Quản lý hoạt động học tập theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động học tập theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động học tập theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động học tập theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động học tập theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động học tập theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động học tập theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1_
LÊ THỊ THÙY DƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huệ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2Trong thời gian nghiên cứu, tuy đã có nhiều nỗ lực, cố gắng của bản thân, nhưng do điều kiện, hoàn cảnh và thời gian có hạn nên nội dung luận văn không tránh được những thiếu sót và hạn chế Tác giả luận văn mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo và góp ý chân thành của các thầy, cô giáo
và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Thị Thùy Dương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Thị Thùy Dương
Trang 4BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON 6
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Những nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trên thế giới 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên tại Việt Nam 9
1.2 Các khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Quản lý 11
1.2.2 Bồi dưỡng 12
1.2.3 Chuyên môn; nghiệp vụ sư phạm 13
1.2.4 Giáo viên mầm non 15
1.3 Các thành tố của quá trình bồi dưỡng giáo viên mầm non 18
1.3.1 Mục tiêu bồi dưỡng 18
1.3.2 Nội dung, chương trình bồi dưỡng 19
1.3.3 Hình thức tổ chức bồi dưỡng 20
1.3.4 Lực lượng bồi dưỡng 20
1.3.5 Đối tượng bồi dưỡng 21
1.3.6 Các điều kiện hỗ trợ hoạt động bồi dưỡng 21
1.3.7 Kết quả hoạt động bồi dưỡng 21
1.4 Nội dung Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non 22
1.4.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng 22
Trang 61.4.2 Tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng 24
1.4.3 Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng 24
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng 25
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên mầm non 26
1.5.1 Những yếu tố khách quan 26
1.5.2 Những yếu tố chủ quan 27
1.6 Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non theo chuẩn trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay 31
Tiểu kết Chương 1 34
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35
2.1 Khái quát chung về khách thể khảo sát 35
2.1.1 Giới thiệu về ngành giáo dục và đào tạo quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 35
2.1.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 37
2.2 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 38
2.2.1 Thực trạng về mục tiêu bồi dưỡng 40
2.2.2 Thực trạng về nội dung, chương trình bồi dưỡng 41
2.2.3 Thực trạng về hình thức tổ chức bồi dưỡng 42
2.2.4 Thực trạng về lực lượng bồi dưỡng 43
2.2.5 Thực trạng về đối tượng bồi dưỡng 44
2.2.6 Thực trạng về các điều kiện hỗ trợ hoạt động bồi dưỡng 44
2.2.7 Thực trạng về kết quả hoạt động bồi dưỡng 45
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 46
2.3.1 Thực trạng công tác lập kế hoạch bồi dưỡng 47
2.3.2 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng 48
2.3.3 Thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng 49
2.3.4 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng 51
2.4 Thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 52
2.5 Đánh giá chung 55
2.5.1 Những ưu điểm 55
Trang 72.5.2 Những hạn chế 55
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 56
Tiểu kết Chương 2 57
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 58
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 58
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 58
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 58
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 59
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 60
3.2 Biện pháp quản lý bồi dưỡng GVMN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 61
3.2.1 Tăng cường các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ QLGD, giáo viên về Chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên mầm non nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 61
3.2.2 Xây dựng, quản lý và phát triển chương trình bồi dưỡng giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp 68
3.2.3 Đổi mới hình thức tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên 70
3.2.4 Gắn hoạt động bồi dưỡng giáo viên với công tác quy hoạch, đánh giá giáo viên hàng năm 76
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non 78
3.2.6 Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp 83
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 86
3.4 Khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp 86
Tiểu kết Chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2 Khuyến nghị 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
I - Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1 Thống kê số lượng Giáo viên và nhân viên phục vụ 37 Bảng 2.2 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng giáo viên
mầm non 39 Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả khảo sát về thực trạng thực hiện các nội dung
trong hoạt động bồi dưỡng GVMN quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội 40 Bảng 2.4 Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của công tác quản lý
hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non 46 Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả khảo sát về mức độ thực hiện các nội dung quản
lý hoạt động bồi dưỡng GVMN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng,
TP Hà Nội 47 Bảng 2.6 Tổng hợp kết quả khảo sát về mức độ ảnh hưởng của một số yếu
tố đến hiệu quả quản lý công tác bồi dưỡng GVMN 52 Bảng 3.1 Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 87 Bảng 3.2 Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp 88
II - Danh mục sơ đồ
Sơ đồ 1.1 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN 22
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Các hoạt động giáo dục trong nhà trường là nội dung cơ bản, quan trọng, xuyên suốt trong quá trình giáo dục học sinh, giúp hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh Hiện nay, các nhà trường đều tập
trung thực hiện tốt các nội dung GD và ĐT với phương châm "Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập
trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh." (Nghị Quyết số 29, Hội nghị Trung ương
lần thứ 8 khóa XI của Đảng về Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT)
Giáo dục mầm non (GDMN) là ngành học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên của ngành giáo dục và đào tạo GDMN là tiền đề cho giáo dục tiểu học với nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ từ 0 đến 5 tuổi, một lứa tuổi vô cùng quan trọng Nhà tâm lý học người Nga Macarencô
đã nói: “Những cái không có được ở trẻ em trước 5 tuổi thì sau này rất khó
hình thành và nhân cách đã sai lệch từ nhỏ thì sau này khó cải tạo” Mục tiêu
của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, thẩm
mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào lớp 1
Nghị quyết đại hội ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ II khóa VIII
đã nói rõ: “Giáo viên là nhân tố quyết định sự nghiệp giáo dục” Sự nghiệp giáo dục - đào tạo thành công và phát triển đòi hỏi người giáo viên phải đảm bảo vừa hồng vừa chuyên, có đủ phẩm chất và năng lực
