Qua các nghiên cứu, thực nghiệm trong tâm lý học, hãy phân tích mối liên hệ giữa các giá trị cá nhân và cảm nhận hạnh phúc? Giá trị cá nhân là gì? Cảm nhận hạnh phúc là gì ? Giữa chúng liệu có mối liên hệ nào khăng khít ? Thoạt nhiên câu hỏi này được đặt ra với mỗi sinh viên đã trải qua 4 năm trải nghiệm cùng tâm lý học sẽ là một câu hỏi không khó để trả lời. Chúng ta đủ khả năng để trả lời cho từng khái niệm và giải thích chúng theo cách diễn đạt của cá nhân. Chúng ta dễ dàng dùng trực giác và kinh nghiệm để khẳng định giá trị cá nhân có ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc. Một ví dụ tiêu biểu ta có thể liên tưởng tới ngay đó là : Nếu giá trị của một người nằm ở vật chất thì nhiều tiền sẽ khiến người đó hạnh phúc, ngược lại giá trị cá nhân nằm ở tinh thần thì cảm nhận hạnh phúc của người đó sẽ thiên về những yếu tố cảm xúc, tình yêu, gia đình... Thế nhưng chỉ trả lời như vậy cho câu hỏi đó thì thực sự không có gì khoa học mà hoàn toàn dựa trên cảm tính và kinh nghiệm cá nhân. Vậy tại đây, xin phép được đặt ra giả thuyết : Giá trị cá nhân là một yếu tố quan trọng tác động đến sự cảm nhận hạnh phúc của mỗi người. Bằng những tìm hiểu một cách khoa học và logic, cá nhân em sẽ cố gắng bảo vệ giả thuyết trên và đưa ra các ảnh hưởng cụ thể mà giá trị cá nhân tác động đến cảm nhận hạnh phúc của mỗi người.
Trang 1Yêu cầu: Qua các nghiên cứu, thực nghiệm trong tâm lý học, hãy phân tích mối
liên hệ giữa các giá trị cá nhân và cảm nhận hạnh phúc
Mục lục
III Mối liên hệ giữa các giá trị cá nhân và cảm nhận hạnh phúc 7
Danh mục viết tắt
Bài làm
Trang 2I Mở đầu
Giá trị cá nhân là gì? Cảm nhận hạnh phúc là gì ? Giữa chúng liệu có mối liên hệ nào khăng khít ? Thoạt nhiên câu hỏi này được đặt ra với mỗi sinh viên đã trải qua 4 năm
trải nghiệm cùng tâm lý học sẽ là một câu hỏi không khó để trả lời Chúng ta đủ khả năng
để trả lời cho từng khái niệm và giải thích chúng theo cách diễn đạt của cá nhân Chúng
ta dễ dàng dùng trực giác và kinh nghiệm để khẳng định giá trị cá nhân có ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc
Một ví dụ tiêu biểu ta có thể liên tưởng tới ngay đó là : Nếu giá trị của một người nằm ở vật chất thì nhiều tiền sẽ khiến người đó hạnh phúc, ngược lại giá trị cá nhân nằm
ở tinh thần thì cảm nhận hạnh phúc của người đó sẽ thiên về những yếu tố cảm xúc, tình yêu, gia đình Thế nhưng chỉ trả lời như vậy cho câu hỏi đó thì thực sự không có gì khoa học mà hoàn toàn dựa trên cảm tính và kinh nghiệm cá nhân
Vậy tại đây, xin phép được đặt ra giả thuyết : Giá trị cá nhân là một yếu tố quan trọng tác động đến sự cảm nhận hạnh phúc của mỗi người Bằng những tìm hiểu một cách khoa học và logic, cá nhân em sẽ cố gắng bảo vệ giả thuyết trên và đưa ra các ảnh hưởng cụ thể mà giá trị cá nhân tác động đến cảm nhận hạnh phúc của mỗi người
II Các khái niệm
1 Giá trị cá nhân
Giá trị là một phạm trù được nhắc đến nhiều trong các ngành khoa học khác nhau như: Đạo đức học, xã hội học, kinh tế học, tâm lý học Mỗi ngành lại nghiên cứu giá trị
