất là hệ
cơ quan sinh dục; về sự cư xử đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ với mọi người, với người khác giới, về những vấn đề đạo đức giới tính, thẩm mỹ giới tính, tình yêu, hôn nhân và đời sống gia đình
- Giúp cho các em có bản lĩnh vững vàng bước vào đời sống xã hội, biết bảo vệ, giữ gìn sức khỏe cho người bạn và cho chính mình, có khả năng chống chọi với những cạm bẫy, quyến rũ của lối sống ăn chơi đồi trụy, biết phê phán, bác bỏ những quan niệm không đúng về tình yêu, tình dục, quan hệ
Trang 31tình dục quá sớm hoặc buông xuôi, cả nể, dẫn tới quan hệ tình dục bừa bãi, yêu nhau, bỏ nhau quá dễ dàng
- Giúp các em biết trân trọng và bảo vệ những giá trị cao cả và thiêng liêng của tình bạn thân thiết và gắn bó, của tình yêu sâu nặng và chung thủy, biết được cái hay cái đẹp của nếp sống văn hóa văn minh
- Chuẩn bị về tinh thần và khả năng thực tiễn cho thế hệ trẻ, giúp họ phát triển nhân cách toàn diện, biết cách tổ chức và xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng và thúc đẩy xã hội phát triển giàu mạnh
* Nội dung giáo dục giới tính:
Nội dung giáo dục giới tính phải giúp cho việc thực hiện những nhiệm
vụ của giáo dục giới tính, đồng thời phải gắn liền với giáo dục đạo đức, phù hợp với điều kiện xã hội, đời sống đạo đức và phong tục tập quán Nội dung giáo dục giới tính gồm các nội dung chung của giáo dục giới tính và tùy theo lứa tuổi Nội dung của giáo dục giới tính gồm:
+ Đặc điểm tâm sinh lí con người với những hiện tượng điển hình như:
Sự phát triển sinh lí cơ thể, chiều cao, cân nặng, cấu trúc và chức năng của hệ
cơ quan sinh dục, đời sống tình dục, kinh nguyệt, sinh nở, cho con bú, những kiến thức về sức khỏe, sinh đẻ có kế hoạch, các bệnh thông thường và bệnh liên quan đến đường tình dục (sức khỏe sinh sản)…
+ Đặc điểm giới tính về đạo đức, xã hội, thẩm mỹ như: Cách cư xử với mọi người, với bạn khác giới, tác phong tư thế, phẩm chất đạo đức theo giới tính, quan niệm về cái đẹp, sự rèn luyện để tạo nên cái đẹp chân chính và vững bền, vấn đề chọn nghề, những vấn đề quan hệ xã hội, pháp luật liên quan đến cuộc sống gia đình như luật hôn nhân gia đình, trách nhiệm của con người trong gia đình và xã hội, phương hướng con người rèn luyện về mặt giới tính, những đặc điểm về đời sống tâm lí con người, tâm lí giới tính theo lứa tuổi…
Trang 32+ Những vấn đề về quan hệ bạn khác giới và tình yêu nam nữ như: Bản chất của tình yêu, sự cư xử trong tình yêu, quy luật của tình yêu, xây dựng tình bạn, tình yêu chân chính…
+ Những vấn đề hôn nhân và đời sống gia đình như bản chất của hôn nhân, điều kiện để có hôn nhân hạnh phúc, cuộc sống gia đình, sự chuẩn bị cho cuộc sống gia đình, cách xây dựng một gia đình hạnh phúc…
Hiện nay, nhiều nhà giáo dục thường quan tâm nhấn mạnh đến việc giáo dục sức khỏe sinh sản, giáo dục tình yêu và hôn nhân… Đó là những biểu hiện cơ bản của đời sống giới tính được kết hợp hoặc tích hợp theo một định hướng, một trọng tâm cơ bản, một mục tiêu giáo dục nào đó Và đó cũng
là những nội dung nhất định, điển hình của đời sống giới tính
Những nội dung trên cần được thực hiện theo hình thức tổ chức giáo dục thích hợp, cho những đối tượng thích hợp và theo từng điều kiện hoàn cảnh thích hợp Với lứa tuổi HS phổ thông, đặc biệt là lứa tuổi HS THCS, việc lựa chọn nội dung cho từng khối lớp luôn phải đáp ứng cho các câu hỏi: Dạy cho khối nào (lứa tuổi nào), dạy những nội dung gì? Dạy như thế nào? (thành môn riêng hay lồng ghép vào các môn khác, dạy ngoại khóa hay chính khóa)… trong đó cần phải thận trọng khi giảng dạy các chủ đề như tình dục, tình yêu… bên cạnh đó chú ý thêm đến dư luận PHHS, tình hình xã hội của từng vùng, từng địa phương
