1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chương7

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 237,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì tầm quan trọng của giá cả nên trong chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến quyết định giá của doanh nghiệp bao gồm: cơ cấu kinh tế trong định giá sản phẩm,

Trang 1

CHƯƠNG 7 ĐỊNH GIÁ BÁN SẢN PHẨM

Trong nền kinh tế thị trường, giá cả do thị trường quyết định Tuy nhiên, thị trường chỉ giữ vai trò quyết định giá khi các doanh nghiệp đã đưa giá cả sản phẩm của mình vào thị trường Chính vì vậy, hầu như doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt với quyết định giá như thế nào để thu được lợi nhuận tối đa và quyết định giá của nhà quản trị doanh nghiệp sẽ là tiền đề cho sự quyết định giá của thị trường Chính vì tầm quan trọng của giá cả nên trong chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến quyết định giá của doanh nghiệp bao gồm: cơ cấu kinh tế trong định giá sản phẩm, ich lợi của chi phí trong việc định giá sản phẩm, các phương pháp định giá bán sản phẩm

Sau khi nghiên cứu chương này, học viên có thể:

- Hiểu được tầm quan trọng của việc quyết định giá bán sản phẩm trong quyết định quản trị của nhà quản lý

- Xác định được giá bán sản phẩm sản xuất hàng loạt

- Xác định được giá bán sản phẩm, dịch vụ mới

- Xác định được giá bán sản phẩm trong trường hợp đặc biệt

7.1 CƠ CẤU KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CHI PHÍ TRONG ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM

7.1.1 Cơ cấu kinh tế định giá sản phẩm

7.1.1.1 Thị trường cân bằng và giá cả

- Trong thị trường, sự tương tác cung cầu chi phối đến định giá một hàng hoá Giá cân bằng là mức giá mà tại đó lượng sản phẩm người mua muốn mua đúng bằng lượng sản phẩm người bán muốn bán

S 1

Giá D 1

cả

D 0 S 0

D 2 E4 S 2

P1 E1 Đường Cung

P0 E0

P2 E2 E3

Đường cầu

Q2 Q0 Q1 Sản lượng

Trang 2

Điểm cân bằng luôn luôn gắn liền với những khả năng cung cầu hiện tại trên thị trường tại một điểm E0 (Q0;P0) và nếu cung cầu thay đổi, giá cân bằng và lượng cân bằng cũng thay đổi theo.Cụ thể:

+ Khi cung không thay đổi và cầu tăng, thị trường sẽ cân bằng tại mức giá cân bằng và lượng cân bằng mới cao hơn trước tại điểm E1 (Q1;P1) > E0 (Q0;P0) Nếu không

có sự thay đổi đó thì thị trường sẽ thiếu hụt hàng hóa

+ Khi cung không thay đổi và cầu giảm, thị trường sẽ cân bằng tại mức giá cân bằng và lượng cân bằng mới thấp hơn trước tại điểm E2 (Q2;P2) < E0 (Q0;P0) Nếu không có sự thay đổi đó thì thị trường sẽ dư thừa hàng hóa

+ Khi cung tăng và lượng cầu không đổi thì thị trường sẽ cân bằng tại một điểm

có mức giá cân bằng thấp hơn trước là E3 (Q3;P3) < E0 (Q0;P0) Nếu không có sự thay đổi đó thì thị trường sẽ dư thừa hàng hóa

+ Khi cung giảm và lượng cầu không đổi thì thị trường sẽ cân bằng tại một điểm có mức giá cân bằng cao hơn trước là E4 (Q4;P4) > E0 (Q0;P0) Nếu không có sự thay đổi đó thì thị trường sẽ khan hiếm hàng hóa

Trong trường hợp cả cung và cầu cùng thay đổi thì giá cân bằng và lượng cân bằng sẽ thay đổi theo tùy thuộc sự thay đổi đó là ngược chiều hay cùng chiều, cùng một mức độ hay là khác mức độ

Trong thực tế, hệ thống kinh tế không hoàn toàn là hệ thống kinh tế thị trường hoạt động một cách tự do mà thường là hệ thống kinh tế hỗn hợp và Chính phủ thường hay can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào thị trường này Sự can thiệp đó làm cho quan

hệ cung - cầu sẽ thay đổi theo hướng tích cực phục vụ cho chính sách kinh tế của Nhà nước

