1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ từ 6 11 tuổi trong các gia đình ở phường liên bảo, thành phố vĩnh yên, tỉnh vĩnh phúc (2014)

70 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 699,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trẻ em là một thực thể phát triển, lứa tuổi tiểu học 6 - 11 – giai đoạn đầu của tuổi học sinh, là giai đoạn đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người một cách

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự dạy bảo tận tâm của các thầy cô trong khoa Tâm lý – Giáo dục của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, sự động viên khích lệ của bạn bè và gia đình

Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình, chu đáo, nghiêm túc khoa học của cô

giáo ThS Nguyễn Thị Xuân Lan Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn

sâu sắc của mình tới cô, các bạn và gia đình

Xin cảm ơn các các cô, các chú, các anh chị đang công tác tại phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện và cho chúng tôi những ý kiến quý báu Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các

em, các bậc cha mẹ đã nhiệt tình tham gia vào chương trình của chúng tôi và hợp tác thiện chí giúp tôi trong quá trình thử nghiệm để hoàn thành đề tài

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

LÊ THỊ THƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự

hướng dẫn của ThS Nguyễn Thị Xuân Lan Các số liệu, dữ liệu, kết quả

trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Các nguồn tài liệu trích dẫn có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

LÊ THỊ THƯƠNG

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

NỘI DUNG 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 9

1.2.1 Văn hoá 9

1.2.2 Hành vi văn hoá 12

1.2.3 Gia đình và văn hoá gia đình 15

1.2.4 Giáo dục gia đình và giáo dục hành vi văn hoá trong gia đình 18

1.3 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi từ 6-11 tuổi 22

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi từ 6-11 tuổi 22

1.3.2 Cơ chế hình thành và đặc điểm hành vi văn hoá của trẻ từ 6-11 tuổi 24

1.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục HVVH cho trẻ 6-11 tuổi trong gia đình hiện nay 25

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA CHO TRẺ TỪ 6 – 11 TUỔI TRONG CÁC GIA ĐÌNH THUỘC PHƯỜNG LIÊN BẢO, THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 28

2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 28

Trang 5

2.2 Thực trạng của việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ 6 – 11 tuổi

trong các gia đình phường Liên Bảo, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc 29

2.2.1 Thực trạng về HVVH của trẻ 6 – 11 tuổi trong gia đình hiện nay 29

2.2.2 Thực trạng giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình hiện nay 34

2.3 Kết luận chung về thực trạng giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ 6 – 11 tuổi trong các gia đình ở phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 44

2.3.1 Tiểu kết chương 2 44

2.3.2 Nguyên nhân của thực trạng 46

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HOÁ CHO TRẺ Ở PHƯỜNG LIÊN BẢO, THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 47

3.1 Cơ sở để xác định biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình 47

3.1.1 Mục tiêu giáo dục 47

3.1.2 Cơ sở lý luận 47

3.1.3 Cơ sở thực tiễn 49

3.2 Đề xuất một số biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ từ 6 – 11 tuổi trong các gia đình 49

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cha mẹ về nhiệm vụ, vai trò, mục tiêu, nội dung giáo dục HVVH cho trẻ 6 – 11 tuổi trong gia đình 49

3.2.2 Cha mẹ giáo dục trẻ bằng tình yêu thương và sự làm gương 50

3.2.3 Cha mẹ tổ chức các hoạt động cho trẻ trong gia đình, để giúp trẻ lĩnh hội các chuẩn mực hành vi văn hoá theo yêu cầu phát triển 51

3.2.4 Cha mẹ cần tạo cho trẻ môi trường sống vui vẻ, hoà thuận, đoàn kết, yêu thương và chăm sóc nhau 51

Trang 6

3.2.5 Giáo dục gia đình cần phối kết hợp với giáo dục nhà trường

và giáo dục xã hội 52

3.2.6 Cha mẹ thường xuyên rèn luyện thói quen hành vi văn hoá cho trẻ 53

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

PHỤ LỤC 56

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 7

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHOÁ LUẬN

UBND : Uỷ ban nhân dân

LĐ – TBXH : Lao động – thương binh xã hội

Trang 8

xã hội, đặc biệt là gia đình – nơi sản sinh, nuôi dưỡng và là trường học đầu tiên của mọi thành viên trong xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng phát biểu tại hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục (ngày 03/08/1957): “Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng nếu thiếu giáo dục gia đình và ngoài

xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”

Theo tiến sĩ Trịnh Hoà Bình, Giám đốc Trung tâm Dư luận xã hội, Viện

xã hội học, một trong những giải pháp đầu tiên để giảm thiểu những suy nghĩ

và hành vi lệch chuẩn của giới trẻ là sự giáo dục từ gia đình Môi trường sống trong gia đình có tác động đầu tiên và ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển nhân cách của các em Vai trò của gia đình trong việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ là hết sức quan trọng Sự quản lý, giáo dục từ gia đình là một quá trình lâu dài và liên tục từ khi đứa trẻ sinh ra đến khi trưởng thành

Trẻ em là một thực thể phát triển, lứa tuổi tiểu học (6 - 11) – giai đoạn đầu của tuổi học sinh, là giai đoạn đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người một cách toàn diện và vững bền nhất, cũng là giai đoạn thuận lợi nhất cho việc giáo dục hành vi văn hoá

Giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến các mặt nhận thức, tình cảm và hành động ý chí của chúng Hiệu quả của quá trình tác động này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,

Trang 9

trong đó việc xác định rõ nội dung và biện pháp giáo dục gia đình là yếu tố cần được đề cập trước tiên Bởi “gia đình là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”

1.2 Cơ sở thực tiễn

Nước ta đang đổi mới từng ngày dưới tác động của nền kinh tế thị trường Chúng ta đang thực hiện hàng loạt các chính sách mở cửa để hợp tác với mọi dân tộc, quốc gia trên thế giới Trong bối cảnh như vậy chúng ta đang chịu sự tác động tích cực của thời đại trong sự hoà nhập với nền văn minh nhân loại, nó sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến các định hướng giá trị của chúng ta hiện nay Tại nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã nêu ra mục tiêu là đưa Việt Nam về cơ bản trở thành nước Công nghiệp vào năm 2020 Để thực hiện được nhiệm vụ đó yếu tố quyết định là con người Con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá phải là con người có nhân cách vững vàng, có trí tuệ sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tốt giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam Vì vậy chúng ta cần quan tâm đến việc vun đắp, giáo dục hành

vi văn hoá cho trẻ nhất là ở lứa tuổi tiểu học Việc xây dựng, phát triển chương trình giáo dục đạo đức, văn hoá ở bậc tiểu học và việc lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở độ tuổi này rất thích hợp