* Phương pháp giáo dục giới tính
Giáo dục giới tính luôn là một vấn đề vô cùng quan trọng, do đó nếu không được trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính từ lúc trẻ thì khả năng những hậu quả đáng tiếc xảy đến trong tương lai là rất cao Tuy nhiên không phải lúc nào việc giáo dục giới tính cũng suôn sẻ, dễ dàng vì đây là một vấn
đề đặc biệt nhạy cảm
Trang 33Do đó phương pháp giáo dục giới tính cho HS thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS gồm các phương pháp như: Thảo luận nhóm, đóng vai, thông qua các trò chơi, thuyết trình, giảng giải, nghiên cứu tình huống…
* Hình thức giáo dục giới tính
Giáo dục giới tính có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, như có thể thông qua các bài giảng trên lớp, các hoạt động tập thể Giáo dục giới tính càng tự nhiên thì khả năng đi sâu vào tiềm thức của HS và phát huy được hiệu quả càng cao Các hình thức của giáo dục giới tính được các trường, các thầy cô sử dụng như: Lồng ghép vào môn GDCD và môn Sinh học, hoạt động ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt chủ nhiệm cuối tuần, mời báo cáo viên…
Mỗi hình thức có những ưu điểm và tồn tại khác nhau, khi chỉ đạo, các nhà trường cần nhấn mạnh việc lựa chọn hình thức nào cho phù hợp với nội dung, với tâm lý HS, với khả năng và điều kiên thực tế của trường, lớp Tất nhiên việc lựa chọn phải đảm bảo các tiêu chí cơ bản như: chuyển tải và khắc sâu được kiến thức, tác dụng giáo dục cao, hấp dẫn và lôi cuốn tất cả HS cùng tham gia
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục giới tính
Giáo dục giới tính là một nội dung giáo dục cơ bản, trọng tâm trong nhà trường, vì vậy quản lý giáo dục giới tính đóng vai trò trọng yếu trong quản lý nhà trường, yêu cầu của quản lý hoạt động giáo dục giới tính trong nhà trường là phải quản lý các thành tố cấu trúc của quá trình giáo dục giới tính bao gồm quản lý mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục giới tính
Quản lý hoạt động giáo dục giới tính là những tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý nhà trường tới quá trình giáo dục giới và những lực lượng liên đới nhằm tổ chức và điều hành có hiệu quả mục tiêu, nội dung
Trang 34giáo dục giới tính đề ra góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách người học
1.3 Quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở các trường trung học cơ sở
Bước vào bậc THCS các em ở độ tuổi từ 12 đến 15 – 16 tuổi, đây là quảng đời diễn ra những “biến cố” đặc biệt Do sự trưởng thành và tích lũy ở giai đoạn trước, các em đã có một vị trí xã hội mới, là giai đoạn đặc trưng với các dấu hiệu của tuổi dậy thì của nam và nữ
Ở tuổi THCS học sinh bắt đầu có sự quan tâm đến hình dáng bề ngoài, đến các bạn khác giới và ở nhiều em nảy sinh những xúc cảm giới tính, nếu không được giáo dục học sinh dễ mắc sai lầm từ những xúc cảm đầu đời
Như vậy, muốn giáo dục giới tính cho học sinh, giáo viên phải nắm được các đặc điểm tâm sinh lí của học sinh bậc THCS, có sự quan tâm đúng mức đến tâm tư, nguyện vọng của các em nhằm điều chỉnh kịp thời những hành động lệch lạc
Trường THCS đồng thời thực hiện các nhiệm vụ giáo dục toàn diện nhân cách học sinh đó là giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục lao động, giáo dục thể chất, giáo dục giới tính… các nhiệm vụ cần được triển khai theo kế hoạch và được tổ chức một cách khoa học và chỉ đạo sát thực, kiểm tra, giám sát thường xuên