7.1.1.2 Quan hệ chi phí- doanh thu - lợi nhuận và giá cả sản phẩm

Mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp là lợi nhuận Vì vậy, định giá sản phẩm phải hướng đến mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Quan hệ cung cầu chỉ ra một nguyên lý định giá và điều chỉnh giá khi có sự thay đổi lượng cung và lượng cầu nhằm để tránh tình trạng khan hiếm hay dư thừa hàng hoá

Trong kinh tế vi mô đã nêu ra rằng: “Giá bán tối ưu đối với một sản phẩm là giá bán mà làm tăng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.” Hay nói cách khác, giá bán tối ưu

là giá bán mà chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí đạt ở mức cao nhất

Chúng ta có thể mô tả nguyên lý này theo đồ thị đường cong tổng thu nhập và tổng chi phí ở thị trường như sau:

Trang 3

Giá Đường chi phí

P0

Đường doanh thu

Q0 Sản lượng

Các mô hình hữu ích này chỉ dừng ở việc cung cấp cho nhà quản trị một nguyên

lý định giá và điều chỉnh giá Do đó, khi đề cập đến những quyết định về giá, nhà quản trị sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì những lý do sau:

+ Quan hệ cung cầu là một khái niệm trừu tượng Vì vậy, nhà quản trị khó xác định tại thời điểm định giá, điều chỉnh giá thì lượng cung cầu là bao nhiêu

+ Các số liệu về chi phí và doanh thu mà nhà quản trị thu thập được chỉ đủ để ước chừng đường cong chi phí, đường cong doanh thu Mặt khác, qua các năm, chi phí

và thu nhập của doanh nghiệp có thể thay đổi Vì vậy, những đường cong chi phí và đường cong thu nhập là một khái niệm tổng quát không thể là một căn cứ cụ thể để định giá trong từng thời điểm

+ Các mô hình định giá trong kinh tế vi mô chỉ thiết lập giá trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo hoặc thị trường cạnh tranh độc quyền Nhưng thực tế, khó có thể tồn tại một điều kiện lý tưởng như vậy Vì vậy, nhà quản trị khó áp dụng mô hình định giá trong kinh tế vi mô để định giá trong thị trường hỗn hợp hoặc trong thị trường không thuần túy

+ Mô hình định giá trong kinh tế vi mô chỉ ra được nguyên tắc định giá của doanh nghiệp với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và xem giá là một yếu tố tham gia, quyết định đến sản phẩm cung ứng Trong khi đó, sản phẩm cung ứng còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác như chiến lược quảng cáo, các kênh phân phối…

+ Mô hình định giá trong kinh tế vi mô gắn liền với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Đây là mục tiêu cơ bản, mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp Tuy nhiên, có những giai đoạn doanh nghiệp không cần thiết phải đạt tối đa hóa lợi nhuận, mà chỉ cần một mức lợi nhuận thỏa đáng để đảm bảo sự an toàn, hợp lý hoặc đảm bảo sự cạnh tranh

Chính vì những lý do trên nên khi định giá sản phẩm thì nguyên tắc này cần phải gắn liền với cơ cấu kinh tế của doanh nghiệp như chi phí – doanh thu để bổ sung hoàn hảo hơn về nguyên tắc xác định giá cả với những thay đổi về chi phí – doanh thu của doanh nghiệp

Trang 4

7.1.2 Vai trò chi phí trong sản phẩm

Vai trò của chi phí trong định giá được thể hiện :

- Trong việc xác lập các quyết định về giá, nhà quản trị phải đương đầu với vô

số yếu tố không chắc chắn Vì vậy việc lập giá dựa trên chi phí sẽ phản ánh một số yếu

tố khởi đầu cụ thể nên loại bớt những yếu tố không chắc chắn giúp nhà quản trị xác lập một hướng rõ ràng trong định giá

- Chi phí gắn liền với những phí tổn cụ thể tại doanh nghiệp trong việc sản xuất kinh doanh Vì vậy việc lập giá dựa vào chi phí giúp cho nhà quản trị nhận biết được mức giá tối thiểu, mức giá cá biệt , từ đó tránh xây dựng mức giá thấp dẫn đến thua lỗ

- Trong điều kiện doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau không thể phân tích được mối quan hệ chi phí - sản lượng - lợi nhuận cho từng sản phẩm thì việc tính giá dựa trên chi phí giúp nhà quản trị xác lập được giá trực tiếp, nhanh hơn

để cung cấp cho khách hàng và sau đó có thể chỉnh lý khi thời gian, điều kiện cho phép