Muốn vậy, người giáo viên mầm non bên cạnh việc đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp, cần là tấm gương sáng để các em noi theo, học tập Đội ngũ cán bộ, giáo viên có vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và
Trang 10đào tạo, là người trực tiếp hình thành nhân cách, tổ chức và trang bị tri thức cho học sinh
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, giáo dục mầm non trong những năm qua đã có những chuyển biến rất lớn về mọi mặt như: Quy
mô trường lớp được mở rộng, số lượng trẻ ra lớp phát triển mạnh, chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng được nâng lên rõ rệt Những thành tựu mà giáo dục mầm non đã đạt được do nhiều nguyên nhân, xong nguyên nhân quan trọng
và chủ yếu nhất là sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ, giáo viên Chính họ
đã, đang và sẽ tạo nên những kết quả của sự nghiệp giáo dục mầm non
Để phục vụ cho nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có phẩm chất, trình độ, năng lực đề cao lương tâm và nhân cách nhà giáo, lòng nhân ái tận tuỵ thương yêu trẻ, thể hiện ở tinh thần
tự học, tự bồi dưỡng cải tiến nội dung phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ tham gia tích cực Vậy bất kỳ người quản lý nào không thể bỏ qua việc bồi dưỡng lực lượng cán bộ giáo viên Mục tiêu của công tác bồi dưỡng là nhằm hoàn thiện quá trình đào tạo, khắc phục những thiếu sót lệch lạc trong công tác giảng dạy, về quan điểm, nội dung phương pháp giáo dục đồng thời theo kịp những yêu cầu của xã hội
Đối với đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, cơ bản đủ về số lượng, ngày càng nâng cao về chất lượng đội ngũ, tâm huyết, tận tình với nghề, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới bậc học mầm non nói riêng Bên cạnh đó, một bộ phận giáo viên còn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, đặc biệt có các hiện tượng giáo viên còn yếu về nghiệp vụ, phẩm chất, đạo đức còn bộc lộ những hạn chế nhất định Mặt khác, công tác bồi dưỡng còn ít được tăng cường, việc kiểm tra, giám sát chưa được quan
Trang 11tâm đúng mức nên hiệu quả giáo dục và chất lượng đội ngũ giáo viên còn có những bất cập
Nhằm quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên mầm non có hiệu quả cũng như thực hiện tốt việc quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non trên địa bàn, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
và đào tạo, chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu đề tài "Quản lý hoạt động bồi
dưỡng giáo viên mầm non trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay"
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuất biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non
3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
3.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay và khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng về
chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên mầm non của Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hai Bà Trung, thành phố Hà Nội
Trang 124.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng về
chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên mầm non của Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ giáo viên mầm non quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: Các số liệu được lấy đến năm học 2015 - 2016 Đối tượng khảo sát: CBQL, giáo viên mầm non quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Địa bàn nghiên cứu: các trường mầm non trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội,
6 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay còn bộc lộc nhiều hạn chế, chưa đáp ứng tốt những thách thức của thời đại cũng như yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay Nếu lãnh đạo ngành GD&ĐT quận Hai Bà Trưng áp dụng đồng bộ, hệ thống các biện pháp quản lý và đảm bảo phù hợp, sát thực tế thì sẽ đem lại hiệu quả cho hoạt động này, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của ngành
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các văn bản, tài liệu thể hiện quan điểm, đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các công trình nghiên cứu khoa học về quản lý hoạt động bồi dưỡng phẩm chất nghề nghiệp cho giáo viên mầm non ở trên thế giới và ở trong nước để hình thành cơ sở lý luận của đề tài
Trang 137.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Điều tra bằng hệ thống phiếu hỏi với đối tượng là Cán bộ quản lý, giáo viên các trường mầm non trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
7.3 Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn Hiệu trưởng, giáo viên các trường mầm non trên địa bàn để làm rõ hơn và lý giải nguyên nhân những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên
7.4 Phương pháp quan sát:
Thực hiện quan sát, phân tích, xin ý kiến chuyên gia
7.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu; tổng hợp, rút kinh nghiệm qua các công trình nghiên cứu của các chuyên gia, vận dụng phù hợp với tình hình thực tiễn nghiên cứu
7.6 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý và phân tích các số liệu, kết quả điều tra, thử nghiệm các biện pháp, xác định mức độ tin cậy của việc điều tra và kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Gồm phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo; phụ lục
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trên thế giới
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã có những nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm giáo viên một cách rõ nét, sâu sắc ở những khía cạnh, nội dung khác nhau Việc nghiên cứu này ở một số nước như sau:
1.1.1.1 Ở Thái Lan:
Ở Thái Lan, việc tổ chức bồi dưỡng tập trung trước đây đã được chuyển sang tổ chức đào tạo – bồi dưỡng dựa vào nhà trường Trước đây, chương trình đào tạo để phát triển nghề nghiệp giáo viên đương nhiệm thường được tổ chức tập trung ở một thành phố Các chương trình này thường có chi phí cao, thời gian tập huấn ngắn, không được đánh giá, kiểm tra liên tục và giáo viên phải nghỉ dạy để tham gia Để giải quyết những vấn đề trên, Bộ Giáo dục Thái Lan đã đưa ra một chương trình mới, có hiệu quả và thích hợp để đào tạo và bồi dưỡng giáo viên đương nhiệm, được tiến hành ngay tại các cơ sở giáo dục, gọi là đào tạo dựa vào nhà trường (school – based training)
Theo chương trình này, 4 dự án thí điểm đã được tiến hành, đó là: Dự án
GV Quốc gia; Dự án GV chủ chốt; Dự án nghiên cứu và triển khai các mẫu hình đào tạo dựa vào nhà trường và Dự án hỗ trợ đào tạo dựa vào nhà trường Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng mô hình đào tạo này rất hiệu quả đối với GV nói riêng cũng như đối với ngành sư phạm nói chung, nó góp phần tạo nên những thành công cho công cuộc cải cách học tập ở Thái Lan:
Trang 15- Dự án GV chủ chốt : Nhằm chọn lựa những GV có thể áp dụng thành công quan điểm lấy người học làm trung tâm làm GV chủ chốt Mỗi GV được trợ cấp 25.000 bạt để xây dựng những mạng lưới (10 GV/ mạng lưới) trong 4 tháng để áp dụng các phương pháp theo quan điểm lấy người học làm trung tâm
- Dự án GV Quốc gia (national teachers): Nhằm chọn lựa được những
GV có thể tiến hành nghiên cứu và triển khai quá trình đổi mới dạy – học Mỗi người được cấp 220.000 bạt/người/năm để nghiên cứu, triển khai và đào tạo khoảng 50 GV khác trong 3 năm