ở các khía cạnh khác nhau như sự hình thành, sự tồn tại, nội dung và điều kiện hình thành Nhưng tựu chung lại, khi nhắc đến giá trị thì người ta thường sử dụng 2 thuật ngữ tiếng Anh là value - giá trị, ý nghĩa và worth - vừa có nghĩa là giá trị, vừa có nghĩa là phẩm giá, phẩm chất Tuy nhiên ngày càng nhiều tài liệu lựa chọn thuật ngữ value để chỉ giá trị nói chung và định nghĩa
Theo từ điển Bách khoa Toàn Thư Xô Viết: Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc về thế giới xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội nói chung Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các
thuộc tính tự nhiên mà bởi tính chất cuốn hút của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi hứng thu và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các
Trang 3chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc
và chuẩn mự đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục đích [1]
Theo từ điển tiếng Việt[Được trích dẫn bởi Hoàng Thị Trang(2015)], giá trị là cái
mà con người dùng làm cơ sở để xem xét một vật có lợi ích đến mức nào đối với con người, cái mà con người dựa vào dùng để xem xét một người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, tài năng, những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của xã hội [2,Tr.31]
Theo tác giả Thái Duy Tuyên (được trích dẫn bởi Bùi Quang Long, 2015) , giá trị
là cái đáng quý, cái cần thiết, có ích lợi, có ý nghĩa, thỏa mãn những nu cầu vật chất và tinh thần của con người, của giai cấp, nhóm, xã hội Giá trị là một phạm trù lịch sử, thay đổi theo thời gian, là một phạm trù xã hội, phụ thuộc vào tính chất của dân tộc, tôn giáo cộng đồng[3]
Dưới góc độ của đạo đức học [Được trích dẫn bởi Hoàng Thị Trang(2015)] giá trị luôn gắn liền với những khái niệm trung tâm như: Cái thiện, cái ác, bình đẳng, bác ái bởi vì khái niệm giá trị thuộc về phạm vi đời sống đạo đức của con người, các quan hệ
xã hội và quá trình hình thành các chuẩn mực, quy tắc đạo đức của xã hội [2, Tr.33] Dẫn
chứng cụ thể hơn cho góc độ này, ở Việt Nam tác giả Trần Văn Giàu (1980) đã đưa ra hệ giá trị tổng quát nhất của dân tộc Việt Nam bao gồm 7 yếu tố đó là:
1 Yêu nước
2 Cần cù
3 Anh hùng
4 Sáng tao
5 Lạc quan
6 Thương người
7 Vì nghĩa
Theo hệ giá trị phổ quát của nhân loại bao gồm 12 yếu tố:
1 Hòa bình
2 Tôn trọng
3 Yêu thương
4 Khoan dung
5 Trung thực
6 Khiêm tốn
7 Hợp tác
8 Hạnh Phúc
9 Trách nhiệm
10 Giản dị
Trang 411 Tự do 12 Đoàn kết
Theo hệ giá trị của xã hội hiện đại lại bao gồm 5 giá trị căn bản:
1 Nhân văn, nhân bản, nhân ái
2 Khoa học và duy lý
3 Một nhân cách công dân có bản sắc riêng, có cá tính
4 Có năng lực nghề nghiệp cao
5 Có tính độc lập cao, tự chủ, tự giác, năng động, thích ứng cao
Như vậy, giá trị khi ở tầm vĩ mô được quy định cụ thể theo bối cảnh, theo thời điểm và nền văn hóa khác nhau của mỗi quốc gia Tất nhiên những phân loại này có tính chất tương đối và được sử dụng một cách hợp lý với mỗi cá nhân Vậy giá trị khi ở mức
độ cá thể, hay giá trị cá nhân có gì khác biệt?