7.2 PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ BÁN SẢN PHẨM SẢN XUẤT HÀNG LOẠT

Xác định giá bán của các sản phẩm sản xuất hàng loạt là cách thức để định giá bán đối với những sản phẩm được sản xuất hàng loạt và được bán cho khách hàng kinh doanh hàng ngày

7.2.1- Mô hình định giá bán sản phẩm sản xuất hàng loạt

Trong quá trình định giá cho các sản phẩm sản xuất hàng loạt, tất cả các chi phí đều thích hợp cho việc định giá nhưng phải được cân nhắc một cách thích hợp bởi người lập giá Điều đó có nghĩa là khi xây dựng giá thì nguyên tắc là giá bán phải:

- Bù đắp chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và chi phí quản lý

- Đảm bảo một mức lãi mong muốn cho doanh nghiệp

Như vậy, tất cả các chi phí khả biến và bất biến cùng với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đều phải được tính tới khi xác định giá bán sản phẩm

Phương pháp thông dụng nhất để các định giá bán sản phẩm sản xuất hàng loạt

là bao gồm phần chi phí nền và sau đó cộng thêm vào phần chi phí nền một số tiền tăng thêm Vậy giá bán được phân tích thành 2 bộ phận :

+ Chi phí nền : Đảm bảo một mức giá bù đắp chi phí cơ bản

+ Số tiền cộng thêm : Để bù đắp cho chi phí khác và tạo lợi nhuận

(1)

Trong đó Số tiền cộng thêm được tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên chi phí nền

Số tiền cộng thêm = Chi phí nền x Tỷ lệ số tiền cộng thêm

Công thức (1) có thể được viết thành :

Giá bán = Chi phí nền + Tỷ lệ số tiền cộng thêm * Chi phí nền

Hay Giá bán = Chi phí nền * ( 1+ Tỷ lệ số tiền cộng thêm)

Việc xác định giá bán có thể thự hiện bằng 2 phương pháp:

Giá bán = Chi phí nền + Số tiền cộng thêm

Trang 5

 Định giá bán sản phẩm theo phương pháp chi phí toàn bộ

Định giá bán theo phương pháp chi phí toàn bộ là dựa vào cách phân loại chi phí theo chức năng hoạt động Điều đó có nghĩa là chi phí được phân thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất Vậy theo phương pháp này:

+ Chi phí nền : là chi phí sản xuất ra sản phẩm bao gồm chi phí nguyên vật liệu

trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung

+ Số tiền cộng thêm : bao gồm một phần bù đắp chi phí lưu thông, chi phí quản

lý và một phần để đảm bảo mức lợi nhuận mong muốn cho doanh nghiệp

Vậy Giá Chi phí sản xuất Tỷ lệ số tiền Chi phí sản xuất

bán tính cho 1 SP cộng thêm tính cho 1 SP

 Định giá bán sản phẩm theo phương pháp chi phí trực tiếp

Định giá bán theo phương pháp chi phí trực tiếp là dựa vào cách phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí Điều đó có nghĩa là chi phí được phân thành biến phí và định phí Vậy theo phương pháp này :

* Chi phí nền : bao gồm toàn bộ biến phí (biến phí sản xuất, biến phí bán

hàng, biến phí quản lý doanh nghiệp), không có khoản định phí nào được tính vào chi phí nền

* Số tiền cộng thêm : là khoản không chỉ bù đắp toàn bộ định phí (định phí sản

xuất, định phí bán hàng và định phí quản lý doanh nghiệp) mà còn đảm bảo mức lợi nhuận mong muốn cho doanh nghiệp

Vậy Giá Biến phí Tỷ lệ số tiền Biến phí

bán tính cho 1 SP cộng thêm tính cho 1 SP

7.2.2 Xác định tỷ lệ số tiền cộng thêm :

* Tỷ lệ số tiền cộng thêm tính theo phương pháp toàn bộ :

Tổng chi phí Tổng chi phí Mức lợi nhuận

Tỷ lệ số tiền bán hàng quản lý DN mong muốn

cộng thêm(%) * 100

Số lượng SP x Chi phí sản xuất tính cho 1 SP

* Tỷ lệ số tiền cộng thêm tính theo phương pháp trực tiếp :