Việc quản lý hoạt động giáo dục giới tính trong nhà trường rất phong phú và đa dạng bao gồm rất nhiều nội dung từ việc nâng cao nhận thức và thái
độ của GV, CBQL, PHHS và toàn xã hội nói chung cho đến việc xây dựng chương trình, việc nghiên cứu phương pháp giảng dạy, tổ chức giảng dạy, đào tạo và nâng cao trình độ GV… Tuy nhiên, trước mắt cần chú ý các nội dung sau đây:
Trang 351.3.1 Nâng cao nhận thức của giáo viên và học sinh về giáo dục giới tính trong nhà trường
Giáo dục giới tính là công việc khó khăn phải tiến hành thường xuyên, liên tục và muốn đạt được hiệu quả phải nâng cao nhận thức cho các lực lượng trực tiếp làm công tác giáo dục giới tính bởi vì một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế chất lượng giáo dục giới tính ở nước ta qua thời gian qua chính là nhận thức của xã hội, các lực lượng trực tiếp làm công tác giáo dục giới tính chưa đúng đắn
* Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ GV cụ thể:
- Nhận thức của GV về hình thức và nội dung giáo dục giới tính;
- Nhận thức của GV về khối lớp được giáo dục giới tính;
- Nhận thức của GV về số tiết thực hiện giáo dục giới tính hàng tháng;
- Nhận thức của GV về nội dung chương trình giáo dục giới tính;
- Ý kiến của GV về thời gian giáo dục giới tính;
- Nhận thức của GV về trách nhiệm giáo dục giới tính cho HS;
* Quản lý việc tìm hiểu nhận thức và thái độ học tập của HS về giáo
dục giới tính:
Qua các nội dung giáo dục giới tính được cung cấp, HS có ý thức tự bồi dưỡng, tự tìm hiểu kiến thức về giới tính một cách khoa học, tự hoàn thiện nhân cách mà theo quan điểm của giáo dục học: “thành công trong công tác giáo dục chính là làm cho người được giáo dục ý thức được và chấp hành những yêu cầu của nhà giáo dục và của tập thể, làm cho họ biết tự đề ra cho mình những mục tiêu phấn đấu trong cuộc sống, tự bồi dưỡng và tự rèn luyện những phẩm chất và năng lực mới cho bản thân” [13,43]
- Ý kiến của GV về thái độ đối với việc học tập kiến thức về giáo dục giới tính của HS;
- Kiến thức chung của HS về giới tính;
- Kiến thức của HS về giáo dục giới tính;
Trang 36- Hiểu biết của HS về một số mục tiêu giáo dục giới tính;
- Hiểu biết chung của HS về đặc điểm sinh lí giới tính của bạn khác giới;
- Hiểu biết của HS về nguồn lây nhiễm của HIV;
- Thái độ đối với việc học tập kiến thức về giáo dục giới tính của HS
1.3.2 Quản lý việc thực hiện chương trình theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nội dung chương trình giáo dục giới tính cấp THCS hiện nay chủ yếu thực hiện lồng ghép ở hai môn GDCD và Sinh học Ngoài ra theo chỉ đạo của
Bộ GD&ĐT, giáo dục giới tính cần được lồng ghép trong các hoạt động khác nhau của nhà trường như thông qua dạy học, sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoại khóa và các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Thông qua việc triển khai chương trình đầy đủ, đúng chương trình các tiết thuộc 2 môn GDCN và Sinh học các bài có nội dung giáo dục giới tính, cung cấp kiến thức đồng thời giáo dục thái độ, rèn luyện kỹ năng sống cho HS
Từ việc lồng ghép vào môn sinh học và môn GDCN, HS có những kiến thức và thái độ sống đúng đắn, có sự chuẩn bị để bước vào tuổi trưởng thành một cách nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Công tác quản lý việc thực hiện chương trình không chỉ nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục còn góp phần giáo dục đạo đức lối sống, góp phần giúp
HS phát triển nhân cách toàn diện
1.3.3 Quản lý việc giảng dạy và công tác tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính
* Quản lý việc lập kế hoạch và phân công GV giảng dạy:
Lực lượng GV tham gia giảng dạy các bài, các nội dung giáo dục giới tính thuộc những môn sinh học, GDCD Ngoài ra còn phải kể đến lực lượng
GV chủ nhiệm, GV phụ trách các đoàn thể như Chi đoàn, tổng phụ trách đội
Trang 37Khi tham gia công tác giáo dục giới tính, các lực lượng này cần được tập huấn (theo chuyên đề) nhằm được trang bị một cách cơ bản kiến thức và phương pháp giáo dục giới tính Việc phân công GV giảng dạy cần đúng trình độ đào tạo theo chuẩn, hạn chế phân công GV không đúng chuyên môn đào tạo sẽ
ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy
* Quản lý việc chuẩn bị bài lên lớp và giờ lên lớp của GV:
Chỉ đạo cho GV chuẩn bị giáo án, lên lớp đầy đủ các tiết theo qui định của phân phối chương trình đặc biệt là các bài lồng ghép giáo dục giới tính
Việc GV thiết kế bài giảng để vừa cung cấp được lượng kiến thức phù hợp lứa tuổi đồng thời rèn luyện kỹ năng ứng xử, giao tiếp
Công tác duyệt giáo án định kỳ và kiểm tra định kỳ phải tiến hành thường xuyên, tránh qua loa, chiếu lệ…
Quản lý thông qua thời khóa biểu, sổ đầu bài của từng GV bộ môn Do các bài dạy có nội dung giáo dục giới tính nằm ở cuối chương trình lớp 8, cần
có kế hoạch kiểm tra GV bộ môn thực hiện chương trình đầy đủ Ban Giám hiệu dự giờ, rút kinh nghiệm về nội dung và phương pháp giảng dạy có phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với HS không Thái độ giảng dạy của GV đối với các bài có nội dung giáo dục giới tính
* Quản lý công tác bồi dưỡng GV:
Qua việc quản lý công tác bồi dưỡng GV, nâng cao nhận thức cho GV
về tầm quan trọng của công tác giáo dục giới tính Tham gia tập huấn đầy đủ theo chương trình bồi dưỡng GV của Bộ, Sở nhất là các đợt tập huấn riêng về giáo dục giới tính Ngoài ra các GV cũng cần củng cố kiến thức về giáo dục giới tính thông qua các sự kiện mang tính thời sự và cập nhật những thông tin
để giảng dạy cho HS đạt chất lượng tốt nhất
* Quản lý công tác tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính:
- Quản lý công tác tổ chức các hoạt động ngoại khóa
Trang 38- Quản lý công tác tổ chức các hoạt động chính khóa
- Quản lý công tác tổ chức thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.3.4 Quản lý về cơ sở vật chất và tài liệu giảng dạy giáo dục giới tính
Đầu tư trang thiết bị, sách, tài liệu, CSVC thiết yếu cho dạy học giáo dục giới tính để đảm bảo cho công tác giáo dục giới tính diễn ra trong điều kiện thuận lợi nhất
Nhằm tăng cường phát triển công tác tư vấn học đường trong nhà trường THCS, nhà trường cần bố trí một phòng tư vấn học đường tại vị trí thuận lợi và trang bị đầy đủ những trang thiết bị sinh hoạt cho cán bộ tư vấn
và HS của đội tuyên truyền giáo dục giới tính sinh hoạt thường xuyên
Lắp đặt bảng tin truyền thông cho từng lớp định hướng theo mô hình giáo dục HS bằng phương pháp tích cực
Hình thành hệ thống bảng tin của các Tổ bộ môn, các bộ phận trong nhà trường, nhằm đẩy mạnh công tác thông tin tuyền truyền phổ biến các nội dung về học tập, sinh hoạt chuyên đề, phổ biến pháp luật, các hoạt động phong trào của các câu lạc bộ - đội nhóm
Xây dựng trang website của nhà trường nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống, song song với việc phát triển hệ thống thông tin về công tác chuyên môn, học tập, chuyên đề và những sinh hoạt chung của nhà trường và của tổ bộ môn
1.3.5 Quản lý việc phối hợp Nhà trường – Gia đình – Xã hội
Trong nhà trường, Đoàn, Đội là nơi Ban giám hiệu nhà trường phối hợp
để tổ chức thực hiện các phong trào Đoàn, Đội hoạt động tốt, hiệu quả sẽ góp phần quan trọng việc tổ chức thi đua học tập, rèn luyện tốt cho HS
Quá trình hình thành nhân cách HS không chỉ trong phạm vi nhà trường mà chịu sự chi phối của các mối quan hệ xã hội Một mình nhà trường
Trang 39không thể đủ để giúp các em phát triển nhân cách theo hướng tích cực mà nhà trường phải phối hợp chặt chẽ với các lực lượng ngoài xã hội để chung tay giáo dục các em cụ thể:
PHHS: Gia đình có rất nhiều thuận lợi trong việc xây dựng con cái Gia đình là nơi hàng ngày, hàng giờ, từ bé đến lớn và thậm chí là cả cuộc đời các
em sinh sống, gần gũi nên gia đình là người hiểu rõ tâm lý, tính cách, tâm tư, tình cảm
Tham gia công tác giáo dục HS không chỉ có GV mà còn rất nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Lực lượng trong nhà trường là Công đoàn, Đoàn TNCS HCM, Đội TN… Lực lượng giáo dục ngoài nhà trường là gia đình, chính quyền địa phương, công an, Hội phụ nữ, y tế… nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng vào công tác giáo dục giới tính cho HS
Qua các hoạt động tư vấn nâng cao nhận thức cho PHHS về công tác giáo dục giới tính, nhà trường sẽ phối hợp với PHHS để hướng dẫn, giúp đỡ
HS tìm hiểu các kiến thức về giới tính, từ đó giúp các em phát triển đúng hướng, chủ động trong tình cảm, trong quan hệ giới tính PHHS phải là người bạn lớn với con trong mọi hoàn cảnh, giúp con lớn lên một cách khỏe mạnh, trong sáng
Các lực lượng giáo dục đều có nhận thức và thái độ quan tâm tới công tác giáo dục giới tính cho HS, do vậy nhà trường cần thống nhất mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục giới tính với các lực lượng, các tổ chức; Nhà trường cần xây dựng mạng lưới thông tin liên lạc thường xuyên, kịp thời nhằm phục vụ việc phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các lực lượng
Giáo dục giới tính cho HS chỉ đạt hiệu quả và mục tiêu mong muốn khi
có sự phối hợp đồng bộ cả ba lực lượng: “gia đình - nhà trường - xã hội”
Trang 401.4 Các yếu tố tác động đến việc quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trong trường trung học cơ sơ
1.4.1 Về mặt tâm sinh lý học sinh
HS THCS là lứa tuổi vị thành niên, giai đoạn này các em đang phát triển mạnh về thể chất, tâm sinh lý Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn Các em có xu hướng tự khẳng định mình, có ý thức vươn lên làm chủ bản thân Ở giai đoạn này, sự chỉ bảo, kiểm tra, giám sát của người lớn luôn làm các em tỏ ra khó chịu Đây cũng là giai đoạn các em thích tìm tòi, khám phá phát hiện những điều chưa biết, những cái mới mẻ của cuộc sống Đồng thời các em cũng muốn vượt khỏi sự ràng buộc của cha mẹ
Mặt khác, ở lứa tuổi này, nhu cầu giao tiếp của các em rất lớn đặc biệt
là sự giao tiếp với bạn bè khác giới Từ đó mà hình thành lên các nhóm bạn cùng sở thích, khi không có sự hướng dẫn kèm cặp của người lớn thường dẫn đến những nhận thức lệch lạc về lối sống, hành vi, quan hệ với bạn khác giới
1.4.2 Về phía gia đình
Hiện nay, đại đa số các gia đình đều sinh ít con, điều kiện kinh tế phát triển dẫn đến nuông chiều con một cách thái quá Nhiều cha mẹ do nhận thức lệch lạc, không có kiến thức về giáo dục con cái, đặc biệt là kiến thức về giáo dục giới tính, hoặc là còn e ngại, xấu hổ khi đề cập đến vấn đề giáo dục giới tính cho con trẻ Tất cả những cái đó đã tác động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách cho HS trong quan hệ với bạn bè
và người khác giới
1.4.3 Về phía nhà trường
giáo dục giới tính hiện nay chưa được coi là môn học chính thức trong các nhà trường mà chủ yếu vẫn được lồng ghép ở các môn giáo dục kỹ năng sống, giáo dục công dân, sinh học… Hình thức giáo dục thì khô cứng, giáo điều, mang tính hàn lâm thiếu hấp dẫn, thực trạng GV làm nhiệm vụ giáo dục