Gần gũi hơn cả, hãy xét khái niệm giá trị trong tâm lý học:
Theo Trương Quang Lâm(2017) đã dẫn: các nhà Tâm lý học giải thích khái niệm giá trị như tư cách là một hiện tượng có ý nghĩa về mặt nhân cách, các quan hệ có giá trị
có nguồn gốc xã hội, tiêu chuẩn của giá trị có tính lịch sử cụ thể[4]
Tâm lý học hoạt động đã xác định “Giá trị là cái được chủ thể đánh giá thừa nhận trên cơ sở mối quan hệ với sự vật, hiện tượng đó” Các nhà tâm lý học nghiên cứu
khái niệm giá trị nhằm mục đích tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo
phát triển nhân cách Trong đó tâm lý học nhân cách đề cập tới giá trị như một bộ phận cấu thành nên tâm lý - nhân cách con người Có thể nói giá trị là một phạm trù không thể thiếu được khi để cập đến vấn đề nhân cách: Hoạt động - giao tiếp - giá trị - nhân cách[5]
Theo Schwartz(1992)[Được trích dẫn bởi Bùi Quang Long (2015)], cho rằng giá trị là những nguyên tắc dẫn đường trong cuộc sống hoặc là những mục tiêu tổng thể quy định hành động của con người[1]
Nhìn chung có khá nhiều khái niệm về giá trị của các tác giả khác nhau Tuy nhiên
ở góc độ tâm lý nói chung và để phục vụ cho tiểu luận này nói riêng, cá nhân tôi cho rằng quan điểm về giá trị của Schwartz là hợp lý hơn cả Một cách diễn giải đơn giản hơn từ
quan điểm của ông có thể nói rằng: giá trị là những gì chủ thể cho là quan trọng, cần thiết hoặc có ý nghĩa đối với cuộc sống của họ Chủ thể ở đây tất nhiên có thể là một cá
Trang 5nhân, một nhóm xã hội hoặc một nền văn hóa Khi giá trị đó có ý nghĩa riêng với một người thì được coi là giá trị cá nhân Chắc chắn giá trị này sẽ quyết định và có vai trò nhất định đối với mỗi chủ thể khác nhau
Vai trò của giá trị
Tóm lại, qua các định nghĩa, các nghiên cứu của nhiều tác giả về giá trị, chúng ta thấy được vai trò của giá trị:
Giá trị là cái mà mỗi cá nhân đang mong muốn vươn tới, chiếm lĩnh để thỏa mãn các nhu cầu của mình, vì vậy giá trị co vai trò định hướng, điều khiển, điều chỉnh hoạt động của cá nhân Giá trị như những quy tắc, chuẩn mực, luật lệ để điều chỉnh hoạt động cá nhân, đồng thời nó cũng là động lực thúc đẩy hoạt động của cá nhân để đạt được mục tiêu đề ra
Giá trị là cơ sở để đánh giá hành vi, thái độ của cá nhân ở những mặt: Đúng, sai, phù hợp hay không phù hợp Sự ổn định của giá trị xã hội tạo nên sự thống nhất về tâm lý, đạo đức, chuẩn mực của cá nhân trong cộng đồng Ngược lại nếu giá trị luôn biến đổi do các yếu tố bên ngoài thì sẽ gây
ra những khủng hoảng xã hội và để lại những thiệt hại nhất định cho xã hội
Thu gọn hơn, đối với mỗi cá nhân - gọi tắt là giá trị cá nhân đối với sự hình thành
phát triển nhân cách cá nhân là cơ sở cho xu hướng hình thành nhân cách Khơi nguồn tự
sự định hướng giá trị cho bản thân, cá nhân hình thành được những lập trường, tư tưởng,
xu hướng để phát triển nhân cách Bên cạnh đó cá nhân cũng có sự so sánh, phê phán, lựa chọn những giá trị phù hợp với bản thân, với chuẩn mực xã hội Như vậy giá trị trở thành một cấu trúc của nhân cách khi các giá trị được nhận thức một cách rõ ràng và cá nhân có
ý thức thực hiện nó
Vậy, tổng kết lại giá trị cá nhận có tối thiểu 2 vai trò cơ bản: Một là cơ sở để cá nhân so sánh, đánh giá các hành vi của mình có phù hợp với các chuẩn mực xác hội Hai
là giá trị thúc đẩy hành vi, hoạt động của cá nhân, định hướng sự phát triển nhân cách của
cá nhân [1]
2 Cảm nhận hạnh phúc
Hạnh phúc hay cảm nhận hạnh phúc (Subjectie well -being) là một thuật ngữ được các nhà khoa học sử dụng khi nghiên cứu sâu về hạnh phúc của mỗi cá nhân
