1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chữa lỗi chính tả cho học sinh tiểu học thông qua các bài tập làm văn viết lớp 4, lớp 5 (2014)

76 332 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 681,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Thị Lan Anh, tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài: “Chữa lỗi chính tả cho học sinh tiểu học thông qua các bài tập làm văn viết lớp 4, lớp 5”.. Cách chữa các l

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Lêi c¶m ¬n

túng và bỡ ngỡ Nhưng dưới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của TS Lê Thị Lan Anh, tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài: “Chữa lỗi chính tả cho học sinh tiểu học thông qua các bài tập làm văn viết lớp 4, lớp 5”

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Lan Anh, các thầy

cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn

và các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Đào Thị Hường

Trang 3

Lêi cam ®oan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, căn cứ, kết quả có trong khóa luận là trung thực Đề tài này chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Đào Thị Hường

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

NXB : Nhà xuất bản

THĐX : Tiểu học Đồng Xuân THSL : Tiểu học Song Lãng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc khóa luận 5

Chương 1 Cơ sở lý luận 6

1.1 Khái niệm về chính tả và một số đặc điểm của chính tả 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Đặc điểm của chính tả 6

1.2 Căn cứ để viết đúng chính tả 7

1.2.1 Căn cứ ngữ âm học 7

1.2.2 Căn cứ ngữ nghĩa 8

1.2.3 Căn cứ quy tắc (truyền thống) 8

1.3 Những quy định về viết chính tả 9

1.3.1 Quy định về viết hoa tên riêng 10

1.3.2 Quy định về viết các âm 12

1.3.3 Quy định về thanh điệu 18

1.4 Khái niệm về lỗi chính tả và những loại lỗi chính tả thường gặp 18

1.4.1 Khái niệm lỗi chính tả 18

1.4.2 Những loại lỗi chính tả thường gặp 19

1.5 Khái niệm Tập làm văn và các kiểu bài Tập làm văn viết ở lớp 4, lớp 5 21

Trang 6

1.5.1 Khái niệm Tập làm văn 21

1.5.2 Các kiểu bài bài Tập làm văn viết ở lớp 4, lớp 5 21

1.6 Phân môn Chính tả ở tiểu học 22

1.6.1 Mục tiêu của phân môn Chính tả 22

1.6.2 Nhiệm vụ của phân môn Chính tả 23

1.6.3 Nội dung phân môn Chính tả ở lớp 4, lớp 5 23

Chương 2 Thực trạng lỗi chính tả trong các bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4, lớp 5 29

2.1 Mục đích điều tra 29

2.2 Địa điểm điều tra 29

2.3 Phương pháp điều tra 29

2.4 Cách thức điều tra 29

2.5 Kết quả điều tra 30

2.5.1 Thống kê và phân loại lỗi chính tả trong các bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4, lớp 5 30

2.5.2 Nhận xét và đánh giá thực trạng mắc lỗi chính tả thông qua các bài tập làm văn viết của học sinh lớp 4, lớp 5 33

Chương 3 Một số biện pháp chữa lỗi chính tả cho học sinh tiểu học thông qua các bài Tập làm văn viết lớp 4, lớp 5 40

3.1 Nguyên nhân gây ra lỗi chính tả trong các bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4, lớp 5 40

3.1.1 Nguyên nhân chung 40

3.1.2 Nguyên nhân gây ra lỗi chính tả trong các bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4, lớp 5 41

3.2 Cách chữa các loại lỗi chính tả trong các bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4, lớp 5 45

3.2.1 Cách chữa lỗi chính tả về âm 45

Trang 7

3.2.2 Cách chữa lỗi chính tả về vần 47

3.2.3 Cách chữa lỗi chính tả về thanh điệu 47

3.2.4 Cách chữa lỗi sai về viết hoa 49

3.3 Một số biện pháp chữa lỗi chính tả trong các bài Tập làm văn viết cho học sinh lớp 4, lớp 5 49

3.3.1 Biện pháp chung 49

3.3.2 Biện pháp cụ thể 51

KẾT LUẬN CHUNG 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 66

Trang 8

Giáo dục tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu quan trọng nhất cho người công dân, người lao động tương lai Đó là những con người phát triển toàn diện, có tri thức và

có tay nghề, có năng lực thực hành, chủ động và sáng tạo

Đáp ứng yêu cầu của giáo dục, các môn học ở tiểu học dần chú trọng hình thành rèn luyện cho học sinh các kĩ năng học tập Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt chú trọng hình thành, rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt để phục vụ cho hoạt động học tập và giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày

Một trong những phân môn quan trọng của Tiếng Việt đó là phân môn Chính tả, nhằm củng cố cho các em những quy tắc sử dụng hệ thống chữ viết, làm cho các em nắm vững các quy tắc đó và hình thành kĩ năng viết, thông thạo tiếng Việt

Ở Tiểu học hiện nay chương trình Tiếng Việt nói chung và chương trình phân môn Chính tả nói riêng đã có nhiều đổi mới rõ rệt so với trước Chương trình Chính tả đã hướng đến dạy cho học sinh những tri thức và kĩ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức viết vào hoạt động giao tiếp Chương trình Chính tả không chỉ củng cố, hoàn thành tri thức

cơ bản về hệ thống quy tắc chuẩn, thống nhất chính tả tiếng Việt, trang bị cho học sinh một công cụ quan trọng để học tập và giao tiếp mà còn phát triển tư duy ngôn ngữ và phát triển tư duy khoa học Ngay từ đầu tiểu học, trẻ đã cần

Trang 9

Nhưng trên thực tế ở Việt Nam, hiện tượng học sinh viết sai chính tả vẫn là khá phổ biến Kĩ năng viết chính tả của học sinh được thể hiện nhiều nhất, rõ ràng nhất và cụ thể nhất trong các bài văn viết của học sinh Tuy nhiên, trong thực tế khi viết văn học sinh vẫn mắc không ít lỗi chính tả Để những bài Tập làm văn viết của học sinh ít gặp lỗi chính tả thì việc nghiên cứu các lỗi chính tả của học sinh, xác định được khó khăn mà học sinh gặp phải là rất cần thiết Công việc này giúp chúng tôi rất nhiều trong việc tìm ra cách hạn chế các lỗi chính tả của học sinh đồng thời có hướng dạy học Chính

tả cho các em phù hợp và có hiệu quả hơn

Chúng tôi mong muốn thông qua tìm hiểu thực trạng lỗi chính tả của các em, đưa ra cách chữa và các biện pháp giúp các em viết đúng chính tả sẽ đem lại cho chúng tôi những kinh nghiệm quý báu phục vụ cho việc giảng dạy sau này Vì vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu đề tài:

