1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Kinh tế SIMCO Sông Đà (Luận văn thạc sĩ)

123 127 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Kinh tế SIMCO Sông Đà (Luận văn thạc sĩ)Quản lý đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Kinh tế SIMCO Sông Đà (Luận văn thạc sĩ)Quản lý đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Kinh tế SIMCO Sông Đà (Luận văn thạc sĩ)Quản lý đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Kinh tế SIMCO Sông Đà (Luận văn thạc sĩ)Quản lý đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Kinh tế SIMCO Sông Đà (Luận văn thạc sĩ)Quản lý đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Kinh tế SIMCO Sông Đà (Luận văn thạc sĩ)Quản lý đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Kinh tế SIMCO Sông Đà (Luận văn thạc sĩ)Quản lý đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Kinh tế SIMCO Sông Đà (Luận văn thạc sĩ)Quản lý đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Kinh tế SIMCO Sông Đà (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1



PHẠM THÀNH LUÂN

QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ - KINH TẾ SIMCO SÔNG ĐÀ

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60.14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ MAI PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc Học viện Quản lý Giáo dục, Trung tâm Đào tạo Sau Đại học - BDNG&CBQL cùng các thầy cô giáo đã giảng dạy, chỉ dẫn tôi trong suốt khóa học

Xin trân trọng cảm ơn sự động viên, tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt của Ban Giám hiệu, tập thể CBGV trường cao đẳng nghề Kỹ thuật - Công nghệ - Kinh tế SIMCO Sông Đà đối với tôi trong cả quá trình học tập

Tôi xin gửi lời cảm ơn, tình cảm gắn bó tới tập thể lớp cao học K10 - QLGD, niên khóa 2013 - 2015 đã chia sẻ, cộng tác với tôi trong hai năm qua

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự tri ân đến TS Nguyễn Thị Mai Phương - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, động viên tôi trong thời gian nghiên cứu, thực hiện luận văn này

Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn, tôi đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm Tôi kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp để công trình nghiên cứu hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2015

Tác giả

Phạm Thành Luân

Trang 3

CĐN SIMCO Sông Đà

SIMCO Sông Đà LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

POHE Chương trình giáo dục Đại học theo định hướng

nghề nghiệp

Trang 4

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 4

7 Giả thuyết khoa học 4

8 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn 4

9 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ 5

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu quản lý đào tạo nghề 5

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 8

1.2 Chương trình giáo dục Đại học theo định hướng nghề nghiệp 11

1.3 Một số khái niệm liên quan đến quản lý đào tạo nghề 15

1.3.1 Quản lý 15

1.3.2 Đào tạo 17

1.3.3 Đào tạo nghề 18

1.3.4 Quản lý đào tạo nghề trong trường cao đẳng nghề 19

Tiểu kết chương 1 29

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ - KINH TẾ SIMCO SÔNG ĐÀ 30

2.1 Tổng quan về trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Công nghệ - Kinh tế SIMCO Sông Đà 30

2.2 Thực trạng quản lý đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Công nghệ - Kinh tế SIMCO Sông Đà 32

2.2.1.Bối cảnh 32

2.2.2 Quản lý đầu vào 35

2.2.3 Quản lý quá trình 50

2.2.4 Quản lý đầu ra 55

Trang 5

2.3.1 Điểm mạnh, điểm yếu 59

2.3.2 Cơ hội, thách thức 61

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ - KINH TẾ SIMCO SÔNG ĐÀ 67

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 67

3.2 Các biện pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Công nghệ - Kinh tế SIMCO Sông Đà 68

3.2.1 Nâng cao hiệu quả quản lý sự phù hợp với bối cảnh, hoàn cảnh 68

3.2.2 Tăng cường hiệu quả hoạt động tuyển sinh 70

3.2.3 Đổi mới xây dựng chương trình đào tạo 74

3.2.4 Phát triển chất lượng đội ngũ CBGV 76

3.2.5 Cải tiến chất lượng CSVC, thiết bị dạy học 81

3.2.6 Nâng cao chất lượng các hoạt động trong quá trình đào tạo 83

3.2.7 Đổi mới hoạt động đánh giá kết quả đầu ra 86

3.2.8 Cải tiến hoạt động giới thiệu việc làm một cách hiệu quả hơn 88

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 90

3.4 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 90

Tiểu kết chương 3 93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

1 Kết luận 94

2 Kiến nghị 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 2.2: Ý kiến của học sinh về định hướng sau khi tốt nghiệp THPT 38

Bảng 2.3: Ý kiến của học sinh về yếu tố ảnh hưởng đến chọn trường, nghề và nhu cầu được tư vấn tuyển sinh 40

Bảng 2.4: Đánh giá của CBGV về chương trình đào tạo 45

Bảng 2.5: Đánh giá của CBGV về đội ngũ CBGV Nhà trường 45

Bảng 2.6: Đánh giá của CBGV về CSVC, thiết bị dạy học 49

Bảng 2.7: Đánh giá của CBGV về quá trình đào tạo 51

Bảng 2.8: Đánh giá của CBGV về đánh giá kết quả đầu ra 56

Bảng 2.9: Đánh giá của CBGV về hoạt động giới thiệu việc làm 58

Bảng 2.10: Ma trận SWOT 64

Bảng 3.1: Đánh giá của CBGV về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 91

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức trường CĐN SIMCO Sông Đà 30

Biểu đồ 2.1: Kết quả tuyển sinh nghề Điện công nghiệp và nghề Hàn 36

Biểu đồ 2.2: Đánh giá của CBGV về hoạt động khó khăn của Nhà trường 37

Biểu đồ 2.3: Ý kiến của học sinh về dự định sau khi tốt nghiệp THPT 39

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay hướng đi của đất nước ta chính là phát triển nền kinh tế tri thức Chính vì vậy bằng cấp cũng được coi như một sự đảm bảo về công ăn việc làm sau này cho mỗi người Tuy nhiên cũng chính việc xuất phát từ ý nghĩ như vậy mà xảy ra tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” trong xã hội hiện nay Những người có trình độ chuyên môn thì không thiếu nhưng số thợ trình

độ kỹ thuật cao thì lại đang không đủ để đáp ứng yêu cầu về nguồn lao động của xã hội Theo số liệu được Bộ LĐ-TB&XH, Tổng cục thống kê và Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra trong tháng 7/2014 thì đã có hơn 162.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp [41]

Theo thông tin tại báo cáo về tình hình kinh tế xã hội năm 2014 của Tổng cục Thống kê thì cho dù được đánh giá là liên tục tăng trong thời gian qua, song hiện nay năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng 1/18 năng suất lao động của Singapore, bằng 1/6 của Malaysia và bằng 1/3 của Thái Lan và Trung Quốc Một số nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng tới năng suất lao động của Việt Nam đạt thấp so với các nước trong khu vực là do cơ cấu kinh tế và

cơ cấu lao động tuy có chuyển dịch tích cực nhưng tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn ở mức cao Bên cạnh đó chất lượng nguồn lao động thấp, cơ cấu đào tạo thiếu hợp lý, hiệu quả sử dụng lao động qua đào tạo chưa cao [42]

Không phải bất cứ sinh viên nào tốt nghiệp cũng sẽ tìm được việc làm Thất nghiệp là một thực trạng nghiêm trọng đang tồn tại ở đất nước ta hiện nay Rất nhiều sinh viên tốt nghiệp nhưng vẫn không thể tìm được một công việc hoặc thậm chí phải làm những công việc trái ngành học của mình Nhưng nếu lựa chọn học một trường nghề thì thời gian học chỉ kéo dài từ 3 tháng đến

3 năm Chính vì thời gian của chương trình học ngắn nên người học nghề

Trang 8

giảm được chi phí học tập và nhanh chóng có cơ hội để tìm những việc làm phù hợp sau khi ra trường

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hơn lúc nào hết công tác đào tạo nghề của cần phải nỗ lực hơn nữa nhằm xây dựng được đội ngũ lao động lành nghề, đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế Đây chính là yếu

tố cần và đủ để nguồn nhân lực của Việt Nam có khả năng cạnh tranh cao và chủ động hội nhập với thị trường lao động khu vực và thế giới

Mục tiêu của Nghị quyết 29/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo cũng đã đưa ra: “Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế” [36]

Trường CĐN SIMCO Sông Đà có trụ sở tại xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tiền thân là Trung tâm Đào tạo ngoại ngữ và Giáo dục định hướng được thành lập từ năm 2000 cùng với sự ra đời của Công ty Cổ phần SIMCO Sông Đà (đơn vị trực thuộc Tổng công ty Sông Đà) Nhà trường tham gia đào tạo nghề cho học sinh, người lao động ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc có được kiến thức, kỹ năng để cung cấp lao động cho các đơn vị trong Tổng công ty Sông Đà, các doanh nghiệp, khu công nghiệp tại nhiều địa phương, góp phần cùng cả nước đạt được mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo quan điểm của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài “Quản lý đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Công nghệ - Kinh tế SIMCO Sông