Tổng các định phí Mức lợi nhuận

(Định phí sản xuất và ngoài sản xuất) mong muốn

Tỷ lệ số tiền(%) * 100

cộng thêm Số lượng SP x Biến phí đơn vị

Mức lợi nhuận Tỷ lệ hoàn vốn Vốn hoạt động

mong muốn mong muốn (ROI) bình quân

Tỷ lệ hoàn vốn Lợi nhuận mong muốn

mong muốn (ROI)(%) Vốn hoạt động bình quân

=

=

+

Trang 6

Ví dụ : Có tài liệu tại một doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm X, dự kiến mức

tiêu thụ trong một năm là 10.000 SP, các số liệu liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ

dự kiến như sau:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : 9.000đ/ SP

- Chi phí nhân công trực tiếp : 8.000đ/SP

- Biến phí sản xuất chung : 6.000đ/SP

- Biến phí bán hàng và quản lý : 3.000đ/SP

- Tổng định phí sản xuất chung : 70.000.000 đồng

- Tổng định phí bán hàng và quản lý : 20.000.000 đồng

- Tỷ lệ hoàn vốn mong muốn (ROI) : 20%

- Vốn hoạt động bình quân : 500.000.000 đồng

Yêu cầu : Hãy định giá bán cho từng sản phẩm X theo phương pháp chi phí

toàn bộ và theo phương pháp chi phí trực tiếp

Bài giải :

* Theo phương pháp chi phí toàn bộ :

- Xác định chi phí sản xuất :

CP sản xuất /1 SP = 9+8+6+70.000/10.000 = 30 (ngàn đồng)

- Xác định mức lợi nhuận mong muốn

Mức lợi nhuận mong muốn = ROI* Vốn hoạt động bình quân

=20%* 500.000=100.000 (ngàn đồng)

- Xác định tỷ lệ số tiền cộng thêm :

Tỷ lệ số tiền (3*10.000 + 20.000 + 100.000)*100

cộng thêm 10.000*30

- Xác định giá bán : Giá bán = CP Sản Xuất + Tỷ lệ số tiền cộng thêm* CP Sản

xuất

= 30 + 50% x 30 =45 (ngàn đồng)

* Theo phương pháp trực tiếp :

- Xác định biến phí đơn vị :

Biến Phí tính cho 1 SP = 9 + 8 + 6 +3=26 (ngàn đồng)

- Xác định mức lợi nhuận mong muốn

Mức lợi nhuận mong muốn = ROI x Vốn hoạt động bình quân

=20% * 500.000 = 100.000 (ngàn đồng)

- Xác định tỷ lệ số tiền cộng thêm :

Tỷ lệ số tiền (70.000 + 20.000 + 100.000) * 100

cộng thêm 10.000 * 26

Trang 7

-Xác định giá bán : Giá bán = Biến phí Tỷ lệ số tiền Biến phí

tính cho 1 SP cộng thêm tính cho 1 SP

= 26 + 73,08% * 26 = 45 (ngàn đồng)

7.2.3 Những điều cần lưu ý khi định giá bán sản phẩm hàng loạt

Khi định giá cho các sản phẩm sản xuất hàng loạt cần áp dụng một cách linh

hoạt đặc biệt là khi xác lập phần tiền cộng thêm vào chi phí nền Số tiền cộng thêm cần

phải tránh những khuynh hướng sau :

+ Với công thức tính giá dựa vào chi phí nền và số tiền cộng thêm dễ làm cho

nhà quản trị định giá có khuynh hướng bỏ qua mối quan hệ chi phí- sản lượng- lợi

nhuận dẫn đến việc định giá quá cao làm cho doanh nghiệp không đạt được mục tiêu

đã đặt ra vì sản lượng, doanh thu không đạt mức mong muốn Ngược lại, định giá quá

thấp làm cho doanh nghiệp chìm ngập trong các đơn đặt hàng

+ Giá cả chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các yếu tố khá phức tạp như: chiến lược

quảng cáo, thẩm mỹ, thị hiếu khách hàng, lợi thế cạnh tranh…Nhưng khi áp dụng các

phương pháp định giá sản phẩm sản xuất hàng loạt, nhà quản trị thường bỏ qua các

yếu tố này Vì vậy chúng ta cần xem xét và điều chỉnh kịp thời giá nếu phát hiện

những thay đổi của các yếu tố trên

+ Tỷ lệ phần tiền cộng thêm đôi khi thích hợp trong giai đoạn này nhưng lại

không thích hợp trong giai đoạn đó khác Vì vậy, cần phải xem xét và điều chỉnh kịp

thời tỷ lệ phần tiền cộng thêm

+ Mỗi doanh nghiệp sử dụng nhiều dây chuyền sản xuất hoặc trên cùng một dây

chuyền có nhiều công đoạn điều này đòi hỏi phải xác lập phần tiền cộng thêm linh

hoạt hơn theo từng dây chuyền sản xuất

7.2.4 Điều chỉnh giá bán trên thị trường:

Việc xác định giá bán bằng các phương pháp trên là căn cứ vào chi phí cá biệt,

mức hoàn vốn dựa trên ước tính chủ quan của nhà quản trị và không để ý đến mối

quan hệ giữa giá bán với số lượng sản phẩm tiêu thụ, nên nếu áp dụng một cách cứng

nhắc thì có thể doanh nghiệp không đạt được lợi nhuận mong muốn vì có thể xảy ra

các tình huống như:

- Không bán được sản phẩm do định giá quá cao

- Doanh thu thấp do lợi nhuận thấp

Do đó, giá bán xác định bằng các phương pháp trên chỉ là giới hạn Doanh

nghiệp cần phải căn cứ vào tình hình thị trường về cạnh tranh, quan hệ cung – cầu, thế

mạnh và chiến lược phát triển của doanh nghiệp mà điều chỉnh giá bán sao cho phù

hợp để bán được sản phẩm và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, chẳng hạn như:

+ Đối với những doanh nghiệp muốn hoàn vốn nhanh thì có thể điều chỉnh

giảm giá bán để kích thích tiêu thụ, tăng vòng quay vốn

+ Đối với những doanh nghiệp có thế mạnh trong cạnh tranh thì có thể điều chỉnh

tăng giá bán hoặc ngược lại

Trang 8

7.3 ĐỊNH GIÁ BÁN SẢN PHẨM THEO GIÁ LAO ĐỘNG VÀ GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU SỬ DỤNG

7.3.1 Điều kiện vận dụng mô hình

Định giá sản phẩm theo giá lao động và giá nguyên vật liệu trực tiếp thích hợp

ở những doanh nghiệp có quy trình sản xuất mà chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng thấp trong tổng chi phí hoặc chi phí nguyên vật liệu có thể do bên mua cung cấp như hoạt động truyền hình, sữa chữa trang thiết bị,…Theo phương pháp này, giá bán được xây dựng gồm hai bộ phận :

- Giá lao động: bao gồm giá lao động trực tiếp và khoản tiền cộng thêm để bù đắp cho giá của lao động gián tiếp, chi phí phục vụ liên quan và mức lợi nhuận hoàn vốn mong muốn

- Giá nguyên vật liệu sử dụng: bao gồm giá nguyên vật liệu trực tiếp và khoản tiền cộng thêm để bù đắp các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lưu kho bãi…và mức lợi nhuận mong muốn để hoàn vốn phần vật tư

Vậy Giá Giá Giá nguyên vật liệu

bán lao động sử dụng

7.3.1.1 Định giá lao động

Giá lao động đuợc tập hợp thành ba bộ phận:

- Bộ phận thứ nhất bao gồm mức giá đảm bảo cho chi phí của nhân công trực tiếp như tiền lương, các khoản phụ cấp theo lương của công nhân trực tiếp Mức giá này thường đuợc biểu hiện theo giờ lao động trực tiếp

- Bộ phận thứ hai là số tiền cộng thêm để bù đắp chi phí lưu thông, chi phí quản

lý liên quan đến việc phục vụ, quản lý hoạt động của công nhân trực tiếp

- Bộ phận thứ ba là số tiền cộng thêm để đạt được mức lợi nhuận thoã mãn nhu cầu hoàn vốn hợp lý

7.3.1.2 Định giá nguyên vật liệu sử dụng

Giá của nguyên vật liệu sử dụng được tính theo công thức:

Giá của nguyên vật Trị giá mua NVL Tỷ lệ số tiền

liệu sử dụng theo hoá đơn cộng thêm

Tỷ lệ số tiền cộng thêm được tính phải bù đắp được toàn bộ chi phí đã bỏ ra để quản lý nguyên vật liệu đưa vào kinh doanh như chi phí bảo quản, chi phí về giấy tờ ,

+

=

Giá lao động

Giá lao động

trực tiếp

Phụ phí công nhân trực tiếp

Mức lợi nhuận hoàn vốn mong muốn

Trang 9

chi phí quản lý…và đảm bảo có được một khoản lợi nhuận hợp lý cho việc sử dụng nguyên vật liệu

7.4 ĐỊNH GIÁ BÁN SẢN PHẨM THEO GIỜ VẬN HÀNH MÁY MÓC THIẾT

BỊ

Phương pháp định giá này về cơ bản giống như phương pháp định giá sản phẩm theo giá lao động và giá nguyên vật liệu sử dụng Tuy nhiên, căn cứ để lập giá được thiết lập theo số giờ máy hoạt động

Định giá bán sản phẩm theo số giờ vận hành máy móc thiết bị và vật tư sử dụng được thiết lập theo công thức:

Trong đó:

 Giá vận hành máy móc, thiết bị: bao gồm

* Chi phí vận hành máy móc thiết bị:

+ Chi phí khấu hao máy móc, thiết bị

+ Chi phí nhiên liệu, năng lượng vận hành máy móc thiết bị

* Chi phí phục vụ máy móc thiết bị

+ Chi phí lao động vận hành máy

+ Chi phí lao động phục vụ, bảo trì máy móc thiết bị

+ Chi phí lao động quản lý

+ Chi phí nguyên vật liệu, công cụ gián tiếp dùng vận hành máy móc thiết bị + Chi phí khác liên quan đến vận hành máy móc thiết bị như sữa chữa, bảo trì, thuế

* Lợi nhuận mong muốn: là số tiền cộng thêm đảm bảo đem lại mức lợi nhuận mong muốn cho doanh nghiệp

Mức lợi nhuận Vốn Tỷ lệ hoàn vốn

mong muốn hoạt động mong muốn

 Giá nguyên vật liệu sử dụng: được tính tương tự như định giá nguyên vật liệu sử dụng

Giá sản phẩm

Giá vận hành máy

x

=

Trang 10

7.5 ĐỊNH GIÁ BÁN SẢN PHẨM TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT

7.5.1 Các trường hợp đặc biệt khi định giá bán sản phẩm

Không phải tất cả các quyết định giá liên quan đến các sản phẩm đều như nhau

Có một số trường hợp đặc biệt mọi doanh nghiệp phải xét tới khi định giá như doanh nghiệp có thể nhận được đơn đặt hàng có số lượng nhiều, hoặc đơn đặt hàng từ nước ngoài hay doanh nghiệp đang hoạt động trong những điều kiện sau :

- Doanh nghiệp đang còn năng lực nhàn rỗi muốn mở rộng lợi nhuận

- Doanh nghiệp đang gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ

- Doanh nghiệp phải đương đầu với các đối thủ cạnh tranh

- Doanh nghiệp phải đấu thầu để giành hợp đồng kinh doanh…

Những trường hợp này doanh nghiệp phải đưa ra quyết định giá đặc biệt Trong hai cách định giá bán sản phẩm sản xuất hàng loạt là định giá bán sản phẩm sản xuất theo chi phí trực tiếp và theo chi phí toàn bộ thì định giá bán theo chi phí trực tiếp linh hoạt hơn vì nó có những ưu điểm :

+ Cung cấp cho người lập giá nhiều thông tin chi tiết hơn so với cách tính theo chi phí toàn bộ

+ Thông tin được cung cấp phù hợp với mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận, thích hợp cho việc lựa chọn các quyết định

+ Nhấn mạnh đến số dư đảm phí, cung cấp cho nhà quản trị một phạm vi linh hoạt, có thể đưa ra quyết định nhanh về giá mà không cần phải phân tích thêm, không phải làm một số công việc nghiên cứu các tài liệu chi phí để có thêm thông tin như cách tính toàn bộ

7.5.2 Mô hình định giá bán sản phẩm trong trường hợp đặc biệt

* Chi phí nền: bao gồm:

- Biến phí nguyên vật liệu trực tiếp

- Biến phí nhân công trực tiếp

- Biến phí sản xuất chung

- Biến phí lưu thông

- Biến phí quản lý

* Số tiền cộng thêm: Bao gồm:

- Định phí sản xuất

- Định phí lưu thông

- Định phí quản lý

- Mức lợi nhuận mong muốn

Theo mô hình trên thì giá bán sản phẩm có thể được xác định trong phạm vi từ chi phí nền đến đỉnh, trong đó giá bán tại đỉnh là giá mà nhà quản lý muốn đạt được và cần thiết phải đạt được đối với những sản phẩm bán về lâu dài Nhưng trong những trường hợp đặc biệt, nhà quản lý phải giảm giá bán bằng chi phí nền để đạt được mục tiêu

Ngày đăng: 23/04/2018, 10:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w