“Chữa lỗi chính tả cho học sinh tiểu học thông qua các bài Tập làm văn viết lớp 4, lớp 5”

2 Lịch sử vấn đề

Từ lâu chính tả tiếng Việt đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu

Năm 1976, tác giả Hoàng Phê trong cuốn Tạp chí ngôn ngữ số 1 đã đưa

ra một số nguyên tắc giải quyết vấn đề chuẩn hóa chính tả Tác giả cho rằng hiện nay chúng ta đang cần phải: xác định chuẩn chính tả đối với một số âm

Trang 10

3

tiết mà chính tả chưa nhất trí, quy định cách viết các từ nhiều âm tiết, quy định cách dùng chữ hoa, cách viết các âm riêng nhiều âm tiết, kể cả cách phiên âm tiếng nước ngoài

Năm 1997, tác giả Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) trong cuốn Tiếng

Việt thực hành [13], tác giả đề cập đến vấn đề tìm hiểu quy tắc viết hoa và

quy tắc phiên âm tiếng nước ngoài Đặc biệt tác giả bàn kĩ về lỗi chính tả mà học sinh thường mắc phải, tác giả phân loại lỗi chính tả thành: các lỗi về thanh điệu, các lỗi về vần và các lỗi về phụ âm đầu Trên cơ sở phát hiện ra các lỗi tác giả đưa ra cách khắc phục chung và giới thiệu một vài mẹo giúp giải quyết phần nào những lỗi đó

Đến năm 1998, tác giả Phan Thiều trong cuốn Rèn luyện ngôn ngữ

[10] khi nghiên cứu về chính tả đã dành gần 100 trang để bàn về vấn đề luyện chính tả, đưa ra một loạt bài tập chính tả phân biệt và một số quy định về chính tả Đặc biệt, tác giả đã tìm hiểu chính tả là gì và đặc điểm chính tả tiếng Việt, từ đó đưa ra ba căn cứ để viết đúng chính tả: căn cứ ngữ âm, căn cứ ngữ nghĩa, căn cứ quy tắc

Trong những năm gần đây, vấn đề chính tả được nhiều người quan tâm

hơn Hai tác giả Hoàng Trung Thông - Đỗ Xuân Thảo trong cuốn Dạy học

chính tả ở Tiểu học [11] đã nghiên cứu một vấn đề quan trọng của chính tả đó

là mẹo luật chính tả theo quy tắc ngữ nghĩa và thói quen Đồng thời, tác giả cũng bàn về vấn đề kĩ năng chính tả bao gồm: kĩ năng chính tả các từ hay âm tiết có bộ phận âm đầu, kĩ năng chính tả các từ hay âm tiết có âm cuối là phụ

âm, kĩ năng chính tả âm chính

Năm 2006, tác giả Hoàng Anh viết cuốn Sổ tay chính tả [1] khi nghiên

cứu về những cặp tiếng tiêu biểu với ch/tr, d/r/gi, l/n, s/x tác giả đã đưa ra một

số mẹo luật để phân biệt chúng Ngoài ra, tác giả còn dành hẳn phần phụ lục để nghiên cứu về một số quy tắc kết hợp chính tả tiếng Việt, mẹo giúp khắc phục

Trang 11

4

nhầm lẫn thanh hỏi (?) với thanh ngã (~), mẹo khắc phục các lỗi về vần và quy tắc đơn giản để đánh dấu thanh điệu

Đến năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Ly Kha viết cuốn Dùng từ, viết câu

và soạn thảo văn bản [5] Tác giả đã đề cập đến quy tắc viết chính tả tiếng

Việt, cách chữa lỗi thông thường về chính tả và cách quy định tạm thời về cách viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa

Gần đây nhất, năm 2009, nhà nghiên cứu ngôn ngữ tác giả Phan Ngọc

đã viết cuốn Mẹo chữa lỗi chính tả [8] Tác giả đã nghiên cứu về nguyên tắc

dạy mẹo chính tả, tìm hiểu về cấu tạo âm tiết tiếng Việt, cách phân biệt từ Hán Việt, một số mẹo phân biệt chính tả và các dạng bài tập chính tả

Trong tất cả các cuốn sách, các tác giả đã đề cập và nghiên cứu rất sâu sắc Tuy nhiên chưa có tác giả nào nghiên cứu sâu về việc chữa lỗi chính tả cho học sinh tiểu học thông qua các bài tập làm văn viết lớp 4, lớp 5

3 Mục đích nghiên cứu

Chữa lỗi chính tả cho học sinh tiểu học thông qua các bài tập làm văn viết lớp 4, lớp 5

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Lỗi chính tả trong các bài Tập làm văn viết của học sinh khối lớp 4, lớp

5 và các biện pháp chữa lỗi chính tả đó

5 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng kĩ năng viết chính tả trong các bài tập làm văn viết của học sinh khối 4, khối 5 của hai trường tiểu học:

- Trường Tiểu học Song Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

- Trường Tiểu học Đồng Xuân, phường Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Những vấn đề lí luận về chính tả và lỗi chính tả

Trang 12

5

- Thực trạng lỗi chính tả trong các bài tập làm văn viết của học sinh lớp

4, lớp 5

- Nguyên nhân và biện pháp chữa lỗi chính tả

7 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này đó là:

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp thống kê toán học

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung của khóa luận gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Thực trạng lỗi chính tả trong các bài tập làm văn viết của học sinh lớp 4, lớp 5

Chương 3: Một số biện pháp chữa lỗi chính tả cho học sinh tiểu học thông qua các bài tập làm văn viết lớp 4, lớp 5

Trang 13

6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khái niệm về chính tả và một số đặc điểm của chính tả

1.1.1 Khái niệm

Trong cuốn Dạy học chính tả ở Tiểu học (2003) hai tác giả Hoàng

Trung Thông và Đỗ Xuân Thảo đã đưa ra định nghĩa về chính tả trong một số

từ điển “Chính tả là cách viết đúng phù hợp với chuẩn và những quy tắc về cách chuyển lời nói sang dạng viết”.[11, tr.5]