Trang 9

Đà” với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo nghề tại

Nhà trường để cung cấp lao động có trình độ, kỹ năng, năng suất lao động cao cho các doanh nghiệp trong và ngoài Tổng công ty Sông Đà cũng như góp phần vào hoạt động xuất khẩu lao động

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu để đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo nghề tại trường CĐN SIMCO Sông Đà

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở khoa học của hoạt động quản lý đào tạo nghề tại trường CĐN SIMCO Sông Đà

Đánh giá thực trạng quản lý đào tạo nghề tại trường CĐN SIMCO Sông Đà

Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường CĐN SIMCO Sông Đà

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý đào tạo nghề tại trường CĐN SIMCO Sông Đà

Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý đào tạo nghề tại trường CĐN SIMCO Sông Đà

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lí luận: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các quy định, văn bản của các cơ quan Nhà nước về giáo dục, đào tạo nghề …

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát: Quan sát thực tế hoạt động quản lý đào tạo nghề tại trường CĐN SIMCO Sông Đà

- Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi: Khảo sát người học để đánh giá nhu cầu, cơ hội trong đào tạo, việc làm và khảo sát CBGV Nhà trường để

Trang 10

đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo nghề và tính cấp thiết, tính khả thi các biện pháp đổi mới quản lý hoạt động đào tạo nghề

6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Từ năm 2012, chỉ có nghề Điện công nghiệp và nghề Hàn mà Nhà trường đào tạo ở cả 03 cấp trình độ (SCN, TCN, CĐN, trong đó hệ SCN đào tạo theo đơn đặt hàng của các địa phương) nên đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động đào tạo hệ TCN, CĐN của nghề Điện công nghiệp và nghề Hàn trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2015

7 Giả thuyết khoa học

Nếu các đề xuất của đề tài được Hiệu trưởng Nhà trường đưa vào áp dụng thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo nghề tại trường CĐN SIMCO Sông Đà

8 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

Đóng góp vào các nội dung nghiên cứu về đào tạo nghề

Thu hút nhiều học sinh, người lao động theo học nghề tại trường CĐN SIMCO Sông Đà

Nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo nghề tại trường CĐN SIMCO Sông Đà Góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động và cung cấp nguồn lao động có tay nghề cho xã hội

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của công tác quản lí đào tạo nghề

Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề

Kỹ thuật - Công nghệ - Kinh tế SIMCO Sông Đà

Chương 3: Một số biện pháp quản lý đào tạo nghề tại trường Cao đẳng

nghề Kỹ thuật - Công nghệ - Kinh tế SIMCO Sông Đà

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu quản lý đào tạo nghề

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Quản lý đào tạo nghề là lĩnh vực đã được nhiều chuyên gia, nhà khoa học nghiên cứu với nhiều góc độ, cách thức tiếp cận khác nhau ứng với từng thể chế quốc gia, từng giai đoạn phát triển Gần đây, quản lý đào tạo nghề đang được nghiên cứu theo hướng tiếp cận thị trường và được các chuyên gia

về quản lý quan tâm

Từ năm 1868, Victor Karlovich Della Vos, Giám đốc Học viện Kỹ thuật Hoàng Gia Matxcơva (Nga) đã đề xuất sáng kiến phân tích nghề Ông chủ trương muốn dạy nghề cho có hiệu quả thì phải phân tích nghề, tổ chức xưởng theo nghề chuyên môn và dạy nghề phải có phương pháp thiết thực [7]

Về chương trình học, Della Vos cho rằng chương trình học được thiết lập dựa trên cơ sở của sự phân tích nghề, phải phân tích mỗi nghề ra thành các động tác cơ bản, xếp đặt những động tác đó theo thứ tự từ dễ đến khó và tổ chức cho người học học theo thứ tự đó Về phương pháp dạy nghề, Della Vos khuyến cáo người học thực tập theo mẫu nào thì phải vẽ mẫu đó Hoàn tất mẫu trước cho thật hoàn hảo rồi mới bắt đầu mẫu kế tiếp Người học chỉ được phép làm việc trong các xưởng sau khi đã hoàn thành các khóa học lý thuyết theo yêu cầu Kết quả đạt được của phương pháp này là người học nắm vững những nguyên tắc thiết yếu, cơ bản của ngành nghề họ học

Năm 1996, tác giả Heinz Weihrich và đồng nghiệp trong một báo cáo

dự án khoa học “Managing vocational training as a joint venture - can the German approach of cooperative education serve as a model for the United States and other countries?” (tạm dịch là Quản lý đào tạo nghề như một công

Trang 12

ty liên doanh - cách tiếp cận hợp tác đào tạo của Đức có thể là một mô hình cho Mỹ và các nước khác?) [4] đã giới thiệu các phương pháp đào tạo nghề truyền thống của Đức và mô hình quản lý đào tạo nghề cần phải được bổ sung hướng tới một mức độ cao hơn, đào tạo theo hệ thống kép được tích hợp lý thuyết và thực hành, lấy năng lực người học làm trung tâm của hoạt động quản lý đào tạo Tác giả cho rằng đổi mới mô hình đào tạo nghề là một nhu cầu quan trọng và một cách tiếp cận quản lý đào tạo mới là mô hình đào tạo kiểu liên doanh, không chỉ ở Mỹ mà còn ở các nước khác, bằng cách làm cho các tổ chức kinh doanh và Chính phủ cạnh tranh hơn trên thị trường toàn cầu

Năm 2000, tác giả V Gasskov trong cuốn sách “Managing vocational training systems” (tạm dịch là Quản lý hệ thống đào tạo nghề) [8] đã trình

bày một hệ thống khoa học và nghệ thuật về quản lý và tổ chức đào tạo nghề trong cơ sở công lập, bao gồm: quản lý cơ cấu tổ chức, thiết lập mục tiêu, kế hoạch, tài chính, quản lý đào tạo; đồng thời đưa ra biện pháp phát triển năng lực quản lý của các quản trị viên cao cấp; khuyến khích họ xem xét, phản biện các thủ tục hành chính của cơ sở mình để tiến tới mức độ chuyên nghiệp cao

Trong công trình “Management of a TVET Institution” (tạm dịch là

Quản lý của một tổ chức đào tạo nghề) [1] của tác giả Arlianti R đã đưa ra cách thức quản lý trường dạy nghề nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng ngành nghề và trình độ đào tạo, trong đó nhấn mạnh trường dạy nghề cần chú trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện chương trình dạy học theo cách tiếp cận năng lực thực hiện của người học, để sản phẩm quá trình đào tạo nghề là lực lượng lao động có số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề phù hợp với những yêu cầu của nhà tuyển dụng

Công trình nghiên cứu của Richard Noonan: “Managing TVET to Meet labor Market Demand” (tạm dịch là Quản lý đào tạo nghề để đáp ứng nhu

Trang 13

cầu thị trường lao động) [6] đưa ra khái niệm thị trường lao động, phân tích những đặc điểm của thị trường lao động, quy luật cung - cầu nhân lực và những yếu tố tác động đến cung - cầu nhân lực của thị trường lao động, hiệu quả phát triển nhân lực từ hoạt động giáo dục nghề nghiệp, từ đó nêu lên các biện pháp quản lý giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong nền cơ chế thị trường, trong đó biện pháp xác định nhu cầu nhân lực cần được đào tạo sát với yêu cầu thực

tế của thị trường lao động là rất cần thiết, tổ chức quản lý hoạt động đào tạo nhân lực để chất lượng nhân lực phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động là rất quan trọng

Công trình “The Engineering of Vocational and Teaching Training”

(tạm dịch là Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề) [2] của Trung tâm quốc tế về Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề UNESCO (UNEVOC) nhằm giúp các quốc gia đang phát triển đẩy mạnh công tác quản lý giáo dục kỹ thuật và dạy nghề Theo UNEVOC, các quốc gia đang phát triển cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cho người dân nhằm phổ cập nghề cho người lao động, hình thành đội ngũ lao động lành nghề, đáp ứng ngày càng cao về nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo cho người dân Muốn vậy công tác giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cần phải đẩy mạnh theo các hướng sau:

- Nhà nước xác định rõ ràng định hướng phát triển, chính sách và cơ cấu về giáo dục và giáo dục kỹ thuật và dạy nghề

- Tăng cường sự quản lý của trung ương về quá trình giáo dục kỹ thuật

và dạy nghề nhằm chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp cho người dân, cung ứng cho thị trường lao động đủ lực lượng lao động các ngành nghề đảm bảo cho

sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 14

- Phát triển các chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện nhằm sớm đào tạo lực lượng lao động có kỹ năng hành nghề phù hợp với yêu cầu của sản xuất

- Tổ chức thực hiện đào tạo ở cơ sở, đảm bảo cơ sở đào tạo phát triển

cả về quy mô và chất lượng đào tạo, đề cập đến những trách nhiệm mới của

cơ sở đào tạo trong điều kiện phân cấp quản lý và hợp tác với các doanh nghiệp nhằm đào tạo gắn kết với nhu cầu xã hội

Công trình “A Competency - Based model for developing human resource professionals” (tạm dịch là Một mô hình tạo động lực cho phát triển

nguồn nhân lực chuyên nghiệp) [3] của Glenn M, Mary Jo Blahna Các tác giả cho rằng bối cảnh thời đại mới, xu thế phát triển giáo dục và cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã tác động và làm biến đổi nhanh chóng, sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực của xã hội, trong đó có dạy nghề và việc làm Sự biến đổi đó được thể hiện ở quan niệm mới về hình mẫu nhân cách người lao động trong xã hội công nghiệp văn minh hiện đại Mô hình nhân cách của người lao động được xây dựng dựa trên năng lực thực hiện, bao gồm 03 thành

tố cấu trúc: Kiến thức, kỹ năng và thái độ Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho thị trường lao động, ngoài việc nâng cao chất lượng nhân lực bằng cách thực hiện các chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện, các cơ sở đào tạo phải chú trọng phát triển cả về quy mô và số lượng ngành nghề đào tạo tương xứng với nhu cầu của thị trường lao động

Như vậy, các công trình nêu trên đều khẳng định cần có sự cải tiến trong quản lý đào tạo nghề hướng đến tính chuyên nghiệp cao và khả năng đáp ứng thị trường lao động

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Quản lý đào tạo nghề ở Việt Nam cũng là đề tài được các nhà khoa học quản lý, các chuyên gia nghiên cứu, tìm hướng vận dụng trong hàng chục năm qua ứng với từng giai đoạn phát triển của đất nước Gần đây, xu thế đổi mới quản lý đào tạo nghề ở Việt Nam cũng đã tiếp cận với thế giới; đặc biệt là khi

Trang 15

chúng ta hội nhập sâu rộng, nhiều cơ hội phát triển mở ra cùng với những thách thức có tác động tiêu cực đến hệ thống giáo dục và đào tạo

Năm 2002, tác giả Trần Khánh Đức xuất bản cuốn “Giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực” [19]; Năm 2004, tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến xuất bản cuốn “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lí luận và thực tiễn” [13]; Năm 2005, tác giả Nguyễn Viết Sự xuất bản cuốn “Giáo dục nghề nghiệp - Những vấn đề và giải pháp” [24] Các cuốn

chuyên khảo này là tập hợp các bài viết của các tác giả về cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn, phương pháp luận quản lý và phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp, kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát triển giáo dục nghề nghiệp… trong đó có bàn luận tới công tác quản lý đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực

Năm 2006, tác giả Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha xuất bản

cuốn “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” [18]

giới thiệu cơ sở lí luận và thực trạng về đào tạo nhân lực; đồng thời đề xuất các giải pháp về đào tạo nhân lực, trong đó có bàn tới quản lý đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Năm 2010, tác giả Nguyễn Đức Trí và Phan Chính Thức xuất bản cuốn

“Một số vấn đề về quản lý cơ sở dạy nghề” [26] đề cập tổng quan và toàn

diện các hoạt động quản lý cơ sở dạy nghề và có giới thiệu tương đối chi tiết đến công tác quản lý quá trình đào tạo trong cơ sở dạy nghề

Tác giả Phạm Hiệp trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [28] đã nêu lên bức tranh toàn cảnh dạy nghề Việt Nam từ khi Luật Dạy

nghề ra đời năm 2006 Tác giả đã nhận định: Những năm qua dạy nghề đã đạt

Trang 16

được một số kết quả đáng kể trong việc phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề,

mở rộng quy mô và ngành nghề, đổi mới chương trình dạy nghề tuy nhiên vẫn đang bộc lộ một số tồn tại cần được sớm khắc phục, đó là quy mô dạy nghề còn nhỏ (nhất là quy mô CĐN), chất lượng dạy nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động Tác giả tham chiếu kinh nghiệm quốc tế và

đề xuất các giải pháp phát triển dạy nghề để phát triển nguồn nhân lực Đây không chỉ là trách nhiệm của nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách

mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mỗi cá nhân; phát triển nguồn nhân lực đi đôi với xây dựng và hoàn thiện giá trị con người trong thời đại hiện nay như trách nhiệm công dân, ý thức và năng lực làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, sống có văn hóa, có lý tưởng

Cuốn sách “Giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” [22] của Phan Văn Nhân đã cung cấp những vấn đề về lí luận

và thực tiễn trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp của nước ta hiện nay, trong

đó tác giả đã xây dựng cơ sở lí luận về dạy nghề theo năng lực thực hiện Phương pháp tiếp cận mới này dựa chủ yếu vào những tiêu chuẩn quy định cho một nghề và đào tạo theo các tiêu chuẩn đó, bám vào kết quả đầu ra

Trong “Báo cáo tổng quan về đào tạo nghề ở Việt Nam” [31] của Tổng

cục dạy nghề năm 2012 cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của việc doanh nghiệp tham gia vào hoạt động dạy nghề Theo đó, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động dạy nghề từ việc xác định danh mục nghề đào tạo, xây dựng nội dung chương trình đào tạo trên cơ sở phân tích nghề tới biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy Việc tham gia của doanh nghiệp vào dạy nghề ở cả hai cấp độ: cấp độ chính sách và cấp độ hoạt động đào tạo Ở cấp độ chính sách doanh nghiệp trực tiếp vào việc xây dựng danh mục nghề đào tạo; xây dựng tiêu chuẩn và đánh giá kỹ năng nghề; xây dựng chương trình khung Ở cấp độ hoạt động đào tạo, các chuyên gia, kỹ thuật viên, thợ giỏi của doanh nghiệp được mời đến cơ sở dạy nghề tham gia giảng dạy thực hành nghề cho học sinh; tham gia đánh giá kết quả học tập của học sinh và tham gia vào hội đồng

Trang 17

thi tốt nghiệp cuối khóa của học sinh Ngoài sự hợp tác trong quá trình đào tạo, giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp có sự phối hợp tư vấn nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên Báo cáo này cũng chỉ ra đào tạo theo hướng cầu đã trở thành cách tiếp cận đào tạo có hiệu quả đang và sẽ được thực hiện ở tất cả các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới Đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp là một trong những chiến lược phát triển dạy nghề trong thời kỳ mới

Năm 2014, Tổng cục dạy nghề xuất bản cuốn “Tư vấn hướng dẫn học nghề và việc làm” [29] trong đó nêu rõ dạy nghề là hoạt động hết sức cần

thiết đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Dạy nghề có vai trò góp phần vào tăng trưởng kinh tế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Theo đó, quan điểm và định hướng phát triển dạy nghề đến năm 2020 bao gồm: Dạy nghề đáp ứng nhu cầu hội nhập; phát triển bền vững cơ sở dạy nghề; phát triển giáo viên dạy nghề đảm bảo chất lượng dạy nghề; phát triển chương trình dạy nghề tiếp cận tiêu chuẩn khu vực và thế giới; hệ thống quản lý chất lượng dạy nghề (kiểm định chất lượng dạy nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia)

Những cuốn chuyên khảo trên đã góp phần định hướng phương thức quản lý đào tạo theo cách tiếp cận mới hướng tới chất lượng và tiếp cận thị trường

1.2 Chương trình giáo dục Đại học theo định hướng nghề nghiệp

Chương trình giáo dục Đại học theo định hướng nghề nghiệp (Profession-Oriented Higher Education - POHE) thuộc Dự án Giáo dục Đại học Việt Nam - Hà Lan được bắt đầu vào đầu năm 2005 với mục tiêu nâng cao năng lực nghề nghiệp của sinh viên bằng cách xây dựng các chương trình đào tạo lấy nhu cầu của thị trường lao động làm trung tâm Dự án này có mục tiêu chính là thực hiện chính sách mang tính đột phá “đào tạo theo nhu cầu xã

Trang 18

hội” của Bộ GD&ĐT và hình thành chính sách về mô hình đào tạo theo định hướng nghề nghiệp POHE được thực hiện giai đoạn I ở Việt Nam từ năm

2006 - 2009 và hiện nay đang trong thời gian thực hiện giai đoạn II (2012 - 2015) POHE là một sự đáp ứng kịp thời để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới

Một số đặc điểm chính của POHE [43]:

- Các chương trình POHE tập trung mạnh mẽ vào thực hành nghề nghiệp trong cả nhiệm vụ đào tạo và nhiệm vụ nghiên cứu Sứ mạng của một trường hay một khoa đào tạo POHE chủ yếu là phục vụ thị trường lao động địa phương, nhưng cũng có thể là thị trường lao động nội địa và quốc tế

- Mục tiêu của POHE: Các chương trình POHE đào tạo sinh viên, sau khi tốt nghiệp, có khả năng làm việc được ngay trong môi trường làm việc chuyên nghiệp Chất lượng của chương trình đáp ứng các yêu cầu của ngành theo quy định của nền giáo dục đại học quốc gia (và quốc tế) và thực tiễn nghề nghiệp Chất lượng của các chương trình đáp ứng các tiêu chuẩn chung, được quốc tế công nhận bằng cấp

- Chương trình POHE: Chương trình đào tạo POHE dựa trên hồ sơ năng lực nghề nghiệp, được phát triển cùng với công giới, có tham khảo các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế Năng lực là “khả năng vận dụng hài hòa kiến thức, kỹ năng và thái độ trong hoạt động nghề nghiệp” Hồ sơ năng lực được chuyển đổi thành một quá trình sư phạm chứa đựng các hoạt động dạy và học trợ giúp sinh viên đạt được các mục tiêu học tập dự kiến Chương trình POHE phản ánh cách tiếp cận tích hợp, trong đó kiến thức lý thuyết kết hợp với thực hành và đào tạo các kỹ năng mềm, tập trung vào thực hành nghề nghiệp của sinh viên Bên cạnh việc đánh giá kiến thức lý thuyết truyền thống, đánh giá sinh viên còn có cả các hợp phần thực hành liên quan đến công giới Đó là đánh giá khả năng của sinh viên trong thực hành nghề nghiệp và các kỹ năng

Trang 19

của họ trong việc sử dụng các thiết bị đặc biệt (ví dụ, các kỹ năng sử dụng phòng thí nghiệm, thiết bị mô phỏng …)

- Tổ chức và quản lý: Các chương trình POHE được tổ chức theo các mục tiêu học tập của sinh viên nhằm đáp ứng yêu cầu của một nghề nghiệp cụ thể Phương pháp dạy và học tích cực trong các chương trình POHE đòi hỏi

có sự hợp tác, làm việc theo nhóm và tinh thần trách nhiệm ở cấp độ quản lý chương trình, các hoạt động dạy, học và đánh giá cũng như các vấn đề quản

lý, hành chính Cập nhật các chương trình POHE đòi hỏi có sự đánh giá một cách hệ thống và thường xuyên của các bên liên quan

- Sự tham gia của công giới: Cách tiếp cận của POHE đòi hỏi có sự hỗ trợ từ công giới thông qua các hoạt động cố vấn/ tư vấn ở cấp độ chương trình; cung cấp các cơ hội học tập cho sinh viên qua các chương trình thực tập, hướng dẫn nghiệp vụ trong các đồ án nhóm và đồ án tốt nghiệp Thông qua đối thoại thường xuyên, nhà trường tìm kiếm thông tin từ công giới cho việc phát triển và điều chỉnh các hồ sơ nghề nghiệp, xem xét và cải tiến chương trình đào tạo Công giới được khuyến khích tham gia tích cực vào việc thực hiện chương trình đào tạo qua hình thức thỉnh giảng, hướng dẫn đồ

án sinh viên, tiếp nhận các chương trình thực tập và đồ án tốt nghiệp

- Sinh viên: Sinh viên POHE thể hiện các phẩm chất cần thiết của giáo dục đại học Các mục tiêu học tập định hướng thực hành trong chương trình POHE đòi hỏi sinh viên học theo nhóm, cùng thực hiện các đồ án nhóm, tự học, thực hành độc lập, tự sắp xếp công việc và làm các bài tập Vì vậy sinh viên cần được hỗ trợ để phát triển phong cách học tập đặc trưng “học thông qua làm việc”

- Giảng viên: Bên cạnh các yêu cầu về công tác giảng dạy theo quy định, các chương trình POHE đòi hỏi giảng viên phải có kinh nghiệm thực hành nghề nghiệp Đội ngũ giảng viên cần có kiến thức đầy đủ và thời sự về

Trang 20

nghề nghiệp (có nghĩa là các giảng viên tốt nghiệp từ các chương trình giáo dục đại học ở các ngành có liên quan) Đội ngũ giảng viên phải có khả năng dẫn dắt, đặc biệt ứng dụng tri thức và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực thuộc ngành đào tạo Đội ngũ giảng viên phải có khả năng thực hiện các phương thức dạy học kích thích được tính chủ động học tập của sinh viên, các phương thức đánh giá lý thuyết và thực hành tích hợp

- Cơ sở vật chất: Các chương trình POHE cần cơ sở vật chất và những trang thiết bị đặc thù để tổ chức và đào tạo thực hành nhằm mô phỏng các tình huống trong thực tiễn nghề nghiệp Yêu cầu chung của các chương trình POHE là sự sẵn sàng đáp ứng của các trang thiết bị phục vụ thực hành, các phòng thí nghiệm rèn luyện kỹ năng mô phỏng thực tế nghề nghiệp, phòng máy tính và thỏa thuận với các công ty về việc sử dụng các trang thiết bị hoặc máy móc (đắt tiền) của công giới khi cần thiết

- Nghiên cứu: Các chương trình POHE tập trung thực hiện các nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và cải thiện nghề nghiệp thông qua mô hình: nghiên cứu - đào tạo - ứng dụng - chuyển giao Nghiên cứu ở trình độ

cử nhân đòi hỏi ứng dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ trong thực hành nghề nghiệp Các hoạt động nghiên cứu trong các chương trình POHE đều là nghiên cứu ứng dụng Các câu hỏi nghiên cứu được hình thành trong mối quan hệ mật thiết với công giới và các đồ án tốt nghiệp của sinh viên thường giải quyết những vấn đề/ bài toán nảy sinh từ thực tế nghề nghiệp

- Vai trò của người lãnh đạo: Cách tiếp cận POHE đòi hỏi sự ủng hộ của tất cả các cấp quản lý trong nhà trường, từ Hiệu trưởng, các phòng ban tới các đơn vị dịch vụ hỗ trợ Những ủng hộ này gồm ủng hộ đối với các chương trình định hướng nghề nghiệp - ứng dụng; thể hiện khái niệm POHE trong tuyên ngôn sứ mạng và chiến lược phát triển trường, khoa hoặc phòng ban; thiết lập và duy trì các mối quan hệ với công giới, cũng như sự ủng hộ của ban điều phối chương trình và đảm bảo chất lượng nội bộ

Trang 21

Theo báo cáo từ POHE [44], trong giai đoạn thực hiện POHE I, các trường đều thống nhất về mục đích nhưng đa dạng trong cách thực hiện Việc tiếp xúc với các nhà chuyên môn đang làm việc tại các doanh nghiệp và đại diện của những người tuyển dụng để thảo luận về nhu cầu của những người làm nghề trong thế giới thực đã mang lại cho đội ngũ thực hiện chương trình POHE của các trường đại học sự thúc đẩy mạnh mẽ phải thay đổi chương trình đào tạo Điều này đã dẫn đến sự phối hợp những tri thức mới nhất và những phương pháp giảng dạy có thể khơi gợi phát triển các kỹ năng và thái

độ cần cho nghề nghiệp tương lai của SV Sự gắn kết của thế giới việc làm với việc xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo được đánh giá là một nhân tố cốt lõi và đóng góp quyết định cho việc tạo ra thay đổi Thiết kế chương trình đào tạo được coi là sự can thiệp nổi bật của POHE, đòi hỏi nỗ lực nhiều nhất nhưng cũng mang lại những kết quả thấy rõ nhất của POHE Những đòi hỏi rất đa dạng của thế giới việc làm đưa những đòi hỏi này vào mỗi chương trình đào tạo sao cho kết hợp được nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau, điều chỉnh cho phù hợp, sắp xếp thứ tự và gom lại thành từng nhóm, cũng như nghiêm túc áp dụng nó, đó là một quá trình học tập dựa trên thực tiễn Đối với các nhà tuyển dụng, SV POHE có giá trị hơn và họ thấy ít rủi ro hơn khi tuyển dụng

1.3 Một số khái niệm liên quan đến quản lý đào tạo nghề

1.3.1 Quản lý

Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật để điều khiển hệ thống xã hội Ngày nay quản lý thực sự đã trở thành một khoa học, có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, xã hội

Với nhiều cách tiếp cận ở các góc độ kinh tế, xã hội, giáo dục các nhà nghiên cứu, thực hành về quản lý đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về quản lý

Trang 22

FW Taylor - người sáng lập ra trường phái quản lý theo khoa học cho

rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái

đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [14]

Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì quản

lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [5]

Henry Fayol là người đầu tiên chỉ ra chức năng và những yếu tố của

quản lý: “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [14]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung

là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến” [23]

Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục

có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [16]

Với tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra tiến tới trạng thái có chất lượng mới” [9]

Như vậy, mặc dù có nhiều có nhiều quan điểm về quản lý nhưng một cách tổng quát nhất có thể xem quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung

Quản lý có bốn chức năng cơ bản liên quan mật thiết với nhau: Kế hoạch; tổ chức thực hiện; chỉ đạo; kiểm tra:

- Kế hoạch: Kế hoạch là khởi điểm của một chu trình quản lý Kế hoạch

là quá trình vạch ra các mục tiêu và quyết định phương thức đạt được mục tiêu đó

Trang 23

- Tổ chức: Tổ chức là quá trình phân công, phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã được đề ra

- Chỉ đạo: Chỉ đạo là quá trình tác động, gây ảnh hưởng đến các thành viên trong tổ chức để công việc của họ hướng tới các mục tiêu chung đã đặt ra

- Kiểm tra: Là quá trình thiết lập và thực hiện các cơ chế thích hợp để đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức

1.3.2 Đào tạo

Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh loài người

Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn liền với giáo dục đạo đức, nhân cách” [32]

Theo Phạm Viết Vượng: “Đào tạo là quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ của đất nước” [27]

Nguyễn Minh Đường cho rằng: “Đào tạo là một quá trình hoạt động

có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ … để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền

đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả” [17]

Đào tạo cùng với nghiên cứu khoa học và dịch vụ phục vụ cộng đồng là hoạt động đặc trưng của các cơ sở đào tạo Đó là hoạt động chuyển giao có hệ thống, có phương pháp, những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng,

kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết để chuẩn bị cho người học bước vào cuộc sống lao động tự lập

và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước

Trang 24

Đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một cơ sở giáo dục Trong đó tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc và quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đánh giá kết quả đào tạo, cũng như thời gian và đối tượng đào tạo cụ thể

Như vậy, đào tạo là làm cho một cá nhân trở thành người có năng lực thực hiện theo những tiêu chuẩn nhất định thông qua các hoạt động giảng dạy

và học tập gắn với việc giáo dục đạo đức, nhân cách người học đáp ứng yêu cầu nhân lực của thị trường lao động

Quá trình đào tạo là quá trình phối hợp hoạt động của cán bộ quản lý, người dạy và người học nhằm phát triển trí tuệ và nhân cách của người học do

cơ sở giáo dục chỉ đạo và thực hiện Quá trình đào tạo bao gồm quá trình dạy học và quá trình giáo dục, là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt động của một cơ sở giáo dục

Quá trình đào tạo là quá trình cơ bản nhất để hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người Đối tượng của quá trình đào tạo chính là nhân cách người học Do đó, mục đích, nội dung, phương tiện và hình thức đào tạo phải phù hợp với đặc điểm tâm lý của người học trong hoàn cảnh cụ thể Nhiệm vụ cơ bản của quá trình đào tạo là cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành ý thức thái độ cho người học

1.3.3 Đào tạo nghề

Theo Luật giáo dục nghề nghiệp ban hành năm 2014: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [33]

Trang 25

1.3.4 Quản lý đào tạo nghề trong trường cao đẳng nghề

Trường cao đẳng nghề là cơ sở dạy nghề thuộc hệ thống giáo dục quốc dân chịu sự quản lý nhà nước về dạy nghề của Bộ LĐ-TB&XH, đồng thời chịu sự quản lý theo lãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương [38]

Theo Luật giáo dục nghề nghiệp ban hành năm 2014: “Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn” [33]

Quản lý đào tạo nghề nhằm mục tiêu lớn nhất là không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bởi vì chất lượng đào tạo là vấn đề quan trọng mang tính chất quyết định của cơ sở giáo dục nghề nghiệp Để quản lý đào tạo nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cần phải nghiên cứu, xem xét và lựa chọn nguồn tuyển sinh, ngành nghề và phương pháp đào tạo phù hợp

Trong quản lý đào tạo, một số mô hình đã được nghiên cứu và vận dụng

1.3.4.1 Quản lý chất lượng toàn diện TQM

Từ 1950 đến 1980 hình thành rất nhiều quan điểm, trường phái, kỹ thuật, công cụ quản lý chất lượng Trong đó, TQM là cách quản lý một tổ chức tập trung vào chất lượng, dựa vào sự tham gia của tất cả thành viên, nhằm đạt tới sự thành công lâu dài nhờ thỏa mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên đó và cho xã hội Nói cách khác, TQM là một hệ thống hữu hiệu tích hợp những nỗ lực về duy trì, phát triển và cải tiến chất lượng

Trang 26

của nhiều tổ nhóm trong tổ chức để có thể tiếp thị, áp dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất và cung ứng dịch vụ nhằm thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu của khách hàng một cách kinh tế nhất TQM áp dụng cách thức quản lý tạo thuận lợi cho tăng trưởng bền vững thông qua việc huy động hết tâm trí của tất cả mọi thành viên nhằm tạo ra chất lượng một cách kinh tế theo yêu cầu khách hàng Tóm lại, TQM là phương pháp quản lý tập trung vào chất lượng để thỏa mãn khách hàng, dựa vào mọi thành viên, mang lại thành công lâu dài cho nhân viên, tổ chức và xã hội

Đặc điểm của TQM [25]:

- Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất Hãy sáng tạo chất lượng và theo đuổi sản phẩm tốt nhất để vượt qúa sự mong mỏi của khách hàng và làm vui thích họ

- Trách nhiệm chất lượng trước hết là của lãnh đạo

- Hướng đến khách hàng, chiếm giữ và nâng cao lòng tin của khách hàng thường xuyên và trung thành sẽ mang lại thị phần và lợi nhuận

- Quản lý theo quá trình, linh hoạt trong tổ chức, ủy quyền mạnh mẽ, phát huy sáng tạo, hợp tác và làm việc nhóm, trân trọng nguồn nhân lực có trách nhiệm, đạo đức và đa năng

- Chất lượng được tạo bởi sự tự giác, ý thức tự quản, chia sẻ, hợp tác tích cực, cùng có lợi

- Quản lý bằng cách triển khai hệ thống chính sách toàn đơn vị

- Cơ cấu tổ chức linh hoạt, quản lý chức năng chéo

- Quản lý dựa trên sự kiện có được bởi thống kê và thông tin chính xác, kịp thời

- Khuyến khích các ý tưởng cải tiến, sáng tạo

- Gạt bỏ sợ hãi, e dè; tự hào về nghề nghiệp

- Thường xuyên xem xét, đánh giá nội bộ bởi các cấp

Trang 27

- Đạt được sự cam kết thực hiện từ nhân viên

- Liên tục cải tiến

- Thành công bền vững

Triết lí của TQM:

- Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất Hãy sáng tạo chất lượng và theo đuổi sản phẩm tốt nhất để vượt qúa sự mong mỏi của khách hàng và làm vui thích họ

- Trách nhiệm chất lượng trước hết là của lãnh đạo

- Hướng đến khách hàng, chiếm giữ và nâng cao lòng tin của khách hàng thường xuyên và trung thành sẽ mang lại thị phần và lợi nhuận

- Quản lý theo quá trình, linh hoạt trong tổ chức, ủy quyền mạnh mẽ, phát huy sáng tạo, hợp tác và làm việc nhóm, trân trọng nguồn nhân lực có trách nhiệm, đạo đức và đa năng

1.3.4.2 Hệ thống quản lý chất lượng ISO

ISO là tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa được thành lập năm 1947 có trụ sở tại Geneva và được áp dụng ở hơn 150 nước Việt Nam là thành viên chính thức từ năm 1977

Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 phù hợp cho các đơn vị muốn khẳng định khả năng cung cấp các sản phẩm một cách ổn định đáp ứng các yêu cầu khách hàng và các yêu cầu chế định thích hợp; muốn nâng cao sự thoả mãn của khách hàng; cần cải tiến liên tục kết quả hoạt động sản xuất

Trang 28

kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu; răng lợi nhuận, tăng sản phẩm và giảm sản phẩm hư hỏng, giảm lãng phí

Các yêu cầu cần kiểm soát của tiêu chuẩn ISO 9001:2008 [25]:

- Kiểm soát tài liệu và kiểm soát hồ sơ: Kiểm soát hệ thống tài liệu nội

bộ, tài liệu bên ngoài và dữ liệu của công ty

- Trách nhiệm của lãnh đạo: Cam kết của lãnh đạo; định hướng bởi khách hàng; thiết lập chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng cho các phòng ban; xác định trách nhiệm quyền hạn cho từng chức danh; thiết lập hệ thống trao đổi thông tin nội bộ; tiến hành xem xét của lãnh đạo

- Quản lý nguồn lực: Cung cấp nguồn lực; tuyển dụng; đào tạo; cơ sở

hạ tầng; môi trường làm việc

- Tạo sản phẩm: Hoạch định sản phẩm; xác định các yêu cầu liên quan đến khách hàng; kiểm soát thiết kế; kiểm soát mua hàng; kiểm soát sản xuất

và cung cấp dịch vụ; kiểm soát thiết bị đo lường

- Đo lường phân tích và cải tiến: Đo lường sự thoả mãn của khách hàng; đánh giá nội bộ; theo dõi và đo lường các quá trình; theo dõi và đo lường sản phẩm; kiểm soát sản phẩm không phù hợp; phân tích dữ liệu; hành động khắc phục; hành động phòng ngừa

1.3.4.3 Quản lý đào tạo theo quá trình

Tác giả Phan Văn Kha [21] cho rằng quản lý đào tạo gồm quản lý các

thành tố cơ bản theo các khâu: Đầu vào - Quá trình - Đầu ra:

- Quản lý đầu vào: Quản lý đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân

viên; quản lý tuyển sinh; quản lý HSSV; quản lý CSVC; quản lý tài chính

- Quản lý quá trình dạy học: Là dạng hoạt động quản lý cơ bản trong công tác quản lý ở nhà trường, nó góp phần quyết định đối với chất lượng giáo dục, trong đó đối tượng quản lý chính là: Hoạt động của đội ngũ giáo viên và hoạt động học tập, nề nếp sinh hoạt của HSSV;quản lý hoạt động

kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HSSV trong quá trình dạy học

Trang 29

- Quản lý đầu ra: Quản lý đầu ra có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với

hệ thống đào tạo nhân lực, bởi vì nó không chỉ thuần túy đánh giá kết quả học tập và kết quả tốt nghiệp của HSSV, mà điều quan trọng là theo dõi công ăn việc làm của HSSV sau khi tốt nghiệp, khả năng thăng tiến nghề nghiệp trong quá trình HSSV hành nghề, qua đó đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo, điều chỉnh quá trình đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thị trường lao động và

các đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nhân lực sau đào tạo 1.3.4.4 Mô hình CIPO

Với quan điểm chất lượng đào tạo là một quá trình, năm 2000, UNESCO đưa ra mô hình CIPO khi áp dụng cho quản lý đào tạo nghề nghề, trong đó có các thành phần: Đầu vào (Input); quá trình (Process); đầu ra (Output); tác động của bối cảnh (Context) Để quản lý đào tạo đảm bảo chất lượng và đạt được mục tiêu cần quản lý các yếu tố đầu vào, quản lý quá trình thực hiện và quản lý các yếu tố đầu ra, đồng thời cần quan tâm đến tác động của bối cảnh với phạm vi rộng và đa dạng hơn như các vấn đề liên quan đến thể chế, chính sách, dân cư, môi trường phát triển kinh tế - xã hội

Về bản chất, mô hình CIPO là một dạng của mô hình quá trình, cũng được bắt đầu từ đầu vào đến quá trình và đầu ra Tuy nhiên, mô hình CIPO đã đưa thêm thành phần về tác động của bối cảnh Nghĩa là, khi vận dụng vào quản lý đào tạo nghề, mô hình CIPO có tính chất kiểm soát quá trình đào tạo

và tất cả các yếu tố tác động từ môi trường kinh tế - xã hội lên quá trình đào tạo để hướng tới chất lượng đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn sản xuất và nhu cầu doanh nghiệp

1.3.4.5.Vận dụng mô hình CIPO trong quản lý đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề

a Quản lý đầu vào

Quản lý đầu vào là quản lý toàn bộ các yếu tố cần và đủ, đảm bảo cho quá trình đào tạo được vận hành theo mục tiêu đã định Theo CIPO, quản lý

Trang 30

đầu vào bao gồm quản lý các yếu tố tuyển sinh; xây dựng mục tiêu, kế hoạch đào tạo; đảm bảo các nguồn lực như: nhân lực (đội ngũ CBGV), vật lực (CSVC, thiết bị dạy học )

Vai trò của quản lý đầu vào: Đầu vào giữ vai trò quan trọng quyết định tới chất lượng đào tạo đồng thời ảnh hưởng đến sự điều chỉnh mục tiêu, kế hoạch, chương trình liên kết Quản lý đầu vào đảm bảo cho quá trình được vận hành thông suốt

Mục đích: Xây dựng hệ thống điều kiện cần và đủ đáp ứng cho hoạt động đào tạo; tổ chức sử dụng các nguồn lực hợp lý, tối ưu, trực tiếp phục vụ cho hoạt động đào tạo

Nội dung quản lý đầu vào:

- Quản lý tuyển sinh: Đây là công việc khởi đầu của quá trình đào tạo nhưng mang ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại, phát triển của trường cao đẳng nghề Do đó cần xây dựng hệ thống thông tin, dịch vụ đào tạo hỗ trợ công tác tuyển sinh, đa dạng hóa nguồn tuyển sinh Kết hợp vận dụng tốt chính sách phân luồng học sinh THPT Hiện tại, xã hội đang bắt đầu quan tâm tới hiệu quả thiết thực của việc học, nhạt dần xu hướng chạy theo bằng cấp Kết nối hệ thống thông tin thị trường lao động và việc làm, trên cơ sở đó điều chỉnh số lượng tuyển sinh theo ngành nghề phù hợp

- Quản lý xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo với tiêu chí: đào tạo ra người lao động kỹ thuật thực hành, có thể đảm nhận yêu cầu công việc Trên cơ sở mục tiêu đã định, kế hoạch đào tạo được thiết kế theo hướng tiếp cận, phát triển năng lực thực hiện cho HSSV

- Quản lý liên kết các nguồn lực phục vụ đào tạo nghề như: Đội ngũ CBGV, CSVC, thiết bị dạy học cần được cân đối hợp lý trên nguyên tắc: cân bằng về lợi ích, chia sẻ về trách nhiệm

Trang 31

Việc quản lý các thành tố đầu vào đòi hỏi trường cao đẳng nghề xây dựng kế hoạch quản lý, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra thường xuyên

b Quản lý quá trình đào tạo

Quá trình đào tạo gồm: Nội dung, phương pháp dạy, học thực hành, thực tập, phương pháp kiểm tra, đánh giá

Vai trò của quản lý quá trình trong đào tạo nghề: Quản lý quá trình trong đào tạo giúp khơi dậy tiềm năng, hình thành năng lực cho HSSV, cải biến, phát triển nhân cách người học; quá trình đào tạo là giai đoạn trực tiếp tạo ra sản phẩm của hoạt động đào tạo Do vậy, quản lý quá trình giúp hiện thực hoá mục tiêu, kế hoạch đào tạo, phát huy tối đa hiệu quả các nguồn lực, đảm bảo thương hiệu, uy tín nhà trường, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động

về chất lượng sản phẩm đào tạo

Mục đích: Bảo đảm quá trình đào tạo đạt chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường sức lao động; bảo đảm chất lượng đào tạo toàn diện, thực hiện đầy

đủ mục tiêu, kế hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy

Nội dung: Theo CIPO, quản lý quá trình đào tạo là quản lý các nội dung:

- Quản lý hoạt động dạy và học, chú ý tới quản lý sự đổi mới về nội dung chương trình đào tạo - một trong những yếu tố quyết định chất lượng hoạt động đào tạo Về bản chất, chương trình là một hoạt động mang tính tập thể là sản phẩm trí tuệ của rất nhiều người thuộc nhiều cấp độ khác nhau và thuộc nhiều cương vị xã hội khác nhau Tuy nhiên, chương trình trong đào tạo cần đáp ứng yêu cầu thực tế của thị trường lao động và được bắt đầu từ việc xác định nhu cầu đào tạo, phân tích nghề trước khi xây dựng nội dung đào tạo Có nghĩa là, việc xây dựng chương trình phải dựa trên tiêu chí: cái thị trường cần và sự đáp ứng nhu cầu thực tế

- Quản lý sự thay đổi trong nhận thức của giáo viên Giáo viên phải hiểu và nắm vững mục tiêu giảng dạy, chú trọng phát triển năng lực cho

Trang 32

HSSV Học tập, bồi dưỡng hoàn thiện kỹ năng nghề cho bản thân, cập nhật tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ

- Quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của HSSV tại nhà trường Có thể coi hoạt động học tập, rèn luyện của HSSV là thành tố trung tâm của quá trình dạy học và giáo dục bao gồm: hoạt động học tập, rèn luyện trên lớp; hoạt động học tập, rèn luyện tại xưởng thực hành; hoạt động học tập, rèn luyện ngoài giờ học Người quản lý cần theo dõi, hướng dẫn, tổ chức cho HSSV tham gia thực hiện các hoạt động trên đồng thời thiết lập mối quan hệ bốn bên: Nhà trường - Gia đình - Các tổ chức xã hội cùng phối hợp giáo dục, quản

Vai trò của quản lý đầu ra: Quản lý đầu ra cho biết thông tin phản hồi về chất lượng quá trình đào tạo đồng thời khẳng định thương hiệu của

cơ sở đào tạo, khẳng định vị thế nhà trường trong bối cảnh cạnh tranh đầy biến động

Mục đích: Nhằm nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo, phát huy nội lực, sức mạnh, sự năng động cho nhà trường

Nội dung quản lý đầu ra:

- Quản lý đầu ra qua số lượng, chất lượng HSSV tốt nghiệp có việc làm đáp ứng đúng ngành, nghề đào tạo Để quản lý được nội dung này, nhất thiết nhà trường phải mở rộng quan hệ, thiết lập đường dây liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp

Trang 33

- Quản lý tư vấn hướng nghiệp: Về bản chất, thị trường lao động là nơi phát sinh nhu cầu và yêu cầu đối với người lao động và cũng là cầu nối giữa

cơ sở đào tạo và doanh nghiệp Để tiếp nhận yêu cầu cụ thể của thị trường lao động, rất cần hoạt động tư vấn hướng nghiệp Quản lý tư vấn hướng nghiệp cần có sự tham gia của doanh nghiệp để giúp HSSV nhanh chóng thích ứng với nghề, an tâm với nghề đã chọn, đồng thời giải quyết được tình trạng thất thoát nguồn lực và chi phí do HSSV từ bỏ nghề đã học để tìm kiếm một nghề mới hay một cơ hội học tập khác

d Điều tiết tác động của bối cảnh

Bối cảnh là toàn bộ các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, bối cảnh là thử thách không nhỏ tiềm

ẩn nhiều yếu tố tiêu cực cũng như tích cực Trên cơ sở đó, phát huy tối đa tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực

Vai trò của điều tiết tác động từ bối cảnh: Điều tiết tác động của bối cảnh giúp nhà trường chủ động trong mọi hoạt động đào tạo, thực hiện được

kế hoạch mục tiêu đã định Nếu không thực hiện điều tiết tác động của bối cảnh, hoạt động đào tạo dễ bị chi phối, ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch, kết quả đạt được lệch với mục tiêu ban đầu

Mục đích: Phát huy những tác động tích cực, kìm hãm tác động tiêu cực ảnh hưởng tới hoạt động đào tạo do ngoại cảnh đem lại Góp phần dự đoán nhu cầu nhân lực trong tương lai

Nội dung: Điều tiết các tác động của bối cảnh là hoạt động khá phức tạp đòi hỏi phải có sự nhạy bén, khả năng quan sát, phân tích, dự báo xu hướng vận động của kinh tế - xã hội Đặt trong bối cảnh rộng lớn của những biến động về kinh tế, chính trị, xã hội, sự phát triển khoa học công nghệ; xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, thị trường hoá giáo dục; đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước về đào tạo nghề; chiến lược phát triển giáo dục, phát

Trang 34

triển nhân lực Việt Nam trong từng thời kỳ; văn bản quy phạm pháp luật; các chỉ thị, hướng dẫn, thông tư về giáo dục nghề nghiệp; nhu cầu phát triển nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; trình độ nhân lực Việt Nam so với các nước trong khu vực và quốc tế; nhận thức, tâm lí xã hội về đào tạo nghề vừa là khó khăn, thách thức nhưng cũng là cơ hội cho hoạt động đào tạo nghề Trước vô vàn các tác động đó, nhà trường cần điều tiết, giảm thiểu những khó khăn, những ảnh hưởng tiêu cực do kinh tế thị trường đem lại, tận dụng mọi thuận lợi hướng hoạt động đào tạo nghề đi đúng đường lối phát triển nhân lực của đất nước Để điều tiết những tác động ngoại cảnh, rất cần có đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường đủ năng lực, nhiệt huyết với sự nghiệp đào tạo, phát triển nhân lực

Có thể nói, xu thế sử dụng CIPO trong quản lý đào tạo nghề trong trường cao đẳng nghề đang được quan tâm và tìm hướng vận dụng Khi đó, quản lý đào tạo nghề được đặt trong một môi trường “vận động” có ý nghĩa toàn diện hơn, chứ không chỉ là vấn đề thông tin phản hồi từ người lao động

đã tốt nghiệp, từ các doanh nghiệp sử dụng lao động hoặc vấn đề bảo đảm chất lượng của tổ chức, cơ sở đào tạo

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Quản lý đào tạo nghề theo mô hình CIPO khác biệt với đào tạo kiểu truyền thống ở mọi yếu tố từ đầu vào, quá trình dạy học đến đầu ra dưới tác động của bối cảnh Quản lý đào tạo nghề theo mô hình CIPO đã bước đầu hình thành, phát triển và đang được vận dụng vào điều kiện phát triển của Việt Nam Ưu điểm lớn nhất của phương thức quản lý đào tạo này là quá trình đào tạo luôn được tiệm cận gần nhất với yêu cầu của thực tiễn sản xuất và nhu cầu của doanh nghiệp Tuy nhiên, để phát huy tốt những ưu điểm của phương thức quản lý đào tạo này đòi hỏi các điều kiện đi kèm (đội ngũ CBGV, trang thiết bị dạy học, chương trình đào tạo ) phải đồng bộ và đáp ứng những yêu cầu của quá trình đào tạo Đối với các trường cao đẳng nghề hiện nay, hoạt động quản lý đào tạo đang gặp nhiều vấn đề khó khăn như: thiếu sự quan tâm của học sinh và gia đình học sinh đến việc học nghề; nội dung đào tạo chưa theo kịp với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật; yêu cầu của thị trường lao động ngày càng cao Đó cũng là một vấn đề mà các cán bộ quản lý giáo dục, quản lý đào tạo nghề và lãnh đạo các trường cần quan tâm giải quyết Quản lý đào tạo nghề hướng tới chất lượng hiện nay có nhiều cấp độ và mô hình quản lý có thể vận dụng tùy thuộc vào quy mô, điều kiện thực tế của mỗi cơ sở đào tạo Mô hình CIPO là phù hợp để các trường cao đẳng nghề vận dụng trong quản lý đào tạo nghề bởi cách tiếp cận trong mô hình vận dụng này là tiếp cận theo quá trình, tiếp cận theo định hướng đầu ra và tiếp cận thị trường - hướng tới chất lượng, đồng thời trong mô hình vận dụng thì vai trò của doanh nghiệp như là một đối tác trong quá trình quản lý của chủ thể nhà trường và qua đó doanh nghiệp đã tham gia vào các hoạt động đào tạo nghề và quản lý đào tạo nghề

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ -

KINH TẾ SIMCO SÔNG ĐÀ

2.1 Tổng quan về trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Công nghệ - Kinh tế SIMCO Sông Đà

Trường CĐN SIMCO Sông Đà được hình thành và phát triển từ năm

2000 cùng với sự ra đời của Công ty Cổ phần SIMCO Sông Đà (đơn vị trực thuộc Tổng công ty Sông Đà) với nhiệm vụ là tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ SCN, TCN, CĐN nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động và

xã hội

Trụ sở Nhà trường đặt tại xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội

Cơ sở vật chất của Nhà trường tương đối đầy đủ với các khu nhà Hiệu bộ, hội trường, giảng đường, xưởng thực hành, ký túc xá, nhà ăn, sân thể thao

Sơ đồ tổ chức của Nhà trường:

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức trường CĐN SIMCO Sông Đà

Trang 37

Quá trình hình thành và phát triển:

- Năm 2000: Trung tâm Đào tạo ngoại ngữ và Giáo dục định hướng

cho lao động xuất khẩu

- Năm 2006: Trường Trung cấp nghề SIMCO Sông Đà

- Năm 2009: Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Công nghệ - Kinh tế

SIMCO Sông Đà

Nhà trường thực hiện đào tạo nghề với phương châm: Học đi đôi với hành, lấy thực hành, thực tập kỹ năng nghề tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp; đảm bảo tính

giáo dục toàn diện

- Điện công nghiệp; - Gia công kết cấu thép;

- Điện tử dân dụng; - Kỹ thuật điều dưỡng viên;

- Lắp đặt điện nước; - Lập trình máy tính;

- May công nghiệp; - Quản trị mạng máy tính;

Các hoạt động chính của Nhà trường:

- Đào tạo dài hạn: Trình độ TCN, CĐN

- Đào tạo ngắn hạn: Trình độ SCN cho lao động nông thôn theo quyết định 1956 của Chính phủ

- Bồi dưỡng tay nghề cho lao động đi làm việc tại nước ngoài

- Tư vấn, giới thiệu việc làm trong nước và xuất khẩu lao động

Trang 38

2.2 Thực trạng quản lý đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật

- Công nghệ - Kinh tế SIMCO Sông Đà

2.2.1.Bối cảnh

Trong khoảng gần 10 năm trở lại đây, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới Tháng 1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam trở thành thành viên bình đẳng về pháp lý và có khuôn khổ pháp luật phù hợp với WTO, qua đó mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài Từ

đó, tạo thêm được việc làm, thu nhập và các sản phẩm của Việt Nam vươn ra thị trường thế giới

Tháng 10/2015, Việt Nam và 11 nước khác đã đàm phán thành công hiệp định TPP Đây là hiệp định sẽ mang lại lợi ích cho người dân tất cả các nước, giải quyết các thách thức của thế kỷ 21 TPP được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo mới và duy trì công ăn việc làm, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, cải thiện mức sống, giảm đói nghèo, đồng thời tăng cường minh bạch, khả năng quản trị và bảo vệ môi trường tại các nước thành viên

Theo kế hoạch hành động đã được các nguyên thủ các nước ASEAN thông qua, tháng 12/2015 sẽ thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) Theo kế hoạch này, AEC sẽ là một khu vực kinh tế ổn định, thịnh vượng, có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hoá, dịch vụ và vốn đầu tư được lưu chuyển thông thoáng, kinh tế phát triển đồng đều, nghèo đói và phân hoá kinh

tế - xã hội giảm bớt Mục tiêu của AEC là thúc đẩy phát triển kinh tế một cách công bằng, thiết lập khu vực kinh tế có năng lực cạnh tranh cao để ASEAN có thể hội nhập đầy đủ và vững chắc vào nền kinh tế toàn cầu AEC được kỳ vọng là cộng đồng năng động nhất, có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu với GDP sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm tới Hình thành AEC sẽ

Trang 39

giúp thị trường lao động trong ASEAN sôi động hơn, thúc đẩy tạo việc làm cho từng quốc gia thành viên Tuy nhiên, do trình độ phát triển không đồng đều nên hiện nay, lao động có tay nghề và kỹ năng cao trong khối chủ yếu đến các nước phát triển hơn như Singapore, Malaysia và Thái Lan Còn lại, hầu hết các lao động di chuyển trong phạm vi ASEAN là lao động trình độ kỹ năng thấp hoặc không có kỹ năng Khi tham gia AEC, Việt Nam có những lợi thế nhất định, nhất là về quy mô lao động cơ cấu lao động trẻ Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp, cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, do vậy, tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động chính thức còn thấp Chất lượng và

cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập Nguồn nhân lực có chất lượng thấp có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là công tác đào tạo hiện nay chưa phù hợp, chất lượng đào tạo còn hạn chế, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, giữa dạy chữ với dạy người, dạy nghề …

Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ bao gồm 07 tỉnh và thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên và Vĩnh Phúc Đây là trung tâm kinh tế năng động, là một đầu tầu kinh tế quan trọng của miền Bắc và cả nước Những năm gần đây, việc phát triển kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ luôn được chú trọng đầu tư bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, cả trong và ngoài nước Vùng tập trung hầu hết các cơ sở giáo dục, đào tạo Cơ cấu kinh tế vùng chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hóa

- hiện đại hóa, tăng nhanh tỉ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ Đặc biệt tập trung phát triển các ngành kỹ thuật cao tạo ra các sản phẩm mũi nhọn, gắn với thị trường như các sản phẩm của ngành công nghiệp phụ trợ mà vùng có lợi thế cạnh tranh như ngành cơ khí chế tạo thiết bị, phụ tùng và sản xuất linh kiện điện, điện tử … Trong quá trình phát triển, nhu cầu về công nhân kỹ thuật ngày càng cao Các ngành công nghiệp như lắp ráp, điện tử, cơ khí …

Trang 40

luôn trong tình trạng thiếu lao động lành nghề Mặc dù là vùng tập trung nhiều cơ sở giáo dục, đào tạo nhưng việc đào tạo hiện nay chạy theo số lượng

mà không gắn với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, số lượng HSSV trong các hệ thống đào tạo nghề còn rất hạn chế

Theo mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Phát triển nguồn nhân lực được xác định là một trong ba giải pháp đột phá chiến lược, trong đó chất lượng dạy nghề có vị trí đặc biệt trong góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh nguồn nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm qua, lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp đã được Nhà nước

và xã hội quan tâm đầu tư nhằm nâng cao chất lượng đào tạo góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước trong tình hình mới Việc đẩy mạnh đầu tư thông qua việc tăng cường cơ sở vật chất thiết bị hiện đại phù hợp với yêu cầu kỹ thuật công nghệ trong sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo về kỹ năng nghề và kỹ năng sư phạm nghề Chương trình, giáo trình cũng được thường xuyên cập nhật, đổi mới, đặc biệt đã nhận chuyển giao một số chương trình của các nước trong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới Công tác quản

lý và kiểm soát chất lượng được chú trọng thông qua việc triển khai đồng bộ

hệ thống kiểm định chất lượng dạy nghề ở tất cả các cấp trình độ Mặc dù đã được đầu tư lớn trong những năm vừa qua, những vẫn có tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ giữa các nghề, chưa có sự cân đối trong nội dung đầu

tư Nhiều cơ sở dạy nghề đầu tư hoặc quá nhiều về cơ sở vật chất thiết bị, ít quan tâm tới việc nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên hoặc cán bộ quản

lý Có nhiều cơ sở đào tạo quá chú trọng đến việc đưa các phương pháp giảng dạy mới, phần mềm dạy học mà chưa chú trọng đến việc thay đổi chương

Ngày đăng: 23/04/2018, 07:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Đặng Quốc Bảo, 2000, Quản lý cơ sở vật chất, quản lý tài chính trong quản lý giáo dục, Tài liệu trường Cán bộ quản lý và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý cơ sở vật chất, quản lý tài chính trong quản lý giáo dục
10. Đặng Quốc Bảo, Bùi Việt Phú, 2013, Một số góc nhìn về phát triển và quản lý giáo dục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số góc nhìn về phát triển và quản lý giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Nguyễn Ngọc Bảo, Trần Kiềm, 2006, Lí luận dạy học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
12. Nguyễn Văn Bình, Trần Đình Huỳnh, Đặng Quốc Bảo, 1999, Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Thống kê
13. Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến, 2002, Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn, NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
14. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2002, Cơ sở khoa học quản lý, Đề cương bài giảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học quản lý
15. Vũ Cao Đàm, 2009, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Nguyễn Minh Đạo, 1997, Cơ sở khoa học quản lý, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học quản lý
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
17. Nguyễn Minh Đường, 1996, Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, Chương trình KHCN cấp Nhà nước KX-07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới
18. Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha, 2006, Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
19. Trần Khánh Đức, 2002, Giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Đỗ Thị Thúy Hằng, 2012, Đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục, NXB khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục
Nhà XB: NXB khoa học và kỹ thuật
21. Phan Văn Kha, 2007, Giáo trình quản lý nhà nước về giáo dục, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nhà nước về giáo dục
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
22. Phan Văn Nhân, 2009, Giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
23. Nguyễn Ngọc Quang, 1989, Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Tài liệu trường Cán bộ quản lý và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục
24. Nguyễn Viết Sự, 2005, Giáo dục nghề nghiệp - Những vấn đề và giải pháp, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục nghề nghiệp - Những vấn đề và giải pháp
Nhà XB: NXB Giáo dục
25. Nguyễn Quang Toản, 2001, TQM & ISO, Thiết lập hệ thống quản lý hướng vào chất lượng, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết lập hệ thống quản lý hướng vào chất lượng
Nhà XB: NXB Thống kê
26. Nguyễn Đức Trí, Phan Chính Thức, 2010, Một số vấn đề về quản lý cơ sở dạy nghề, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản lý cơ sở dạy nghề
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
27. Phạm Viết Vượng, 2012, Giáo dục học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
28. Tạp chí Cộng sản, 2012, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH và hội nhập quốc tế”, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH và hội nhập quốc tế”
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w