Kết quả của 2 dự án cho thấy GV đã thay đổi được cách dạy, từ phương pháp áp đặt chuyển sang phương pháp tích cực Các GV chủ chốt và GV Quốc gia đã đào tạo lại cho GV ở trường mình đáp ứng được những yêu cầu trong công tác dạy học hằng ngày Phương pháp đào tạo này tương tự phương pháp đào tạo GV đương nhiệm ở các nước như Nhật Bản, Australia, New Zealand
- Dự án nghiên cứu và triển khai các mẫu hình đào tạo dựa vào nhà trường: Văn phòng Hội đồng GD chọn 10 hội đồng nhà trường và cấp kinh phí để họ tiến hành triển khai theo mô hình đào tạo dựa vào nhà trường Kết quả cho thấy 10 mô hình đều thành công, các GV rất tích cực và HS thì rất thích thú Ưu điểm của mô hình này là tiết kiệm được chi phí so với cách đào tạo tập trung
- Dự án hỗ trợ đào tạo dựa vào nhà trường: nhằm phát triển GV đương nhiệm và thúc đẩy quá trình cải cách dạy học được tiến hành vào năm 2003 –
2004 với mục tiêu là lựa chọn 274 GV, mỗi GV này được cấp 25.000 bạt để đàotạo các GV khác trong trường mình hoặc trường lân cận Để thành công Hiệu trưởng cần hỗ trợ và tạo điều kiện cho các GV này và coi họ là những người đi đầu trong việc đổi mới phương pháp dạy học
Trang 161.1.1.2 Ở Hàn Quốc:
Ở Hàn Quốc, việc bồi dưỡng GV đương nhiệm nhằm trang bị cho GV lý luận và phương pháp luận về giáo dục để nâng cao khả năng, hiệu quả giảng dạy trong lớp học Các chương trình bồi dưỡng được thiết kế riêng cho từng đối tượng: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, GV, cán bộ thư viện, GV điều dưỡng… Bồi dưỡng GV thường có 2 loại: bồi dưỡng lấy chứng chỉ và bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ Mỗi chương trình bồi dưỡng thường kéo dài 30 ngày (180 giờ) hoặc lâu hơn Chương trình được phân loại phù hợp với mục đích bồi dưỡng, bao gồm: bồi dưỡng về soạn thảo chương trình giảng dạy; đào tạo số hóa thông tin, dữ liệu; bồi dưỡng chung; bồi dưỡng NVSP… Những người thiết kế chương trình này sẽ quyết định nội dung và thời gian cho mỗi khóa bồi dưỡng Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho GV thường chú ý đến kiến thức cập nhật, kiến thức mới cũng như phương pháp giảng dạy của thời đại toàn cầu hóa Chương trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho
GV được tiến hành một cách đều đặn thông qua nhiều hình thức đào tạo khác nhau, GV có thể lựa chọn các trường mà mình đến học, lựa chọn khóa đào tạo phù hợp với thời gian biểu của mình
Ngoài ra, họ còn có thể theo học các khóa đào tạo từ xa hoặc các khóa học đặc biệt do các viện khoa học tổ chức Các chứng chỉ được cấp sau các khóa đào tạo đều được sử dụng để xem xét trong quá trình thăng chức, lên lương, cũng như tiền thưởng
Trang 17GV đảm bảo chuyển từ 18 xuống 15 giờ và đối với các thạc sĩ giảm từ 15 xuống còn 14 giờ Nhưng họ phải đảm bảo 4 giờ có mặt và hoạt động sư phạm trong nhà trường (đối với thạc sĩ là 3 giờ) tức là 132 giờ một năm GV chỉ có 15 giờ lên lớp/tuần (15 giờ giảng dạy tương ứng với những giờ có mặt trước học sinh, kể cả những công việc hướng dẫn học sinh làm bài tập hoặc thực hành, không tính đến những nhiệm vụ truyền thống như chuẩn bị bài, chấm bài và các cuộc gặp gỡ phụ huynh học sinh) Chú trọng việc đào tạo bồi dưỡng các nhà quản lý giáo dục
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên tại Việt Nam
Khi nói đến giáo dục thì ta phải nghĩ ngay đến yếu tố quan trọng không thể thiếu đó là đội ngũ giáo viên, lịch sử nghiên cứu giáo dục nước ta đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu, song tập trung nhiều nhất vào thời kỳ chúng ta xây dựng chiến lược phát triển giáo dục từ năm 1998 đến nay, nội dung của các bài viết chủ yếu xác định về vai trò của đội ngũ giáo viên, về đánh giá chất lượng đội ngũ, nguyên nhân của những yếu kém, những tồn tại cần khắc phục ở những địa phương khác nhau, những phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu riêng biệt Một số công trình nghiên cứu
về đề tài này như: Năm 1999, Phạm Quang Huân có bài viết: “Nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV trường phổ thông”, Tạp chí Phát triển Giáo dục số 1 [23]; Năm 2002, Trần Bá Hoành đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng GV trong bài “Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng từ xa”, Tạp Chí Giáo dục, tháng 11/2002 [20]; Năm 2003, tác giả Hà Thế Truyền có đề tài “Những giải pháp quản lý nhằm nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên THPT trong giai đoạn mới”, Đề tài cấp Bộ, mã số B2001-53-06 [41]; Tác giả Bùi Thị Loan trong bài viết “Về công tác bồi dưỡng GV THPT hiện nay”
ở tạp chí Giáo dục số 176 đã đề cập đến thực trạng chất lượng và điều kiện của công tác đào tạo bồi dưỡng GV THPT hiện nay [29]
Trang 18Tác giả Lưu Xuân Mới, Học viện Quản lý giáo dục nghiên cứu “Phát triển chuyên môn - nghiệp vụ cho giảng viên đại học trong thời đại thông tin” đã đề cập đến việc phát triển chuyên môn, nghiệp vụ cho người GV thời hiện đại như
là tất yếu khách quan và là chìa khóa then chốt để cải tiến chất lượng dạy đại học
và có xác định đến một số kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của GV [32]
Ngoài ra có rất nhiều Luận văn thạc sĩ, các bài báo đăng trên các tạp chí, tập san về khoa học giáo dục, các công trình nghiên cứu khoa học khác nghiên cứu về việc xây dựng và phát triển chuyên môn, nghiệp vụ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
Để thực hiện quản lý đội ngũ giáo viên có năng lực nghề nghiệp, đáp ứng các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp đã có nhiều đề tài nghiên cứu, trong
đó có các đề tài luận văn thạc sĩ khoa học tập trung nêu các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên như: “Các biện pháp quản lý chương trình bồi dưỡng giáo viên mầm non nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non Hà Nội trong thời kỳ đổi mới” của Phạm Thị Thảo Hương (2003); Giải pháp quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non thành phố Hải Phòng trong giai đoạn từ nay đến 2015 của Vương Thị Đào (2008);… Qua các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố cho thấy các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ở các cơ sở giáo dục phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương để từng bước củng
cố, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này chủ yếu theo tiếp cận chức năng
Như vậy, qua nghiên cứu và tổng hợp một số tài liệu nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng giáo dục nước ta đang bước vào giai đoạn hết sức quan trọng và mang tính quyết định - đổi mới giáo dục và hội nhập quốc tế Vấn đề đặt ra là: để đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục và hội nhập cần có những nhà giáo như thế nào? Những phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và nghiệp
vụ sư phạm của giáo viên như thế nào để đảm bảo cho đổi mới giáo dục và
Trang 19hội nhập thành công, đặc biệt là đối với Giáo dục mầm non Với vai trò to lớn như vậy, công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên hiện nay là công việc hết sức quan trọng Công việc này không phải chỉ của riêng ngành giáo dục mà đang được sự quan tâm lớn của Đảng, của nhà nước và của toàn xã hội
Tuy nhiên đến nay, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào về thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng (về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm) cho đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố
lý, khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau, được nhiều tác giả quan niệm khác nhau, nổi bật hơn cả là một số tác giả lớn như:
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến" [36].
Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý một hệ thống xã hội là tác động
có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến" [26]
Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [30]
Trang 20Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác
định Đề tài quan niệm: Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra
1.2.2 Bồi dưỡng
Có nhiều cách định nghĩa, quan niệm khác nhau về bồi dưỡng như:
Từ điển Tiếng Việt cho rằng: Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất
Theo các tài liệu của UNESCO, bồi dưỡng được hiểu như sau: Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động
mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó
Cũng có thể hiểu, Bồi dưỡng là các hoạt động bồi bổ, làm tăng thêm
trình độ hiện có về kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm giúp cho giáo viên thực hiện công việc đạt kết quả tốt hơn
Bồi dưỡng là quá trình làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất Hiểu theo nghĩa rộng thì bồi dưỡng là quá trình giáo duc, đào tạo nhằm hình thành nhân cách theo mục đích đã chọn Hiểu theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng có thể coi
là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng còn thiếu hoặc lạc hậu, nhằm mục đích nâng cao hoặc hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể
để làm tốt hơn công việc đang tiến hành Từ góc độ khác, bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao năng lực nghề nghiệp
Trang 21Quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp
Như vậy, bồi dưỡng là quá trình đào tạo nối tiếp, đào tạo liên tục trong khi làm việc nhằm cập nhật kiến thức còn thiếu hay đã lạc hậu, củng cố, mở mang và trang bị một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ sẵn có Mục đích của bồi dưỡng là nhằm nâng cao năng lực, phẩm
chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở rộng,
và nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn, nghiệp vụ đã có,
từ đó nâng cao chất lượng hiệu quả công việc đang làm
1.2.3 Chuyên môn; nghiệp vụ sư phạm
1.2.3.1 Chuyên môn
Có nhiều cách hiểu khác về chuyên môn như sau:
- Có nhiều quan điểm cho rằng chuyên môn là lĩnh vực kiến thức của từng ngành riêng biệt (trình độ chuyên môn, năng lực chuyên môn), ví dụ: Chuyên môn toán học, chuyên môn văn học, chuyên môn vật lý học…
- Chuyên môn là chỉ làm hoặc hầu như chỉ làm một việc gì đó (cửa hàng chuyên bán đồ gỗ, cơ sở chuyên sản xuất bánh kẹo…)
- Chuyên môn là tổ hợp các tri thức và kỹ xảo riêng của một ngành khoa học, kỹ thuật nào đó mà con người có được qua đào tạo Cụ thể đối với giáo viên thì ta có thể hiểu chuyên môn gồm hai bộ phận: Tri thức khoa học (kiến thức môn học), nghiệp vụ sư phạm (các kỹ năng sư phạm)
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Tấn Thịnh thì cho rằng:
“Chuyên môn là hình thức phân công lao động sâu hơn của một nghề Nó đòi hỏi một kiến thức lý thuyết chuyên sâu và kỹ năng thực hành cụ thể trong một phạm vi hẹp hơn Chẳng hạn nghề cơ khí có các chuyên môn như đúc, tiện, nguội, bào…” [tr225, 37]
Trang 22Như vậy có thể hiểu: Chuyên môn là tổ hợp các tri thức và kỹ xảo thực
hành mà con người tiếp thu được qua đào tạo để có khả năng thực hiện một loại công việc trong phạm vi một ngành nghề nhất định, theo phân công lao động xã hội Chuyên môn chính là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở
đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách, báo, âm nhạc, tranh vẽ….) với tư cách là những phương tiện sinh tồn
và phát triển của xã hội
1.2.3.2 Nghiệp vụ sư phạm
- Nghiệp vụ: là công việc chuyên môn riêng của từng nghề [15]
- Sư phạm là: khoa học về GD và giảng dạy trong trường học [15] Hay có thể hiểu “Sư phạm là khoa học về GD mà đối tượng nghiên cứu là quá trình GD con người, tìm tòi phát hiện những quy luật GD, những con đường có hiệu quả
để nâng chất lượng GD, đặc biệt là sự can thiệp về mặt GD của GV trong những tình huống GD thực Như vậy, Nghiệp vụ sư phạm ở nhà trường là công việc chuyên môn chuyên biệt của GV với chức năng chính là giảng dạy, giáo dục HS; công việc này phải được thực hiện một cách khoa học, phù hợp với quy luật GD con người nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả trong việc phát triển toàn diện nhân cách của HS đáp ứng yêu cầu đổi mới của XH
Nghiệp vụ sư phạm của người giáo viên hay nói hẹp hơn là những kỹ năng sư phạm cơ bản của người GV bao gồm 4 kỹ năng cơ bản: Phân tích chương trình; Soạn bài môn dạy (Thiết kế bài giảng); Thiết kế bài tập; Đánh giá kết quả học tập môn dạy Với quan điểm này, NVSP cơ bản của GV được đề cập là những kỹ năng chủ yếu của hoạt động giảng dạy
NVSP trong cấu trúc nhân cách của người giáo viên bao gồm:
+ Các nghiệp vụ dạy học: thiết kế (giáo án, kế hoạch); nắm vững lựa chọn tri thức; lựa chọn, phân loại, phối hợp phương pháp dạy học; nắm
Trang 23vững đối tượng; khả năng ngôn ngữ, diễn đạt ý tưởng; sử dụng phương tiện dạy học; tổ chức, quản lý HS; ứng xử phù hợp tình huống sư phạm; vận dụng hiệu quả phân hóa - cá thể hóa; lôi cuốn thuyết phục HS học tập; kiểm tra đánh giá trình độ HS
+ Các nghiệp vụ giáo dục: xây dựng kế hoạch hoạt động GD; tổ chức, chỉ đạo hoạt động GD; nắm vững đối tượng và GD HS cá biệt; đánh giá, điều chỉnh hoạt động GD; thuyết phục cảm hóa HS; vận động, lôi cuốn, phối hợp GD; xây dựng tập thể HS; giao tiếp, ứng xử sư phạm…
Tóm lại, Nghiệp vụ sư phạm có thể hiểu là công việc chuyên môn của
nghề giáo, bao gồm những kiến thức, kỹ năng, tình cảm, thái độ đối với nghề dạy học, đảm bảo cho người giáo viên biết cách tổ chức thực hiện các quá trình giáo dục theo đúng yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ của người giáo viên
Những điều này thường được xác định rõ trong Điều lệ trường học, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên ở một cấp học nào đó Trong ngành giáo dục, tất cả những người trực tiếp làm công tác giáo dục ở mọi cấp học (giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục) đều phải đạt tới những chuẩn mực nhất định về nghiệp vụ
sư phạm
1.2.4 Giáo viên mầm non
Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Giáo viên (danh từ) là người dạy học ở bậc học phổ thông hoặc tương đương [40]
Theo Điều 70, Luật Giáo dục năm 2005, quy định đối với nhà giáo như sau [38]:
“1 Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác
2 Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
Trang 24c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
d) Lý lịch bản thân rõ ràng”
3 Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên”
Đặc tính lao động của người giáo viên là ở chỗ giáo viên cần thường xuyên hoàn thiện tri thức nghề nghiệp của mình, phải là người có học vấn toàn diện và chuyên sâu, có năng lực sư phạm và am hiểu đối tượng dạy học
Những tiêu chuẩn tối thiểu đối với một giáo viên là: Trước hết giáo viên phải là người có nhân cách mẫu mực để làm gương cho học sinh; được đào tạo chính quy và được trang bị đầy đủ kiến thức về lý luận dạy học và phương pháp sư phạm Thứ hai, giáo viên phải được trang bị kiến thức tương đối tổng quát và phải có một chuyên môn sâu để có thể đánh giá được tầm quan trọng của những tri thức chuyên môn của mình và đánh giá được nội dung các giáo trình trong bối cảnh chung Thứ ba, giáo viên phải có khả năng hoạt động xã hội để tập hợp và tổ chức được các hoạt động cho học sinh; có thể hình dễ gần không dị tật
Như vậy, Giáo viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong
các trường mầm non, trường phổ thông và giáo dục nghề nghiệp
Theo Điều 34, Điều lệ trường mầm non quy định: Giáo viên trong các cơ
sở giáo dục mầm non là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập [5]
Theo đó, tại Điều 35, Điều lệ trường mầm non, quy địnhk người giáo viên mầm non có các nhiệm vụ cơ bản sau [5]:
- Bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em
ở nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập
Trang 25- Thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình giáo dục mầm non: lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục; Xây dựng môi trường giáo dục, tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Đánh giá và quản lý trẻ em; Chịu trách nhiệm về chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn, của nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập
- Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; Gương mẫu, thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của trẻ em; Bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp
- Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ trẻ Chủ động phối hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em
- Rèn luyện sức khỏe; Học tập văn hoá; Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em
- Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quy định của nhà trường, quyết định của Hiệu trưởng
1.2.5 Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non
Hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng mới của người giáo viên mầm non để nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất nghề nghiệp, nghiệp vụ, tay nghề phù hợp với xu thế của
xã hội hiện đại Hoạt động bồi dưỡng được thực hiện sau khi người GVMN
đã có trình độ nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ về giáo dục mầm non, những nội dung bồi dưỡng chỉ giúp cho người GVMN có thêm những nhận thức mới mẻ, đầy đủ, cập nhật và sâu sắc hơn để vận dụng tốt vào thực tiễn nuôi dạy trẻ tại trường mầm non đạt hiệu quả hơn
Có thể hiểu, Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non là hoạt
động tác động có mục đích của chủ thể quản lý tới hoạt động bồi dưỡng
Trang 26chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GV tại các trường mầm non nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp GV, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non
Hoạt động này bao gồm các nội dung chính là: xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên mầm non, tổ chức, chỉ đạo công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non theo kế hoạch, kiểm tra, đánh giá bồi dưỡng giáo viên mầm non để có cơ sở xây dựng kế hoạch cho hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng tiếp theo
Về chủ thể quản lý trong hoạt động quản lý bồi dưỡng GVMN có thể được tiếp cận theo các chủ thể sau: cơ quan quản lý trực tiếp đội ngũ giáo viên mầm non, của CBQL về giáo dục mầm non của các cơ quan: Bộ Giáo dục và đào tạo, Sở Giáo dục và đào tạo, Phòng Giáo dục và đào tạo, các trường mầm non Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tìm hiểu, tiếp cận khái niệm quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non với vai trò chủ thể của hoạt động quản lý bồi dưỡng thuộc về cơ quan Quản lý hành chính nhà nước về giáo dục tại địa phương (Sở, Phòng GD&ĐT)
1.3 Các thành tố của quá trình bồi dưỡng giáo viên mầm non
1.3.1 Mục tiêu bồi dưỡng
Đối với nhà trường, đơn vị trực tiếp quản lý và sử dụng đội ngũ giáo viên, thì công tác bồi dưỡng phải được nhận thức đầy đủ, sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt Chúng ta đặc biệt chú trọng đến hoạt động bồi dưỡng của nhà trường vì vai trò, ý nghĩa lớn lao, đáp ứng những mục tiêu đề ra của công việc này:
- Việc bồi dưỡng giáo viên mang tính chiến lược, đây là công việc phải làm thường xuyên, liên tục, lâu dài để xây dựng một đội ngũ giáo viên đủ về
số lượng, phù hợp về cơ cấu và có chất lượng cao, phục vụ cho chiến lược phát triển lâu dài của nhà trường, của ngành Mặt khác, công tác bồi dưỡng còn mang tính cấp bách bởi nhà trường phải thực hiện ngay những yêu cầu
Trang 27của năm học, những chỉ đạo của ngành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục như đổi mới chương trình, SGK, phương pháp dạy học…
- Công tác bồi dưỡng sẽ đẩy mạnh sự phát triển về chuyên môn, nghiệp vụ của tất cả mọi giáo viên, nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học trong nhà trường
- Tham gia hoạt động bồi dưỡng sẽ giúp cho giáo viên thuận lợi khi làm việc với chương trình mới, có thái độ tích cực và thích ứng với những thay đổi nhanh và thách thức của thời đại
- Khi tham gia hoạt động bồi dưỡng thường xuyên sẽ góp phần nâng cao ý thức, phương pháp, kỹ năng, thói quen tự học của giáo viên Công tác bồi dưỡng còn giúp giáo viên có khả năng tự đánh giá tốt hơn khi họ hoàn thành công việc và có sự tiến bộ trong công việc
Như vậy, Chương trình bồi dưỡng giáo viên mầm non là căn cứ để quản lí, chỉ đạo, tổ chức biên soạn tài liệu phục vụ công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên mầm non, từng bước nâng cao mức độ đáp ứng của giáo viên mầm non với yêu cầu phát triển giáo dục và yêu cầu về nghề nghiệp đối với giáo viên mầm non