Trong cuốn Hỏi - đáp dạy học Tiếng Việt lớp 2, tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã đưa ra khái niệm về chính tả như sau: “Chính tả là những quy định

về cách viết đúng các từ ngữ, viết đúng tên người, tên địa lý, tên cơ quan, tổ

chức trong và ngoài nước, các từ phiên âm nước ngoài và dấu câu” [12, tr.5] Tuy nhiên, tác giả Phan Thiều trong cuốn Rèn luyện ngôn ngữ (1998)

đã đưa ra định nghĩa về chính tả một cách khái quát, đầy đủ, sâu sắc và toàn diện: “ Chính tả là những quy định mang tính xã hội cao, được mọi người trong cộng đồng xã hội chấp nhận, mọi người tuân thủ” [10, tr54]

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm của Phan Thiều trong cuốn Rèn luyện ngôn ngữ - Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1998 để tiến hành

nghiên cứu

1.1.2 Đặc điểm của chính tả

Trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục,

năm 1997 của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng

Phiến chính tả tiếng Việt có ba đặc điểm cơ bản sau:

- Tính chất bắt buộc: Đặc điểm này yêu cầu người viết bao giờ cũng

phải viết đúng chính tả Chữ viết có thể chưa hợp lý nhưng đã được thừa nhận

là chính tả thì người cầm bút tuyệt đối không được phép tự ý viết khác đi, trong chính tả không có sự phân biệt hợp lý - không hợp lý, hay - dở mà chỉ

Trang 14

7

có sự đúng - sai, có lỗi - không có lỗi Trong chính tả yêu cầu cao nhất là cách viết thống nhất trong văn bản, mọi người và mọi địa phương

- Chuẩn chính tả có tính chất cố hữu: Đó là sự tồn tại lâu đời mà

không có sự thay đổi Sự tồn tại hàng thế kỉ tại cho nó sự “bất di, bất dịch”

- Ngôn ngữ phát triển chính tả không thể giữ được tính chất “cố định”

Điều này có nghĩa là: bên cạnh cái được coi là chuẩn mực thì lại có cách viết tồn tại song song với nó được gọi là hiện tượng “song tồn” chính tả

1.2 Căn cứ để viết đúng chính tả

Để viết đúng chính tả chúng ta có thể có ba loại căn cứ: căn cứ ngữ âm học, căn cứ ngữ nghĩa và căn cứ quy tắc

1.2.1 Căn cứ ngữ âm học

Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm, đảm bảo tương đối đầy đủ quan

hệ 1:1 giữa âm và chữ, tức là cách viết của từ phải thể hiện đúng âm hưởng

của từ, phát âm như thế nào thì viết như thế, đọc và viết thống nhất với nhau

Tuy nhiên quan hệ âm - chữ có lúc không rõ ràng Điều đó xảy ra ở những trường hợp đồng âm khác chữ tức là nói (đọc) như nhau nhưng viết

khác nhau Trong tiếng Việt có ba kiểu đồng âm khác chữ:

- Kiểu do sự bất hợp lí của chữ viết tạo nên

Ví dụ: /k/ có ba con chữ thể hiện là c, k, q

- Kiểu do biến đổi lịch sử trong hệ thống ngữ âm chuẩn

Ví dụ: /z/ có hai con chữ thể hiện là d, gi

- Kiểu do khác biệt giữa cách phát âm phương ngữ, đọc không phân biệt tạo nên hiện tượng đồng âm với các phát âm chuẩn, đọc có phân biệt, dẫn đến cách viết chữ khác nhau

Ví dụ: tiếng miền Bắc không phân biệt s/x như ngôn ngữ chuẩn, ứng với quy định của chính tả

Như vậy, lúc này ta cần phải dựa vào nghĩa hoặc các quy tắc chính tả

để xác định cách viết đúng

Trang 15

8

1.2.2 Căn cứ ngữ nghĩa

Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhưng trong thực tế muốn viết đúng chính tả thì điều quan trọng là cần phải hiểu nghĩa của từ Đây là một trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả

Ví dụ: Trường hợp từ có hình thức ngữ âm là trung hay chung thì phải

phân biệt được nghĩa của hai từ này Với nghĩa “ở giữa, ở trong” (trung tâm hay tập trung)… (trung bình); hết lòng với nước, với người (trung hiếu, trung

thành, trung quân); còn với “chung” nghĩa là “không riêng, chung” (chung

sống) hay “cuối cùng” (chung thủy, chung kết)

Vì thế có thể kết luận rằng chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa 1.2.3 Căn cứ quy tắc (truyền thống)

Để viết đúng chính tả chúng ta cần vận dụng có ý thức những quy tắc làm căn cứ để có thể viết đúng tất cả các từ (các chữ) nằm trong phạm vi quy tắc không cần nhớ từng chữ một mà vẫn có thể viết đúng Những quy tắc này

được sử dụng thường xuyên trở thành thói quen

+ Khi đứng trước một âm đệm (âm đệm viết là “u”) thì âm “cờ” viết là q

Ví dụ: Quy tắc hỏi - ngã mà Nguyễn Đình đã nêu thành “luật hỏi ngã”

cách đây trên 40 năm Quy tắc này nói gọn lại chỉ gồm 6 tiếng cần ghi nhớ là:

Trang 16

So sánh nghĩ ngợi (ngợi dấu nặng thì nghĩ phải viết dấu ngã), nghỉ

ngơi (ngơi không dấu thì nghỉ phải viết dấu hỏi)

Nắm được các quy tắc chính tả đó người viết sẽ có những chỗ dựa khách quan để xác định cách viết đúng chính tả những trường hợp mình còn lúng túng

1.3 Những quy định về viết chính tả

Những quy định về chính tả do Bộ Giáo dục ban hành như sau:

+ Một số quy định chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục Việt Nam nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo (Thứ trưởng Vũ Thuần Nho ký) ban hành ngày 30 tháng 4 năm 1980

+ Quyết định số 240/QĐ - Quy định về chính tả và thuật ngữ Tiếng Việt của Bộ Giáo dục (do Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ký) ban hành ngày 5 tháng 3 năm 2004

+ Quy định tạm thời về viết hoa, tên riêng, trong sách giáo khoa - ban hành theo quyết định số 07/2003QĐ - BGD và ĐT ban hành ngày 13/03/2007 (do Thứ trưởng Đặng Huỳnh Mai ký) Đây là bản quy định đầy đủ nhất và mới nhất theo:

Nghị quyết số 86/2002 NQ - CP - 05/11/2002 của Chính phủ về chức năng và quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của các cơ quan ngang Bộ

Theo đề nghị của Vụ trưởng vụ giáo dục Tiểu học và Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục

Trang 17

10

Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chọn và trích dẫn theo quy định tạm thời về cách viết trong sách giáo khoa (ban hành theo quy định số 07/2003/QĐ - BGD và ĐT)

1.3.1 Quy định về viết hoa tên riêng

1.3.1.1 Quy định về viết hoa tên riêng Việt Nam

1) Tên người:

Viết hoa chữ cái đầu các âm tiết: Trần Quốc Toản, Đinh Bộ Lĩnh,…

* Chú ý: Tên danh nhân và nhân vật lịch sử cấu tạo bằng cách tập hợp bộ phận tên cụ thể cũng được gọi là tên riêng và viết hoa theo quy tắc tên người:

Bà Trưng, Bà Triệu, Ông Gióng…

2) Tên địa lý:

Viết hoa chữ cái đầu các âm tiết: Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng,…

* Chú ý: Tên địa lý được cấu tạo bởi danh từ chỉ hướng hoặc bằng cách kết hợp với bộ phận vốn là danh từ chung, danh từ chỉ hướng với bộ phận tên cụ thể cũng được coi là danh từ tên địa lý và viết hoa theo quy tắc địa lý: Trường Sơn Tây, Đông Bắc, Tây Nam…

3) Tên dân tộc:

Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết: Kinh, Tày, Nùng,…

4) Tên người, tên địa lý, và tên các dân tộc Việt Nam thuộc các dân tộc thiểu

số anh em có cấu tạo các âm tiết (các âm tiết đọc liền nhau)

Đối với bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết: Ba - na, Ê - đê,…

5) Tên các cơ quan tổ chức đoàn thể:

Viết hoa chữ cái của âm tiết đầu tiên và các âm tiết của các bộ phận cấu thành tên riêng

Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Ủy viên ban thường vụ Quốc hội

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 18

11

Trường Tiểu học Đồng Xuân

6) Các cụm từ chỉ sự vật, con vật dùng làm tên riêng của nhân vật:

Viết hoa chữ cái của âm tiết tạo thành tên riêng: (chú) Chuột, (cô) Chào Mào, (ông) Mặt Trời, (cô) Chổi Rơm,…

1.3.1.2 Cách viết hoa tên của người nước ngoài

1) Tên người, tên địa lý

- Trường hợp phiên âm qua âm Hán - Việt: Viết hoa theo quy tắc tên người, tên địa lý Việt Nam: Mao Trạch Đông, Nhật Bản,…

- Trường hợp không phiên âm qua âm Hán - Việt (phiên âm trực tiếp theo cách đọc)

Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng: viết hoa chữ cái đầu, có gạch nối giữa các âm tiết: Vơ - la đi - mia I - rich Lê nin,…

2) Tên các cơ quan, tổ chức nước ngoài:

- Theo trường hợp dịch nghĩa: Viết theo quy tắc các cơ quan, tổ chức Việt Nam: Viện khoa học giáo dục Bắc Kinh, Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Mát - xcơ - va,…

- Trường hợp viết tắt: Viết nguyên dạng viết tắt, tùy theo từng trường hợp có thể ghi tên dịch nghĩa hay ghi tên nguyên dạng không viết tắt: WB (Ngân hàng Thế giới) hay WB (Wold Bank),…

1.3.1.3 Những quy tắc khác

1) Chức danh, chức vụ, danh hiệu, giải thưởng

- Những từ biểu thị chức danh, chức vụ thông thường được viết hoa chữ cái đầu tiên khi từ ngữ chỉ chức danh, chức vụ để tỏ lòng kính trọng: Thủ tướng, Giáo sư, Chủ tịch, Hiệu trưởng,…

- Những từ biểu thị cho tên danh hiệu, giải thưởng thì viết viết hoa chữ cái đầu tiên biểu thị cho tính chất riêng biệt của tên: Nhà giáo Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú,…

Trang 19

3) Tên các ngày lễ, các phong trào, ngày lễ kỉ niệm

Viết hoa tất cả chữ cái đầu biểu thị cho tính chất riêng biệt của ngày lễ:

Ngày Thương binh Liệt sĩ, Ngày Quốc tế Thiếu nhi, Ngày Quốc khánh,…

4) Viết về ngày, tháng, năm trong các văn bản hành chính

Viết đầy đủ ngày 1 đến 9 và tháng 1 tháng 2 thì phải viết thêm số “0” vào trước Các văn bản hành chính ghi ngày, tháng, năm không được viết tắt bằng dấu gạch nối hay gạch xiên Chẳng hạn Vĩnh Phúc ngày 18 tháng 02 năm 2014

Những trường hợp còn lại có thể viết tắt các chữ ngày, tháng, năm bằng dấu gạch nối hay dấu gạch xiên: ngày 03 - 4 - 2014 hay 14/5/1992

5) Các chữ đầu câu, đầu dòng thơ phải viết hoa

1.3.2 Quy định về viết các âm

Trang 20

Âm đầu

(2)

Vần

Âm đệm (3)

Âm chính (4)

Âm cuối (5)

Mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt Chữ cái tiếng Việt có sự tương ứng một đối một giữa âm và kí hiệu biểu thị những trường hợp không có sự tương ứng một đối một giữa âm và kí hiệu có nhiều nguyên do trong đó có cả nguyên do về lịch sử hình thành chữ viết Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ dừng lại ở phạm vi nêu các âm

và các kí hiệu tương ứng cho từng trường hợp

1.3.2.1 Quy định về âm đầu

Nói chung mỗi âm vị là âm đầu thì thể hiện bằng một con chữ nhưng có một âm được thể hiện bằng hai, ba con chữ

Bảng âm và chữ cái ghi âm đầu

Trang 21

Tiếng Việt có 21 phụ âm đầu, trong đó có những âm có hai hoặc ba sự

thể hiện trên chữ viết như:

- Âm /k/ ghi bằng ba chữ cái:

+ Ghi là k khi nó đứng trước nguyên âm hàng trước như: i, e, ê hay nguyên âm đôi iê