Mặt khác, “văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Làm thế nào để giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ em từ trong gia đình đến ngoài xã hội, đây là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục hành vi văn hoá; giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ các độ tuổi khác nhau và để cập đến nhiều khía cạnh khác nhau Song việc đi tìm hiểu thực trạng giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ 6 - 11 tuổi trong gia đình hiện nay, chưa có nhiều công trình

đi sâu tìm hiểu

Trang 10

Với những vấn đề được đặt ra trên, chúng tôi thấy rằng việc đi sâu tìm

hiểu, nghiên cứu đề tài “Thực trạng giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ 6 –

11 tuổi trong các gia đình ở phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” là cần thiết nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục trong

gia đình và xã hội hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở những vấn đề lý luận, đề tài tiến hành khảo sát thực trạng giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ từ 6 - 11 tuổi trong các gia đình ở phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ

6 - 11 tuổi

3.2 Khách thể nghiên cứu: Vấn đề giáo dục trẻ từ 6 – 11 tuổi

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu thực trạng giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ từ 6 - 11 tuổi trong các gia đình ở phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

5 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, việc giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ nói chung và trẻ từ 6 –

11 tuổi nói riêng chưa được quan tâm đúng mức tại các gia đình Nếu phát hiện đúng thực trạng và đề xuất được những biện pháp hợp lí thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục thói quen, nếp sống và hành vi văn hóa cho trẻ

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các cơ sở lý luận, những quan điểm, tư tưởng về giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình

Trang 11

6.2 Nghiên cứu thực trạng: Nghiên cứu để làm rõ thực tế giáo dục các hành vi văn hoá cho trẻ từ 6 - 11 tuổi ở phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

6.3 Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng và đề xuất một số biện pháp

để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục thói quen, nếp sống và hành vi văn hóa cho trẻ

Trong 3 nhiệm vụ trên, nhiệm vụ (6.2) là nhiệm vụ chính của đề tài

7 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng một số biện pháp sau:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Chúng tôi phân tích, tổng hợp,

hệ thống hoá một số tài liệu, văn bản, công trình nghiên cứu có liên quan đến

đề tài

Dựa trên cơ sở các tài liệu, các văn bản, các sản phẩm (sách báo, các công trình nghiên cứu) có liên quan nhằm phục vụ cho đề tài, chúng tôi tìm hiểu các quy luật, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục hành vi văn

hoá cho trẻ trong gia đình

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra viết: Chúng tôi chủ yếu sử dụng điều tra xã hội học, nhằm thu thập thông tin về thực trạng giáo dục trẻ em từ 6 - 11 tuổi trong gia đình, kết quả tác động hình thành hành vi văn hoá cho trẻ Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phiếu điều tra cho các bậc cha mẹ, với mục đích thu thập thông tin về quan niệm, thái độ và việc làm của cha mẹ trong giáo dục con cái nói chung và giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ nói riêng Và phiếu điều tra dành cho trẻ để tìm hiểu xem mức độ thực hiện hành vi văn hoá của trẻ trong các gia đình

Trang 12

Phương pháp quan sát: Mục tiêu quan sát là những biểu hiện cụ thể (nhận thức, thái độ, việc làm) của các bậc cha mẹ cũng như nhận thức và hành

Trang 13

NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

Gia đình (GĐ) luôn là tế bào của xã hội, thực hiện một số chức năng chủ yếu sau: Chức năng sản xuất tự nhiên, chức năng kinh tế, chức năng giáo dục,… Các chức năng trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tuỳ theo sự phát triển của GĐ và hoàn cảnh xã hội mà vị trí, vai trò của từng chức năng thay đổi Nhưng nhìn chung, chức năng giáo dục và sự hình thành, phát triển nhân cách trẻ là một trong những chức năng quan trọng có vị trí, vai trò rất lớn

Qua các thời kỳ lịch sử và các nền văn hóa cụ thể, vấn đề gia đình được các nhà tư tưởng quan tâm, nghiên cứu từ rất sớm Các nghiên cứu này đã làm

rõ bản chất của quá trình giáo dục, nhiệm vụ, động lực, nội dung, biện pháp giáo dục con người nói chung và giáo dục trẻ em nói riêng

* Lịch sử nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Trong học thuyết Mác - Lênin khi bàn đến vấn đề chung của giáo dục (GD) và GDGĐ cho rằng: Giáo dục con cái là chức năng quan trọng của GĐ, muốn GD thế hệ trẻ, thì ngay từ khi mới ra đời phải củng cố quan hệ gia đình

và tổ chức tốt các mối quan hệ gia đình [9, 180-233]

A.X.Macrenco (1888 – 1939) khi bàn về giáo dục con người ông đã đưa

ra các nguyên tắc: GD trẻ em trước hết là trách nhiệm của cha mẹ, giáo dục trẻ phải chú ý các đặc điểm của trẻ, giáo dục phải bắt đầu từ tuổi ấu thơ GDGĐ cần có những nội dung,biện pháp, hình thức tổ chức riêng [9, 275-283]

Nhà giáo dục Nga L.F.Ôxtrôxcaia đã dày công nghiên cứu quá trình

GD và khẳng định: Những phẩm chất tốt đẹp và năng lực sáng tạo của con người cần phải xây dựng, rèn luyện, từ rất sớm, trong GĐ Hành vi của trẻ là

Trang 14

kết quả giáo dục, thói quen tự tiện, bướng bỉnh, nhõng nhẽo của trẻ chứng tỏ

sự thiếu uy tín của người lớn trong gia đình Do đó, giáo dục tính sẵn sàng vâng lời được coi trọng để hình thành ở trẻ những giá trị văn hoá tốt đẹp Cần lựa chọn các phương pháp sư phạm để tác động đến trẻ tính yêu cầu cao, tính hợp lý của công tác động viên, khuyến khích, nêu gương, lời chỉ bảo và sự giải thích những quy tắc thực hiện hành vi trong giáo dục trẻ [7, 77 - 92]

* Lịch sử nghiên cứu của các tác giả trong nước

Trong pháp lệnh ngày 14/11/1979 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về

“Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em”, Điều 2, quy định việc giáo dục trẻ em căn cứ vào 5 điều Bác Hồ dạy:

“1 Yêu tổ quốc, yêu đồng bào

Điều 14, cha mẹ phải làm gương tốt về mọi mặt cho các con, trong lao động sản xuất tiết kiệm, trong công tác, học tập và trong sinh hoạt hàng ngày Bồi dưỡng cho các em những tình cảm tốt đẹp, nếp sống văn minh và đạo đức

xã hội.[6, 103]

TS Võ Nguyên Du trong luận án “Một số nội dung và biện pháp giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ en trong gia đình”, đã phân tích rất rõ các nội dung giáo dục hành vi văn hóa, căn cứ theo 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên và

Trang 15

các nhóm biện pháp tác động: Giữa trẻ em với cha mẹ và người lớn trong gia đình; giữa trẻ em với cộng đồng dân cư trên địa bàn sinh sống Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa đưa ra những biện pháp giáo dục cụ thể trong giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ trong gia đình hiện nay Song những kết luận của tác giả sẽ giúp chúng tôi tập trung nghiên cứu biện pháp giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ từ 6 – 11 tuổi trong gia đình hiên nay [1, 115 – 118]

Ngoài ra, còn rất nhiều công trình có giá trị thực tiễn đã được các nhà khoa học nghiên cứu

Qua nghiên cứu các công trình của các tác giả trong và ngoài nước chúng tôi nhận thấy:

Việc giáo dục hành vi văn hoá (GDHVVH) cho trẻ đã được quan tâm

từ rất lâu trong gia đình và trong nhà trường Chủ yếu là giáo dục cho trẻ nhận thức đúng đắn các giá trị văn hoá qua các mối quan hệ giữa con người với con người trong cuộc sống, nhằm hình thành những phẩm chất tốt đẹp ở mỗi cá nhân

Giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ từ 6 - 11 tuổi là một quá trình toàn vẹn với hệ thống các thành tố GD: Mục đích, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương pháp, người giáo dục và người được giáo dục Là quá trình tác động của nhà giáo dục và người được giáo dục tự giác, tích cực, chuyển hoá những yêu cầu của các chuẩn mực hành vi đã quy định thành thói quen tương ứng

Nội dung và phương thức thể hiện HVVH do thực tiễn cuộc sống và những truyền thống văn hoá quy định, vì vậy không ngừng biến đổi cùng với

sự phát triển của xã hội hiện nay

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa đi sâu nghiên cứu thực trạng giáo dục HVVH cho trẻ nên chưa đưa ra được cách giải quyết thực trạng giáo dục HVVH cho trẻ hiện nay

Trang 16

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1 Văn hoá

Văn hoá là hiện tượng nảy sinh, phát triển cùng đời sống xã hội, VH gắn liền với sự ra đời của nhân loại Nhưng mãi đến thế kỷ thứ 17, nhất là nửa thế kỷ 19 trở đi, các nhà khoa học trên thế giới tập trung vào nghiên cứu sâu vào lĩnh này

VH được hiểu theo nghĩa hẹp, là những hoạt động và giá trị tinh thần của con người Trong phạm vi này, văn hoá với hai khía cạnh là văn hoá khoa học (toán học, vật lý học, hoá học, ), văn hoá nghệ thuật (văn học, điện ảnh,…), được coi là phân hệ chính của hệ thống VH Nghĩa hẹp hơn nữa, VH được coi như một ngành - ngành văn hoá - nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế - kỹ thuật khác Các cách hiểu này thường kèm theo cách đối

xử sai lệch về văn hoá

Theo nghĩa rộng nhất, văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình…

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng tôi tìm hiểu VH trong phạm vi rộng: giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra

* Giá trị văn hoá và truyền thống văn hóa

Giá trị văn hóa

Giá trị VH (GTVH): là những tư tưởng bao quát, là hệ thống các quan

hệ khách quan được quy định bởi thực tiễn lịch sử, bởi tính thông tin rộng rãi GTVH gắn với các lợi ích xã hội, đó là nền tảng tinh thần GTVH chính là quan niệm về những cái cao cả, cái có ý nghĩa được cộng đồng đúc kết lại, thừa nhận và tôn vinh Mỗi dân tộc đều có những GTVH cho riêng mình, thể hiện được bản sắc dân tộc Những giá trị đó không phải là những giá trị bất

Trang 17

biến mà nó được làm phong phú thêm bởi những sáng tạo mới cũng như hoàn cảnh mới của dân tộc GTVH được phân thành 3 nhóm:

- Nhóm GTVH truyền thống mang tính cộng đồng gồm các nội dung: yêu nước; nhân ái; bao dung; tự lực; tự cường; đoàn kết; tôn trọng; hiếu học;…

- Nhóm GTVH truyền thống mang tính gia đình gồm các nội dung: thuỷ chung; hiếu thảo; kính trên nhường dưới; thương yêu đùm bọc;…

- Nhóm GTVH truyền thống mang tính cá nhân gồm các nội dung: trung thực; chân thành; giản dị; lễ độ; cần cù; sáng tạo; kiên trì vượt khó; yêu

lẽ phải; vị tha; tôn trọng người khác; lạc quan; tiết kiệm;…

Truyền thống văn hoá

VH được duy trì bằng những truyền thống văn hoá “Truyền” là chuyển giao, “thống” là nối tiếp, “truyền thống” là cơ chế tích luỹ và truyền đạt kinh nghiệm qua không gian và thời gian trong cộng đồng, là những giá trị tương đối ổn định, thể hiện những khuôn mẫu xã hội

Truyền thống văn hoá là những giá trị văn hoá được tồn tại lâu dài trong cộng đồng, thấm sâu vào từng con người cụ thể, tạo thành những giá trị dân tộc Vậy, truyền thống VH là những giá trị tương đối ổn định, thể hiện những khuôn mẫu xã hội, được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người, qua không gian, thời gian và được cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lễ nghi

* Lối sống, nếp sống, thói quen văn hoá

Văn hoá được sử dụng ở phạm vi rộng, còn khi nói đến lối sống, nếp sống, thói quen văn hoá, là góc độ thu hẹp của văn hoá

Về bản chất, lối sống bao gồm tất cả các hiện tượng xã hội, lối sống thống nhất với “hình thái kinh tế xã hội”, với phương thức sản xuất, quan hệ

và các điều kiện xã hội GD là cần phải làm cho con người có cách suy nghĩ

Trang 18

đúng và hệ thống hành vi thói quen phù hợp với yêu cầu của xã hội Đặc trưng của lối sống là những hình thức hoạt động sống của con người, những điều kiện lao động sinh hoạt, các mối quan hệ qua lại

Như vậy, lối sống là tổng hoà các dạng hoạt động với các điều kiện xã hội nhất định

Theo Tiến Sĩ Ngô Công Hoan: lối sống thường nói về một giai cấp, một dân tộc, một quốc gia Còn nếp sống thường dùng trong phạn vi hẹp hơn

A.P.Buchenco quan niệm: Nếp sống không phải là một phần mà là một trong những hình thức biểu hiện của lối sống

Khi sử dụng thuật ngữ “nếp sống” là để chỉ toàn bộ việc tổ chức sinh hoạt của các thành viên trong các gia đình đảm bảo cho việc thực hiện tốt các chức năng gia đình, đặc biệt là chức năng giáo dục của gia đình trong những điều kiện nhất định

Thói quen: thường chỉ những hành vi ứng xử của cá nhân được diễn ra trong những điều kiện nhất định, trong không gian và quan hệ xã hội cụ thể [4, 107-108]

Ví dụ: thói quen nói lời “xin lỗi” khi vô tình mắc lỗi, thói quen đi bộ vào buổi chiều tối, thói quen ăn trầu,…

Trong đó, các phẩm chất nhân cách con người được hình thành trên cơ

sở thói quen được diễn ra ổn định, nếp sống của gia đình Rất nhiều phẩm chất nhân cách được hình thành từ thói quen

Sống trong điều kiện nào thì chúng ta cũng có thể tạo ra được lối sống đẹp, những nề nếp, thói quen có văn hoá Thực chất việc xây dựng lối sống, nếp sống có văn hoá hiện nay chính là việc xác định được phương hướng vận động của hành vi, nhằm phát triển hệ thống thái độ, ứng xử mang nội dung văn hoá Trong môi trường gia đình và đời sống cá nhân tích cực xây dựng hệ thống hành vi văn hoá cho thế hệ trẻ hôm nay

Trang 19

1.2.2 Hành vi văn hoá

1.2.2.1 Khái niệm hành vi

Khái niệm hành vi được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau Tâm lý học Macxit quan niệm hành vi của con người là “cuộc sống”, “lao động thực tiễn” tức là hoạt động Hành vi con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể, của nhân cách

Theo nhà tâm lý học Nga L.X.Vưgotki, hành vi của con người được hiểu là quá trình nắm lấy các chức năng tâm lý xã hội của bản thân, nói cách khác hành vi được hiểu là hoạt động nhằm vào bản thân để tổ chức hành vi của mình, đồng thời tham gia vào hoạt động bên ngoài, tác động lên các đối tượng bên ngoài, hoặc những người khác Để được hoạt động tâm lý bên trong thì trước hết phải tổ chức được hình thức bên ngoài của nó Trẻ em sẽ hoạt động trước hết trên những đối tượng bên ngoài rồi “chuyển vào trong” thành tâm lý, ý thức Hoạt động bên ngoài và hoạt động bên trong có cùng cơ cấu duy nhất, cấu trúc chung ấy là cơ sở quan trọng cho các quá trình chuyển hóa “từ ngoài vào trong”, “từ trong ra ngoài”.[3, 49]

Từ các kết quả nghiên cứu của các tác giả cho chúng ta xác định được một số vấn đề đối với việc giáo dục hành vi sau đây:

Hành vi bên ngoài là biểu hiện ra bên ngoài của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong, của nhân cách

Hành vi con người có mục đích và ý nghĩa, tức là có cùng một lúc tính đến cả chủ thể lẫn thực tại Điều đó cho thấy, con người chịu tác động rất lớn

từ môi trường sống, cho nên nhà giáo dục không được coi nhẹ vấn đề hình thành khả năng thích nghi với môi trường của đứa trẻ Tuy nhiên, yếu tố quyết định chính là hành vi của chủ thể

Khi xét về chuẩn mực hành vi của con người thì phải xem chủ thể có nắm được nội dung, quy tắc thực hiện hành vi đó, có nhu cầu tình cảm, mong

Trang 20

muốn thực hiện không, có khả năng và thói quen thực hiện hành vi đó không Cho nên, có thể nhìn nhận hành vi của con người văn hóa, có đạo đức hay không cần căn cứ vào lời nói, các cử chỉ, hành động của họ, “có thể thông qua

hệ thống hành vi, cử chỉ trong cuộc sống cá nhân mà hiểu biết, đánh giá trình

độ phát triển nhân cách của cá nhân cụ thể”

Cấu trúc tâm lý của hành vi:

- Ý thức của cá nhân về các chuẩn mực xã hội cần tuân theo

- Sức mạnh thúc đẩy hành động (nhu cầu, tình cảm, )

- Ý chí, thói quen tham gia vào quá trình thực hiện hành vi đó

1.2.2.2 Hành vi văn hoá, hành vi đạo đức, hành vi pháp luật

Theo tác giả Phạm Ngọc Định thì một hành vi văn hóa phải đạt được các yêu cầu: Hành vi thường xuyên lặp đi lặp lại tương đối theo một quy trình bởi nhiều người Có tác dụng mẫu mực cho các thành viên nhóm hay trong xã hội, chứa đựng một giá trị nào đó Vì vậy hành vi văn hóa là những hành vi con người tự giác thực hiện, có động cơ phù hợp với chuẩn mực quy tắc xã

hội [2]

Hành vi văn hóa được hiểu như sau: HVVH là hành vi của con người mang lại hiểu biết cho mọi người và tạo nên những phong tục, tập quán tốt đẹp, tạo dựng mối quan hệ người với người đầy tình thương và trách nhiệm Nói một cách khác HVVH là những hành vi mang lại sự tiến bộ, hướng tới chân, thiện, mĩ biểu hiện nhân cách tốt đẹp của con người

Theo quan niệm đạo đức học Mác – Lênin thì: Hành vi đạo đức không chỉ là cách ứng xử bên ngoài, mà là tổng hợp những nhân tố như ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức và thực tiễn đạo đức Đó là sự thống nhất những yêu cầu thực tiễn khách quan của xã hội và vai trò của chủ thể hoạt động tích cực trong điều kiện xã hội đó

Trang 21

Hành vi đạo đức là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động, nhưng được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể nhân cách Hành

vi đó được thực hiện bởi các chủ thể có ý thức, với những mục đích nhất định và chịu sự quy định của chuẩn mực xã hội, được xây dựng từ hệ thống những giá trị

Các quan hệ trong gia đình, bạn bè, học tập, lao động,… đều là các quan hệ xã hội Các quan hệ xã hội thường rất phức tạp, pháp luật không thể đưa ra quy tắc xử sự cho tất cả, chỉ những quan hệ cần tuân theo ý chí của nhà nước, cần điều chỉnh bằng những thể chế nhất định mới được coi là quan

hệ pháp luật

Như vậy, hành vi pháp luật là xử sự của chủ thể pháp luật trong những điều kiện, hoàn cảnh khách quan, cụ thể với những biểu hiện ra bên ngoài và chịu sự chi phối chủ quan của ý thức chủ thể để nhằm đạt được những mục đích nhất định và được các quy luật điều chỉnh

Như vậy chúng ta thấy hành vi văn hoá, hành vi đạo đức, hành vi pháp luật đều được biểu hiện qua hoạt động sống của cá nhân với tư cách là chủ thể hoạt động, đều dựa trên cái đúng, cái sai, cái thiện, cái ác và chịu sự quy định của những giá trị, chuẩn mực chung

Tóm lại, hành vi pháp luật chính là sự biểu hiện cấp độ bắt buộc giữa tuân theo và xử phạt, là hành vi đạo đức cấp thấp , còn hành vi văn hoá có thể gọi là hành vi đạo đức cấp cao Tất cả các hành vi này đều được ngăn cấm, ràng buộc nhưng hành vi pháp luật thì được pháp luật điều chỉnh bằng hệ thống pháp lý do nhà nước ban hành còn hành vi đạo đức do lương tâm, do dư luận xã hội điều chỉnh

Từ sự phân biệt trên chúng ta có thể rút ra kết luận: Nội dung, biện pháp giáo dục hành vi văn hoá, hành vi đạo đức, hành vi pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và thống nhất biện chứng với nhau

Trang 22

1.2.3 Gia đình và văn hoá gia đình

là con người biết xây dựng gia đình hạnh phúc, có trách nhiệm đầy đủ và tình yêu chân thật trong quan hệ vợ chồng, có trách nhiệm cao đối với việc xây dựng con cái thành những con người mới…”[5]

Theo từ điển tiếng Việt: GĐ là tập hợp những người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường có vợ chồng, con cái và cha mẹ.[10]

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Rất quan tâm đến GĐ là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành một xã hội, GĐ tốt thì xã hội mới tốt

Trong lĩnh vực nghiên cứu gia đình, Lê Ngọc Văn ghi rõ những đặc điểm mới của gia đình Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hoá, toàn cầu hoá Đó là tính đa dạng của gia đình về cấu trúc, quy mô, nghề nghiệp, những mâu thuẫn về lối sống và độ tuổi… là sự thay đổi quan niệm về người chủ gia đình, những mâu thuẫn về lối sống, bạo lực gia đình

Hiện nay, gia đình tồn tại dưới nhiều hình thức, tùy theo mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu mà có thể phân gia đình thành: gia đình truyền thống, gia đình mở rộng (có từ ba thế hệ trở lên); gia đình pha trộn (xây dựng lại các cặp vợ chồng); gia đình độc thân (một mẹ nuôi một con, ) Xét theo đẳng cấp, theo hình thái kinh tế xã hội có: gia đình nông thôn; gia đình công nhân,

Trang 23

Tóm lại, những điều quan trọng nhất trong nội hàm khái niệm gia đình là:

- GĐ là tổ chức cơ bản, các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau Mọi người sinh ra trong gia đình chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của nhau bởi sự chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ từ lúc thai nhi trong bụng mẹ cho đến khi trưởng thành

- GĐ là một nhóm nhỏ xã hội có giới tính, hình thành và phát triển từ hôn nhân, tái sản xuất ra con người tạo nên quan hệ ruột thịt, huyết thống Đây là nét đặc trưng cơ bản nhất của gia đình

- Các thành viên trong GĐ có thể thuộc nhiều thế hệ, được gắn bó với nhau không chỉ về huyết thống mà còn những giá trị truyền thống văn hoá trong gia đình, tạo nên nét văn hoá của gia đình

- Đời sống gia đình tồn tại nhờ một ngân sách chung, mà nhân sách đó được các thành viên trong gia đình đóng góp Các thành viên sống chung với nhau dưới một mái nhà, có quan hệ khăng khít với nhau bằng tình cảm, trách nhiệm

1.2.3.2 Văn hoá gia đình

GĐ ngay từ đầu là một tồn tại văn hoá, một thực thể văn hoá, gia đình luôn bị chi phối bởi các trạng thái xã hội “xã hội nào, gia đình thế ấy” Nếu chúng ta coi gia đình là “xã hội vi mô” thì nó phản ánh tất cả các mặt của đời sống xã hội vào bản thân GĐ Mặt khác, “mỗi tế bào của xã hội” sẽ tác động ngược lại vào xã hội Do đó, văn hoá xã hội và văn hoá gia đình cùng nằm trong sự tương tác vô cùng chặt chẽ

Theo quan điểm xã hội học thì: văn hoá gia đình (VHGĐ) gắn liền với chức năng gia đình là một thể chế xã hội

VHGĐ là tập hợp của những biểu hiện văn hoá gắn liền các mặt quan

hệ và đời sống gia đình “Văn hoá gia đình là các biểu hiện văn hoá gắn liền

Trang 24

với các mặt của quan hệ gia đình”, và đời sống gia đình Hay nói cách khác văn hoá gia đình bao gồm tất cả những con người tạo ra và có được trong môi trường gia đình

1.2.3.3 Những biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay

Chính sách đổi mới và hội nhập đã đưa đất nước ta vào thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước Sau Đại hội VI, nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Những thay đổi đó đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế

xã hội mạnh mẽ, đồng thời cũng tạo nên những thay đổi lớn lao và sâu sắc trong đời sống xã hội của nước ta, cụ thể hơn là sự thay đổi trong mỗi người, mỗi gia đình Việt Nam Có ý kiến cho rằng, “phải chăng những biểu hiện tiêu cực xã hội, một số tín hiệu suy thoái về đạo đức, tình hình trẻ em phạm tội đang có chiều hướng gia tăng và đều có nguồn gốc từ sự xuống cấp của giáo dục gia đình”

Hoà nhập với nền kinh tế thế giới, mỗi gia đình Việt Nam có vai trò không hề nhỏ trong sự phát triển của đất nước Mỗi gia đình là một đơn vị kinh doanh độc lập, tư tưởng làm giàu được động viên khuyến khích Bên cạnh đó, sự hội nhập, hợp tác, giao lưu kinh tế của đất nước với thế giới đã phá vỡ được sự khép kín của gia đình truyền thống trước kia “Mọi thành viên trong gia đình được tiếp xúc với nhiều nguồn tri thức, nhiều kênh thông tin

Trang 25

mới, tạo điều kiện giao tiếp rộng rãi hơn, đã làm thay đổi nhận thức, thái độ

và nếp sống của các thành viên trong gia đình”

Gia đình hiện nay đã có rất nhiều sự thay đổi ở tất cả các mặt, cấu trúc gia đình ít nhân khẩu, ít thế hệ ngày càng phổ biến Các gia đình có sự kết hợp giữa các nghề mà không chỉ theo một nghề… sức mạnh của đồng tiền đã chi phối rất lớn đến đời sống sinh hoạt của từng cá nhân trong mỗi gia đình Sức mạnh đó đã dẫn tới nhiều tai tệ nạn trong xã hội, báo hiệu sự xuống cấp

về đạo đức … Vì thế, bất luận trong hoàn cảnh nào thì gia đình cũng phải trực tiếp gánh chịu mọi kết quả tốt đẹp hay hư hỏng về sự phát triển của nhân cách của con cái mình

1.2.4 Giáo dục gia đình và giáo dục hành vi văn hoá trong gia đình

1.2.4.1 Giáo dục gia đình

Giáo dục con cái trong gia đình là công việc, là trách nhiệm, đạo đức, nghĩa vụ công dân của người làm cha mẹ Chức năng gia đình này được hình thành một cách tự phát, dần dần các bậc cha mẹ đã ý thức được giáo dục con cái như một trách nhiệm xã hội của gia đình

Điều 64 trong Hiến pháp nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành những người công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà cha mẹ”

Nói tới GDGĐ là phải nói tới bầu không khí tâm lý, đạo đức, lối sống, các giá trị văn hoá truyền thống, nền nếp gia phong,…đến những thói quen trong lối sinh hoạt hàng ngày trong đời sống của mỗi gia đình Một đứa trẻ từ khi sinh ra đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ gia đình của mình, trẻ thường nói tiếng nói của người lớn, bắt chước những hành động của người lớn trong gia đình Tình yêu thương, sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái là tiền đề của một nền giáo dục tốt

Trang 26

GDGĐ là một quá trình có tổ chức, có kế hoạch của các thành viên trong gia đình nhằm hình thành cho trẻ các phẩm chất đạo đức, thói quen, hành vi văn hoá, hành vi đạo đức,…giúp cho trẻ phát triển trở thành những công dân trong xã hội mới

Thực chất của việc tổ chức giáo dục này là xã hội hoá đứa trẻ, biến một sinh thể tự nhiên thành một thực thể có khả năng hoà nhập, thích ứng, học tập

và làm việc theo yêu cầu của xã hội

1.2.4.2 Giáo dục hành vi văn hoá

Từ khi đứa trẻ lọt lòng, đã được mẹ ru bằng những lời dạy lễ phép, lịch

độ, hành vi cho trẻ Giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ từ 6 - 11 tuổi là một quá trình khó khăn phức tạp, đòi hỏi cha mẹ phải quan tâm, kiên trì, nhẫn nại rèn luyện trẻ ở mọi nơi, mọi lúc, mọi chỗ…

Giáo dục hành vi cho trẻ từ 6 - 11 tuổi trong gia đình, ngay từ đầu phải cung cấp cho trẻ hiểu về các GTVH, truyền thống VHGĐ, những phép tắc trong cuộc sống Cha mẹ cần tạo cho trẻ có niềm tin vào các chuẩn mực hành

vi văn hoá, giúp trẻ tôn trọng những chuẩn mực hành vi văn hoá Cha mẹ phải tạo cho trẻ được những kích thích để trẻ có những phản ứng tích cực, sau đó hình thành cho trẻ những động cơ, thái độ tích cực trước những giá trị, truyền thống văn hoá, từ đó hình thành niềm tin, tình cảm của trẻ

HVVH không chỉ dừng lại ở một mức độ thực hiện trong tình huống

Trang 27

trở thành thói quen văn hoá Song muốn làm được điều đó cha mẹ cần phải tổ chức cho trẻ các hoạt động đa dạng phong phú, đây chính là tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện các HVVH

1.2.4.3 Một số nội dung giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ 6 - 11 tuổi trong gia đình hiện nay

- Tổ chức cuộc sống gia đình, xây dựng nề nếp, thói quen cho trẻ trong

tất cả các hoạt động học tập, sinh hoạt hàng ngày và lao động

- Nội dung tổ chức các mối quan hệ của trẻ trong gia đình: Quan hệ với ông bà, cha mẹ; Quan hệ với anh, chị em; Quan hệ với bạn; Quan hệ với môi trường xung quanh; Quan hệ với thầy cô,…

Dưới đây là một số nội dung tiêu biểu chúng tôi chủ yếu dựa vào chương trình chuẩn của giáo dục tiểu học [11]

- Ăn sạch (không rơi vãi, lãng phí)

- Ăn đẹp (sử dụng đúng đũa, thìa, nhai, húp,…)

- Ăn nhanh gọn (20 - 25phút)

- Tự thu gọn mâm bát gọn gàng 1.3 Việc chuẩn bị đi học

- Tự thu xếp, chuẩn bị đồ dùng học tập

- Chào hỏi mọi người trong nhà trước khi đi học

- Đi (về) đi bên phải, đi trên vỉa hè, sang đường đúng nơi quy

Trang 28

định (dành cho người đi bộ)

- Không chơi là cà

- Khi đi học về chào hỏi mọi người trong gia đình

- Tự để cặp, mũ, giày dép đúng nơi quy định

- Tự thay quần áo, rửa chân tay mặt mũi 1.4 Buổi tối tại gia đình

- Giúp cha mẹ chuẩn bị bữa tối

- Kể lại tình hình học tập, sinh hoạt và thực hiện nếp sống văn hoá trong ngày

- Học bài buổi tối

- Đi ngủ trước 9h30 phút (21 giờ 30 phút)

- Chuẩn bị chỗ ngủ (mắc màn, lấy chăn gối)

Trang 29

5.3 Nghe lời, giúp đỡ ông bà, cha mẹ

5.4 Yêu thương mọi người trong gia đình

6 Đối với

thầy cô

giáo

6.1 Kính trọng, lễ phép 6.2 Chăm chỉ học tập

7 Đối với

khách

7.1 Vui vẻ, niềm nở 7.2 Lịch sự, lễ phép

8 Đối với

cộng đồng

8.1 Tuân thủ các quy tắc, quy định nơi công cộng 8.2 Cố gắng thực hiện đúng nhiệm vụ

8.3 Lịch sự, tôn trọng mọi người, không làm phiền

Việc giáo dục HVVH cho trẻ trong gia đình chính là việc giúp trẻ nhận thức đúng các giá trị văn hoá, đạo đức của gia đình, biết cư xử đúng đắn, biết sống vì người khác, vì sự tiến bộ xã hội Sản phẩm tinh thần của hành vi văn hoá được trẻ biểu hiện trực tiếp trong cuộc sống hàng ngày

Như vậy giáo dục HVVH cho trẻ trong gia đình chính là việc tổ chức các hoạt động nhằm rèn luyện và hình thành cho trẻ nhân cách của con người mới, con người xã hội chủ nghĩa

1.3 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi từ 6 - 11 tuổi

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi từ 6 - 11 tuổi

Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi từ 6 - 11 tuổi Đây là lứa tuổi các

em trở thành học sinh ở trường phổ thông chứ không còn là em bé mẫu giáo

“học mà chơi, chơi mà học” nữa Đó là một chuyển biến rất quan trọng trong cuộc đời của mỗi đứa trẻ

Trang 30

Nhìn chung ở lứa tuổi này các em có sự thay đổi cơ bản về đặc điểm giải phẫu sinh lý Thể lực của các em phát triển mạnh cho nên nhu cầu vận động trở nên rất mạnh mẽ và tích cực nhưng lại mâu thuẫn với cử chỉ vụng

về, lóng ngóng do hệ xương cơ phát triển chưa hoàn thiện Cha mẹ phải hướng các hoạt động của trẻ vào có mục đích như: Tự phục vụ bản thân, rèn luyện tính độc lập tự chủ, làm những việc nhà trong các khả năng

Đời sống tâm lý của trẻ ở lứa tuổi này cũng có những thay đổi lớn Cho nên sự phát triển của các quá trình tri giác, tư duy, trí nhớ, chú ý và việc hoàn thiện ngôn ngữ cho phép trẻ ở lứa tuổi này thực hiện được những tư duy phức tạp hơn Trẻ đã bắt đầu tập trung lĩnh hội hệ thống một khối lượng, khái niệm tri thức khác nhau trong cuộc sống

Ở lứa tuổi này, trẻ đã dần dần biết ý thức thức về những hành vi của mình Biết tự điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với hoàn cảnh gia đình, trường học hay ngoài xã hội qua sự hướng dẫn dạy bảo từ cha mẹ, thầy cô Đặc biệt ở lứa tuổi này trẻ đã có những rung động về tình cảm, trẻ đã biết thực hiện các nhiệm vụ theo các xúc cảm đối với nhiều hiện tượng, khía cạnh

mà trước đó trẻ còn hoàn toàn thờ ơ

Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế như: các em còn thiếu hiểu biết về mọi mặt trong cuộc sống Đặc điểm này ai cũng nhận thấy nhưng không phải ai cũng có ý thức đầy đủ về điều đó Nhiều người đã áp đặt suy nghĩ của mình cho trẻ, mà không biết rằng trẻ cũng đã có những kinh nghiệm nhất định Do đó cần phải khai thác vốn sống của các em và khi tổ chức hoạt động giáo dục cần kết hợp lao động nhận thức với thói quen, hành vi ở trẻ

Điểm yếu của trẻ còn thể hiện ở hành vi ý chí chưa cao, bản tính hiếu động, khó kiềm chế, kém tự chủ nên dễ phạm lỗi, nhất là những yêu cầu có tính nghiêm ngặt, đòi hỏi sự tập trung cao độ, gây căng thẳng Trẻ em còn thiếu kinh nghiệm sống nên chưa tìm được để giải quyết các mâu thuẫn mà

Trang 31

bản thân gặp phải trong cuộc sống Chính vì thế, cần đưa ra khối lượng nội dung, yêu cầu về rền luyện HVVH cho trẻ một cách phù hợp

Tâm lý của các em chưa ổn định, cho nên các em rất dễ bị kích động,

dễ có những cảm xúc vui buồn lẫn lộn Khi gặp những thất bại, rủi do các em

dễ chán nản, thậm chí hoang mang, mất lòng tin, bi quan,…dẫn đến những hành động xốc nổi như dỗi hờn, khóc lóc khi tiến hành giáo dục HVVH cho trẻ cần phải từ từ, đưa ra các biện pháp nâng cao dần Thường xuyên chỉ dẫn, nhắc nhở, kèm theo tán thành hoặc phê bình

Ở lứa tuổi này, trẻ coi thầy cô và cha mẹ là thần tượng cho nên những lời nói, hành vi của người lớn thường ảnh hưởng rất lớn tới trẻ Những quy tắc, chuẩn mực hành vi được trẻ chấp nhận tiếp thu không hề có sự nghi ngờ hay phản ứng ngầm như tuổi mới lớn

Ngoài ra, ở độ tuổi này trẻ thường hay bắt chước thiếu lựa chọn như: kẻ say rượu, người điên khùng, người tàn tật,…nói chung là những gì kỳ kỳ, mới

lạ Hay trẻ có xu hướng nói và làm theo người lớn Trẻ bắt chước theo sở thích của bản thân cho nên những sơ suất trong hành vi, ứng xử, trong lời nói của người lớn làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả giáo dục, đôi khi gây nên những phản ứng ngược, trái với mục đích của cha mẹ đề ra Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “trẻ em hay bắt chước cho nên các cô, các chú, các thầy cô giáo, cha mẹ, đều phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm”

Tóm lại, với tổng kết về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở lứa tuổi này, chúng tôi cho rằng: rất cần thiết giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ và việc làm này sẽ có nhiều thuận lợi hơn nếu bỏ lỡ thì những thói quen, hành vi một khi

đã hình thành sẽ rất khó uốn nắn, và bổ sung ở các lứa tuổi lớn hơn

1.3.2 Cơ chế hình thành và đặc điểm hành vi văn hoá của trẻ từ 6 - 11 tuổi

Để hình thành HVVH cho trẻ trước hết cần giáo dục những nhu cầu văn hoá, đây chính là những nhu cầu xã hội nằm trong hệ thống các nhu cầu

Trang 32

cá nhân HVVH được tách rời từ thế giới tâm lý bên trong và được đưa lên hàng đầu ý muốn của trẻ, hành vi xuất hiện để cho các ý muốn chính đáng được thực hiện

Hình thành HVVH cho trẻ cần phải trải qua quá trình tập luyện thường xuyên để hình thành những kỹ năng, kỹ xảo thói quen giúp cho tính sẵn sàng hành động của trẻ được triển khai trọn vẹn Vì chủ thể của HVVH là toàn bộ nhân cách: tình cảm, ý chí, kỹ năng, kỹ xảo đang có, được sắp xếp lại trong hệ thống phẩm chất, năng lực cùng với ý thức của bản thân trẻ

Ở lứa tuổi này, trẻ thường có những hạn chế so với các lứa tuổi khác về đặc điểm tư duy cũng như mức độ phát triển ý thức nên quá trình hình thành HVVH cho trẻ có một số khác biệt so với tuổi lớn hơn như sau:

- Trẻ chưa ý thức được các động cơ ngay từ đầu nhưng lại được phản ánh vào tâm lý trẻ qua những sắc thái biểu cảm, và có khả năng thúc đẩy hành động

- Hành vi có ý thức của trẻ chính là khắc phục sự phụ thuộc của trẻ vào hoàn cảnh cụ thể, trực quan Trẻ chịu những sự tác động từ xung quanh cho nên hành vi của trẻ không do bản thân của trẻ làm chủ và tự điều khiển

- Hành vi của trẻ được hình thành trên cơ sở củng cố biểu tượng về hành vi cho trẻ Khi thực hiện các hành vi thì cần phải cung cấp cho trẻ những tri thức sơ đẳng về hành vi đó để trẻ nhận biết là nên hay không nên Tiếp đó

sẽ cho trẻ tham gia các hoạt động cụ thể, được kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra đánh giá

1.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục HVVH cho trẻ 6 - 11 tuổi trong gia đình hiện nay

Khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục HVVH cho trẻ chúng ta nhận thấy: Sự ảnh hưởng này diễn ra theo hai hướng đó là khách quan và chủ qaun

Trang 33

Thứ nhất: Về khách quan

Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, con người ngày càng được tiếp cận với khoa học kỹ thuật Thế kỷ 21 là thế kỷ công nghệ thông tin cho nên con người được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin văn hoá phong phú trong nước và trên thế giới, làm phong phú thêm vốn hiểu biết

Bên cạnh những lợi ích mang lại thì hệ quả của sự phát triển khoa học công nghệ là không hề nhỏ Khi tiếp xúc với các loại thông tin xấu trẻ rất dễ

bị lây nhiễm, ảnh hưởng theo thói hư tật xấu

Gia đình là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, là nơi ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi nhân cách của trẻ Nhưng lại có bộ phận không hề nhỏ là các bậc phụ huynh chỉ mải mê kiếm tiền mà không quan tâm đến giáo dục con cái Nhiều bậc cha mẹ không gương mẫu trong việc cư xử với các thành viên trong gia đình, những người xung quanh không tốt như quát mắng, văng tục, cãi vã, gây

gổ đánh nhau…trẻ dễ bị lây nhiễm, bắt chước

Ngoài ra, do trẻ rất dễ bị bạn bè không tốt rủ rê, lôi kéo tham gia những việc làm không hay như đánh nhau với bạn, chửi bạn, vô lễ với người trên

Thứ hai: Về chủ quan

Ở độ tuổi này (6 – 11 tuổi) là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnh hội Trẻ tiếp thu tri thức về các môn học, trẻ em học cách học, học kỹ năng sống trong môi trường trường học và môi trường xã hội Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dục gia đình, trường học,

xã hội thì bạn bè có chiếm vị trí quan trọng Tuổi này trẻ bắt đầu đến trường, được tiếp xúc, làm quen với các bạn Từ đó trẻ dần học theo cách nói, hành động của các bạn mà chưa hiểu thế nào là HVVH hoặc chưa nhận thức được đâu là các hành vi đúng, đâu là các hành vi sai

Qua các điều này cho thấy, chúng ta cần nâng cao nhận thức, vai trò của tất cả các lực lượng giáo dục trong việc giáo dục HVVH cho trẻ 6 – 11

Trang 34

tuổi, nhất là nâng cao giáo dục nhận thức gia đình Hành vi văn hoá của trẻ cần được hình thành dựa trên cơ sở sự kết hợp giữa giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội

Tóm lại:

Trẻ từ 6 - 11 tuổi, là lứa tuổi lần đầu tiên đến trường trở thành “học sinh” Các em rất hồn nhiên, chân thật nên rất dễ ảnh hưởng, tiếp thu sự dạy dỗ của người lớn “ Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên” Câu nói của Bác Hồ là lời dạy, lời nhắc nhở trong việc uốn nắn và giáo dục con trẻ Vì vậy công tác giáo dục HVVH cho trẻ lứa tuổi này hết sức cần thiết

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA

CHO TRẺ TỪ 6 – 11 TUỔI TRONG CÁC GIA ĐÌNH THUỘC

PHƯỜNG LIÊN BẢO , THÀNH PHỐ VĨNH YÊN,

TỈNH VĨNH PHÚC

Xuất phát từ giả thuyết khoa học của đề tài, xuất phát từ nghiên cứu lý luận, để tạo cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi tìm hiểu thực trạng giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ từ 6 - 11 tuổi trong các gia đình thuộc Phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Phường Liên Bảo là một trong 7 phường thuộc thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Về trình độ nhận thức, kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá – tư tưởng của người dân ở đây tương đối đồng đều cho nên công tác giáo dục, định hướng phát triển gia đình và trẻ em được quan tâm và xã hội hoá cao Phường hiện có các cơ sở vật chất đầy đủ phục vụ nhu cầu vui chơi, học tập của thiếu nhi: khu vui chơi thiếu nhi, thư viện Nhà văn hoá của phường liên tục hoạt động, với nhiều hình thức tổ chức, nhiều nội dung, chủ đề vui chơi, giáo dục trẻ

Mục tiêu khảo sát: Xác định thực trạng về nhận thức, thái độ và các

biện pháp được thực hiện để giáo dục HVVH cho trẻ

Nội dung khảo sát: Chúng tôi khảo sát các biểu hiện HVVH của trẻ,

thái độ, nhận thức của cha mẹ và việc giáo dục HVVH cho trẻ

Đối tượng khảo sát:

- Đối tượng thứ nhất là các bậc cha mẹ (Chúng tôi tiến hành khảo sát

190 người – trong đó có 100 nam và 90 nữ)

Ngày đăng: 23/04/2018, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w