1.3.2 Nội dung, chương trình bồi dưỡng
Trước những yêu cầu mới đối với người giáo viên, nội dung bồi dưỡng, phát triển giáo viên rất phong phú, đa dạng Nhiều kiến thức ở các lĩnh vực khác nhau cần được trang bị để nâng cao trình độ người giáo viên về mọi mặt Những nội dung cơ bản là:
- Bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, đường lối, quan điểm phát triển giáo dục của Đảng, nhà nước, đạo đức lối sống
- Bồi dưỡng kiến thức pháp luật
- Bồi dưỡng kiến thức về quản lý
- Bồi dưỡng về chuyên môn - nghiệp vụ sư phạm: Bồi dưỡng theo chu
Trang 28kỳ thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hóa, trên chuẩn, bồi dưỡng đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, bồi dưỡng chuyên đề nâng cao, công tác chủ nhiệm, công tác kiêm nhiệm, những kiến thức về tâm
lý học, giáo dục học…
- Bồi dưỡng về văn hoá, ngoại ngữ, tin học
- Bồi dưỡng về sức khỏe, TDTT, âm nhạc, văn nghệ…
Nội dung bồi dưỡng GVMN theo chuẩn nghề nghiệp về lý thuyết, thực hành của 3 lĩnh vực và các tiêu chí kèm theo: Lĩnh vực về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; Lĩnh vực về kiến thức; Lĩnh vực về kỹ năng sư phạm
1.3.3 Hình thức tổ chức bồi dưỡng
Hoạt động bồi dưỡng được thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú
đặc biệt là:
- Bồi dưỡng tập trung: Thông qua các lớp tập huấn, lớp bồi dưỡng
trong hè và trong năm học do Sở Giáo dục và đào tạo, Phòng Giáo dục và đào tạo, nhà trường tổ chức; Thông qua lớp bồi dưỡng chuyên sâu do các
chuyên gia, cán bộ cốt cán tổ chức
- Bồi dưỡng thường xuyên trong năm học: Nhà trường tổ chức bồi
dưỡng giáo viên theo hình thức tự học của giáo viên, học tập theo tổ chuyên môn, theo nhóm giáo viên Hình thức bồi dưỡng tại cơ sở, tại trường góp phần xây dựng tinh thần cộng tác, làm việc theo tổ, nhóm trong nhà trường, khuyến khích giáo viên làm việc chăm chỉ, tích cực để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
1.3.4 Lực lượng bồi dưỡng
Tùy theo từng hình thức bồi dưỡng mà lực lượng tham gia bồi dưỡng là khác nhau Lực lượng bồi dưỡng có thể là các chuyên gia về giáo dục mầm non (các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục ), các nhà quản lý của Sở Giáo dục và
Trang 29đào tạo, Phòng Giáo dục và đào tạo, các cán bộ quản lý, giáo viên giỏi, có nhiều kinh nghiệm ở các trường mầm non
1.3.5 Đối tượng bồi dưỡng
Việc bồi dưỡng giáo viên mầm non là hướng đến hoàn thiện, phát triển
về chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề cho đội ngũ giáo viên đứng lớp Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng nói chung cũng như hiệu quả nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non, việc bồi dưỡng cần hướng đến cả đối tượng là cán bộ quản lý trường học, cán bộ quản lý các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục mầm non (Sở, Phòng ) để có sự thống nhất trong quá trình
tổ chức, chỉ đạo thực hiện
1.3.6 Các điều kiện hỗ trợ hoạt động bồi dưỡng
Để đáp ứng yêu cầu của công tác bồi dưỡng giáo viên thì hệ thống cơ
sở vật chất phải được đầu tư, chuẩn bị, từ phòng ốc, các phương tiện hỗ trợ, các phương tiện thực hành, thực tế Phải có hệ thống thông tin nội bộ tốt đảm bảo kịp thời thông báo và thu nhận các thông tin cần thiết
Vấn đề quản lý tài chính, chủ yếu là kinh phí tổ chức bồi dưỡng cần được xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai hợp lý, hiệu quả theo từng năm
Vấn đề tài liệu, chương trình, giáo trình phục vụ quá trình bồi dưỡng cũng cần được cập nhật, hoàn thiện kịp thời
1.3.7 Kết quả hoạt động bồi dưỡng
Kết quả hoạt động bồi dưỡng chính là giá trị thu được sau khi tổ chức hoạt động bồi dưỡng Kết quả này có thể kiểm chứng được ngay sau khi kết thúc quá trình bồi dưỡng thông qua kiểm tra, đánh giá, viết bài thu hoạch cuối khóa Tuy nhiên, về mặt hiệu quả, hoạt động bồi dưỡng chỉ đem lại kết quả thông qua kết quả hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ của giáo viên sau bồi dưỡng (chất lượng các giờ dạy, chất lượng giáo dục, chăm sóc trẻ được cải thiện, nâng cao) so với trước khi tổ chức bồi dưỡng cho GV
Trang 301.4 Nội dung Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non
Công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non được triển khai thường xuyên,
thực hiện nghiêm túc và khách quan thì mới đem lại giá trị tin cậy cho nhà quản lý Muốn vậy, để quản lý tốt công tác này, người CBQLGD (mà trực tiếp là Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo) cần thực hiện đầy đủ các nội dung của công tác quản lý Trong luận văn này, theo tiếp cận về các chức năng quản lý giáo dục, chúng tôi nghiên cứu nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng
giáo viên mầm non bao gồm bốn nội dung (tương ứng với bốn chức năng
QLGD) cụ thể như sau:
Sơ đồ 1.1 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN
1.4.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng
Kế hoạch là tổng thể các hoạt động liên quan đến đánh giá, dự đoán, dự báo và huy động các nguồn lực để xây dựng chương trình hành động tương lai cho công tác tổ chức bồi dưỡng giáo viên mầm non
Trọng tâm của lập kế hoạch chính là hướng vào tương lai: Xác định những gì cần phải hoàn thành và hoàn thành như thế nào, nhằm xác định mục tiêu, chỉ ra phương án tốt nhất để phối hợp các nguồn lực đạt được mục tiêu
Tổ chức bồi dưỡng
Kiểm tra công tác bồi dưỡng
Lập kế hoạch bồi dưỡng
Chỉ đạo công tác bồi dưỡng
Trang 31Kế hoạch tổ chức bồi dưỡng giáo viên mầm non cần đảm bảo các nội dung cơ bản:
- Xác định mục tiêu (For What?): tức là nhằm xác định mức độ năng lực của GVMN ở thời điểm trước bồi dưỡng, giúp người GVMN nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu để tiếp tục hoàn thiện Cụ thể:
+ Để GV tự đánh giá năng lực và kết quả hoạt động về chuyên môn, nghiệp vụ theo các tiêu chuẩn được quy định Từ đó, người GV sẽ có kế hoạch phát huy ưu điểm, khắc phục thiếu sót trong năng lực và kết quả nuôi dạy hàng năm
+ Làm cơ sở để xếp loại GVMN hàng năm, phục vụ cho công tác quy hoạch cán bộ, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ
+ Làm cơ sở nghiên cứu, đề xuất, thực hiện chính sách đối với đội ngũ GVMN, cung cấp tài liệu cho các hoạt động quản lý của ngành
- Xác định nội dung của kế hoạch (What?), cần xác định được:
+ Ai tham gia bồi dưỡng (Who?)