+ Ghi là q khi nó đứng trước nguyên âm đệm u

+ Ghi là c khi sau nó là các trường hợp còn lại

- Âm / / có hai sự thể hiện trên chữ viết:

+ Ghi là ngh khi sau nó là các nguyên âm e, ê, i nguyên âm đôi iê + Ghi là ng khi sau nó là các nguyên âm còn lại

- Âm / / có hai sự thể hiện chữ viết:

+ Ghi là gh khi sau nó là các nguyên âm: e, ê, i và nguyên âm đôi iê + Ghi là g khi sau nó là các nguyên âm còn lại

- Âm /Z/ được ghi bằng hai chữ cái nhưng lại được áp dụng trên nguyên tắc

ngữ nghĩa, tức là để viết được đúng thì người viết cần nhớ nghĩa và cách tương ứng

Ví dụ: Có ý kiến cho rằng để phân biệt d và gi về mặt kết hợp trong nội

bộ chữ Việt thì gi không đứng trước các không đứng trước các vần bắt đầu bằng oa, oă, uâ, oe, uê, uy và ngược lại d thì có thể kết hợp với các vần ấy

Trang 22

Âm đệm tiếng Việt kí hiệu /-u-/ được ghi bằng hai chữ cái

- Ghi là u khi nó đứng trước các nguyên âm: e, ê, i và nguyên âm đôi iê

- Ví dụ: tuy, quờ, huyện, huân, huy…và khi xuất hiện sau con chữ q:

quê quán, quẻ, quân,…

- Ghi là o khi xuất hiện trước ba nguyên âm: a, ă, e

Trang 23

16

Tiếng Việt có 14 nguyên âm và tổ hợp nguyên âm là âm chính trong

đó có âm được ghi bằng một con chữ nhưng cũng có âm được ghi bằng hai hay bốn con chữ

- Âm /i/ được ghi bằng hai con chữ:

+ Ghi là y khi nó đứng sau âm đệm (hủy, thủy,…) hay khi nó đứng sau

một mình là tiếng Hán - Việt (y khoa, y tế,…)

+ Ghi là i khi nó đứng giữa tiếng và không có âm đệm (lim dim, bim

bim,…); khi nó đứng cuối tiếng (trừ uy, ay, ây) như li lì, tươi cười,…; khi nó

đứng một mình và tiếng thuần Việt: ì ạch, í ới,…

+ Nếu không có sự thay đổi về âm và nghĩa (trừ trường hợp y đi sau

âm đệm), thì thay y bằng i Ví dụ: kĩ sư, thẩm mĩ, lí luận,…(huy chương, thủy thủ,…) Nếu âm đứng một mình hay ở đầu từ thì viết bằng y, trừ vài trường

hợp đã theo thói quen

- Âm /iê/ có bốn hình thức thể hiện chữ viết:

+ Viết là iê khi âm tiết không có âm đệm và có âm cuối: tiên tiến,

- Âm / ă / có hai hình thức thể hiện chữ viết:

+ Viết là a trong các âm tiết có vần au hay ay: tay, hay, dạy, sau,… + Viết là ă trong các trường hợp còn lại: lăn, ngắn,…

- Âm / / có hai hình thức thể hiện chữ viết:

+ Viết a trong những vần anh, ách, oanh, oách như: chiến tranh, tung

hoành, khách sáo,…

Trang 24

17

+ Viết e trong các trường hợp còn lại: cây tre, em bé,…

- Âm / / có hai hình thức thể hiện chữ viết:

+ Viết là ưa trong âm tiết không có âm cuối như: thừa, mưa, chưa,… + Viết là ươ trong các âm tiết có âm cuối như: bước, hương, đường…

- Âm / uo / có hai hình thức thể hiện chữ viết:

+ Viết là ua khi âm tiết khôn có âm cuối như: chùa, mùa, lúa,…

+ Viết là uô khi âm tiết có âm cuối như: chuối, thuốc,…

- Âm / / có hai hình thức thể hiện chữ viết:

+ Viết là oo khi có sự đối lập ngắn về phát âm: xoong, boong,…

+ Viết là o trong các trường hợp còn lại: hòn, chóng,…

1.3.2.4 Quy định về âm cuối

Bảng âm và chữ âm cuối vần

- Âm /i/ có hai hình thức thể hiện chữ viết:

+ Viết là y khi xuất hiện sau các vần ay, ây: cây, hay, chạy, tay,… + Viết là i trong các trường hợp còn lại: tai, mai, vai, chơi,…

- Âm /u/ có hai hình thức thể hiện chữ viết:

Trang 25

18

+ Viết là o khi xuất hiện sau các vần ao, eo: khéo léo, lao xao,…

+ Viết là u trong những trường hợp còn lại: hưu, lưu, sếu,…

- Âm /k/ có hai hình thức thể hiện chữ viết:

+ Viết là ch khi xuất hiện sau các nguyên âm e, i, ê, a: diễn dịch, sách vở,… + Viết là c trong các trường hợp còn lại: chúc, bước,…

- Âm / / có hai hình thức thể hiện:

+ Viết là nh sau các nguyên âm hàng trước như: linh tinh, thênh

thang,…

+ Viết là ng trong các trường hợp còn lại: vàng, hồng,…

1.3.3 Quy định về thanh điệu

Âm tiết nào của tiếng Việt cũng mang thanh điệu Tiếng Việt gồm có

6 thanh: ngang (thanh không), huyền ( \ ), sắc ( / ), hỏi (?), ngã (~), nặng (.)

Trong tiếng Việt các dấu ghi thanh luôn gắn với âm chính

- Với các âm tiết có các âm chính là nguyên âm đơn thì đặt dấu thanh vào vị trí chữ cái biểu diễn cho âm chính: tá, là, nhà,…

- Với các âm tiết có âm đệm và có âm chính là nguyên âm đơn thì đặt dấu thanh vào vị trí chữ cái biểu diễn cho âm chính: lòe, nhòa, hoàn,…

- Với âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi:

+ Nếu âm tiết có âm cuối vần thì đặt dấu thanh vào vị trí của chữ cái thứ hai trong tổ hợp chữ cái biểu diễn cho âm chính: yến, muốn, biến, chuyền, chuyển,…

+ Nếu âm tiết vắng âm cuối vần thì dấu thanh đặt vào vị trí chữ cái thứ nhất trong tổ hợp chữ cái biểu diễn cho âm chính: múa, lúa, tỉa,…

1.4 Khái niệm về lỗi chính tả và những loại lỗi chính tả thường gặp

1.4.1 Khái niệm lỗi chính tả

Lỗi chính tả là những cách viết các từ không đúng với những quy định

và mang tính chất xã hội cao, được mọi người trong cộng đồng xã hội chấp nhận và tuân thủ

Trang 26

làm việc thể hiện bằng chữ viết cũng sai

Ví dụ: lao xao - nao xao

Ví dụ: bên trong - bên chong

chói chang - trói trang

Trong phát âm, người Bắc Bộ nói chung không phân biệt r với d và gi

nên thường lẫn lộn khi viết chúng

Ví dụ: con dao - con rao

giao việc - rao việc

râm bụt - giâm bụt

Trang 27

Ví dụ: quỳnh - quuỳnh

c) Lỗi lẫn lộn âm chính

Đây cũng là lỗi phổ thong phổ biến, nó chỉ xảy ra ở một số địa phương

ở đồng bằng Bắc Bộ như: Hà Tây, Hải Dương, Vĩnh Phúc,…

Ví dụ: + a/â: làu bàu - lầu bầu, tàu - tầu, cày - cầy,…

+ i/ê: chình ình - chềnh ềnh,…

+ u/o: lụm cụm - lọm cọm,…

d) Lỗi lẫn lộn về âm cuối

Sự sai lệch về mặt chính tả thì phát âm là nguyên nhân gây nên sự sai lệch trong chữ viết

Ví dụ: ut/uc: chút/ chúc,…

nh/n: xanh/ xăn,…

ng/n: lang thang/ lan than,…

1.4.2.2 Lỗi về vần

Lỗi về vần thường thấy ở cả ba miền đất nước nhưng ở mỗi miền lại có

phần khác nhau Chẳng hạn: Người Bắc Bộ lẫn lộn iu với ưu, iêu với ươu, người Nam Bộ thì lẫn lộn iu với iêu, ươu với ưu, ang với an, iết với iếc,…

Ví dụ: ưu với iu: lưu lạc - liu lạc, trừu tượng - trìu tượng,…

Trang 28

21

ươu với iêu: ly rượu - ly riệu, con hươu - con hiêu,…

1.4.2.3 Lỗi về thanh điệu

Đây chủ yếu là lẫn lộn thanh hỏi và thanh ngã một lỗi rất phổ biến ở

Trung Bộ và Nam Bộ Chỉ ở đồng bằng Bắc Bộ mới có sự phân biệt hai thanh này trong phát âm Vì vậy, trong chữ viết thì người Bắc Bộ ít sai chính tả hơn

về thanh điệu so với người Trung Bộ và Nam Bộ Tuy nhiên, đối với một số

từ Hán - Việt thì người miền Bắc cũng có thể lẫn lộn hỏi, ngã Vùng Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình thường không phân biệt các thanh ngã, nặng, sắc

khi viết chính tả cũng thường mắc lỗi các thanh này

1.5 Khái niệm Tập làm văn và các kiểu bài Tập làm văn viết ở lớp 4, lớp 5 1.5.1 Khái niệm Tập làm văn

Văn có thể hiểu là những lời nói khi giao tiếp và có thể nói: lời văn ở đây chính là ngôn bản Tập làm văn là tập sinh sản, tạo lập văn bản Tập làm văn là một hoạt động thực hành quan trọng trong quá trình học tập Tiếng Việt nhằm rèn luyện kỹ năng tư duy chính xác, nhạy bén, kỹ năng diễn đạt đúng và hay bằng ngôn ngữ (dạng thức ngôn ngữ nói và viết) những hiểu biết suy nghĩ

và tình cảm của người học sinh trước một hiện tượng về văn học, cuộc sống

1.5.2 Các kiểu bài Tập làm văn viết ở lớp 4, lớp 5

1.5.2.1 Văn bản nhật dụng

Văn bản nhật dụng để dạy viết ở tiểu học bao gồm văn bản tự thuật, danh sách học sinh, mục lục sách, đơn, nhắn tin, thông báo, điện báo, thời khóa biểu, biển báo, báo cáo

Để điền viết nhưng văn bản thông thường như đơn, điện báo học sinh phải nắm chắc các mẫu, các thông tin cần điền vào chỗ trống Trong đơn có những mục học sinh chỉ cần có thôgn tin rồi điền hoàn toàn giống như mẫu, ví

dụ phần lí do viết đơn, bày tỏ nguyện vọng, lời hứa riêng Trong điện báo, họ tên, địa chỉ người nhận, người gửi (người gửi có thể không ghi) phải điền

Trang 29

Tính cách của nhân vật được thể hiện: qua hành động, lời nói, ý nghĩ và thể hiện qua những đặc điểm ngoại hình tiêu biểu

- Miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh, làm hiện ra trước mắt người đọc bức tranh cụ thể về một cảnh, một người, một vật đã làm ta chú ý

và cảm xúc sâu sắc Người tả phải nắm vững cảnh, vật mình định tả có những nét gì nổi bật, đặc sắc và diễn tả lại bằng từ ngữ giàu sức gợi cảm, cho thấy rõ hình khối, kích thước, màu sắc, âm thanh, hương vị,…và những cảm giác vui, buồn, ngạc nhiên, thích thú,…khi nhìn cảnh, vật

Miêu tả trong chương trình tiểu học gồm miêu tả đồ vật, cây cối, con vật, tả cảnh, tả người

1.6 Phân môn Chính tả ở tiểu học

1.6.1 Mục tiêu của phân môn Chính tả

Mục tiêu của phân môn Chính tả nhằm hình thành ở học sinh kĩ năng

sử dụng tiếng Việt, trong đó đặc biệt chú ý kĩ năng viết chính tả, cung cấp cho học sinh những kiến thức chữ viết như: cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc chính tả Phân môn Chính tả góp phần rèn luyện các thao tác tư duy như: phân

Trang 30

23

tích, tổng hợp, thay thế, bổ sung, so sánh, khái quát hóa,…Cung cấp những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội, về con người về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài để từ đó bồi dưỡng lòng yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt, lẽ phải góp phần hình thành lòng yêu mến

1.6.2 Nhiệm vụ của phân môn Chính tả

Nhiệm vụ chủ yếu của phân môn Chính tả là:

- Giúp học sinh nắm vững quy tắc hình thành chính tả và kĩ năng chính

tả Nói cách khác, phân môn Chính tả có nhiệm vụ giúp các em hình thành năng lực về thói quen viết chính tả: viết đúng chữ ghi âm đầu, âm chính âm cuối, viết dấu thanh đúng vị trí, tiến tới viết đẹp, viết nhanh

- Rèn luyện một số phẩm chất như tính cẩn thận, tinh thần trách nhiệm với công việc, óc thẩm mĩ,… bồi dưỡng cho các em lòng quý trọng, yêu quý tiếng Việt và chữ viết tiếng Việt

1.6.3 Nội dung phân môn Chính tả ở lớp 4, lớp 5

1.6.3.1 Chương trình Chính tả ở lớp 4, lớp 5

- Lớp 4: Mỗi tuần có một tiết chính tả

+ Hình thức học chính tả: nghe - viết, nhớ - viết

+ Kiến thức và kĩ năng chính tả càn luyện: viết chính tả tốc độ nhanh, chữ viết rõ ràng, trình bày đúng quy định, lập sổ tay chính tả, ôn tập các quy tắc chính tả đã học, tập sửa lỗi chính tả

- Lớp 5: Mỗi tuần có một tiết chính tả

+ Hình thức chính tả: nghe - viết, nhớ - viết

+ Kiến thức và kĩ năng chính tả cần luyện: viết chính tả, viết đúng nội dung bài chính tả chưa được đọc với tốc độ nhanh, chữ viết rõ ràng, trình bày đúng quy định, lập sổ tay chính tả, ôn tập các quy tắc chính tả, chính tả phương ngữ

Trang 31

24

1.6.3.2 Cấu trúc bài chính tả

Cấu trúc bài chính tả gồm hai phần:

- Phần 1: Chính tả đoạn - bài: là bài viết chính tả có nội dung theo chủ điểm học của tuần Bài viết có thể là trích đoạn bài tập đã học hay được soạn lại từ một bài tập đọc đã học cho phù hợp với mục tiêu dạy học hoặc cũng có thể một bài viết được chọn ngoài sách giáo khoa Tiếng Việt Yêu cầu về dung lượng bài viết và thời gian dành cho mỗi khối khác nhau

Lớp 4 - 5: nghe - viết hoặc nhớ - viết bài chính tả độ dài khoảng 80 chữ (lớp 4) hoặc 100 chữ (lớp 5) Yêu cầu về tốc độ viết: 6 - 7 chữ/phút

- Phần 2: Chính tả âm - vần: Phần này gồm các bài tập luyện kĩ năng chính tả cho học sinh, có hai nhóm bài tập từ âm vần

+ Nhóm bài tập chính tả bắt buộc: dành cho mọi đối tượng học sinh Đây là bài tập nhằm cung cấp những kiến thức, kĩ năng chính tả cho học sinh các vùng - miền khác nhau

+ Nhóm bài tập lựa chọn: (để trong dấu ngoặc đơn) Đây là bài tập chính tả phương ngữ Để thực hiện được bài tập này thì học sinh phải sử dụng thao tác đối chiếu, so sánh, lựa chọn Tùy theo đặc điểm phương ngữ của từng đối tượng, giáo viên lựa chọn bài tập thích hợp để học sinh luyện tập Giáo viên cũng có thể soạn bài tập lựa chọn cho phù hợp với học sinh của mình

a) Các dạng bài tập chính tả đoạn bài

Có ba dạng bài chính tả:

1 Dạng bài tập chép (nhìn - viết)

Tập chép là dạng bài chính tả yêu cầu học sinh chép lại tất cả các từ, câu hay đoạn trong sách giáo khoa hoặc trên bảng lớp Trong kiểu bài tập chép học sinh dựa vào văn bản mẫu để đọc thầm và chép lại đúng hình thức của văn bản mẫu

Trang 32

25

Kiểu bài này có tác dụng là giúp các em nhớ mặt chữ của các từ, câu, đoạn Qua việc lặp đi lặp lại các hình thức của học sinh đi vào tiềm thức của các em

2 Dạng bài nghe - viết

Đây là liểu bài thể hiện đặc trưng riêng của phân môn Chính tả Hình thức chính tả nghe đọc thể hiện rõ nhất đặc trưng của chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm giữa âm và chữ (đọc và viết) có mối quan hệ mật thiết, đọc thế nào - viết như vậy

Dạng bài chính tả nghe - viết yêu cầu học sinh nghe từng từ, cụm từ, câu do giáo viên đọc và viết lại một cách chính xác, đúng chính tả những điều nghe được theo đúng với tốc độ quy định Muốn viết các bài chính tả nghe và viết học sinh phải có năng lực chuyển ngôn ngữ viết, phải nhớ mặt chữ và các quy tắc chính tả tiếng Việt Bên cạnh đó, vì chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa, muốn viết đúng chính tả học sinh cũng phải hiểu nội dung của tiếng, từ hay câu của bài viết

Để kĩ năng chính tả được hình thành một cách nhanh chóng ở học sinh, văn bản được chọn để làm bài viết chính tả phải chứa nhiều hiện tượng chính

tả cần dạy, văn bản có nội dung phù hợp với từng độ tuổi, có tính thẩm mĩ cao, có độ dài đúng quy định của chương trình,…

3 Dạng bài chính tả nhớ - viết

Dạng bài này yêu cầu tái hiện hình thức chữ viết, viết lại văn bản mà các em đã học thuộc Kiểu bài này nhằm kiểm tra năng lực ghi nhớ của học sinh và được thực hiện ở giai đoạn mà các em đã quen và nhớ hình thức chữ viết của tiếng Việt

b) Các dạng bài tập chính tả Âm - vần

Hệ thống bài tập chính tả âm - vần trong phân môn Chính tả có số lượng khá phong phú và được thể hiện bằng các hình thức khá đa dạng Nhờ

Trang 33

26

có sự đa dạng và phong phú đó hệ thống bài tập âm - vần chính tả góp phần rèn luyện cho các em các kĩ năng rèn luyện chính tả, đặc biệt là trường hợp viết đúng chính tả, trong các trường hợp khó và dễ lẫn Sự phong phú về hình thức bài tập sẽ giúp các em thực hành một cách thoải mái, không cảm thấy chán nản hay mệt mỏi

Có thể chia bài tập chính tả thành những nhóm sau:

1 Điền âm, vần vào chỗ trống hoặc dấu thanh thanh trong câu, đoạn văn hay bài văn

2 Điền tiếng vào chỗ trống

3 Chọn tiếng thích hợp trong ngoặc đơn để hoàn thành đoạn văn

4 Tìm tiếng có nghĩa trong bảng kết hợp phụ âm đầu vần

5 Giải câu đố để phân biệt các hình thức chính tả và nghĩa đã cho

6 Tìm từ phù hợp cho hình thức chính tả và nghĩa đã cho

7 Tìm từ phù hợp cho hình thức chính tả và từ loại đã cho

8 Tìm các tiếng có thể ghép với các tiếng cho sẵn

9 Tìm vần của tiếng

1.6.3.3 Quy trình lên lớp chung cho một bài Chính tả

a) Kiểm tra và ôn tập bài cũ

Có thể thực hiện bằng một trong hai cách sau:

- Yêu cầu học sinh làm bài tập chính tả để ôn lại hiện tượng chính tả

đã học ở bài trước: học sinh nghe - viết một số từ đã luyện tập ở bài chính tả trước

- Nhận xét bài viết chính tả của học sinh mà giáo viên thu về chấm từ buổi trước Nêu một số lỗi tiêu biểu, nhắc nhở học sinh cách chữa và cách khắc phục

Trang 34

27

b) Dạy bài mới

Giáo viên nêu yêu cầu của bài viết chính tả và các bài tập chính tả âm vần

1 Hướng dẫn học sinh bài viết chính tả:

* Tìm hiểu bài viết chính tả

- Cho học sinh đọc bài viết chính tả sẽ viết (trong sách giáo khoa) tìm hiểu (hay tái hiện) nội dung chính của bài viết

- Hướng dẫn học sinh nhận xét các hiện tượng chính tả cần lưu ý trong bài (theo gợi ý của sách giáo khoa hay do giáo viên căn cứ vào đối tượng học sinh cụ thể để gợi ý)

- Yêu cầu học sinh luyện viết những từ khó hoặc dễ lẫn

* Hướng dẫn học sinh viết bài tập chép, nhớ - viết hoặc nghe - viết

Khi đọc cho học sinh viết, giáo viên cần thực hiện theo các bước sau:

- Đọc bài chính tả cho học sinh nghe một lần trước khi viết Yêu cầu đọc rõ ràng, tốc độ vừa phải

- Đọc bài chính tả lần thứ hai cho học sinh nghe - viết từng câu ngắn hay từng cụm từ (mỗi câu ngắn hay từng cụm từ hai đến ba lần, lần thứ nhất đọc chậm, lần thứ hai đọc đúng tốc độ quy định)

- Đọc lại toàn bài tập lần cuối cho học sinh soát lại bài chính tả của bài viết

* Chấm và chữa bài chính tả

Mỗi giờ chính tả giáo viên chọn bài viết của một số học sinh để chấm

Có thể chọn bài của những học sinh đến lượt chấm bài, những học sinh hay mắc lỗi, cần rèn luyện thường xuyên Giáo viên cần giúp học sinh kiểm tra bài viết để phát hiện lỗi và chữa lỗi bằng một trong hai cách sau:

- Cho học sinh quan sát bài chính tả đã được giáo viên chép sẵn trên bảng phụ, đối chiếu với bài viết của mình để phát hiện và chữa lỗi

Trang 35

28

- Giáo viên đọc lại bài chính tả được viết, chỉ dẫn cách viết từng hiện tượng chính tả khó trong mỗi câu để học sinh đối chiếu với bài viết của mình sau đó phát hiện và chữa lỗi

2 Hướng dẫn học sinh làm bài tập chính tả Âm - vần

Giáo viên hướng dẫn học sinh làm tất cả các bài tập bắt buộc và một

số bài tập lựa chọn theo quy trình sau:

- Đọc yêu cầu của bài tập

- Làm bài tập

- Một số học sinh báo cáo kết quả, học sinh khác nhận xét

- Giáo viên chốt lại kết quả đúng

- Học sinh làm bài tập đúng vào vở hay vở bài tập

cơ sở để đưa ra một số biện pháp chữa lỗi chính tả thông qua các bài Tập làm văn viết cho học sinh lớp 4, lớp 5

Trang 36

29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LỖI CHÍNH TẢ TRONG CÁC BÀI TẬP

LÀM VĂN VIẾT CỦA HỌC SINH LỚP 4, LỚP 5

2.1 Mục đích điều tra

Phát hiện những lỗi chính tả mà học sinh lớp 4, lớp 5 thường mắc phải trong các bài Tập làm văn viết Tìm ra nguyên nhân và đưa ra những biện pháp phù hợp để chữa các lỗi chính tả đó

2.2 Địa điểm điều tra

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu và khảo sát vở Tập làm văn của học sinh lớp 4, lớp 5 hai trường tiểu học, một trường đại diện cho khu vực nông thôn và một trường đại diện cho khu vực thành thị:

- Trường Tiểu học Song Lãng - Huyện Vũ Thư - Tỉnh Thái Bình đại diện cho khu vực nông thôn

- Trường Tiểu học Đồng Xuân - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc đại diện cho khu vực thành thị

2.3 Phương pháp điều tra

- Đọc, chấm các bài Tập làm văn của học sinh khối lớp 4, lớp 5

- Thống kê, phân loại, so sánh qua bài viết của học sinh

- Thông qua phỏng vấn, trao đổi với giáo viên và học sinh của hai trường

2.4 Cách thức điều tra

Qua việc thu và chấm vở Tập làm văn của học sinh, chúng tôi thống

kê và phân loại lỗi chính tả của học sinh như sau:

- Lỗi về âm

- Lỗi về vần

- Lỗi về thanh điệu

Trang 37

30

2.5 Kết quả điều tra

2.5.1 Thống kê và phân loại lỗi chính tả trong các bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4, lớp 5

Chúng tôi tiến hành điều tra lấy ngẫu nhiên ở mỗi trường 300 bài tập làm văn viết và thống kê lỗi chính tả mà học sinh mắc phải như sau:

Bảng 1

Lỗi

Trường Tiểu học Đồng Xuân

Tường Tiểu học Song Lãng

Trang 38

dấu sắc →

không dấu→ dấu sắc

Ngày đăng: 23/04/2018, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w