Quan điểm hạnh phúc của phương Đông:
Trang 6Khổng Tử - Mạnh Tử đưa ra quan niệm Hạnh phúc là do ý trời, con người dù muốn cũng không thể định đoạt được hạnh phúc của mình, giống như câu Kiều:
“Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao”
Ở Ấn Độ cổ đai, chủ nghĩa khổ hạnh tôn giáo đòi hỏi con người phải hi sinh gần như hoàn toàn ham muốn, dục vọng đời thường, sống trong cuộc đời tu luyện khắc khổ Muc tiêu sau cùng lại là để có một sự bất tử và hạnh phúc vĩnh cửu Đây là mục đích chung của hầu khắp mọi tồn giáo Tuy nhiên sau dần người ta nhận thây đây chính là hạn chế của tôn giáo khi mong muốn của con người thực tế khoa học khó mà đạt được vì quy luật khách quan không tương đồng
Như vậy có thể thấy quan điểm về cảm nhận hạnh phúc của phương Đông có nhiều hạn chế khiến con người không thực sự được hài lòng với cảm giác hạnh phúc mà hạnh phúc như một đích đến chung của một xã hội hoặc một nền văn hóa nhất định
Quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây về hạnh phúc:
Nhà tâm lý học Martin Seligman(2001) - cha đẻ của Tâm lý học tích cực đã định
nghĩa: “Hạnh phúc là sự kết hợp của một cuộc sống với niềm vui, một cuộc sống có sự tham gia và một cuộc sống có ý nghĩa” Cũng theo tác giả này, có 5 yếu tố cần thiết để
sống tích cực bao gồm:
Những cảm xúc tích cực
Sự gắn kết , sự tham gia
Những mối quan hệ tích cực
Ý nghĩa cuộc sống
Thành tích
5 yếu tố này hoàn toàn độc lập với nhau, mỗi yếu tố có một mục đích riêng, một mục tiêu và lợi ích riêng của nó Yếu tố này không phải hệ quả của yêu tố khác và không phải luôn luôn ảnh hưởng lên yếu tố khác
Hạnh phúc chủ quan được Diener(2000) định nghĩa là “sự đánh giá nhận thức và tình cảm của một người đối với cuộc sống của họ Những đánh giá này bao gồm các phản ứng cảm xúc đối với các sự kiện, cũng như những đánh giá nhận thức về sự hài lòng và thỏa mãn với cuộc sống” Vì vậy theo Dienner hạnh phúc chủ quan là một khái
Trang 7niệm rộng bao gồm các trải nghiệm thỏa mãn, trạng thái cảm xúc tiêu cực ở mức thấp và
sự hài lòng cuộc sống ở mức cao[6]
Phan Thị Mai Hương đã đưa ra định nghĩa về cảm giác hạnh phúc chủ quan, đăng
trên Tạp chí tâm lý học số 8/2014 Tác giả cho rằng: “Cảm giác hạnh phúc chủ quan được coi là đánh giá chủ quan của con người về sự hài lòng, dễ chịu với cuộc sống của mình” Cảm giác này vừa thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá mang tính nhận thức vừa thể
hiện tình cảm mang tính cảm xúc Vì thế nó vừa chịu sự chi phối của cả tư duy lý tính và
tư duy cảm tính Chính sự cảm tính này khiến cho đánh giá đó mang nhiều tính chủ quan, nói cách khác là mang quan đểm cá nhân của con người về chất lượng cuôc sống của mình [7]
Thành phần nhận thức của cảm giác này hướng con người đến việc nghĩ ra sao về
sự hài lòng với cuộc sống của mình nói chung Điều này cho ta thấy đã có sự biểu hiện rõ rệt trong mối liên hệ giữa giá trị cá nhân và cảm nhận hạnh phúc Con người có thể hài lòng với toàn bộ cuộc sống hoặc với một số lĩnh vực, phương diện khác nhau trong cuộc sống như công việc, điều kiện vật chất, gia đình, bè bạn Cảm xúc của mỗi người bao gồm cảm xúc dương tính như khi người ta đã trải nghiệm sự vui vẻ, hạnh phúc và cảm xúc âm tính như khi người ta cảm thấy khó chịu, buồn chán và tức giận Nói cách khác một biểu hiện nữa của cảm nhận hạnh phúc là nó được đánh giá dựa trên quan điểm riêng của cá nhân Như vậy trong cảm nhận hạnh phúc, nhận thức chủ quan của một người về hạnh phúc của riêng mình là rất quan trọng, trong đó yếu tố văn hóa lại có giá trị khá cao