+ Các tài liệu, biểu mẫu có liên quan
+ Các điều kiện đảm bảo kết quả bồi dưỡng
- Lựa chọn phương thức (Làm như thế nào - How?): Thực hiện theo đúng quy trình tổ chức bồi dưỡng, bao gồm các hoạt động trước - trong và sau khi tổ chức bồi dưỡng Nêu rõ các nguồn hỗ trợ, phục vụ cho công tác tổ chức triển khai hoạt động bồi dưỡng đảm bảo hiệu quả
- Thời gian (Khi nào làm - When?): Phân công thời gian tổ chức bồi dưỡng cụ thể, có lịch kèm theo
- Địa điểm (Làm ở đâu - Where?): Các đơn vị nhà trường tiến hành rà soát, đăng ký và Phòng GD&ĐT tổng hợp, triển khai, đề xuất địa điểm bồi dưỡng phù hợp với tình hình thực tiễn trên địa bàn quản lý
Trang 321.4.2 Tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng
Tổ chức là quy trình thiết kế bộ máy, sắp xếp, bố trí, sử dụng và phát triển các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chung Bản chất của chức năng
tổ chức chính là thực hiện sự phân công lao động hợp lý (cả lao động quản lý
và lao động cụ thể) để phát huy cao nhất khả năng của nguồn nhân lực nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu chung, gồm:
- Xác định những nhiệm vụ thực hiện để đạt được mục tiêu chung
- Nhóm gộp các hoạt động này thành những bộ phận
- Phân công người phụ trách các bộ phận và công việc của từng bộ phận
- Giao phó quyền hạn tương ứng để thực hiện nhiệm vụ
- Xác lập cơ chế cho sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận và trong việc phối hợp quyền hạn
Để phân công công việc được hiệu quả, nhà quản lý cần phải thực hiện yêu cầu:
+ Xuất phát từ yêu cầu của công việc để sắp xếp, bố trí nhân sự
+ Tập hợp các công việc tương tự vào cùng một nhóm
+ Quy định rõ ràng, chính xác nhiệm vụ của mỗi bộ phận
+ Cung cấp các điều kiện vật chất, kỹ thuật để thực thi công việc
+ Trao quyền tương xứng cho các chủ thể phụ trách các bộ phận
Trên thực tế công tác quản lý đội ngũ GVMN, việc tổ chức bồi dưỡng giáo viên mầm non là rất quan trọng Từ tổ chức các chương trình bồi dưỡng, thời gian bồi dưỡng, lực lượng tham gia bồi dưỡng, hướng đến các đối tượng bồi dưỡng cụ thể, phản ánh đúng thực tế, thực trạng công tác quản lý đội ngũ GVMN
1.4.3 Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng
Chỉ đạo công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non là quá trình điều hành, hướng dẫn các hoạt động liên quan đến công tác bồi dưỡng giáo viên mầm
Trang 33non nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trên cơ sở nguồn lực đã được sắp xếp,
bố trí
Sau khi có kế hoạch bồi dưỡng được lập ra, tổ chức được bộ máy nhân
sự, các nguồn lực tham gia đã sẵn sàng thì trách nhiệm, vai trò của người cán
bộ lãnh đạo càng được thể hiện rõ nét Công tác chỉ đạo có hai phương diện
cơ bản là duy trì kỷ cương, kỷ luật và động viên, khích lệ nhân viên
Trong chỉ đạo công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non, nhà quản lý (ở đây là lãnh đạo Phòng GD&ĐT) cần đảm bảo các yêu cầu:
- Về nội dung bồi dưỡng giáo viên mầm non: theo đúng quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Về thời gian, thời điểm bồi dưỡng: đúng theo kế hoạch chung của ngành, có thông báo cụ thể, rõ ràng để đơn vị sử dụng GVMN sắp xếp, bố trí
- Về thành phần tham gia bồi dưỡng: theo đúng quy định chung, bao gồm cán bộ quản lý nhà trường và giáo viên
- Về kết quả hoạt động bồi dưỡng: đảm bảo thực hiện có hiệu quả, có đánh giá sau bồi dưỡng
- Về công tác tổng kết, lưu trữ hồ sơ, kết quả: thực hiện đầy đủ, để thuận tiện cho việc theo dõi, đánh giá về sau
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng
Công tác kiểm tra, đánh giá và sử dụng kết quả bồi dưỡng giáo viên mầm non là quá trình thực hiện việc rà soát, đối chiếu, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động trong việc tổ chức bồi dưỡng giáo viên mầm non nhằm đạt mục tiêu đã đề ra, sử dụng kết quả đã đạt được phục vụ công tác quản lý, tổ chức các hoạt động giáo dục và đào tạo đảm bảo thống nhất trên địa bàn
Công tác kiểm tra, đánh giá được thực hiện đồng thời ở trước, trong và sau khi tiến hành bồi dưỡng giáo viên:
Trang 34- Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch nhằm phòng ngừa những sai lầm có thể xảy ra về một nội dung hoặc tổng thể chương trình hành động (mục tiêu, phương án, các nguồn lực )
- Kiểm tra trong quá trình bồi dưỡng nhằm mục đích giám sát, duy trì
kỷ luật, kỷ cương trong triển khai thực hiện, đôn đốc các bộ phận đã được giao nhiệm vụ hoàn thành đảm bảo yêu cầu đề ra
+ Kiểm tra sau bồi dưỡng để khẳng định độ tin cậy và giá trị thực của công tác bồi dưỡng, rút ra bài họckinh nghiệm cho lần triển khai tiếp theo
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên mầm non
1.5.1 Những yếu tố khách quan
- Đặc điểm kinh tế, xã hội của địa phương: Điều kiện địa lý thuận lợi
hay khó khăn ảnh hưởng đến khả năng và mức thu hút sự định cư của đội ngũ
GV, đồng thời cũng là yếu tố tác động tới mức độ thể hiện năng lực của GV Cùng với điều kiện địa lý là các yếu tố kinh tế xã hội được phản ảnh trong tổng sản phẩm quốc nội GDP (Gross Domestic Product), chỉ số GDP phản ảnh kết quả phát triển kinh tế của vùng, lãnh thổ và đồng thời phản ảnh mức sống trung bình của người dân, HDI (Human Developmen Index) là chỉ số phát triển con người của một vùng, một địa phương, một quốc gia, chỉ số này cho thấy sự phát triển các yếu tố về con người đến đâu và sự quan tâm của xã hội đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực cả về yếu tố tinh thần, vật chất như thế nào
Bên cạnh đó các quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, nghề nghiệp, phong tục tập quán, truyền thống văn hoá địa phương, những sự quan tâm, ưu tiên của xã hội, trình độ học vấn của cộng đồng dân cư có ảnh hưởng và tác động lớn đến việc phát triển năng lực của GV nói chung và GVMN nói riêng
Trang 35Vì vậy đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới việc bồi dưỡng theo
Chuẩn nghề nghiệp của GVMN
- Nhưng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của ngành về GDMN: Nhiệm vụ chính trị của ngành có sự thay đổi thường xuyên, liên tục,
phù hợp, bám sát với nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội chung của đất nước, địa phương Nhiệm vụ chính trị của ngành cũng chính là nhân tố quyết định, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của ngành được diễn ra theo đúng định hướng, đúng yêu cầu đặt ra của từng giai đoạn Công tác bồi dưỡng giáo viên là hướng đến phát triển đội ngũ GV đáp ứng theo chuẩn, đảm bảo cho sự vận hành có hiệu quả của bộ máy quản lý giáo dục Việc bồi dưỡng cần bám sát một cách đầy đủ những chủ trương, chính sách giáo dục của ngành cũng như của địa phương (tỉnh, huyện), vận dụng linh hoạt, có hiệu quả trong tình hình thực tiễn Ngược lại, những chủ trương, chính sách của ngành, của địa phương đảm bảo phù hợp với sự phát triển của ngành thì sẽ thuận lợi trong công tác bồi dưỡng giáo viên
- Nội dung chuẩn giáo viên mầm non: Nội dung chuẩn được Bộ Giáo
dục và Đào tạo quy định thống nhất trong phạm vi toàn quốc, tuy nhiên đối với từng địa phương cụ thể cần được vận dụng linh hoạt, phù hợp với bối cảnh Nội dung chuẩn phản ánh được các tiêu chuẩn, tiêu chí cơ bản về năng lực của GVMN, nhưng việc mô tả chi tiết các chỉ báo, từng hành vi chưa thật tường minh sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả công tác bồi dưỡng GV theo chuẩn
