Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động giáo dục ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động giáo dục ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động giáo dục ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động giáo dục ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động giáo dục ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động giáo dục ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động giáo dục ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động giáo dục ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động giáo dục ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động giáo dục ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1- -
TRẦN THANH TÂM
T¡NG C¦êNG C¤NG T¸C PHèI HîP GI÷A NHµ TR¦êNG Vµ GIA §×NH TRONG C¸C HO¹T §éNG GI¸O DôC
ë TR¦êNG TRUNG HäC C¥ Së HOµNG LIÖT, QUËN HOµNG MAI,
THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ PHƯỚC MINH
HÀ NỘI - 2015
Trang 2giáo, PGS.TS Lê Phước Minh, Phó Giám đốc Học viện Quản lý Giáo dục –
người đã quan tâm và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn Thầy đã cho tôi thêm nhiều kiến thức về khoa học quản lý giáo dục cũng như giúp tôi rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học Một lần nữa, tôi xin được nói lời cảm ơn Thầy!
Tôi xin chân thành cảm ơn Học viện Quản lý Giáo dục, Ban Giám đốc Học viện cùng các thầy cô giáo tại Trung tâm Đào tạo sau đại học - Bồi dưỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi, dành nhiều công sức giảng dạy, hướng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Bà Đặng Thị Thu Hà, Hiệu trưởng Trường THCS Hoàng Liệt - quận Hoàng Mai, TP Hà Nội cùng các thầy cô trong Ban Giám hiệu, Hội đồng giáo dục, phụ huynh và học sinh Nhà trường đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp số liệu, cho ý kiến; những người thân trong gia đình
và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian qua
Mặc dù đã cố gắng thật nhiều trong quá trình thực hiện đề tài, song không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các Quý Thầy Cô, các bạn đồng nghiệp cùng những người quan tâm tới những vấn đề được trình bày trong luận văn Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 4
7 Giả thuyết khoa học 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC 6
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Các khái niệm cơ bản 8
1.2.1 Quản lý giáo dục 8
1.2.2 Hoạt động giáo dục trong nhà trường trung học cơ sở 12
1.2.3 Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong hoạt động giáo dục 17
1.3 Một số vấn đề lý luận cơ bản về sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong hoạt động giáo dục 19
1.3.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về sự phối hợp giữa NT và GĐ trong HĐGD 19
1.3.2 Vai trò, trách nhiệm của nhà trường và gia đình về phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong HĐGD 21
1.3.3 Ý nghĩa của việc phối hợp giữa giáo dục NT với giáo dục GĐ 27
1.4 Nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình 28
1 5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phối hợp giữa NT và GĐ 28
1.5.1 Nhận thức của cán bộ giáo viên, GĐ và các tổ chức XH 28
1.5.2 Điều kiện kinh tế XH, văn hoá, truyền thống hiếu học của địa phương, của GĐ 29
1.5.3 Sự quan tâm của hiệu trưởng nhà trường 30
1.5.4 Hoạt động của hội cha mẹ học sinh 31
Kết luận chương 1 32
Trang 5LIỆT, QUẬN HOÀNG MAI, TP HÀ NỘI 33
2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo của quận Hoàng Mai, TP Hà Nội 33
2.1.1 Khái quát về kinh tế - xã hội 33
2.1.2 Khái quát về giáo dục - đào tạo 34
2.1.3 Khái quát về trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội 37
2.2 Thực trạng việc công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong HĐGD ở Trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội 41
2.2.1 Thực trạng nhận thức 45
2.2.2 Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa NT và GĐ 60
2.3 Thực trạng quản lý công tác phối hợp giữa NT với GĐ trong các HĐGD 73
2.3.1 Khảo sát đánh giá về thực trạng việc lập kế hoạch 73
2.3.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng về tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác phối hợp giữa NT với GĐ trong các HĐGD 75
2.3.3 Khảo sát và đánh giá thực trạng về kiểm tra đánh giá công tác phối hợp giữa NT với GĐ trong các HĐGD 77
2.4 Đánh giá 78
2.4.1 Ưu điểm 78
2.4.2 Hạn chế 79
Kết luận chương 2 80
Chương 3 BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS HOÀNG LIỆT, QUẬN HOÀNG MAI, TP HÀ NỘI 81
3.1 Cơ sở đề ra các biện pháp 81
3.1.1 Nguyên tắc 1: đảm bảo tính kế thừa 81
3.1.2 Nguyên tắc 2: đảm bảo tính hệ thống 81
3.1.3 Nguyên tắc thứ 3: đảm bảo tính thực tiễn 81
3.2 Đề xuất các biện pháp 82
3.2.1 Biện pháp 1: Kế hoạch hoá công tác phối hợp với CMHS của NT 82
3.2.2 Biện pháp 2: Tăng cường vai trò chủ động phối hợp với CMHS của GVCN 84
Trang 6NT với Ban đại diện CMHS 89
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường năng lực công tác của GVCN lớp 91
3.2.6 Biện pháp 6: Kiểm tra, đánh giá công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD 96
3.3 Mối liên hệ giữa một số biện pháp tăng cường công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội 98
3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 99
Kết luận chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
1 Kết luận 102
2 Những kiến nghị 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 7Bảng 2.2: Tổng hợp về CBQL trường THCS quận Hoàng Mai, TP Hà Nội
(năm học 2014 – 2015) 36
Bảng 2.3: Khái quát về Trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội Từ năm học 2012 - 2013 đến năm học 2014 - 2015 39
Bảng 2.4: Mức độ phụ thuộc của kết quả giáo dục học sinh vào việc phối hợp giữa NT và GĐ 45
Bảng 2.5a: Nhận thức của GVCN về vai trò của các lực lượng giáo dục trong quan hệ phối hợp giữa NT và GĐ 47
Bảng 2.5b: Nhận thức của CMHS về vai trò của các lực lượng giáo dục trong quan hệ phối hợp giữa NT và GĐ 47
Bảng 2.6: Nhận thức của GVCN và CMHS về trách nhiệm chủ động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 49
Bảng 2.7: Nhận thức của CMHS về mức độ cần thiết của các nội dung phối hợp với nhà trường 51
Bảng 2.8: Nhận thức của cha mẹ về trách nhiệm chăm lo việc học tập của con 52
Bảng 2.9: Nhận thức của cha mẹ về cách thức hướng dẫn con học tập 53
Bảng 2.10: Một số yêu cầu của CMHS đối với NT để nâng cao hiệu quả phối hợp giáo dục học sinh 55
Bảng 2.11: Nhận thức của GVCN về những công việc cần chủ động phối hợp với CMHS 56
Bảng 2.12: Một số yêu cầu của GVCN đối với nhà trường để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với gia đình 58
Bảng 2.13: Mức độ sử dụng các hình thức liên lạc với CMHS của GVCN 60
Bảng 2.14: Lý do GVCN thường đến nhà để trao đổi với CMHS 62
Bảng 2.15: Nội dung kế hoạch chủ nhiệm của GVCN 63
Bảng 2.16: Nội dung GVCN thường trao đổi với CMHS 64
Trang 8Bảng 2.18: Mức độ CMHS thực hiện các biện pháp hướng dẫn con học tập 67 Bảng 2.19: Mức độ cha mẹ kiểm tra việc học tập của con 68 Bảng 2.20: Số lần CMHS gặp trao đổi với GVCN trong năm học 2014 - 2015 69 Bảng 2.21: Mức độ CMHS thực hiện một số công việc phối hợp với NT trong
3 năm học qua 71 Bảng 2.22: Mức độ cộng tác với các GVCN của Ban đại diện CMHS lớp 72 Bảng 2.23: Các loại kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các
hoạt động giáo dục 74 Bảng 2.24: Tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác phối hợp giữa NT với GĐ
trong các HĐGD 76 Bảng 2.25 Kiểm tra đánh giá công tác phối hợp giữa NT với GĐ trong các
HĐGD 77 Bảng 3.1: Mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp tăng cường công
tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội 100
Trang 9Biểu đồ 2.1: Kết quả khảo sát ở bảng 2.6 49
Biểu đồ 2.2: Kết quả khảo sát ở bảng 2.19 68
Biểu đồ 2.3: Kết quả ở bảng 2.20 70
Biểu đồ 2.4: Đánh giá về nội dung các loại kế hoạch 74
Biểu đồ 2.5: Mức độ thực hiện các loại kế hoạch 75
Biểu đồ 2.6: Mức độ thực hiện các nội dung tổ chức, chỉ đạo 77
Biểu đồ 2.7: Mức độ thực hiện các hoạt động 78
Sơ đồ 3.1: Quan hệ giữa các biện pháp tăng cường công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội 99
Biểu đồ 3.1: Tương quan giữa mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp tăng cường công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội theo thứ bậc 100
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Giáo dục thế hệ trẻ là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và toàn thể xã hội Trong đó, nhà trường và gia đình là hai cơ sở trực tiếp giáo dục học sinh Xã hội là cơ sở gián tiếp tác động đến giáo dục học sinh Trong
đó, quan trọng nhất là GĐ Đây là môi trường sống, môi trường giáo dục lâu dài, thường xuyên và dựa trên cơ sở tình thương yêu của cha mẹ với từng học sinh Có thể nói, GĐ là môi trường giáo dục có nhiều thuận lợi và
ưu thế nhất trong việc hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ Do vậy, NT cần phải chủ động phối hợp với GĐ để nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường cho học sinh Sự phối hợp giữa ba môi trường giáo dục
NT, GĐ và XH cũng là một trong những nguyên lý giáo dục của nước ta 1.2 Học sinh THCS là những thiếu niên thuộc lứa tuổi bắt đầu dậy thì,
có nhiều biến đổi về tâm sinh lý, tính tự giác chưa cao, dễ bị tác động bởi môi trường xung quanh Riêng đối với học sinh ở vùng thành thị, do có nhiều trò chơi, nhiều hoạt động tác động đến tính hiếu động, ham chơi của thiếu niên nên học sinh THCS dễ mải chơi, sao nhãng nhiệm vụ học tập và rèn luyện của mình nếu không được các bậc phụ huynh quản lý sát sao, hướng dẫn tỉ mỉ
1.3 Hiện nay, việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã được thực hiện ở toàn cấp tiểu học và THCS Phương pháp học tập theo chương trình mới đặt ra yêu cầu học sinh phải có tính tự giác cao khi học tập ở nhà Học sinh không thụ động tiếp thu kiến thức ở trường mà cần phải chủ động tìm tòi kiến thức từ nhiều nguồn thông tin, theo sự hướng dẫn của thầy cô
và cha mẹ Hơn nữa, quá trình học tập ở nhà là tiếp nối và hoàn thiện quá trình học tập ở trường, làm chuyển hoá kiến thức lĩnh hội trở thành năng lực bản thân Do đó, NT cần phải chủ động phối hợp thường xuyên và chặt chẽ
Trang 11với GĐ để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất, nhằm thực hiện tốt mục tiêu và nguyên lý giáo dục
1.4 Tính hệ thống, tính liên tục và tính thống nhất của các tác động giáo dục vào các lực lượng giáo dục là một nguyên tắc giáo dục rất quan trọng vì đặc điểm của quá trình giáo dục là lâu dài, phức tạp và biện chứng
Do đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa NT với GĐ là điều hết sức cần thiết, sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp của hai lực lượng giáo dục: thầy cô và cha mẹ; đồng thời tạo được môi trường thuận lợi cho việc phát triển nhân cách của học sinh ở cả NT và GĐ
1.5 Ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội, trong nhiều năm qua, nhận thức về giáo dục của một bộ phụ huynh còn chưa cao, cộng thêm điều kiện kinh tế còn khó khăn cho nên việc đầu tư và quan tâm đến việc học tập của con em đối với nhiều bậc phụ huynh còn hạn chế Trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ ở nhiều GĐ chưa được coi trọng, một số cha mẹ còn khoán trắng việc dạy dỗ con cái cho NT, việc phối hợp giữa NT với CMHS chưa đạt hiệu quả giáo dục cao
Với những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các HĐGD ở Trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội” là cần thiết để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục học sinh tại nhà trường THCS nói chung và tại các trường THCS trong quận Hoàng Mai, TP Hà Nội nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng công tác phối hợp giữa NT và
GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội nhằm đề xuất một số biện pháp quản lý khả thi giúp cải tiến công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội Qua đó, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục học
Trang 12sinh tại nhà trường THCS nói chung và tại các trường THCS trong quận Hoàng Mai, TP Hà Nội nói riêng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD
3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng việc phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội
3.3 Xây dựng nhóm biện pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp tăng cường công tác phối hợp giữa
NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai,
TP Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, tác giả tập trung sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: phương pháp toàn diện và hệ thống, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp logic, phương pháp tổng hợp
tư liệu để xây dựng cơ sở lý luận về công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Thu thập, tổng hợp, thống kê các tài liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu; Hệ thống hóa , phân tích, so sánh, diễn giải, quy nạp, lịch sử, logic để xây dựng khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu;
Trang 13- Phương pháp quan sát, điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi đối với các đối tượng: giáo viên, phụ huynh, người quản lý nhà trường và phòng Giáo dục – Đào tạo để tìm hiểu, đánh giá thực trạng công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý giáo dục về nhóm biện pháp do tác giả đề xuất
- Phương pháp xử lý thông tin, số liệu: phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê, định tính, định lượng để xử lý kết quả điều tra khảo sát
5.3 Phương pháp khảo nghiệm: để xác định tính hợp lý và tính khả thi của nhóm biện pháp trong thực tiễn
6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
6.1 Phạm vi nghiên cứu:
Công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
6.2 Giới hạn nghiên cứu
6.2.1 Giới hạn địa bàn nghiên cứu:
Trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội
7 Giả thuyết khoa học
Trong nhiều năm qua các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội đã thu được những kết quả tốt đẹp, chất lượng giáo dục được nâng lên, công tác giáo dục toàn diện trong nhà trường đã đạt được kết quả đáng khích lệ Trường THCS Hoàng Liệt đã trở thành một điển hình
Trang 14tiên tiến của quận Hoàng Mai Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được thì công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD vẫn còn một số bất cập, hạn chế Từ lý do trên, tác giả đã tập trung nghiên cứu nhóm biện pháp khả thi, nếu hiệu trưởng NT áp dụng một cách đồng bộ các biện pháp đó vào quản lý công tác phối hợp giữa NT và GĐ ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục học sinh tại các nhà trường THCS nói chung và tại các trường THCS trong quận Hoàng Mai, TP Hà Nội nói riêng
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mục lục, bảng chữ viết tắt, danh mục bảng - biểu, mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong HĐGD
Chương 2: Thực trạng việc công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội
Chương 3: Biện pháp tăng cường công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong các HĐGD ở trường THCS Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG
VÀ GIA ĐÌNH TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trách nhiệm của nhà trường trong việc tổ chức phối hợp với gia đình để giáo dục học sinh là vấn đề từ lâu đã được xã hội và các nhà giáo dục rất coi trọng Trong nền giáo dục cận đại, J.A.Komenxki (1592-1670) là người đầu tiên nêu ra một hệ thống lý luận chặt chẽ về tầm quan trọng của mối quan hệ thống nhất giữa gia đình và nhà trường đối với kết quả giáo dục trẻ Ông khẳng định lòng ham học của trẻ không thể thiếu vắng sự kích thích từ phiá
bố mẹ và thầy cô : “Các bậc cha mẹ, giáo viên nhà trường, bản thân môn học, phương pháp dạy học phải thống nhất làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh” Nhiều nhà giáo dục lỗi lạc của Liên Xô đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự phối hợp, hợp tác giữa nhà trường và gia đình trong việc thực hiện mục đích giáo dục những người công dân chân chính trong tương lai đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa V.A.Xukhomlinxki (1918-1970) đã khẳng định nêú gia đình và nhà trường không có sự hợp tác để thống nhất mục đích, nội dung giáo dục thì sẽ dẫn đến tình trạng “gia đình một đường, nhà trường một nẻo”
Vào đầu thế kỷ 21 này, một số nước phương Tây đã chú ý đề cao hơn vai trò của cha mẹ trong việc kết hợp với nhà trường để giáo dục trẻ Ông Alan Johnson, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Anh, trong bài phát biểu gần đây đã kêu gọi cha mẹ không nên phó thác việc chăm sóc, giáo dục con em mình cho nhà trường Ngược lại, ông khẳng định vai trò của các bậc phụ huynh rất quan trọng, thậm chí sẽ mang lại một “sự khác biệt lớn” so với những kết quả mà trẻ đạt được từ trường học (theo báo Tuổi Trẻ ngày 13/11/2006)
Trang 16Trong lịch sử giáo dục ở nước ta, từ lâu giữa nhà trường và gia đình đã
có sự hợp tác chặt chẽ trong việc giáo dục học sinh, câu nói “Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” đã khái quát ý nghĩa lớn lao
về mối quan hệ này Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục lớn của nước
ta, Bác đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng về trách nhiệm của nhà trường phải
tổ chức phối hợp với gia đình: “Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò Bởi vì giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [19, tr.10]
Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng hợp quan điểm lý luận
và thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ của gia đình và sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ Một số tác giả cũng đã chọn đề tài nghiên cứu về tác động phối hợp của gia đình để nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh Các công trình nghiên cứu đã khẳng định gia đình có tính quyết định trong việc giáo dục thế hệ trẻ và sự phối hợp giữa giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình là không thể thiếu trong quá trình giáo dục trẻ Bởi lẽ gia đình có vị trí và vai trò hết sức to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em Giáo dục gia đình có tính xúc cảm hơn so với bất cứ môi trường giáo dục nào khác, vì nó dựa trên tình yêu thương của cha
mẹ đối với con cái và tình cảm quyến luyến tin cậy của con cái đối với cha
mẹ, do đó giáo dục gia đình có khả năng lớn trong xây dựng tình cảm, niềm tin, tính cách con người Giáo dục gia đình còn mang tính ổn định, lâu bền Những phẩm chất về nhân cách của cha mẹ và các thành viên trong gia đình tác động trực tiếp, thường xuyên và có hiệu quả đến trẻ em Sự gắn bó của các quan hệ gia đình tạo nên không khí tâm lý gia đình thường có ảnh hưởng quyết định đối với những phản ứng của trẻ em Do đó những ảnh hưởng của
Trang 17gia đình thời thơ ấu thường để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn đứa trẻ
và những đặc điểm của gia đình có ảnh hưởng nhiều nhất và mạnh nhất đến các hoạt động của trẻ em
Bên cạnh những thuận lợi, giáo dục gia đình còn có những mặt không thuận lợi trong việc giáo dục trẻ Tình yêu thương sâu sắc, rộng lớn của cha
mẹ đối với con cái nếu không có yêu cầu cao về giáo dục, không có tính nguyên tắc sư phạm sẽ có thể là nguyên nhân gây ra cho con cái thói hư, tật xấu Những cha mẹ có tư tưởng lạc hậu, quan niệm giáo dục lỗi thời, không
có tri thức về khoa học giáo dục sẽ dẫn đến việc giáo dục gia đình mâu thuẫn với giáo dục nhà trườn Do đó nhà trường cần phải phối hợp, phát huy những thuận lợi và khắc phục những mặt không thuận lợi của giáo dục gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ Ngược lại gia đình cũng cần phải bổ sung, cộng tác và phát huy vai trò của giáo dục nhà trường vì mục tiêu chung là làm cho trẻ “thành người” và “làm người”
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý giáo dục
1.2.1.1 Quản lý
Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý, cụ thể như sau:
Từ điển “Từ và ngữ Hán Việt” của tác giả Nguyễn Lân (1989) có viết:
“Quản lý là phụ trách việc chăm nom và sắp đặt công việc trong một tổ chức” [19,tr34 ]
Nguyễn Ngọc Quang (1989), nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lý luận dạy học, trong tập bài giảng “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục" đã định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động gọi chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện các hoạt động để đạt được mục tiêu dự kiến” và “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối
Trang 18tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [24, tr24]
Trần Kiểm (1997), trong giáo trình “Quản lý giáo dục và trường học" đã định nghĩa: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành nhũng thành tựu của XH” [18, tr15]
Tác giả Nguyễn Bá Sơn (2000), trong tác phẩm “Một số vấn đề cơ bản
về khoa học quản lý" đã khái quát: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [25, tr245]
Từ đó có thể khái quát: Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất Quản lý là một khoa học vì nó nghiên cứu, phân tích về công việc quản
lý, các quan hệ quản lý trong các tổ chức Nó tổng quát hóa các kinh nghiệm tốt thành các nguyên tắc và lý thuyết, áp dụng cho mọi hình thức quản lý tương tự Nó cung cấp khái niệm cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên cứu các môn học về quản lý Để quản lý có hiệu quả, nhà quản lý phải linh hoạt vận dụng các lý thuyết vào những tình huống cụ thể Nó đòi hỏi sự khôn khéo
và tinh tế cao để đạt tới mục tiêu Nghệ thuật này chủ yếu phải được học ngay trong thực tiễn
Trang 19Trong giáo dục: các nhà giáo dục cho rằng: giáo dục là quá trình toàn vẹn tác động đến thế hệ trẻ về đạo đức, tư tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ
và những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong XH
Theo tinh thần nghị quyết TW2, Khóa 8 của Đảng về giáo dục - đào tạo thì: NT phải đào tạo ra những con người có đủ tri thức và kỹ xảo, năng lực và phẩm chất với tinh thần trách nhiệm đầy đủ của người công dân, tham gia vào cuộc sống lao động XH, tham gia vào cuộc cách mạng trí tuệ, thúc đẩy kinh tế
XH phát triển; NT phải đào tạo những con người học được cách chung sống, hợp tác với nhau, cùng nhau giải quyết những vấn đề chung của dân tộc, của quốc gia, của toàn cầu, của thời đại
Tóm lại, giáo dục không phải chỉ là tích tụ tri thức mà còn thức tỉnh tiềm năng sáng tạo to lớn trong mỗi con người
1.2.1.3 Quản lý giáo dục
Tác giả Hồ Văn Liên, trong tập bài giảng về “Tổ chức và quản lý giáo dục trường học" định nghĩa: “Quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tố chức đó vận hành và đạt được mục đích của tố chức" và cụ thể hơn là: “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thế quản lý giáo dục về các mặt chính trị, văn hóa, XH, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho
sự phát triển của đối tượng” [20, tr81, 85]
Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất Trong tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý có sự tác động của
Trang 20người đến người Đó là sự tác động qua lại tạo thành một loại quan hệ XH đặc biệt là quan hệ quản lý Hay nói cách khác, quản lý giáo dục là một loại lao động điều khiến lao động Quản lý giáo dục trong XH ta hiện nay
là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Ở cấp độ nhân cách, quản lý giáo dục là quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách
Bản chất của quản lý giáo dục được biểu hiện ở các chức năng quản lý Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa đến một kết luận tương đối thống nhất về 5 chức năng cơ bản của quản
lý, đó là:
- Kế hoạch hóa tức là lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch hoạt động
- Tổ chức gồm tổ chức triển khai hoạt động, tổ chức nhân sự, phân công trách nhiệm trong thực hiện kế hoạch hoạt động
- Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác, nhiệm vụ đề ra
- Kiểm tra gồm theo dõi thực hiện, kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân tích quá trình thực hiện
Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý nêu trên tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội dung làm việc của chủ thể quản lý, phương pháp quản lý và
là cơ sở đế phân công lao động quản lý
Tóm lại: “Quản lý giáo dục là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của
hệ thống giáo dục bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, "[20, tr92]
1.2.1.4 Quản lý nhà trường
Theo nhà giáo Phạm Minh Hạc: “Quản lý NT là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa NT vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS" [15, tr53]
Trang 21Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý NT là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong NT" [35, trang 43] Hay “Quản lý trường học chính
là những công việc của NT mà người CBQL trường học thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của NT nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
mà tiêu điếm là quá trình dạy và học” [35, tr63], “Quản lý trường học được hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm họp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS, các lực lượng XH trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của
NT, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đã đề ra” [35, tr65]
1.2.2 Hoạt động giáo dục trong nhà trường trung học cơ sở
1.2.2.1 Hoạt động giáo dục
HĐGD là một hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch hợp lý,
khoa học hướng vào việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người theo những mục đích và điều kiện do xã hội quy định ở những giai đoạn lịch sử nhất định
HĐGD luôn có sự tương tác và phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa hoạt động của nhà giáo dục (người dạy) và hoạt động của người được giáo dục (người học), trong đó nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo và người được giáo dục là chủ thể hoạt động độc lập sáng tạo Mối quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục trong HĐGD là một mối quan hệ xã hội đặc biệt - quan
hệ giáo dục
Trang 22HĐGD là một dạng vận động và phát triển liên tục của các hiện tượng,
các tình huống dạy học và giáo dục, các loại hình hoạt động, giao lưu của
người được giáo dục… được nhà giáo dục tổ chức, hướng dẫn thực hiện theo những quy trình nhất định
HĐGD (theo nghĩa rộng) hay hoạt động sư phạm bao gồm hoạt động dạy học và HĐGD (theo nghĩa hẹp) Các hoạt động này phản ánh những quy luật chung của HĐGD tổng thể, nhưng chúng cũng phản ánh các quy luật đặc thù riêng của từng hoạt động cụ thể
HĐGD có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động xã hội khác…
HĐGD tổng thể là một hệ thống lớn (vĩ mô) bao gồm những hệ thống
nhỏ (vi mô) là những HĐGD bộ phận: hoạt động dạy học và HĐGD (theo
nghĩa hẹp) Những họat động bộ phận này thống nhất với nhau, có mối quan
hệ mật thiết, hỗ trợ nhau và có thể thâm nhập vào nhau, nhưng chúng không phải đồng nhất mà có tính độc lập tương đối của nó Hoạt động dạy học
với chức năng trội là trau dồi học vấn, truyền thụ và lĩnh hội hệ thống tri thức
khoa học, kỹ năng, kỹ xảo nhận thức và thực hành cho người học HĐGD
(theo nghĩa hẹp) với chức năng trội là hình thành, phát triển thế giới quan
khoa học, những phẩm chất đạo đức, pháp luật, lao động, thẩm mỹ, thái độ, tính cách, thói quen… cho người được giáo dục Hai họat động này gắn bó chặt chẽ với nhau: dạy học phải đi đến giáo dục và giáo dục dựa trên cơ sở dạy học, thúc đẩy dạy học
HĐGD tổng thể cũng như mỗi HĐGD bộ phận đều là các hệ thống và
được tạo thành bởi các nhân tố sau:
- Chủ thể giáo dục: Nhà giáo dục là chủ thể đóng vai trò chủ đạo trong
HĐGD Chủ thể giáo dục cũng chính là người được giáo dục
- Khách thể giáo dục: Người được giáo dục vừa là đối tượng giáo dục
vừa là chủ thể tự giáo dục
Trang 23- Mục đích, nhiệm vụ giáo dục
Mục đích giáo dục là mẫu nhân cách con người mà giáo dục cần đào tạo đáp ứng yêu cầu của xã hội trong từng giai đọan phát triển của xã hội Đây là nhân tố hàng đầu của HĐGD định hướng cho sự vận động và phát triển của toàn bộ HĐGD Để thực hiện tốt mục đích này, giáo dục phải thực hiện các nhiệm vụ giáo dục: giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động Các nhiệm vụ giáo dục có mối quan hệ biện chứng với nhau
- Nội dung giáo dục
Nội dung giáo dục là hệ thống những kinh nghiệm xã hội được chọn lọc trong kho tàng kinh nghiệm của nhân loại, tạo nên nội dung hoạt động thống nhất cho nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm đạt được mục đích giáo dục đã định
- Phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục
Phương pháp, phương tiện, hình tức tổ chức giáo dục là cách thức, phương tiện, hình thức hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm thực hiện những nhiệm vụ giáo dục và đạt tới mục đích giáo dục đã định
- Kết quả giáo dục
Kết quả giáo dục là kết quả tổng hợp của toàn bộ HĐGD nhưng thể hiện tập trung nhất ở mức độ phát triển nhân cách của người được giáo dục sau mỗi HĐGD nhất định
- Tham gia vào HĐGD còn có những điều kiện giáo dục bên ngoài (môi trường kinh tế - xã hội và khoa học – công nghệ…), những điều kiện bên trong (môi trường sư phạm)
Những nhân tố của HĐGD có mối quan hệ thống nhất, tác động biện
chứng với nhau đồng thời những nhân tố này còn có mối quan hệ mật thiết,
Trang 24biện chứng với môi trường bên ngoài và môi trường bên trong Khi một nhân
tố thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các nhân tố khác
1.2.2.2 Hoạt động giáo dục trong nhà trường trung học cơ sở
HĐGD trong nhà trường THCS là một trong số rất nhiều các hoạt động được nhà trường tổ chức (ví dụ như hoạt động thể dục thể thao, văn hóa, nghệ thuật, sinh hoạt tập thể, thăm quan, ) Tuy nhiên đây là một trong những hoạt động trọng tâm của nhà trường Vai trò của việc tổ chức HĐGD ở trường THCS là hướng tới sự phát triển nhân cách của học sinh, đổi mới chất lượng giáo dục đào tạo Việc giáo dục học sinh thông qua các hình thức HĐGD khác nhau sẽ thúc đẩy sự thay đổi về nhận thức, thái độ, có sự tác động không nhỏ tới sự hình thành nhân cách của cá nhân học sinh
* HĐGD ở trường THCS được chia làm hai bộ phận chủ yếu
- Các HĐGD trong hệ thống các môn học và lĩnh vực học tập khác nhau
- Các HĐGD ngoài các môn học và lĩnh vực học tập, có thể kể đến các HĐGD trong nhà trường như HĐGD phẩm chất, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, dân số, môi trường, pháp luật
HĐGD trong trường THCS là bộ phận hữu cơ với hoạt động dạy học, góp phần tạo nên quá trình sư phạm tổng thể cân đối để đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra HĐGD là con đường gắn lí luận với thực tiễn tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin của học sinh HĐGD là con đường để phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ, giúp họ hình thành nhận thức đúng đắn, bồi dưỡng tình cảm, củng cố niềm tin và tạo lập hành vi tích cực
* Nhiệm vụ mà HĐGD trong trường THCS hướng tới bao gồm những nội dung sau
- Về nhận thức:
+ HĐGD giúp học sinh củng cố, bổ sung, nâng cao thêm hiểu biết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, làm phong phú vốn tri thức của bản
Trang 25thân Từ đó, học sinh có khả năng vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra
+ HĐGD giúp học sinh nắm vững tri thức và phát triển tư duy, phẩm chất trí tuệ
- Về kỹ năng:
+ HĐGD giúp học sinh hình thành và củng cố các kỹ năng giao tiếp, ứng
xử văn hóa, kĩ năng học tập, lao động
+ HĐGD giúp học sinh tự điều chỉnh hành vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội
- Về thái độ:
+ HĐGD bồi dưỡng tình cảm, niềm tin vào các giá trị tốt đẹp của cuộc sống + Bồi dưỡng hứng thú và tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh khi tham gia các hoạt động
* Tổ chức HĐGD ở trường THCS bao gồm hoạt động dạy học và HĐGD ngoài giờ lên lớp theo chủ điểm
- Hoạt động dạy học:
Trong nhà trường THCS nói riêng và các nhà trường nói chung, hoạt động dạy học vẫn là hoạt động đặc trưng cơ bản, chiếm nhiều thời gian, sức lực, tiền bạc, của cả thày và trò Đây cũng là hoạt động có khả năng giáo dục hiệu quả nhất Đây là hình thức thông qua dạy chữ để dạy ngời, thong qua truyền thụ tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo để giáo dục nhân cách Hoạt động dạy học trong trường THCS là hoạt động có tổ chức, có nội dung, có chương trình và kết quả, phương pháp, do những người có trình độ chuyên môn, nghiệp đảm nhận Ví dụ, môn Toán nhằm bồi dưỡng tư duy logic, môn Ngữ văn bồi dưỡng tư duy hình tượng, môn Lịch sử bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc,
- HĐGD ngoài giờ lên lớp theo chủ điểm:
Trang 26Hoạt động này là hoạt động khá đặc trưng và có nhiều ý nghĩa trong công tác giáo dục Hiện nay, theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, mỗi tuần mỗi lớp trong trường THCS có 3 tiết tổ chức HĐGD ngoài giờ lên lớp, trong đó 1 tiết chào cờ đầu tuần, 1 tiết sinh hoạt tập thể cuối tuần
và 1 tiết cho sinh hoạt giáo dục ngoài giờ lên lớp theo chủ điểm Các chủ điểm được thiết kế phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh vừa có tính khả thi Hình thức tổ chức hoạt động này cần sự mềm dẻo và linh hoạt theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nhà trường Điều kiện tốt nhất là nhà trường có phòng
và địa điểm riêng cho các lớp tổ chức hoạt động, không làm ảnh hưởng đến hoạt động học tập của các lớp khác
1.2.3 Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong hoạt động giáo dục
1.2.3.1 Phối hợp
Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để
hỗ trợ cho nhau thực hiện một công việc chung Khi nói: Hiệu trưởng phối hợp với các lực lượng giáo dục là ta nói đến hoạt động của hiệu trưởng, của
NT trong việc tổ chức các lực lượng XH thực hiện XH hóa giáo dục, đồng thời cũng nhấn mạnh đến sự chủ động, tích cực của NT trong hoạt động này
Để phối hợp có hiệu quả, hiệu trưởng phải xác định những lĩnh vực hoạt động chung; trong mỗi lĩnh vực ấy nội dung phối hợp là gì? mỗi tổ chức phải làm gì? có trách nhiệm như thế nào? Phối hợp các lực lượng giáo dục ngoài trường hay huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục là quá trình vận động (động viên, khuyến khích, thu hút) và tổ chức mọi thành viên trong cộng đồng tham gia vào việc xây dựng và phát triển NT Từ việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học, chăm lo đời sống giáo viên, tạo môi trường giáo dục thống nhất giữa NT–GĐ–XH, đến việc tham gia giáo dục học sinh Nội dung của việc huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển NT nằm trong việc tìm câu trả lời của các câu
Trang 27hỏi: Huy động cộng đồng hướng vào những mục đích nào? Huy động cộng đồng hướng vào những nguồn lực nào? Huy động cộng đồng là huy động ai? Lực lượng nào? Huy động cộng đồng như thế nào?
1.2.3.2 Hội cha mẹ học sinh
Mỗi lớp có một Ban đại diện CMHS, được tổ chức theo từng năm học Ban đại diện CMHS của lớp gồm các thành viên do các cha mẹ, người giám
hộ học sinh cử ra để phối hợp với GVCN lớp, giáo viên bộ môn trong việc giáo dục học sinh trong NT
Mỗi trường có một Ban đại diện CMHS, được tổ chức theo từng năm học Ban đại diện CMHS của trường gồm một số thành viên do các Ban đại diện CMHS từng lớp cử ra để phối hợp với NT thực hiện các HĐGD
Nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Ban đại diện CMHS từng lớp, từng trường THCS thực hiện theo Điều lệ Ban đại diện CMHS
1.2.3.3 Phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong hoạt động giáo dục
Nhà trường và gia đình có vai trò giáo dục khác nhau đối với sự hình thành và phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của học sinh Trong mối quan hệ đó thì NT được xem là trung tâm, chủ động, định hướng trong việc phối hợp với GĐ NT là môi trường giáo dục toàn diện nhất, là cơ quan nhà nước thực hiện chức năng giáo dục chuyên nghiệp nhất nên NT là lực lượng giáo dục có hiệu quả nhất, hội tụ đủ những yếu tố cần thiết để có thể huy động sức mạnh giáo dục từ phía GĐ
HĐGD học sinh trong mối quan hệ phối hợp giữa NT và GĐ về bản chất
là sự tổ chức quá trình giáo dục cho học sinh của các lực lượng giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục
Mục tiêu của quản lý HĐGD trong mối quan hệ phối hợp là làm cho quá trình giáo dục được tiến hành đồng bộ, hiệu quả, tạo ra bầu không khí hăng hái
và thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh trong NT và ở GĐ
Trang 281.3 Một số vấn đề lý luận cơ bản về sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong hoạt động giáo dục
1.3.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về sự phối hợp giữa NT
và GĐ trong HĐGD
Trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực ở Việt Nam nhằm đưa đất nước ta trở thành một nước phát triển, mở ra những khả năng mới để con người được hưởng cuộc sống độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc trong một đất nước “Dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh”, thì vấn đề con người, mà cụ thể là nguồn nhân lực với trình độ chuyên môn vững vàng và phẩm chất đạo đức trong sang, đóng một vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Đây là nhiệm vụ quan trọng của các NT phổ thông Do đó, ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật giáo dục số 38/2005/QH11, trong đó có nêu: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa XH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Để đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thì giáo dục
và khoa học công nghệ có vai trò quyết định Quan điểm chỉ đạo phát triển chiến lược giáo dục giai đoạn 2001 – 2010, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh:
“Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ, phát triển được năng lực của cá nhân, đào tạo những người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa XH, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, có ý thức công dân, góp phần làm cho dân giầu nước mạnh, XH công
Trang 29bằng, dân chủ, văn minh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Theo Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 4 năm
2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo: “NT phối hợp với các tổ chức,
cá nhân tham gia giáo dục ngoài NT thực hiện các HĐGD ngoài giờ lên lớp HĐGD ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn XH, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; các hoạt động XH, từ thiện phù hợp với đặc điểm sinh
lý lứa tuổi học sinh” Điều 93, Luật Giáo dục 2005, cũng khẳng định: “NT có trách nhiệm chủ động phối hợp với GĐ và XH để thực hiện mục tiêu, nguyên
lý giáo dục”
Hiện nay, công tác phối hợp NT và GĐ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em đã đạt được những kết quả nhất định, phát huy được sức mạnh tổng hợp và huy động được các nguồn lực trong XH tham gia tích cực vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, công tác phối hợp còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng kịp với nhu cầu về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực của sự nghiệp CNH-HĐH Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng một số trẻ
em chưa được hưởng điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt nhất Trước tình hình đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chỉ thị số 71/2008/CT-BGDĐT về tăng cường phối hợp NT, GĐ và XH trong công tác giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên Trong đó chỉ rõ:
- Thường xuyên giữ mối liên hệ với GĐ, cơ quan, tổ chức, đoàn thể có liên quan để kịp thời xử lý thông tin thường xuyên, đột xuất liên quan đến
HS
Trang 30- Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện, phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, rèn luyện và chủ động tham gia các hoạt động XH; rèn luyện kỹ năng sống và định hướng nghề nghiệp cho học sinh; tăng cường giáo dục cho HS ý thức, thái độ học tập chủ động, nghiêm túc
- Phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trên địa bàn như Công an, Giao thông, Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu Giáo chức, Hội Cựu Chiến binh, Hội Khuyến học, Hội Phụ nữ, Ban đại diện CMHS và các tổ chức có liên quan trong việc giáo dục học sinh trong và ngoài NT
Như vậy vấn đề quản lý HĐGD học sinh trong giai đoạn hiện nay được Đảng, Nhà nước và XH rất quan tâm Quản lý HĐGD đối với thế hệ trẻ nói chung, đối với học sinh THCS nói riêng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi GĐ và toàn XH
1.3.2 Vai trò, trách nhiệm của nhà trường và gia đình về phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong HĐGD
1.3.2.1 Vai trò, trách nhiệm của NT
- Nhà trường: có trách nhiệm chủ động phối hợp với GĐ để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục
- Ban giám hiệu: có trách nhiệm điều hành mọi hoạt động của NT theo Điều lệ trường trung học và các văn bản quy phạm pháp luật, các quyết định, quy định hiện hành của các cấp có thẩm quyền
- Hội đồng trường: bao gồm đại diện Ban giám hiệu và các đoàn thể, ban ngành, các tổ trưởng chuyên môn Hội đồng trường có trách nhiệm tư vấn tham mưu, phê duyệt các định hướng, chủ trương về các vấn đề HĐGD, dạy học trong NT để NT hoàn thành nhiệm vụ và kế hoạch năm học
- GVCN: GVCN là một trong những giáo viên đang giảng dạy ở lớp có
đủ các tiêu chuẩn và điều kiện đứng ra làm chủ nhiệm lớp trong một năm học hoặc trong tất cả các năm tiếp theo của cấp học GVCN lớp thực hiện nhiệm
Trang 31vụ quản lý lớp học và là nhân vật chủ chốt, là linh hồn của lớp, người tập hợp, dìu dắt giáo dục học sinh phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, công dân tốt và xây dựng một tập thể học sinh vững mạnh GVCN lớp có vai trò sau đây:
+ Thay mặt hiệu trưởng quản lý một lớp học: GVCN lớp do hiệu trưởng phân công và thay mặt hiệu trưởng để quản lý và tổ chức các HĐGD học sinh
ở một lớp học Vai trò quản lý của GVCN lớp thể hiện trong việc xây dựng và
tổ chức thực hiện các kế hoạch giáo dục, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập và tu dưỡng của học sinh trong lớp GVCN phải trả lời các câu hỏi về chất lượng học tập và hạnh kiểm của học sinh trong lớp trước hiệu trưởng, trước Hội đồng sư phạm của NT và trước phụ huynh học sinh của lớp khi tổng kết năm học
+ Người xây dựng tập thể học sinh thành một khối đoàn kết: GVCN lớp
là linh hồn của lớp, bằng các biện pháp tổ chức, giáo dục, bằng sự gương mẫu
và quan hệ tình cảm, GVCN xây dựng khối đoàn kết trong tập thể, dìu dắt các
em nhỏ như con em mình trưởng thành theo từng năm tháng Học sinh kính yêu GVCN như cha mẹ mình, đoàn kết thân ái với bạn bè như anh em ruột thịt, lớp học sẽ trở thành một tập thể vững mạnh Tình cảm của lớp càng bền chặt, tinh thần trách nhiệm và uy tín của GVCN càng cao thì chất lượng giáo
dục càng tốt + Người tổ chức các HĐGD học sinh trong lớp
Vai tò tổ chức của GVCN thể hiện trong việc thành lập bộ máy tự quản của lớp, phân công trách nhiệm cho từng cá nhân, các tổ, nhóm, đồng thời tổ chức thực hiện các mặt hoạt động theo kế hoạch giáo dục được xây dựng hàng năm
Các hoạt động của lớp được tổ chức đa dạng và toàn diện, GVCN lớp quán xuyến tất cả các hoạt động một cách cụ thể, chặt chẽ Các phong trào thi đua học tập đi vào thực chất, các cuộc sinh hoạt các đoàn thể có nội dung hấp
Trang 32dẫn thanh, thiếu niên, phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao được tiến hành thường xuyên… Chất lượng học tập và tu dưỡng đạo đức của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào trật tự, kỉ luật, vào tinh thần đoàn kết và truyền thống của tập thể lớp cũng như các hoạt động đa dạng của lớp
+ Cố vấn đắc lực cho các đoàn thể của học sinh trong lớp: GVCN lớp dù
có là đoàn viên, đảng viên hay không cũng cần phải nắm vững điều lệ, tôn chỉ mục đích, nghi thức và nội dung hoạt động của các đoàn thể Với tinh thần trách nhiệm, với kinh nghiệm công tác của mình làm tham mưu cho chi Đoàn thanh niên của lớp lập kế hoạch công tác, bầu ra ban lãnh đạo chi đoàn, tổ chức các nội dung hoạt động và phối hợp với ban cán sự lớp để xây dựng tập thể, đem lại hiệu quả giáo dục tốt nhất
+ Giữ vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với các lực lượng giáo dục:
GĐ, NT và XH là ba lực lượng giáo dục, trong đó NT là cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, hoạt động có mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở khoa học, do vậy GVCN phải là người chủ đạo trong điều phối các HĐGD cùng với các lực lượng giáo dục đó một cách có hiệu quả nhất Năng lực, uy tín chuyên môn, kinh nghiệm công tác của GVCN lớp là điều kiện quan trọng để tập hợp lực lượng, phối hợp thành công các HĐGD cho học sinh trong lớp
- Giáo viên bộ môn:
+ Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học của NT theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; quản lý học sinh trong các HĐGD do NT tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng;
+ Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;
Trang 33+ Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh;
+ Thực hiện Điều lệ NT; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;
+ Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn
và lành mạnh;
+ Phối hợp với GVCN, các giáo viên khác, GĐ học sinh, Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh; Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
- Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam: Chi bộ Đảng NT lãnh đạo NT về mọi mặt Chi bộ lãnh đạo bằng chủ trương, Nghị quyết và lãnh đạo thông qua các
Đảng viên Lãnh đạo công tác cán bộ và hệ thống chính trị trong NT
- Công đoàn: Hoạt động theo Điều lệ Công Đoàn Việt Nam và sự chỉ đạo của Công đoàn cấp trên Công đoàn phối hợp với Ban giám hiệu NT theo Quy chế phối hợp hoạt động hằng năm nhằm giúp cho BGH thực hiện các chế độ, chính sách, quyền lợi hợp pháp của người lao động Nhiệm vụ của công đoàn
là cùng với NT thúc đẩy các HĐGD, dạy học hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ năm học
- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Hoạt động theo Điều lệ Đoàn và sự chỉ đạo của BCH Đoàn cấp trên Các hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhằm giúp NT hoàn thành nhiệm vụ và kế hoạch năm học và phải được bàn bạc, thống nhất với BGH NT
Trang 34- Đội TNTP Hồ Chí Minh: Hoạt động theo Điều lệ Đội và sự chỉ đạo của Đội cấp trên Các hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh nhằm thúc đẩy các HĐGD và dạy học, giúp NT hoàn thành nhiệm vụ và kế hoạch năm học
và phải được bàn bạc, thống nhất với BGH NT
1.3.2.2 Vai trò, trách nhiệm của gia đình
- CMHS hoặc người đỡ đầu:
+ Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em hoặc người được giám hộ được học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt động của NT
+ Mọi người trong GĐ có trách nhiệm xây dựng GĐ văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng NT nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
- Hội CMHS của lớp:
+ Mỗi lớp có một Ban đại diện CMHS gồm từ 3 đến 5 thành viên, trong
đó có trưởng ban và một phó trưởng ban
+ Các thành viên Ban đại diện CMHS lớp là những người nhiệt tình, có trách nhiệm trong việc phối hợp với GVCN lớp, giáo viên bộ môn, NT và đại diện cho CMHS trong lớp thực hiện các HĐGD học sinh
+ Nhiệm vụ của Ban đại diện CMHS lớp là phối hợp với GVCN lớp và các giáo viên bộ môn tổ chức các HĐGD học sinh; phối hợp với GVCN lớp chuẩn bị nội dung của các cuộc họp CMHS trong năm học; Tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh; bồi dưỡng, khuyến khích học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém, vận động học sinh đã bỏ học trở lại tiếp tục học tập; giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh khuyết tật và học sinh có hoàn cảnh khó khăn khác
+ Quyền của Ban đại diện CMHS lớp: Quyết định triệu tập các cuộc họp CMHS theo quy định tại Điều 9 của Điều lệ này (trừ cuộc họp đầu năm học
Trang 35cử Ban đại diện CMHS lớp) sau khi thống nhất với GVCN lớp; Tổ chức lấy ý kiến CMHS của lớp về biện pháp quản lý giáo dục học sinh để kiến nghị cụ thể với GVCN lớp, giáo viên bộ môn về biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức, chất lượng dạy học; Phối hợp tổ chức các HĐGD ngoài giờ lên lớp, giáo dục truyền thống, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh sau khi thống nhất với GVCN lớp
- Hội CMHS của trường:
+ Mỗi trường có một Ban đại diện CMHS, do cuộc họp các trưởng ban
và phó trưởng ban của các Ban đại diện CMHS lớp cử ra vào đầu năm học Cuộc họp này quyết định số lượng thành viên và cử các thành viên của Ban đại diện CMHS trường;
+ Ban đại diện CMHS trường tiến hành phiên họp toàn thể để quyết định
số lượng các phó trưởng ban và các thành viên thường trực, nếu xét thấy cần thiết; chuẩn bị nhân sự và cử trưởng ban, các phó trưởng ban, các thành viên thường trực (nếu có) của Ban đại diện CMHS trường
+ Nhiệm kỳ của Ban đại diện CMHS lớp, Ban đại diện CMHS trường là một năm học; các Ban đại diện CMHS hết nhiệm kỳ khi bắt đầu năm học tiếp theo Riêng Ban đại diện CMHS lớp cuối cấp học hết nhiệm kỳ khi kết thúc năm học
+ Các thành viên Ban đại diện CMHS có thể thay đổi, bổ sung khi cần thiết theo đề nghị của trưởng ban Việc thay đổi, bổ sung thành viên Ban đại diện CMHS lớp do toàn thể CMHS lớp quyết định; việc thay đổi, bổ sung thành viên Ban đại diện CMHS trường do toàn thể Ban đại diện CMHS trường quyết định
+ Ban đại diện CMHS hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận
+ Nhiệm vụ của Ban đại diện CMHS trường là phối hợp với Hiệu trưởng
tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học và các HĐGD theo nội dung được thống
Trang 36nhất tại cuộc họp đầu năm học của Ban đại diện CMHS trường; Phối hợp với Hiệu trưởng hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chủ trương chính sách về giáo dục đối với CMHS nhằm nâng cao trách nhiệm chăm sóc, bảo
vệ, giáo dục học sinh; Phối hợp với Hiệu trưởng tổ chức giáo dục học sinh hạnh kiểm yếu tiếp tục rèn luyện trong dịp nghỉ hè ở địa phương; Phối hợp với Hiệu trưởng giáo dục đạo đức cho học sinh; bồi dưỡng, khuyến khích học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém; giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh khuyết tật và học sinh có hoàn cảnh khó khăn khác; vận động học sinh đã bỏ học trở lại tiếp tục đi học; Hướng dẫn về công tác tổ chức và hoạt động cho các Ban đại diện CMHS lớp
+ Quyền của Ban đại diện CMHS trường là quyết định triệu tập các cuộc họp theo quy định tại Điều 9 của Điều lệ này (trừ cuộc họp đầu năm học cử Ban đại diện CMHS trường) sau khi đã thống nhất với Hiệu trưởng; Căn cứ ý kiến của các Ban đại diện CMHS lớp để kiến nghị với Hiệu trưởng về những biện pháp cần thiết nhằm thực hiện nhiệm vụ năm học của trường và về quản
lý, giáo dục học sinh; Quyết định chi tiêu phục vụ các hoạt động của Ban đại diện CMHS từ nguồn ủng hộ, tài trợ tự nguyện theo quy định tại Điều 10 Điều lệ này
1.3.3 Ý nghĩa của việc phối hợp giữa giáo dục NT với giáo dục GĐ
Việc phối hợp thống nhất giáo dục của NT với giáo dục của GĐ đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục XHCN Bản chất của việc phối hợp đó là đạt được sự thống nhất về các yêu cầu giáo dục cũng như về các hành động giáo dục của tất cả người lớn, khiến cho nhân cách của trẻ phát triển đúng đắn, đầy đủ và vững chắc, tạo được môi trường giáo dục thuận lợi trong NT, trong GĐ và ngoài XH Nhờ có môi trường giáo dục đó, học sinh buộc phải hành động đúng theo các yêu cầu và các chuẩn mực ứng xử Môi trường giáo dục bao gồm: những yêu cầu thống nhất của NT, GĐ và XH đối
Trang 37với hành vi của học sinh; Những tình huống được tạo ra trong cuộc sống để các hành vi tích cực có điều kiện thực hiện; Những phương pháp và biện pháp giáo dục được sử dụng khéo léo, không mâu thuẫn với nhau và không
để dẫn đễn tính chất hai mặt trong ứng xử của học sinh
Chất lượng và hiệu quả của giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong
đó yếu tố quản lý và đặc biệt việc phối hợp quản lý giữa NT, GĐ để GD cho học sinh có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng:
- Tạo nên tác động tổng hợp và phát huy được những tiềm năng phong phú của toàn XH tham gia vào quá trình giáo dục hình thành và phát triển nhân cách của học sinh
- Là nguyên tắc quan trọng tạo ra sự thống nhất thực hiện mục tiêu giáo dục, thực hiện các chuẩn mực đạo đức của học sinh
- Tạo ra sức mạnh tổng hợp và đồng bộ trong toàn XH, tạo ra môi trường
sư phạm lành mạnh, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực, tạo ra những tác động tích cực cho quá trình GDĐĐ và hình thành nhân cách học sinh
1.4 Nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình
- Liên lạc trao đổi tình hình học tập và rèn luyện của học sinh
- Thống nhất nội dung, phương pháp, cách thức giáo dục học sinh
- Trao đổi và cùng tháo gỡ nhừng tình huống nảy sinh ở NT cũng như
GĐ hay ngoài XH
- Cùng tổ chức một số tiết học, các hoạt động ngoài giờ lên lớp hay tham quan ngoại khóa
- Cùng hội thảo, tọa đàm, trao đổi về cách nuôi dạy con
- Cùng NT làm công tác XH hóa giáo dục…
1 5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phối hợp giữa NT và GĐ
1.5.1 Nhận thức của cán bộ giáo viên, GĐ và các tổ chức XH
Để xây dựng được con người mới XHCN có tri thức, có sức khoẻ và có
Trang 38những phẩm chất đạo đức cần thiết phục vụ cho đất nước hiện nay đòi hỏi phải có sự hợp tác thống nhất, sự kết hợp nhịp nhàng và đồng bộ, hỗ trợ nhau giữa ba môi trường giáo dục là NT, GĐ và XH Sự phối hợp ấy phải trở thành một quá trình thống nhất, liên tục, tác động mạnh mẽ vào quá trình phát triển nhân cách toàn diện của trẻ Tuy nhiên, để thực hiện được sự phối hợp trên thì trình độ nhận thức của thày cô giáo, của GĐ học sinh và các tổ chức XH đóng vai trò quan trọng Chỉ khi nào các cấp quản lý, các ngành, phụ huynh
và XH nhận thức đầy đủ, đúng đắn và đạt tới mức độ cho phép thì sự phối hợp ấy mới đạt hiệu quả cao trong các HĐGD học sinh
Thực tế cho thấy, có một số thầy cô thờ ơ đối với việc quản lý HĐGD học sinh trong mối quan hệ phối hợp giữa NT, GĐ và XH Một số GĐ không quan tâm đến việc giáo dục con em mình, nhất là việc học của con cái phó mặc cho NT Cha mẹ quan niệm không thống nhất về mục đích, nhiệm vụ và phương pháp giáo dục con cái Cha mẹ không thông cảm, chia xẻ với nhu cầu của con Một số cha mẹ còn mắng chửi, đánh đập con cái, Vì vậy, trình độ văn hoá chung và trình độ sư phạm của những người làm cha mẹ đã có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành phẩm chất đạo đức cho con em mình Trên thực tế, sự phối hợp chặt chẽ giữa NT, GĐ trong việc giáo dục con em
là điều kiện cơ bản để làm tốt việc giáo dục của NT cũng như làm tốt việc giáo dục của GĐ và XH
1.5.2 Điều kiện kinh tế XH, văn hoá, truyền thống hiếu học của địa phương, của GĐ
Điều kiện kinh tế XH, văn hoá của địa phương, của GĐ có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới việc quản lý hoạt động cho học sinh trong mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng giáo dục là vì:
- Điều kiện kinh tế của địa phương cung cấp nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất cho NT, cho học sinh Chính nền tảng kinh tế của địa phương đã tạo
Trang 39nền tảng cho các trường xây dựng “trường ra trường, lớp ra lớp” Nền tảng kinh tế của địa phương tốt cũng sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể giáo dục, các thày cô giáo có thời gian và tâm sức dành cho sự nghiệp giáo dục
- Nền tảng kinh tế GĐ vững chắc, bố mẹ có điều kiện trang bị cho con cái những điều kiện học tập tốt hơn, bố mẹ dành nhiều thời gian quan tâm tới
sự học tập và tu dưỡng của con Mối quan hệ này dẫn đến sự phối hợp giữa
NT, GĐ một cách tự nhiên, không gò bó
- Môi trường XH ổn định, nền tảng GĐ tốt đẹp là điều kiện thuận lợi cho
sự phối hợp giữa NT, GĐ và XH
- Các phong trào văn hoá, XH địa phương tổ chức tốt sẽ lôi cuốn GĐ và
NT tham gia một cách tự nhiên tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp Chính phong trào “Xây dựng GĐ văn hoá”, “Giữ gìn trật tự an ninh”, “Bảo
vệ môi trường xanh, sạch, đẹp”, “Phòng chống các tệ nạn XH”, là điều kiện
để giáo dục học sinh tốt và hiệu quả
1.5.3 Sự quan tâm của hiệu trưởng nhà trường
Trong quan hệ với GĐ và Ban đại diện CMHS, hiệu trưởng có vai trò là người chịu trách nhiệm về mọi HĐGD trong NT; là người bảo vệ quyền lợi học sinh; dung hòa lợi ích chung của NT với nguyện vọng riêng của CMHS;
tổ chức cho CMHS tham gia và hỗ trợ NT HĐGD Hiệu trưởng hướng dẫn cho CMHS tham gia vào các công việc như: nhắc nhở phụ huynh đóng học phí, hội phí, tiền xây dựng và tham gia các hoạt động khác như: sửa chữa phòng học, giúp đỡ học sinh khó khăn, tổ chức thông tin đến CMHS bằng cách tạo ra những tiếp xúc đều đặn, thường xuyên với các GĐ qua GVCN, qua Ban đại diện CMHS; v.v
Hiệu trưởng có trách nhiệm tổ chức sự phối hợp để đạt được mục tiêu phối hợp giữa NT với GĐ và Ban đại diện CMHS Mục tiêu đó là: thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa NT và GĐ Huy động mọi
Trang 40lực lượng của cộng đồng chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần xây dựng cơ sở vật
chất NT
1.5.4 Hoạt động của hội cha mẹ học sinh
Hội CMHS là một tổ chức quần chúng do CMHS được thành lập với sự
tư vấn và hỗ trợ của NT Hội có vai trò to lớn trong việc liên kết những tác động giáo dục của NT, GĐ và XH Uy tín, kết quả hoạt động của hội được duy trì không phải là luật pháp mà phụ thuộc vào uy tín, năng lực tổ chức hoạt động và phối hợp hoạt động của Ban đại diện CMHS
Những người đại diện CMHS phải có uy tín, GĐ hạnh phúc Con em họ phải là người học tập tốt, có đạo đức và nhân cách Bản thân họ và GĐ phải là tấm gương để người khác noi theo