Từ định nghĩa này có thể thấy:
Cảm nhận hạnh phúc chủ quan là đánh giá mang tính chủ quan của chủ thể
về sự hài lòng với cuộc sống của chính chủ thể
Cảm nhận hạnh phúc chủ quan có hai thành phần chính là nhận thức và cảm xúc
Cảm nhận hạnh phúc của mỗi chủ thể khác nhau thể hiện giá trị cá nhân khác nhau của mỗi người Vì thế cảm nhận hạnh phúc mang tính chủ quan Tóm lại trong tiểu luận này cá nhân tôi ủng hộ quan điểm cảm nhận hạnh phúc là những nhận định và đánh giá của cá nhân về sự hài lòng, dễ chịu với cuộc sống của mình
III Mối liên hệ giữa các giá trị cá nhân và cảm nhận hạnh phúc
Trang 8Trước khi nói về mối liên hệ giữa các giá trị cá nhân và cảm nhận hạnh phúc, hãy
đề cập tới các yếu tố tác động tới sự cảm nhận hạnh phúc của mỗi người
Hạnh phúc đến từ bên trong và bên ngoài Hạnh phúc phụ thuộc vào hoàn cảnh và nội tâm cả mỗi người Như Rochefoucauld đã nói: “Hạnh phúc và đau khổ phụ thuộc vào tính khí cũng nhiều như vào tài sản” Tính khí đến lượt nó lại phụ thuộc vào gen và sự nuôi dạy của chính con người
Theo các nghiên cứu, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự cảm nhận hạnh phúc của mỗi cá nhân Mỗi tác giả lại có những cách phân chia khác nhau Theo đó cách chia được công nhận phổ biến hiện nay bao gồm 3 yếu tố lớn ảnh hưởng tới CNHP : Gen, sức khỏe, cách sống và môi trường sống
1 Về gen
Gen phần nào có tác động đến sự CNHP của mỗi người Những nghiên cứu các cặp sinh đôi cùng trứng cho thấy điều này Các cặp sinh đôi giống nhau gần nhau về hạnh phúc, trong khi các cặp sinh đôi không giống nhau khác nhau về hạnh phúc Nghiên cứu của Lykken (1999)[Được trích dẫn bởi Hoàng Thị Trang(2015)] cho thấy hệ số tương quan giữa hạnh phúc của đứa con thứ nhất và đứa đứa con thứ hai trong cặp sinh đôilà 0.8 đối với sinh đôi giống nhau và 0.44 với sinh đôi không giống nhau [2] Những cặp sinh đôi cùng trứng dù được nuôi dưỡng trong những môi trường khác nhau cũng có mức
độ hạnh phúc gần như nhau Như vậy, có thể lý giải rằng các cặp sinh đôi cùng trứng có mức độ hạnh phúc tương tự nhau vì họ có cùng những gen như nhau
2 Về sức khỏe
Sức khỏe có sự ảnh hưởng tới hạnh phúc của con người Theo nghiên cứu của Loewenstein và Scheekade (1999)[Được trích dẫn bởi Hoàng Thị Trang(2015)] về dự báo tình cảm tương lai đã cho thấy những người khỏe mạnh trong một cộng đồng thường đánh giá quá cao sự mất mát hạnh phúc mà con người thực sự trải nghiệm qua những căn bệnh Con người không bao giờ thích nghi được với cái đau kinh niên hay bệnh tâm thần
- những cảm giacs đến từ bên trong cơ thể họ hơn là những hạn chế các hoạt động bên ngoài [2]
3 Cách sống, môi trường sống
Liên quan đến cách sống, môi trường sống có rất nhều nhân tố ảnh hưởng tới hạnh phúc như: Các mối quan hệ trong gia đình, tình trạng tài chính, công việc, cộng đồng, tự
do cá nhân, các giá trị sống, nhà trường, thầy cô bạn bè Bởi lẽ con người luôn sống
Trang 9trong sự tương tác với các cá nhân, nhóm khác nên các yếu tố này trở thành yếu tố quan trọng trong việc tác động vào sự cảm nhận hạnh phúc của mỗi cá nhân
Nhà tâm lý học Martin Seligman[Được trích dẫn bởi Bùi Quang Long (2015)], cũng cho rằng có 3 yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc, nhưng lại phân tích là:
Gen và sự giáo dục - yếu tố này chiếm 50% đến sự biến đổi cảm giác hạnh phúc của mỗi cá nhân