1.5.2 Những yếu tố chủ quan
- Nhận thức về chuẩn GVMN và về bồi dưỡng GV theo chuẩn: Tất cả
đội ngũ GV và các thành phần tham gia quản lý hoạt động bồi dưỡng GV cần nhận thức đầy đủ về chuẩn GVMN, bao gồm nội dung các tiêu chuẩn, tiêu chí, các thông tin, minh chứng cần thu thập, phương pháp tổ chức bồi dưỡng Nếu các thành phần có liên quan tham gia bồi dưỡng và tham gia vào
Trang 36quản lý hoạt động bồi dưỡng không nhận thức đúng và đầy đủ về chuẩn thì sẽ ảnh hưởng tới kết quả bồi dưỡng ít có hiệu quả và giá trị không cao Ngoài ra,
họ cần nhận thức rõ tầm quan trọng, mục đích, ý nghĩa của công tác bồi dưỡng GVMN, có như vậy, công tác bồi dưỡng mới thực sự có ý nghĩa và trở thành yêu cầu, nhiệm vụ của từng nhà trường
- Năng lực của giáo viên mầm non
Nói đến năng lực con người là nói đến khả năng làm một cái gì đó đạt kết quả cao Nói một cách khoa học, năng lực là tổng thể những thuộc tính độc đáo của một cá nhân phù hợp với một hoạt động nhất định và làm cho hoạt động đó đạt hiệu quả
Trong tâm lí học, khái niệm năng lực được hiểu như là một tổ hợp các phẩm chất sinh lí – tâm lí phù hợp với yêu cầu của một hoạt động hoặc một lĩnh vực hoạt động nào đó, nó là cơ sở đảm bảo cho hoạt động của con người đạt hiệu quả cao
Trong giai đoạn hiện nay, bồi dưỡng cho GV mầm non theo chuẩn cần lưu ý các năng lực sau :
- Năng lực sư phạm: là khả năng của người giáo viên có thể thực hiện những hoạt động sư phạm Giáo viên có năng lực sư phạm là người đã tích lũy được vốn tri thức, hiểu biết và kĩ năng nhất định để làm tốt hoạt động giảng dạy và giáo dục trẻ
- Mối quan hệ giữa năng lực và kĩ năng: Năng lực và kĩ năng có mối quan hệ chặt chẽ, năng lực sư phạm là thuộc tính là đặc điểm của nhân cách, còn kĩ năng sư phạm là những thao tác riêng của hoạt động sư phạm trong các dạng hoạt động cụ thể
- Năng lực giảng dạy là một thành tố cấu thành năng lực sư phạm, nó giúp cho giáo viên thực hiện hoạt động giảng dạy có hiệu quả và có chất lượng
Trang 37Năng lực này bao gồm số kĩ năng tương ứng như; kĩ năng lựa chọn nội dung dạy học phù hợp với mục tiêu và đối tượng dạy học, các tri thức và kỹ thuật triển khai phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thuộc môn học; kĩ năng soạn bài, tổ chức các hoạt động học tập cũng như hoạt động độc lập của trẻ; kĩ năng kèm cặp và giúp đỡ học sinh cá biệt; kĩ năng sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học; kĩ năng phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm các hoạt động dạy học, kiểm tra đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh nắm được thông qua các hoạt động dạy học - giáo dục
Năng lực giáo viên là yếu tố rất quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng GD ở một cơ sở GD Đối với hoạt động bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp gắn với các năng lực cần bồi dưỡng như năng lực nhận thức, năng lực vận dụng kiến thức, năng lực thực hiện các kỹ năng Mỗi giáo viên phát triển các tố chất kỹ năng khác nhau và mức độ thể hiện các kỹ năng cũng khác nhau do đó người quản lý phải biết phát huy và bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên bộc lộ hết năng lực sẵn có và phát huy những năng lực tiềm ẩn trong mỗi giáo viên thông qua các hoạt động bồi dưỡng của người quản lý
- Vai trò của hiệu trưởng các trường mầm non trong quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động của nhà trường cũng như quản lý GVMN
Theo Luật Giáo dục 2005, Khoản 1, Điều 54 ghi rõ:“ Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận”
Hiệu trưởng là chủ thể quản lý, có thẩm quyền cao nhất về hoạt động chuyên môn hành chính trong nhà trường Trong công tác điều hành, Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chỉ đạo tập trung và thống nhất mọi công việc trong nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ năm học, cũng như
kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn mà tập thể đặt ra
Trang 38Điều lệ Trường mầm non đã xác định vị trí, vai trò quyền hạn của Hiệu trưởng trường mầm non như sau:
+ Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em c
Như vậy, trong công tác bồi dưỡng đội ngũ GV, bản thân người Hiệu trưởng phải nắm chắc chuẩn nghề nghiệp của GV mà Bộ GD đã quy định để chỉ đạo công tác bồi dưỡng chuẩn hóa Suy nghĩ để có được những quyết định phù hợp với quy định của nhà nước và của ngành Người Hiệu trưởng phải tìm cách nâng cao trình độ nhận thức của giáo viên về đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, tạo điều kiện cho họ nâng cao năng lực nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên Bên cạnh đó, phải làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, làm cho phụ huynh học sinh và các tổ chức xã hội có liên quan đến nhà trường hiểu biết về những đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước đối với giáo dục mầm non, hiểu về tình hình thực tế của trường
- Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về GDMN: Cơ quan quản lý nhà
nước về GDMN có vị trí, vai trò quan trọng trong công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng Vai trò này không tách rời với từng khâu, từng nội dung tổ chức
Trang 39hoạt động bồi dưỡng từ khảo sát nhu cầu, đánh giá thực trạng, đề xuất kế hoạch, chương trình, thời điểm và các vấn đề có liên quan đến việc tổ chức bồi dưỡng Do đó, về phía cơ quan quản lý nhà nước (trực tiếp là Phòng GD&ĐT) cần bố trí CBQL am hiểu về GDMN, có chuyên môn nghiệp vụ quản lý, nghiệp vụ GDMN thì hiệu quả quản lý mới đảm bảo đáp ứng yêu cầu
đề ra của thực tiễn giáo dục
Như vậy, công tác bồi dưỡng GVMN là công tác cần thiết, cần được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, có hiệu quả Trong quá trình thực hiện, hoạt động này chịu ảnh hưởng, tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan
Để hoạt động này thực sự đi vào nề nếp và đạt hiệu quả thiết thực, nhà quản lý cần quan tâm sâu sắc đến những yếu tố này, để kịp thời có những biện pháp, điều chỉnh phù hợp
1.6 Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non theo chuẩn trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non trong bối cảnh hiện nay
cần bám sát nội dung, tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8,
Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế) về các
nội dung có liên quan như sau:
Một là, xác định rõ mục tiêu đối với GDMN là: giúp trẻ phát triển thể
chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục
Trang 40Hai là, xác định rõ các giải pháp trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ
đạo của Đảng, Nhà nước về giáo dục mầm non là:
- Về nội dung giáo dục: Tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa nội dung giáo dục mầm non, chú trọng kết hợp chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý, yêu cầu phát triển thể lực và hình thành nhân cách
- Về công tác quản lý: Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo
Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình, nội dung và chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài tại Việt Nam Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo
Các cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo địa phương tham gia quyết định
về quản lý nhân sự, tài chính cùng với quản lý thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp
- Về phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục