1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bức tranh làng quê việt nam qua tập thơ góc sân và khoảng trời trần đăng khoa (2014)

77 2,4K 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 691,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài“Bức tranh làng quê Việt Nam trong tập Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa” với mong muốn được tìm hiểu bức tranh nông thôn đồng bằng Bắc B

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC -

LƯƠNG THỊ THUỶ

BỨC TRANH LÀNG QUÊ VIỆT NAM

QUA TẬP THƠ GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI

– TRẦN ĐĂNG KHOA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi

Người hướng dẫn khoa học

Th.S - GVC NGUYỄN NGỌC THI

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa giáo dục Tiểu học- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khoá luận này Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Nguyễn Ngọc Thi người đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình cho tôi trong việc triển khai nghiên cứu đề tài khoá luận đạt kết quả

Do thời gian nghiên cứu và đây là những bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên đề tài của tôi không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy tôi mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khoá luận tốt nghiệp của tôi thêm chất lượng và hữu ích

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Lương Thị Thuỷ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Dưới sự chỉ bảo tận tình của Th S – GVC Nguyễn Ngọc Thi và kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tôi đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình Tôi xin cam đoan khoá luận này là công trình nghiên cứu của tôi, kết quả không trùng lặp với kết quả của các tác giả khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Lương Thị Thuỷ

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Cấu trúc khoá luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH THẦN ĐỒNG THƠ CA 7

TRẦN ĐĂNG KHOA 7

1.1 Quê hương 7

1.2 Gia đình 11

1.3 Thời đại 13

1.4 Tài năng bẩm sinh của Trần Đăng Khoa 14

CHƯƠNG 2.THẾ GIỚI MỞ RA TỪ GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI THEO CÁI NHÌN CỦA CẬU BÉ KHOA 17

2.1 Tâm lí trẻ thơ với nhu cầu khám phá và khát vọng được giao hoà với thế giới xung quanh 17

2.2 Bức tranh thiên nhiên làng quê Việt Nam 18

2.3 Bức tranh lao động nơi thôn dã 36

CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT TẠO DỰNG BỨC TRANH LÀNG QUÊ 42

3.1 Một số biện pháp tu từ 42

3.1.1 Biện pháp nhân hoá 42

Trang 5

3.1.3 Biện pháp Ẩn dụ 48

3.2 Thể thơ và nhịp điệu 50

3.3 Nghệ thuật miêu tả âm thanh 53

3.3.1 Thế giới âm thanh mang đặc trưng của nông thôn Việt Nam - vùng đồng bằng Bắc Bộ 53

3.3.2 Thế giới âm thanh phong phú đa dạng 59

GIÁO ÁN GIẢNG DẠY 67

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 6

chiếc nôi:

“Thơ là muôn vạn cánh chim Đưa em bay bổng đi tìm giấc mơ”

Từ lâu tuổi thơ mỗi người đã gắn liền với thơ ca, bởi lẽ thơ rất phù hợp

với tuổi thơ Nhà văn Ga- ma – ra đã từng nói: “Người ta nói là chỉ trẻ em và

nhà thơ mới biết làm thơ, mới hiểu được sự thật của cuộc sống”

(Ga-ma-ra,Cuốn sách và trẻ em) Trần Đăng Khoa là một minh chứng cho điều đó

Những rung động chân thực cùng năng khiếu bẩm sinh trác việt đã tạo nên một Trần Đăng Khoa – thần đồng thơ ca với những dòng thơ hồn nhiên, ấp

ám tình người, làm xôn xao lòng người thuộc nhiều lứa tuổi Không phải ngẫu

nhiên mà Vân Thanh nhận xét: “Thơ Trần Đăng Khoa một thời làm rung

động cả trẻ em lẫn người lớn với bài: Đánh thức trầu, Đám ma bác giun, Mưa, Ò ó…o”( Nhiều tác giả, Bàn về văn học thiếu nhi- NXB Kim Đồng)

Đặc biệt với lứa tuổi Tiểu học, thơ Trần Đăng Khoa thực sự gần gũi thân thuộc và chiếm được cảm tình của các em, thơ như người bạn tuổi thơ của trẻ

em Trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học, thơ Trần Đăng Khoa được đưa vào chương trình từ lớp 1 đến lớp 5, bao gồm tám bài thơ trích trong tập

Góc sân và khoảng trời Đó là bài: Kể cho bé nghe, Ò …ó … o, Cây dừa, Tiếng võng kêu, Khi mẹ vắng nhà, Mưa, Trăng ơi… từ đâu đến?, Hạt gạo làng ta

Trang 7

Trần Đăng Khoa là một trong số ít nhà thơ mà ở lớp học nào của bậc tiểu học cũng có tác phầm được chọn Chỉ nghe tên tám bài thơ kể ở trên thôi

ta cũng thấy được màu sắc cảnh vật, những âm thanh hình ảnh rất gần gũi, quen thuộc

Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài“Bức tranh làng quê Việt Nam trong tập Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa” với mong muốn

được tìm hiểu bức tranh nông thôn đồng bằng Bắc Bộ quen mà lạ qua cách cảm, cách nghĩ của tâm trẻ thơ

1.2 Lí do sư phạm

Học sinh tiểu học được tiếp xúc với thơ ca qua bộ môn Tiếng Việt Thơ

có sức lôi cuốn kì diệu, nó tác động mạnh mẽ đến tình cảm của trẻ Thơ góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người đặc biệt với học sinh Tiểu học – bậc học nền tảng bước đầu hình thành nhân cách thẩm mỹ Thơ góp phần đắc lực giáo dục chân, thiện, mĩ cho các em

Về mặt tình cảm, trẻ em là đối tượng giàu có nhất Các em dễ khóc, dễ cười, dễ yêu, dễ ghét Tất cả các em đều nhiệt tình sôi nổi, ham học hỏi Khả năng tiếp thu những gì gọi là hay, là mới của các em lại càng mạnh mẽ hơn Tuy vậy không phải trẻ em nào cũng thích đọc thơ và hiểu được thơ, nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay, các em được tiếp xúc nhiều với các thể loại truyện tranh, những trò chơi điện tử hại mắt tốn thời gian và xa dần với sách với những vần thơ ngọt ngào đằm thắm, giản dị, trong sáng, giàu nhạc điệu

Là một người giáo viên Tiểu học tương lai, việc nghiên cứu đề tài “Bức tranh làng quê Việt Nam qua tác phẩm Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa” có ý nghĩa rất to lớn, nhằm mục đích nâng cao khả năng cảm thụ

văn học, bồi dưỡng chuyên môn cho bản thân Đồng thời hiểu được thơ Trần Đăng Khoa giúp phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy bộ môn Tiếng Việt

và giáo dục học sinh sau này.Nhưng quan trọng nhất là góp phần tác động đến

Trang 8

niềm yêu thích thơ ca của tuổi thơ để từ đó các em tìm đến thơ, đọc thơ và cảm thụ thơ

Đặc biệt đối với học sinh lớp 4, lớp5 đề tài này giúp ích cho học sinh phân tích cái hay cái đẹp trong các tác phẩm văn học, từ đó các em mở rộng thêm hiểu biết về đời sống nông thôn Việt Nam

Chính bởi những lẽ trên đã thôi thúc tôi chọn đề tài “Bức tranh làng quê Việt Nam trong tác phẩm Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa”với hi vọng giúp các em hiểu phần nào về cuộc sống, thiên nhiên, con

người nơi thôn dã qua đó bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên đất nước mình

2 Lịch sử vấn đề

Trần Đăng Khoa làm thơ từ rất nhỏ (8 tuổi với bài thơ Con bướm

vàng), thơ Trần Đăng Khoa đã tạo nên một hiện tượng lạ “xưa nay chưa từng

có” thu hút được sự chú ý của đông đảo giới phê bình nghiên cứu trong và

ngoài nước với nhiều ý kiến khác nhau Nhà thơ Tố Hữu viết: “Tập thơ Góc

sân và khoảng trời có rất nhiều bài thơ hay, tập thơ này có vị trí xứng đáng trong thơ Việt Nam và tôi chưa thấy trên thế giới trẻ em nào lại có những bài thơ như vậy cả, tinh hoa văn hoá dân tộc đã dồn đúc lại trong một số ít

người, trong đó có Khoa” (An ninh thế giới,số 116, 11-3-1999)

Nhà thơ Xuân Diệu đã không ngần ngại coi Khoa là người đứng đầu

trong số thi sĩ tí hon cùng thời đại khi ông ví “ hàng vạn em nhỏ cất tiếng gáy

ò ó o … ở khắp mọi nơi ; Khoa ở trung tâm của cuộc đồng ca vang tương

lai ấy”( Một em nhỏ làm thơ, Góc sân và khoảng trời , NXB Kim Đồng)

Trong lời giới thiệu về tập thơGóc sân và Khoảng trời tái bản thứ 27

của sở GD-ĐT Hải Dương, thầy giáo Nguyễn Văn Đức đã viết: “Thời đánh

Mỹ, thơ Trần Đăng Khoa chinh phục độc giả trong và ngoài nước Không mấy ai đã đi qua cái thời đó mà không lưu giữ trong tâm hồn đôi dòng thơ Khoa Người đọc thấy trong từng nụ thơ linh diệu của anh có vóc dáng dân

Trang 9

tộc Việt Nam ngàn đời, phẩm chất con người Việt Nam muôn thuở… Có những câu thơ Khoa cô đọng quyết tâm chiến đấu và lạc quan của cả một thời đại”

Thơ Trần Đăng Khoa thể hiện sự hồn nhiên, chân thực của trẻ thơ chính vì điều đó nên thơ Khoa chinh phục nhiều độc giả yêu thơ đến vậy Tất cả xuất phát từ một tâm hồn thơ nhạy cảm, tinh tế Xuân Diệu đã viết lời

tựa cho cuốn Góc sân và Khoảng trời:“Có nhìn cái mảnh sân nhỏ nhà Khoa,

tôi mới thấm thía, giác ngộ hơn nữa về sức mạnh của nội tâm Chính nội tâm, chính tâm hồn bên trong của con người quy tụ cảnh vật bên ngoài vào một cái trục, biến vật vô tri thành ra xúc cảm, tình cảm Tôi bước trên sân nhà em Khoa, đi qua đi lại với một thái độ trân trọng, tôi đang ở trong bầu thế giới riêng của Khoa”

Cái sự vật trong thơ anh đầy “sức sống”, “tâm hồn” và đúng như nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh: “Làng quê đã tạo nên thơ Khoa

từ màu sắc đến linh hồn” Qua tập thơ đầu tay, ta thấy rõ tuổi thơ Khoa gắn

bó mật thiết với Góc sân và Khoảng trờiKhoa đã nhìn đã nghe, đã cảm, đã

đưa vào thơ những hình ảnh, âm thanh, màu sắc chỉ có ở làng quê Việt mới

có Làng quê hiện lên quen thuộc với một mảnh vườn, một góc sân, một dòng sông, một thửa ruộng,… bình dị mà vẫn gây nhiều ngạc nhiên hứng thú Bởi Khoa đã thổi vào đó nét tinh nghịch, hồn nhiên của tâm hồn trẻ thơ, của cái tuổi chăn trâu cắt cỏ, thả diều, bắt cá, và chính nét độc đáo mới lạ đó đã tạo lên sức sống lâu bền của thơ Khoa

Chính vì lẽ đó mà mười bảy năm sau, nhà nghiên cứu Trần Đăng Suyền

cho rằng: “Quả là thời kì niên thiếu, Trần Đăng Khoa đã tạo ra được một thế

giới nghệ thuật thơ của mình Đặc sắc, một mình riêng một góc trời” (Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời kì niên thiếu, Tạp chí Văn học số 4/2003)

Trang 10

Ngay cả bản thân nhà thơ cũng đã từng bộc bạch: “Tôi đến với thơ hồn

nhiên như em bé đến với trò chơi Nhưng khi gặp Xuân Diệu thì tôi hiểu rằng thơ ca không bao giờ là trò chơi cả Nó là một công việc sáng tạo cực nhọc nếu không muốn nói là lao động khổ ải”

Một số các giáo trình văn học thiếu nhi cũng đề cập tới giá trị nội dung

và đặc sắc nghệ thuật tập thơ Góc sân và khoảng trời Những bài nghiên cứu,

nhận định, nhận xét đó chỉ nêu ra mà chưa ai đi sâu vào nghiên cứu bức tranh

làng quê trong tậpGóc sân và Khoảng trời của Trần Đăng Khoa Song những

công trình trên đã đáp ứng caotrong việc khắc hoạ thế giới qua cái nhìn trẻ thơ

và gợi ý cho tôi triển khai đề tài khoá luận này

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài trên,chúng tôi mong muốn hiểu sâu sắc hơn thơ Trần

Đăng Khoa, trong tương lai giúp học sinh Tiểu học cảm nhận được: “Bức tranh làng quê Việt Nam trong tập Góc sân và Khoảng trời của Trần Đăng Khoa”

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tập thơGóc sân và Khoảng trời của Trần Đăng Khoa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Bức tranh làng quê Việt Nam qua tập thơ trên của Trần Đăng Khoa

Văn bản khảo sát: Tập thơ Góc sân và khoảng trờicủa Trần Đăng

Khoa, NXB Văn hoá - Thông tin 2002

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu của tôi nhằm thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc hình thành thần đồng thơ Trần Đăng Khoa

Trang 11

- Tìm hiểu bức tranh nông thôn Việt Nam trong tâpGóc sân và Khoảngtrờicủa Trần Đăng Khoa

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài tôi có sử dụng các phương pháp sau:

 Phương pháp phân loại

 Phương pháp thống kê

 Phương pháp so sánh

 Phương pháp phân tích, tổng hợp

7 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung khoá luận gồm có ba chương

Chương 1: Cơ sở hình thành thần đồng thơ ca Trần Đăng Khoa

Chương 2: Thế giới mở ra từ Góc sân và khoảng trờitheo cái nhìn của

cậu bé Khoa

Chương 3: Nghệ thuật tạo dựng bức tranh làng quê

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH THẦN ĐỒNG THƠ CA

TRẦN ĐĂNG KHOA

“Thần đồng thi ca- có lẽ đây là từ thích hợp nhất để nói về nhà thơ Trần Đăng Khoa với những bài thơ làm từ góc sân dạo ấy Thần đồng thơ vì mới học lớp hai, mới lên tám tuổi đầu, chữ nghĩa chả có là bao nhiêu, mẹo luật câu cú hẳn là ít ỏi Vậy mà cậu bé Khoa đã làm được thơ – làm được rất nhiều thơ Điều quan trọng là để tôn vinh chú bé lên làm thần đồng chính là ở chỗ những bài thơ đó rất lạ, rất hay Lạ và hay ở mức những em bé cùng lứa tuổi với Trần Đăng Khoa dù có làm thơ, có nổi tiếng cũng không thể đạt “ cỡ” Trần Đăng Khoa Các nhà thơ người lớn đã thành danh lại càng không thể viết như em Khoa, cháu Khoa được nữa Hiện tượng Trần Đăng Khoa là hiện tượng không chỉ riêng chỉ của riêng Việt Nam mà còn là hiện tượng hiếm hoi của thế giới” [7; 11] Vậy điều gì đã làm nên thần đồng thơ ấy? có thể lí

giải điều đó ở một số điểm sau:

1.1 Quê hương

Nam Sách, Hải Dương miền quê vùng đồng bằng chiêm trũng là nơi thần đồng thơ sinh ra và lớn lên Chính miền quê nghèo khó đó đã ươm mầm cho tài năng Khoa nảy nở Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng

định “làng quê đã tạo nên thơ Khoa từ màu sắc đến linh hồn”.Quả thật, đọc Góc sân và Khoảng trờita có thể thấy rõ được điều đó Chẳng phải những vần

thơ hay nhất, những hình ảnh đẹp nhất trong tập thơ đều là những câu thơ những hình ảnh về con người nông thôn đó sao? Tập thơ in đậm dấu ấn tuổi thơ – tuổi thơ làng quê , tuổi thơ của một thời chiến tranh Ở đây hồn thơ tuổi

thơ xôn xao trong những câu chữ Và hồn thơ ấy gắn bó với Góc sân và

Trang 13

thơ có tựa đề Góc sân và khoảng trời và mở đầu tập thơ cũng là Góc sân và khoảng trời:

“Góc sân nho nhỏ mới xây Chiều chiều em đứng nơi này em trông Thấy trời xanh biếc mênh mông Cánh cò chớp trắng bên sông Kinh Thầy….”

Nghĩa là hổn thơ này không phải từ trên trời rơi xuống, hồn thơ ấy gắn chặt với quê hương, đất nước mình Hay nói cách khác, nó gắn với cuộc sống xung quanh Đúng như cốThủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói về kinh

nghiệm làm thơ, văn: “điều đầu tiên phải có gì trong trí trước đã”, tức là thơ

văn là sản phẩm của những gì mà ta quan sát, lắng nghe, cảm nhận được

Chính vì thế khi đọc Góc sân và Khoảng trời ta thấy cả một thế giới với

những sự vật gần gũi quen thuộc của làng quê chứ không phải là một thế giớ

xa lạ viển vông, không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng vu vơ Ta có thể đọc được trong thơ của Khoa hình ảnh của những luống khoai, những hàng chuối những ruộng cà:

“Vườn em có một luống khoai

Có hàng chuối mật với hai luống cà”

(Vườn em)

Dạo một vòng quanh góc sân và khoảng trời ấy, bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng gợi cho Khoa những rung động và khiến tâm hồn Khoa cất lên những vần thơ Một đám ma của bác giun sau vườn cũng được Khoa quan sát tinh tế nhưng cũng thật nhí nhảnh:

“Bác giun đào đất suốt ngày Trưa nay chết dưới bóng cây sau nhà,

Họ hàng nhà kiến kéo ra Kiến con đi trước, kiến già theo sau”

Trang 14

Kia là:

“Cây dừa Sải tay Bơi Ngọn mùng tơi Nhảy múa”

Cánh diều no gió Tiếng nó trong ngần Diều hay chiếc thuyền Trôi trên sông Ngân

Cánh diều no gió Tiếng nó chơi vơi Diều là hạt cau Phơi trên nong trời

Trời như cánh đồng Xong mùa gặt hái Diều em – lưỡi liềm

Ai quên bỏ lại”

Trang 15

Khoa miêu tả một không gian tuyệt vời, thơ mộng của cánh đồng quê hương Tự bao giờ cánh diều tiếng sáo đã tạo nên nét thanh bình thư thái trong cảnh vật thiên nhiên và tâm hồn người dân Và cánh diều càng trở nên thân thương hơn khi được ví với những hình ảnh quen thuộc xuất hiện hàng ngày trong cuộc sống của người dân: ánh trăng, chiếc thuyền, hạt cau, lưỡi liềm

Tâm hồn Khoa luôn hoà hợp với thiên nhiên, với quê hương, hương đồng gió nội như đã thấm sâu vào trong tâm hồn Khoa từ những đặc trưng của làng quê:

“Mùi bùn đang ngấu Mùi phân chưa hoai Vôi chưa tan hẳn Còn hăng rãnh cày”

Nước như ai nấu, Chết cả cá cờ

Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy”…

( Hạt gạo làng ta)

Quê hương với tất cả những con người, những sự vật rất đỗi quen thuộc

đã cho Khoa những ý nghĩa sâu xa, lay động nhất:

Trang 16

“Mái gianh ơi hỡi mái gianh Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương”

(Về thăm cô Bưởi)

Có yêu quê,hiểu quê mới thấm thía và có cảm nhận tinh tế, sâu sắc đến thế

Có thể nói quê hương đã chắp cánh cho thơ Khoa bay cao bay xa Qua những vần thơ đó, người đọc không chỉ thấy hình ảnh một nông thôn Việt Nam, mà còn thấy được một tình yêu sâu nặng của Khoa dành cho quê hương với cách viết đầy sáng tạo

1.2 Gia đình

Lớn lên trong gia đình mọi người đều yêu thơ văn nên Khoa cũng yêu thơ văn từ nhỏ Ảnh hưởng trực tiếp từ người mẹ, người bà – một kho văn hoá dịu dàng với những truyện cổ tích, những bài ca dao, những truyện nôm, các làn điệu chèo… Trần Đăng Khoa đã lớn lên bằng nguồn sữa mẹ, và hồn thơ

em phong phú dạt dào nhờ nguồn sữa thơ ca dân gian Theo lời kể của mẹ

Khoa: “từ lúc nó hơi biết nói tôi đã đọc ca dao Nó lại bảo kể chuyện cổ tích,

chuyện nọ xọ chuyện kia, chuyện nào nó cũng thích Nó chỉ khoái hỏi văn, chả

có sức đâu mà giải thích cho nó” Thơ ca dân gian đã ngấm sâu vào con

người Khoa, nên hồn thơ đó in đậm dấu là điều tự nhiên

Trần Đăng Khoa làm thơ khi mới biết ít chữ, sức đọc chẳng được mấy, vốn liếng chủ yếu trông cậy vào năng khiếu và những gì gia đình cung cấp cho em qua những khúc hát ru, những trò chơi dân gian, những câu chuyện

của bà của mẹ Ta có thể thấy trong Góc sân và Khoảng trời gần một nửa đều

là thơ lục bát, nhiều bài thơ có kết cấu vòng và ý thơ được sáng tạo từ những câu thơ dân gian

Người xưa trò chuyện tâm tình với con trâu như người bạn:

“Trâu ơi ta bảo trâu này

Trang 17

Trần Đăng Khoa cũng viết về con trâu đen lông mượt cũng là trò chuyện tâm tình:

“Trâu ơi ăn cỏ mật Hay là ăn cỏ gà”

“Trâu ơi uống nước nhá Đây rồi nước mương trong”

(Con trâu đen lông mượt)

Trần Đăng Khoa cũng nghĩ đến Thánh Gióng khi viết:

“Ông trời Mặc áo giáp đen

( Tiếng võng kêu)

Như vậy, từ những khúc ru, những câu chuyện được mẹ kể và bà kể Khoa đã có một kho tư liệu quý báu làm chất liệu cho những sáng tác của mình Và điều quan trọng hơn là Khoa đã biết sử dụng chúng một cách đầy sáng tạo, hấp dẫn lôi cuốn người đọc

Ngoài mẹ và bà thì anh Minh – anh cả của Khoa là giáo viên cấp hai (sau là nhà thơ sinh hoạt và làm việc ở Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Ninh)

cũng đã tác động đến Khoa rất nhiều Khoa luôn được anh động viên “em cứ

học đi biết chữ thì tha hồ mà đọc” Học xong lớp vỡ lòng (lớp 1), bấy giờ

Khoa đã bắt đầu đọc sách và được anh Minh cho vài quyển sách làm tủ sách

Trang 18

riêng Việc gia đình Khoa có sách và đặt báo là một hiện tượng rất đặc biệt so với bà con cùng thời đó Anh Minh lại có tài xuất khẩu thành thơ Mỗi khi đội sản xuất của hợp tác xã phát động một phong trào gì đấy thường nhờ anh đặt giúp mấy bài cổ động dễ nhớ dễ thuộc Anh thường đáp ứng chẳng mấy khó khăn Anh Minh đã trở thành một tấm gương để Khoa học hỏi và ganh đua

Nhà thơ nhí bí mật viết rất nhiều và độc giả đầu tiên là bé Giang Những bài thơ Khoa viết đều đọc cho bé Giang nghe, bé Giang thuộc thơ của anh và lại đọc cho lũ trẻ trong xóm nghe Bởi vần điệu dễ thuộc , dễ nhớ làm cho bọn trẻ thích thú và thuộc rất nhiều thơ Khoa Và điều đó càng khiến Khoa tích cực làm thơ hơn Những người thân trong gia đình luôn là nguồn cảm hứng để Khoa sáng tác và có rất nhiều bài thơ khiến ta phải xúc động

như : Mẹ ốm, Khi mẹ vắng nhà,Dặn em,… Gia đình thân yêu là cái nôi nuôi

dưỡng cho mầm thơ Trần Đăng Khoa lớn lên hàng ngày

1.3 Thời đại

Những năm tháng chiến đấu oanh liệt thống nhất đất nước đã tạo nên một tính chất sử thi của nền văn học hiện đại Không khí chung của thời đại vang dội vào trang thơ của thiếu nhi Trong những năm 60- 70 của thế kỉ XX, xuất hiện một số tác giả nhỏ tuổi làm thơ và lập tức được công nhận là thơ hay Và trong dàn đồng ca ấy Khoa ở vị trí trung tâm

Làng quê của Khoa và các bạn nhỏ cùng thời có biết bao niềm vui nhưng cũng thật khốc liệt, trong hoàn cảnh chiến tranh Vì thế thơ Khoa không chỉ xuất hiện những cảnh vật gần gũi với các em mà còn có cả tiếng súng, tiếng bom những hi sinh mất mát và những tiếng thét căm hờn Bức tranh thiên nhiên trong thơ Khoa in rõ dấu ấn của thời đại, dấu ấn của một

nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ lúc đó.“Hạt gạo làng ta” cho chúng ta

thấy một hình ảnh nông thôn cần lao vất vả:

Trang 19

(Hạt gạo làng ta)

Và nông thôn gian khổ chiến đấu dồn tất cả sức người, sức của:

“Gửi ra tuyền tuyến, Gửi về phương xa”

Tuổi thơ đáng lẽ phải được hưởng niềm vui hoà bình sống trong chiều chuộng, nhưng tuổi thơ trong bom đạn thì sớm biết, sớm nếm trải căm thù và không phải niềm căm thù bản năng mà là một tình cảm có chỉ dẫn lí trí Do vậy đi sâu được bản chất của sự vật nhưng không làm theo cách của người lớn

mà vẫn giữ nguyên vẹn giọng điệu trẻ con Những gì em viết về tình cảm trí tuệ của tâm hồn ngây thơ trong sáng, viết hồn nhiên ca ngợi với tất cả niềm tin vào chiến thắng

Trong nhiều tác giả có thể nói sự bùng nổ tài năng thơ ở tuổi thiếu niên cùng đồng nghĩa với sự thăng hoa của một đời nghệ sĩ Khoa đã viết những điều xúc động nhất, sâu sắc nhất, những rung cảm sâu xa nhất để rồi sau này tiếp tục làm thơ cũng khó lòng vượt qua được chính mình thời thơ ấu

1.4 Tài năng bẩm sinh của Trần Đăng Khoa

Có thể nói, ngoài cơ sở hình thành tài năng thơ ca Trần Đăng Khoa là quê hương, gia đình, thời đại còn thấy dấu hiệu của một tài năng bẩm sinh Có

Trang 20

nhiều bài thơ Khoa như buột miệng nói ra Trong một buổi chiều nấu cơm trước cảnh con bướm vàng dập dờn bay lượn Khoa thích thú reo lên:

“Con bướm vàng Con bướm vàng Bay nhẹ nhàng Trên bờ cỏ…”

(Con bướm vàng)

Khi đó Khoa không ý thức làm nghệ thuật mà chỉ là ghi lại những điều chợt nhìn thấy, ghi bằng chất liệu của trẻ thơ Chỉ có điều tính trẻ thơ ấy khác các trẻ thơ khác ở chỗ Trần Đăng Khoa có một sự rung cảm với cái nhìn tinh

tế độc đáo Trong bài thơ “ Đêm Côn Sơn” Khoa có một câu thơ mà ai cũng

Tuy vậy ngoài tài năng thiên bẩm để trở thành một thần đồng thơ, Khoa cũng phải bền bỉ phấn đấu tích luỹ ngay từ nhỏ Mặc cho người đời coi Khoa

là một thần đồng , Khoa cũng chỉ khiêm tốn nhận mình là một người làm thơ nên có nhiều kĩ năng, kĩ xảo mà thôi Trần Đăng Khoa làm thơ từ hồi còn học

vỡ lòng theo lối bắt chước những gì đã được đọc và viết theo thể nhật kí, ghi chép các sự việc diễn ra hàng ngày Được sự giúp đỡ của các vị tiền bối như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tố Hữu, Huy Cận cùng vốn liếng văn học tích luỹ trong sách vở, Khoa đã vượt qua những ấu trĩ ban đầu, bổ sung thêm cho hành

trang của mình những kiến thức bổ ích, Xuân Diệu đã nhận xét: “Cậu bé Trần

Đăng Khoa có khiếu học được cái tốt, tiếp thu tất cả cái gì tốt đẹp của người

Trang 21

khác, lấy cái đó từ trong ca dao, truyền thuyết, thơ ca của các tác giả và biến những cái đó thành của riêng mình Những cuốn sách mà người anh đã chọn cho em đã giúp em rất nhiều, nhưng một điều không kém phần quan trọng là

sự tự nhận thức thế giới thông qua quan sát trực tiếp” Vì vậy, Khoa luôn

khiến ai tiếp chuyện cũng phải ngạc nhiên vì những hiểu biết tường tận văn chương nghệ thuật của mình

Với tài năng thiên bẩm cùng sự nỗ lực học hỏi của bản thân, Trần Đăng Khoa đã viết lên những vần thơ giàu tính nghệ thuật đầy cảm nhận sâu sắc về cuộc sống khiến tất cả mọi người đều bị hấp dẫn và thán phục

Trang 22

CHƯƠNG 2

THẾ GIỚI MỞ RA TỪ GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI THEO

CÁI NHÌN CỦA CẬU BÉ KHOA

2.1 Tâm lí trẻ thơ với nhu cầu khám phá và khát vọng được giao hoà với thế giới xung quanh

Nhận thức là một nhu cầu của hoạt động học.Học sinh có nhu cầu hướng tới lĩnh hội tri thức mới và phương pháp mới Nhu cầu nhận thức là nguồn gốc của trí tuệ, tính tích cực và nhận thức của trẻ thơ chủ yếu là nhận thức cảm tính Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con người Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là phản ánh những thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật hiện tượng Do

đó nhận thức cảm tính có vai trò thiết lập các mối quan hê tâm lí của cơ thể với môi trường, định hướng và điều chỉnh hoạt động của con người trong môi trường đó, và là đời sống tâm lí của con người Nhu cầu tìm hiều thế giới xung quanh, và mong muốn tìm hiểu các sự vật, hiện tượng

Ở lớp 1, lớp 2 nhu cầu chủ yếu của học sinh ở giai đoạn này là tìm hiểu các sự việc riêng lẻ, những hiện tượng riêng biệt bởi lúc này vốn kiến thức còn ít, tư duy logic chưa phát triển mạnh Phải lên lớp 4, lớp 5 khi đã tích luỹ được lượng kiến thức nhất định các em có nhu cầu gắn liền với sự phát hiện nguyên nhân, quy luật, các mối quan hệ và quan hệ phụ thuộc vào các hiện tượng Ở lứa tuổi này các em thường xuyên tự đặt ra các câu hỏi kiều Tại sao? Như thế nào? Để làm gì ? (Trăng để làm gì?, tại sao lại có mưa?, vì sao trời lạnh? , răng để làm gì?,…) Đối với bé hầu như mọi thứ sinh ra đều đáp ứng một mục đích nào đó:

“Hàm răng là để mà cười Cái tai là để nghe lời rao kem

Trang 23

Cái đầu để đội mũ len Đôi mắt để thấy người quen mà chào

Má tròn để mẹ thơm vào Bàn tay để biết bạn nào sạch hơn”

Cái nhìn ngộ nghĩnh đáng yêu của trẻ thơ, mặc dù sự ngộ nghĩnh ấy nhầm lẫn cả về bản chất và hiện tượng Nhưng chính cái đặc trưng của trẻ thơ

ấy mà người lớn chúng ta dựa vào các câu chuyện thần thoại, cổ tích, truyền thuyết để giải thích cho thắc mắc của các em Sự giải thích cho thắc mắc của các em Trẻ thơ cũng rất dễ xúc động, xúc cảm Xúc cảm và tình cảm của học sinh là những thái độ rung cảm với học tập và với những dạng hoạt động xung quanh mình, đối với người khác và bản thân Xúc cảm là dạng thể hiện bên ngoài của tình cảm Xúc cảm, tình cảm của học sinh Tiểu học gắn liền với tính trực quan, hình ảnh cụ thể Chính vì thế các em yêu mến một cách chân thực cây cối, chim muông, cảnh vật… trong các bài văn của mình, các em thường xuyên nhân cách hoá chúng, coi chúng như những người bạn thân thiết

Như vậy, nhu cầu khám phá và khát vọng được giao hoà với thế giới xung quanh là đặc tính chung của loài người trong quá trình phát triển của văn minh nhân loại, và cũng là đặc tính riêng của trẻ thơ Các em hoà vào thế giới xung quanh một cách cảm tính để rồi hoà nhập và chiếm lĩnh nó Càng lớn thì mức độ nhận thức càng mang tính khoa học và thực tiễn Đây chính là bước phát triển tất yếu của con người trong lịch sử nhân loại và trẻ thơ cũng không nằm ngoài quy luật đó

2.2 Bức tranh thiên nhiên làng quê Việt Nam

Trong bài “Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu” tác giả Trần Đăng Suyền đã đưa ra lời nhận xét khẳng định: “Thời kì này có

không ít các em nhỏ làm thơ Nhưng Khoa vượt lên hẳn và trở thành một hiện

Trang 24

tượng độc đáo, ở đó nhất là số lượng và chất lượng sáng tạo được một thế giới riêng của mình” Lời nhận xét ấy càng đúng hơn khi ta đi tìm hiểu bức

tranh thiên nhiên, quê hương Khoa trong tập Góc sân và khoảng trời Với Góc sân và khoảng trờiTrần Đăng Khoa xứng đáng được coi là nhà thơ của nông thôn Việt Nam Bởi lẽ khi ta bước vào thế giới thơ trong Góc sân và khoảng trờilà ta như được sống trong bầu không khí của làng quê, ta như cảm

nhận được đâu đó cảnh sắc mùi vị, tất cả như một bức tranh với đường nét màu sắc, mùi vị và cả âm thanh - những âm thanh mà chỉ riêng làng quê Việt Nam mới có Bức tranh ấy bắt nguồn từ cảnh vật, từ những sinh hoạt quen thuộc đến với thơ Khoa độc giả như được đắm mình trong không gian riêng, không lẫn của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Em nói những gì em thấy, em cảm bằng giọng điệu của riêng mình Bên cạnh đó, thơ Khoa cũng có dấu ấn

của người đi trước Trong: “Tiếng ve ngân trưa nắng quả dần vàng chín” có cái nhìn và cảm xúc của Tố Hữu: “Vườn râm dậy tiếng ve ngân / Bắp rây

vàng hạt đầy sân nắng đào” Trong sắc đỏ của hoa lựu như: “lửa lập loè”phải chăng có đóng góp của cụ Nguyễn Du “ Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông”nhưng cái chính vẫn là cách cảm, cách nghĩ của riêng em, của trẻ

thơ

Về đề tài này có 94/120 bài thơ, ứng với các điểm nhìn từ góc sân và khoảng trời, từ gần đến xa, từ quang cảnh quang ngôi nhà thân yêu của cậu bé Khoa đến xóm làng xung quanh với ruộng đồng, dòng sông.Thiên nhiên làng quê được Khoa mở ra theo chiều rộng của không gian và chiều dài của thời gian Bức tranh của Khoa là bức tranh cuộc sống với những đường nét, màu sắc, âm thanh, hương vị đặc trưng của vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ

Trần Đăng Khoa vẽ ra trước mắt độc giả bức tranh với những gam màu tươi sáng những âm thanh rộn ràng của tự nhiên của cuộc sống

Trang 25

Có bao nhiêu trẻ thơ ở nông thôn từng sống trong không gian“cái

sân”rất quen thuộc:

“Góc sân nho nhỏ mới xây Chiều chiều em đứng nơi này em trông”

Đa số trẻ thơ từ không gian ấy nhìn ngắm bâng quơ, trông ngóng điều

gì không dễ định tính Còn với đứa trẻ có tâm hồn nghệ thuật thì mới có thể:

“Thấy trời xanh biếc mênh mông Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy”

Bắt đầu từ Góc sân thân thuộc của gia đình, Khoa đưa mắt ngắm nhìn

cuộc sống xung quanh biến chuyển:

“Em thường rải cái nong

Ra góc sân ngồi học Những đêm có trăng mọc

Em chơi cho đến khuya Thường là xỉa cá mè Hay làm mèo đuổi chuột Những lúc mưa sầm hột

Em bắt cái vòi cau Chảy vào giữa chum sâu Khi trời râm em vẽ

Vẽ cô tiên lặng lẽ Rải hoa trên bầu trời Thế là bao đồng lúa

Cứ như chín vàng tươi…

(Cái sân)

Từ cái sân nhỏ trước nhà nhưng đó lại là cả một thế giới đối với Khoa

từ góc sân ấy, Khoa ngắm nhìn cuộc sống vui chơi nô đùa Những trò chơi

Trang 26

“xỉa cá mè”,“mèo đuổi chuột” đã đi vào tiềm thức của bao đứa trẻ làng quê,

tuổi thơ ai chẳng một lần chơi các trò chơi ấy Cái sân như chứng nhân của thời gian qua bao mưa, nắng, với những đêm trăng mọc, với những ngày mưa

“sầm hột” và cả những trưa râm Mỗi góc sân, là một bức tranh, một bức

tranh được tô vẽ bởi những hình ảnh chỉ có ở làng quê,với chum vại, với cau trầu, với cánh đồng lúa chín Cái sân như khổ tranh lớn để Khoa mặc sức vẽ, mặc sức tô

Từ sân đến cái vườn nhỏ với hình ảnh của giàn trầu Cau trầu tự bao đời

gắn bó với cuộc sống của người dân “miếng trầu là đầu câu chuyện” Cau

trầu đi vào tiềm thức của cậu bé Khoa từ những câu chuyện kể của bà, những câu ca dao bà hát ru - trầu trở thành người bạn của Khoa tự bao giờ:

“Trầu ơi hãy tỉnh lại

Mở mắt xanh ra nào!

Lá nào muốn cho tao Thì mày chìa ra nhé Tay tao hái rất nhẹ Không làm mày đau đâu…”

(Đánh thức trầu)

Với quan niệm hồn nhiên của trẻ con lại từng thuộc làu làu câu hát của

bà khi muốn hái trầu đêm, Khoa đánh thức trầu theo một lối riêng – lối của những chú bé đồng trang lứa Câu hát của bà em là câu hát của người lớn, câu hát của bà như là chiếc cầu nối quá khứ với hiện tại Vì hái trầu đêm dễ làm lụi trầu vậy nên đánh thức trầu phải nói rõ lí do, phải hái nhẹ nhàng và chỉ hái vài lá vừa đủ cho bà cho mẹ bài thơ một lần nữa cho ta thấy tâm hồn trắng trong tựa lụa của tuổi thơ tình bạn- dù là cây cỏ Qua đó ta cảm nhận được một tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương tha thiết của cậu bé Khoa

Khoa miêu tả mảnh vườn nhà mình thật gần gũi với bao cảnh vật thân

Trang 27

“Vườn em có một luống khoai

Có hàng chuối mật với hai luống cà

Em trồng thêm một cây na

Lá xanh vẫy gió như là gọi chim

Những đêm lấp ló trăng lên Vườn em dậy tiếng dịu hiền gần xa

Khoa yêu cây chăm sóc cây rất chu đáo đặc biệt là vườn cải nhà em được nâng niu tưới nước cẩn thận Khoa miêu tả sự biến chuyển nhanh chóng của vườn cải khi nắng lên:

“Gió lên vườn cải tốt tươi

Lá xanh như mảnh mây trời lao xao

Em đi múc nước dưới ao Chiều chiều em tưới nước, em rào, em trông”

(Vườn em )

Trở lại nơi góc sân, với những đêm trông trăng, dưới con mắt trẻ thơ ông trăng hiện lên thật kì diệu Chú bé Khoa lần đầu tiên trong đời làm công việc ngắm trăng Vọng nguyệt là việc làm mà thi gia thường làm Họ thường kèm với rượu , thưởng hoa nhiều khi còn cao hứng lên uống cả ánh

trăng(“Đêm nay hớp nguyệt nguyên chén”- Nguyễn Trãi) Còn Trần Đăng

Trang 28

Khoa chỉ là thấy một ánh trăng mà nhìn lên ông trăng tròn sáng tỏ Sân nhà được trăng soi rõ như ban ngày:

“Ông trăng tròn sáng tỏ Soi rõ sân nhà em

Trăng khuya sáng hơn đèn

Ơi ông trăng sáng tỏ Soi rõ sân nhà em Hàng cây cau lặng đứng Hàng cây chuối đứng im”

(Trăng sáng sân nhà em)

Trước cảnh mảnh sân nhà- thế giới riêng của mình- lồng lộng ánh trăng, chú bé Khoa sửng sốt muốn gọi, muốn cất một tiếng reo, một tiếng kêu

cảm thán “Ơi ông trăng sáng tỏ” Ánh trăng rười rượi đổ xuống tắm vàng, làm say cảnh vật Nhà thơ ngơ ngẩn nhìn thấy“Hàng cây cau lặng đứng/

Hàng chuối đứng im” không một chuyển động từ cao xuống thấp, không một

tiếng kêu tất cả đều ngưng lại như mê mải uống trăng tan Bức tranh ấy ta sao

có thể nhìn thấy ở nơi nào khác ngoài làng quê Việt đâu, trăng vẫn thế nhưng thiên nhiên thì chỉ một – đó thiên nhiên đặc trưng của vùng nông thôn Bắc Bộ với những hàng cau, vườn chuối,…

Trong các loài cây được viết nhiều trong thơ Khoa, cây dừa được nhắc tới nhiều lần, với những hình ảnh so sánh rất đẹp:

“Cây dừa xanh toả nhiều tàu Dang tay đón gió gật đầu gọi trăng Thân dừa bạc phếch tháng năm Quả dừa đàn lợn con nằm trên cao Đêm hè hoa nở cùng sao Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh

Trang 29

Ai mang nước ngọt nước lành

Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa?”

( Cây dừa)

Cái thế giới của tâm hồn trẻ thơ vẫn là mạch nước tươi mát trong thơ Khoa Cây dừa toả bóng mát, những hương thơm, sự ngọt ngào chứa đựng trong trái dừa, Khoa cảm nhận ra cây dừa quý giá biết bao! Dưới con mắt trẻ thơ, cây dừa luôn hiện lên thật mãnh liệt, hùng vĩ và cao sang lạ thường

Nhắc đến làng quê đồng bằng Bắc Bộ là phải nhắc tới hình ảnh của cây

đa, giếng nước, sân đình:

“Làng em có cây đa Bên mương nước giữa đồng

Lá xanh dòng nước bạc Biển lúa vàng mênh mông Cây đa gọi gió đến

Cây đa vẫy chim về

Đa mỗi ngày một lớn

Và nuôi thêm nhiều ve Dưới bóng đa, con trâu Thong thả nhai hương lúa Đủng đỉnh đàn bò về Lông hồng như đốm lửa Trưa nắng loé trên đầu Các bác làm nghỉ mát Vòm đa rì rào xanh

Ve kêu, muôn lá quạt…”

(Cây đa)

Trang 30

Cây đa được Khoa miêu tả gắn với vị trí là trung tâm của cánh đồng, nhờ vị trí ấy gốc đa trở thành nơi tạm nghỉ chân của những người nông dân sau những giờ làm việc mệt nhọc, nơi trâu bò thảnh thơi gặm cỏ, nơi vui đùa của trẻ thơ Cây đa gọi gió, vẫy chim về, cây đa nuôi dưỡng bao sự sống trong vòm lá đa - cây đa là cả một thế giới của chim muông Qua con mắt trẻ thơ cây đa hiện lên thật đáng ngưỡng mộ, với tất cả lòng mến yêu trân trọng

Thời gian với nhịp chuyển không ngừng của ngày, của tháng, của năm, của các mùa luân phiên khiến đất trời khoác trên mình bao cảnh cảnh sắc tươi mới

Mùa xuân là mùacủa sự sống, trăm hoa khoe sắc, mùa của tạo vật sự sống tràn đầy Mùa xuân còn là mùa của hi vọng:

“Mùa xuân là Tết trồng cây Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”

Đất nước vào xuân, muôn loài cũng vào xuân, Khoa cũng đặc tả không gian xuân với hành trình của loài bướm :

“Mùa xuân hoa nở đẹp tươi Bướm con bướm mẹ ra chơi vườn hồng Bướm mẹ hút mật đầu bông Bướm con đùa với nụ hồng vừa khoe”

(Mùa xuân – mùa hè)

Nhắc đến mùa xuân là nhắc đến mưa xuân, đó không phải là cơn mưa rào dữ dội của mùa hè, cũng không hẳn là cơn mưa phùn gió bấc của mùa đông mà là cơn mưa bụi:

“Mưa bay như khói qua chiều Vòm cây nghe nhỏ giọt đều qua đêm Tiếng mưa vang nhẹ khắp miền Lòng rung như chiếc lá mềm khẽ sa

Trang 31

Sáng ra, mở cửa nhìn ra Vẫn mưa mà đất trước nhà vẫn khô”

(Mưa xuân)

Cơn mưa thật kì lạ chẳng đủ sức làm ướt áo ai “vẫn mưa mà đất trước

nhà vần khô” mưa ướt cây lá, mưa đủ vừa để tưới lá biếc xanh, để chồi cây

vươn ra mạnh mẽ, đó có lẽ là nét đặc trưng riêng của mưa xuân

“Sau làn mưa bụi tháng ba

Lá tre bỗng đỏ như là lửa thiêu Nền trời rừng rực ráng treo Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay”

(Tháng ba)

Thời khắc chuyển mùa từ xuân sang hè, với những nét riêng của thời tiết, sau những làn mưa bụi là hình ảnh của những lá tre bỗng đỏ do cái nắng gắt của mùa hè, cái nắng chói chang như thiêu như đốt làm cho mọi người phải khó chịu ngột ngạt Nhưng sắc đỏ ấy lại khiến cho Khoa liên tưởng tới hình ảnh của ngựa sắt bay về trời cùng Thánh Gióng Mùa hè cũng là mùa mà mỗi đứa trẻ đều thích thú:

“Vui sao khi chớm vào hè Xôn xao tiếng sẻ tiếng ve báo mùa Rộn ràng là một cơn mưa Trên đồng bông lúa cũng vừa uốn câu”

(Mùa xuân – mùa hè )

Hè đến bọn trẻ thích nhất là nghỉ học, được vui chơi nghỉ ngơi sau những ngày học tập vất vả Cái tinh tế trong thơ Khoa là em đã phát hiện ra vẻ uốn cong duyên dáng của bông lúa, những bông lúa chín vàng, những hạt thóc mẩy, nặng hạt cong trĩu như cần câu Tiếng kêu vang dậy của tiếng ve, tiếng chim báo hiệu mùa hè đã tới

Trang 32

Mùa hè với cái nắng chói chang, ánh nắng như thiêu như đốt khiến cho không khí thật ngột ngạt:

“Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu, Chết cả cá cờ.”

(Hạt gạo làng ta)

Mùa hạ rồi cũng qua đi nhường mình cho màu vàng của thu sang:

“Mặt trời lặn xuống ao Ngọn khói xanh lên lúng liếng Vườn sau gió chẳng đuổi nhau

Lá vẫn bay vàng sân giếng Xóm ngoài, nhà ai giã cốm Làn sương lam mỏng rung rinh Bạn nhỏ cưỡi trâu về ngõ

Tự mình làm nên bức tranh Rào thưa, tiếng ai cười gọi Trông ra nào thấy đây nào Một khoảng trời trong leo lẻo Thình lình hiện lên ngôi sao”

(Khi mùa thu sang)

Mùa thu Việt Nam đặc trưng với trời xanh ngắt, với sương khói mơ hồ, với lá vàng rơi nhẹ, với gió thu mơn man … Và còn nhiều điều khác nữa như

chuối tiêu, nhãn lồng, hồng, bưởi, cốm Ngọn khói xanh lên “lúng liếng”

được chính là vì cái gió nhè nhẹ, khe khẽ mà cụ Nguyễn Khuyến buồn nên

thấy nó hắt hiu (Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu) Gió đuổi nhau thì phải chạy, gió chạy thì lá bay nhanh Nhưng gió đã“chẳng đuổi nhau”, chỉ còn đủ làm ngọn khói“lúng liếng” và đưa những cái lá bay vàng sân giếng Mặt trời đỏ,

Trang 33

ngọn khói xanh, vườn cây xanh, lá vàng sương lam mỏng … tất cả như làm nền cho một bức tranh kì thú: bạn nhỏ cưỡi trâu về ngõ, chú trâu no cỏ bước đủng đỉnh về nhà trong sương khói mùa thu

“Nửa đêm nghe ếch học bài Lưa thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây Nghe trời trở gió heo may Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau”

(Chớm thu)

Nhắc đến mùa thu là lòng người chợt nhớ tới làn gió heo may, cơn gió nhẹ nhàng mơn man mang theo mùi hương hoa sữa thơm nồng, nhưng đó là thu ở nơi phố thị,còn với Khoa mùa thu nơi thôn dã là hương hoa cau theo làn gió thu lan toả khắp không gian khuya yên tĩnh Gió thu đã nhẹ mưa thu còn nhẹ hơn, cơn mưa thu không nặng hạt, ồn ào như cơn mưa rào mùa hạ mà

“lưa thưa” rơi để gió đẩy đưa, gió thu – mưa thu kéo cả hương thu theo về

“lành lạnh trời mây”:

“Thu về lành lạnh trời mây Bỗng dưng thức giấc nào hay mấy giờ Ánh trăng vừa thực vừa hư Vườn sau gió nổi nghe như mưa rào”

(Đêm thu)

Mùa đông đến,không gian lại một lần nữa chuyển mình, từ những cơn gió heo may của mùa thu nhường bước cho những cơn mưa phùn gió bấc Vạn vật cũng chuyển mình sang đông:

“Suốt mùa hè chịu nắng Che mát các em chơi Đến đêm đông giá lạnh

Lá còn cháy đỏ trời.”

Trang 34

Mùa đông với tiết trời lạnh giá khiến cây cối nhuốm một màu ảm đạm :

“Ngoài thềm mưa bụi phây phây Cành sầu vươn những nhánh gầy khẳng khô

Qủa vàng héo quắt, lưa thưa Lặng dâng nỗi nhớ ngàn xưa lên trời”

(Mùa đông và cây sầu đông)

Bức tranh mùa đông đặc trưng với những cơn mưa phùn cùng cái lạnh của những cơn gió mùa đông bấc Cây sầu đông được Khoa miêu tả một cách

tỉ mỉ với “những nhánh gầy khẳng khô”,“quả vàng héo quắt”

Không gian mở rộng từ góc sân nhỏ hướng ra một Khoảng trời rộng lớn

đó là cả làng quê Bắt đầu từ cái ngõ nhỏ :

“Chiếc ngõ nhỏ Thở sương đêm Ông trăng lên Cười trong lá Khi buốt giá Khi mưa tuôn Khi gió dồn Khi nắng cháy…”

(Chiếc ngõ nhỏ )

Chiếc ngõ nhỏ chứng kiến bao biến chuyển của thời gian, ngõ im lìm ngắm nhìn cuộc sống- ngắm trăng lên, nghe tiếng gió thổi, mưa tuôn,…Từ ngõ nhỏ ấy, cậu bé Khoa mở rộng tầm mắt quan sát thế giới Xa xa, là dòng sông Kinh Thầy gắn liền với quãng tuổi thơ chăn trâu cắt cỏ, những buổi câu

cá ven sông, bên sông những hàng chuối vươn lên xanh mướt, những rặng phi lao rì rào trong gió Bên kia là một vài ngôi nhà đổ bóng xuống dòng sông một màu ngói đỏ Trên sông những bác chài lặng lẽ buông câu Bức tranh

Trang 35

dòng sông quê hiện lên thân thuộc bình dị với những nét đặc trưng chỉ có ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam đó là dòng sông với đôi bờ ngô, khoai tươi tốt với rặng chuối ngả mình ôm sông:

“Hàng chuối lên xanh mướt Phi lao reo trập trùng Vài ngôi nhà đỏ ngói

In bóng xuống dòng sông Một bác chài lặng lẽ Buông câu trong nắng chiều Bỗng nhiên con cá nhỏ Nhảy bên thuyền như trêu Bắp ngô non răng sún Óng vàng một chòm râu

Ôi cánh buồm nhỏ bé Biết bay về nơi đâu “

(Bên sông Kinh Thầy)

Bên kia sông là hình ảnh những thửa ruộng rộng ngút tầm mắt, từ lâu tình yêu đồng ruộng đã ngấm vào máu thịt Khoa, mỗi đường cày, mỗi gốc rạ đều toả hương vị đồng quê:

“Đồng ẩm trăng non Luống cày sực nức Mưa rào bữa trước Nắng nồng chiều nay Mùi bùn đang ngấu Mùi phân đang hoai Vôi chưa tan hẳn Còn hăng rãnh cày

Trang 36

Hạt giống mùa qua Bốc men trong đất Giọt giọt mồ hôi

Ủ lâu thành mật Bốn bề lên hương Đường cày ai rạch Thành dòng sông Ngân Sao như gốc rạ

Lô nhô xa gần ”

(Hương đồng)

Hương vị của đồng quê có lẽ phải là người nông dân gắn bó lâu năm với đất đai mới cảm nhận được vẻ tinh tế, sâu sắc đến vậy Nhưng thật lạ thay đây là cậu bé mới mười bốn tuổi – cái tuổi còn mải chơi ham vui.Vậy mà Khoa đã có con mắt nhìn tinh tế khi phát hiện ra cái mùi đồng quê đang dậy lên ngọt ngào: mùi bùn, mùi phân, mùi vôi mùi hăng hăng trên những luống cày Cái mùi này phải có sau cơn mưa, sau cái nắng nồng Những luống cày

như dòng sông Ngân, ngẩng mặt lên trời thấy “Sao như gốc rạ lô nhô xa

gần” Cảnh đêm trăng non với hương đồng tạo cho Khoa có cảm giác ngây

ngất và chìm đi trong nó Nhưng tất cả dường như mới bắt đầu, Khoa không chỉ muốn khám phá thế giới thiên nhiên với cây cỏ, hoa lá ruộng đồng xung quanh mình mà cậu còn đặc biệt chú ý tới thế giới loài vật – những người bạn nhỏ gắn bó hàng ngày Đó là những chú gà con liếp nhiếp, những cô gà mái chạy xổ tìm con, những chú chim nhỏ đáng yêu Khoa vẽ lên trước mắt độc giả bức tranh sinh động về cuộc sống của những loài vật với những hình ảnh gần gũi thân thuộc:

“Ngoài sân lội, mấy chú gà liếp nhiếp

Đi tìm mồi cùng mẹ bắt giun sâu

Trang 37

Trời mưa lâm thâm làm các chú ướt đầu Chú rùng mình, giọt mưa rơi khỏi cánh Trời mưa to hơn, rồi sau đâm ra tạnh Chú chẳng giũ lông bởi mải bắt giun sâu Nhưng nắng to, chú vẫn khô đầu

Đôi mắt tròn trong như hai giọt nước Hai giọt nước không bao giờ khô được”

(Gà con liếp nhiếp )

Khoa như người quay phim lặng lẽ đưa ánh mắt dõi theo từng hành động của chú gà con bé nhỏ đang cùng mẹ tìm mồi, bắt đầu khi cơn mưa mới

chỉ có một vài hạt “mưa lâm thâm” khiến cho các chú chỉ ướt đầu, cho đến

khi cơn mưa to hơn khiến đàn gà đẫm mình trong nước, cuối cùng là cơn mưa tạnh hẳn ánh mặt trời lên sưởi ấm làm khô bộ lông vàng óng Nhưng Khoa không chỉ quan sát đàn gà mà cậu như cùng chúng kiếm ăn vậy, Khoa cảm

nhận tinh tế từng biến chuyển của đàn gà “chú rùng mình” khi một giọt nước

rớt xuống khỏi cánh, đàn gà cặm cụi kiếm ăn cùng mẹ sau cơn mưa lớn Phải

là một cậu bé có tình yêu thương động vật và say mê khám phá Khoa mới đủ kiên nhẫn dõi theo toàn bộ hành trình kiếm ăn của đàn gà như vậy Không những Khoa tức cảnh sinh tình mà em còn cảm thương cho con chim vô tội,

bơ vơ lạc lối khi giặc Mỹ, bắn phá tiếng chim lanh lảnh kêu làm cho Khoa xao xuyến, bồi hồi, chim đau như chính lòng Khoa đau vậy Những chú chim nhỏ bé, vô tội thốt lên:

“Những chú chim chiu chít Bay lên kêu chíp chíp

Mấy chú rơi xuống rồi Cái cánh đập bồi hồi…”

( Tiếng chim kêu)

Trang 38

Đó còn vang đây tiếng kêu xé lòng của con gà mái mất con trong bom đạn:

“Đàn con mày chiều qua còn ríu rít bắt sâu Vườn trước ngõ sau mối ra nhiều quá Mày tớp mồi, nhằn nhường con tất cả Diều con no kềnh diều mày vẫn lép không Mày nhìn tao chân cào đất tới tung

Con mày có ở đó đâu trong đất Máu toé rồi, những ngón chân rách nát

Có phải tại tao đâu Đàn con mày trưa nay còn tránh nắng dưới giàn trầu Những cuống lá vàng như mật đọng

Chồi lói tiếng ve, da trời nóng bỏng Mày thiu thiu rồi, cánh vẫn thức che con

Mày nhìn tao lảo đảo không hồn Lối rộng không đi cứ lao vào vách đất Tiếng mày gọi con tiếng còn tiếngmất ”

(Nói với con gà mái)

Bức tranh làng quê trong hiện thực chiến tranh đau thương nhưng rất đỗi thân thuộc, với sự mất mát thương đau, đến cả loài vật cũng cảm nhận được nỗi đau và tội ác đó Thơ Khoa viết ra chân thực như chính cuộc sống vậy, đọc thơ mà người đọc như sống trong chính thế giới thơ ấy.Với Khoa vạn vật như có linh hồn và chúng không ngừng hoạt động nhưng đó là những chuyển động thầm lặng, chỉ có một tâm hồn nhạy cảm, một tâm hồn luôn tắm mình trong không khí của làng quê, một niềm khao khát khám phá và thấu

Ngày đăng: 23/04/2018, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w