Hoàn cảnh xung quanh, thu nhập chỉ tác động khoảng 10%
40% còn lại thuộc về các nhân tố đến từ cách nhìn nhận và hoạt động của mỗi cá nhân bao gồm các mối quan hệ, tình bạn, công việc, liên kết trong cộng đồng
Có thể thấy trong số 40% kia tác giả đã dành ra để phần cho yếu tố cá nhân trong mối liên hệ với cá nhân và cảm nhận hạnh phúc Tuy nhiên còn chung chung chưa cụ thể trong việc đưa ra khái niệm hay từ ngữ chính xác
Đồng quan điểm với Seligman, TalBen - Shahar(2009) cũng đề cập tới các yếu tố
ảnh hưởng cảm nhận hạnh phúc bao gồm: Gen, quan hệ gia đình, công việc, tình bạn, liên kết cộng đồng Bên cạnh đó ông còn bổ sung thêm các nhân tố bao gồm tình trạng tài chính, sức khỏe, tự do cá nhân, các giá trị cá nhân[8]
Cụ thể hơn các giá trị cá nhân mà tác giả đề cập tới chính là triết lý sống của mỗi người Hạnh phúc của mỗi chúng ta phụ thuộc vào bản chất bên trong của chúng ta và
triết lý chúng ta hành động Theo ông con người sẽ trở nên hạnh phúc hơn nếu họ biết trân trọng những gì mình đang có dù đó là điều gì và không luôn luôn tự so sánh mình với người khác Thay vào đó là luôn tự rèn luyện tâm tính của mình Người nào quan tâm đến người khác thì có hạnh phúc trung bình lớn hơn những người chỉ biết quan tâm đến bản thân mình[8,26]
Tiếp tục chứng minh cho luận điểm giá trị cá nhân nằm trong các yếu tố tác động tới cảm nhận hạnh phúc Năm 2003, Carol Rothwell và Pete Cohen, hai nhà nghiên cứu người Anh đã đưa ra công thức để tính Hạnh phúc[ Được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Thùy Anh(2017)] Dựa trên kết quả khảo sát xã hội học ở 1000 nghiệm thể người Anh, công thức được đưa ra dưới dạng:
Hạnh phúc= P+(5×E)+(3×H)
Trong đó:
Trang 10P là chỉ số cá tính (Personnal Characteristics) bao gồm quan niệm sống, khả năng
thích nghi, sự bền bỉ dẻo dai trước thử thách
E là chỉ số hiện hữu (Exisstence) phản ánh tình trạng sức khỏe, khả năng tài
chính và các mối quan hệ thân hữu
H là chỉ số thể hiện nhu cầu cấp cao(Higher Order) bao gồm tự tôn, niềm mơ
ước, hoài bão và cả óc hài hước
Thực tế khi được đưa ra, công thức thày không quá được kỳ vọng và phổ biến, tuy nhiên ở quy mô một thực nghiệm xã hội học, công thức này có giá trị gợi mở cho việc đánh giá những yếu tố tác động tới cảm nhận hạnh phúc của con người Một trong số đó chính là những giá trị cá nhân Ở đây, ngoại trừ E thì P và H đều có dáng dấp sự xuất hiện của giá trị cá nhân trong đó nếu ta nhìn nhận chi tiết theo định nghĩa đã nêu trên
Schwartz (1992) trong thang đo đa chiều kiểm định mối tương quan của các giá trị
trong các nền văn hóa đã đưa ra 10 giá trị đích là: Quyền lực, thành đạt, hưởng thụ, năng động, tự quyết địn, tính phổ quát, lòng nhân từ, truyền thống, đúng mực, an ninh[9] Sau
này vào 2006 tác giả đã hoàn thiện và hệ thống lại gồm 19 giá trị:
1 Tự chủ trong suy nghĩ
2 Tự chủ trong hành động
3 Kích thích
4 Hưởng thụ
5 Thành đat
6 Quyền lực chi phối con người
7 Quyền lực kiểm soát vật chất
8 Thể diện
9 An toàn cá nhân
10 An toàn xã hội
11 Tuân thủ quy tắc
12 Tuân thủ liên cá nhân
13 Truyền thống
14 Khiêm nhường
15 Sự tin cậy
16 Quan tâm chăm sóc
17 Công bằng bình đẳng
18 Bảo vệ thiên nhiên
19 Khoan dung
Theo 19 giá trị của Schwartz (1992), mỗi người có một hoặc một số giá trị cá nhân nổi bật, những giá trị này chi phối hành vi của con người Nói cách khác con người hành động vì mục tiêu thỏa mãn các giá trị cá nhân đó Nếu giá trị cá nhân được thỏa mãn tích