Thí nghiệm 3.1: Khảo sát mật độ nuôi cấy, thể tích môi trường lên nhân nhanh PLB trong hệ thống Plantima .... Ứng dụng hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời trong nhân giống cây lan Hồ Đi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC THỰC VẬT
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Trịnh Thị Lan Anh Sinh viên thực hiện : Ưng Thị Mỹ Tiên MSSV: 0811110086 Lớp: 08CSH2
Trang 2-
-Em xin cam đoan bài khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và một phần thực nghiệm
Trang 3- -
Trước tiên con xin gửi những lời thân thương nhất đến cha mẹ, người
đã nuôi nấng dạy dỗ con từng ngày Ba mẹ là chỗ dựa vững chắc nhất của con, là nguồn động viên, giúp con đứng vững sau những lần vấp ngã và là nguồn động lực lớn để con tiếp tục phấn đấu hơn trong học tập và cuộc sống
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành bày tỏ lời cám ơn đến:
- Toàn thể quý Thầy Cô Khoa Môi Trường và Công Nghệ Sinh Học, cùng toàn thể Thầy Cô Trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM đã quan tâm, nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu về cơ
sở cũng như chuyên ngành cho em trong suốt ba năm học và đã tạo điều kiện tốt cho em trong thời gian làm đề tài tốt nghiệp
- Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Th.S Trịnh Thị Lan Anh, người cô đáng kính đã hết lòng quan tâm, nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và tài liệu tham khảo để em có thể hoàn thành tốt đề tài này
- Đồng thời em xin chân thành cảm ơn các anh chị Phòng Công Nghệ Sinh Học Thực Vật - toàn thể cô chú, các anh chị cán bộ công nhân viên tại Trung Tâm Công Nghệ Sinh Học Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em được học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, truyền đạt kiến thức và tài liệu tham khảo để em hoàn thành đề tài một cách tốt đẹp
- Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể tập thể 08CSH đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian qua
Em xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2011
SVTH: Ưng Thị Mỹ Tiên
Trang 4Nội dung Trang
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC ĐỒ THỊ xii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Giới thiệu sơ lược về kỹ thuật nuôi cấy in vitro 5
1.1.1 Lịch sử và những thành tựu đạt được trong nuôi cấy in vitro
5
1.1.2 Các bước nhân giống in vitro 6
1.1.3 Các kỹ thuật nuôi cấy in vitro 6
1.1.3.1 Nuôi cấy nốt đơn thân 6
1.1.3.2 Nuôi cấy chồi bên 6
1.1.3.3 Nuôi cấy đỉnh sinh trưởng 6
1.1.3.4 Nuôi cấy mô sẹo 7
Trang 51.1.3.7 Nuôi cấy protoplast (tế bào trần) 8
1.1.4 Ưu và nhược điểm của kỹ thuật nhân giống in vitro 8
1.1.4.1 Ưu điểm 8
1.1.4.2 Nhược điểm 9
1.2 Tình hình sản xuất hoa Lan trên thế giới và ở Việt Nam 9
1.2.1 Tình hình sản xuất hoa Lan trên thế giới 9
1.2.2 Tình hình sản xuất hoa Lan ở Việt Nam 11
1.3 Giới thiệu về Lan Hồ Điệp 12
1.3.1 Nguồn gốc và phân bố 12
1.3.2 Phân loại khoa học 15
1.3.3 Đặc điểm hình thái 16
1.3.3.1 Cơ quan sinh dưỡng 18
1.3.3.2 Cơ quan sinh sản 18
1.3.4 Điều kiện sinh thái của Lan Hồ Điệp 20
1.3.4.1 Nhiệt độ 20
1.3.4.2 Độ ẩm 20
1.3.4.3 Ánh sáng 20
1.3.4.4 Độ thông thoáng 21
1.3.4.5 Nhu cầu nước tưới 21
1.3.4.6 Dinh dưỡng 22
1.3.4.7 Một số sâu bệnh và cách phòng trị 22
1.3.4.8 Chậu, giá thể và cách trồng 24
1.3.5 Giá trị kinh tế và tình hình sản xuất Lan Hồ Điệp 24
1.3.5.1 Giá trị kinh tế của Lan Hồ Điệp 24
1.3.5.2 Tình hình sản xuất Lan Hồ Điệp 26
Trang 61.3.6.2 Phương pháp nhân giống hiện đại 30
1.4 Giới thiệu hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời TIS 32
1.4.1 Giới thiệu 32
1.4.2 Nguyên tắc vận hành và cấu trúc cơ bản hệ thống 33
1.4.3 Phân loại hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời 34
1.4.3.1 Hệ thống thùng nghiêng và hệ thống Rocker 35
1.4.3.2 Hệ thống ngập hoàn toàn và cơ chế thay mới môi trường dinh dưỡng 35
1.4.3.3 Hệ thống ngập một phần và cơ chế thay mới môi trường dinh dưỡng 36
1.4.3.4 Hệ thống ngập hoàn toàn có sự vận chuyển môi trường lỏng bằng áp lực không khí và không có sự thay mới môi trường 37
1.4.4 Một số hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời 38
1.4.4.1 Hệ thống RITA® 38
1.4.4.2 Hệ thống bình sinh đôi BIT® 39
1.4.4.3 Hệ thống Plantima® 40
1.4.5 Ứng dụng hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời trong vi nhân giống trên thế giới và ở Việt Nam 42
1.4.5.1 Thành tựu trên thế giới 42
1.4.5.2 Thành tựu ở Việt Nam 46
1.4.6 Ưu và nhược điểm của hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời 47
1.4.6.1 Ưu điểm 47
1.4.6.2 Nhược điểm 48
Trang 71.5.2 Một số môi trường thường được dùng trong nuôi cấy in vitro
49
1.5.3 Thành phần các chất khoáng vô cơ 50
1.5.3.1 Khoáng đa lượng 50
1.5.3.2 Khoáng vi lượng 52
1.5.4 Carbon và nguồn năng lượng 54
1.5.5 Vitamin 55
1.5.6 Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật 55
1.5.7 Một số yếu tố khác trong môi trường nuôi cấy mô Lan 55
1.5.7.1 Các chất hấp phụ phenol 55
1.5.7.2 Nước dừa và các dịch chiết khác 56
1.5.7.3 Yếu tố làm đặc môi trường 57
1.5.7.4 Ảnh hưởng của pH 58
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 59
2.1 Địa điểm thí nghiệm 59
2.2 Vật liệu nghiên cứu 59
2.2.1 Vật liệu 59
2.2.2 Môi trường nuôi cấy 61
2.2.3 Điều kiện thí nghiệm 61
2.3 Phương pháp nghiên cứu 61
2.3.1 Cách pha môi trường 61
2.3.1.1 Cách pha dung dịch mẹ 61
2.3.1.2 Cách pha môi trường cấy 62
2.3.2 Hấp khử trùng 62
2.3.2.1 Hấp khử trùng môi trường nuôi cấy 62
Trang 82.3.4 Cách bố trí thí nghiệm 64
2.3.4.1 Thí nghiệm 1: Thiết lập môi trường và điều kiện thích hợp để vi nhân giống 64
2.3.4.2 Thí nghiệm 2: Thiết lập nuôi cấy vô trùng trong hệ thống Plantima của Đài Loan 67
2.3.4.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu sự nhân nhanh PLB trong hệ thống Plantima của Đài Loan 68
2.4 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 69
2.5 Chuyển cây con ra vườn ươm 69
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 70
3.1 Thí nghiệm 1: Thiết lập môi trường và điều kiện thích hợp để vi nhân giống 70
3.1.1 Thí nghiệm 1.1: Thiết lập môi trường và điều kiện thích hợp để khởi tạo và nhân nhanh PLB 70
3.1.1.1 Xác định nồng độ chất ĐHSTTV tối ưu cho sự biệt hóa PLB từ mẫu lá 70
3.1.1.2 Xác định nồng độ chất ĐHSTTV tối ưu để nhân nhanh PLB 74
3.1.1.3 Khảo sát ảnh hưởng của đường lên sự nhân nhanh PLB 79
3.1.2 Thí nghiệm 1.2: Khảo sát sự tái sinh chồi từ PLB 83
3.1.3 Thí nghiệm 1.3: Khảo sát ảnh hưởng của NAA lên sự ra rễ của chồi Lan Hồ Điệp 87
3.2 Thí nghiệm 2: Thiết lập nuôi cấy vô trùng trong hệ thống Plantima của Đài Loan 89
Trang 93.3.1 Thí nghiệm 3.1: Khảo sát mật độ nuôi cấy, thể tích môi
trường lên nhân nhanh PLB trong hệ thống Plantima 93
3.3.2 Thí nghiệm 3.2: Khảo sát ảnh hưởng của tần suất ngập lên quá trình nhân nhanh PLB trong hệ thống Plantima 101
3.4 Theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của cây Hồ Điệp ngoài vườn ươm 106
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 109
4.1 Kết luận 109
4.1.1 Thiết lập môi trường vi nhân giống 109
4.1.2 Ứng dụng hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời trong nhân giống cây lan Hồ Điệp lai Dtps Taida Salu cho phép đưa ra các kết luận sau 109
4.2 Đề nghị 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 118
Trang 10- -
NAA - naphthaleneacetic acid
FeEDTA Ferric Ethylenediamine - tetraacetic Acid
TIS Temporary Immersion System (hệ thống
SPSS Chương trình Statistical Program Scientific
System APCS Automated Plant Culture System (hệ thống
nuôi cấy thực vật tự động) RITA The Recipient for Automated Temporary
Immersion System
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
ĐHSTTV Điều hòa sinh trưởng thực vật
NN& PTNT Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Trang 11- -
Bảng 1.1 Thành phần các chất khoáng vô cơ trong một số môi trường
nuôi cấy thông dụng (mg/l) 53 Bảng 2.1 Môi trường khảo sát ảnh hưởng của nồng độ các chất
ĐHSTTV lên sự hình thành PLB từ lá 65
Bảng 2.2 Môi trường khảo sát ảnh hưởng của chất ĐHSTTV lên sự
nhân PLB 65
Bảng 2.3 Môi trường khảo sát ảnh hưởng của loại đường và nồng độ
đường sử dụng lên sự nhân PLB 66
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của nồng độ các chất ĐHSTTV lên sự hình thành
PLB từ lá 70
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của chất ĐHSTTV lên sự nhân nhanh PLB từ một
PLB ban đầu 74
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của 2 loại đường lên sự nhân PLB 79
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của BA lên sự tái sinh chồi từ PLB của giống 1
Trang 12103
Trang 13
- -
Hình 1.1 Lan Hồ Điệp ấn 14
Hình 1.2 Lan tiểu Hồ Điệp 14
Hình 1.3 Phalaenopsis cornu x cervi 15
Hình 1.4 Sự đa dạng và phong phú về màu sắc, hình dáng Lan Hồ Điệp 17
Hình 1.5 Keiki của Lan Hồ Điệp 20
Hình 1.6 Nhện đỏ hại Lan 24
Hình 1.7 Hệ thống APCS của Tisserat và Vandercook, (1985) 35
Hình 1.8a Hệ thống của Aitken – Christie và Davies (1988) 37
Hình 1.8b Hệ thống của Simonton và cộng sự (1991) 37
Hình 1.9 Hệ thống RITA® 39
Hình 1.10 Hệ thống bình đôi BIT® 40
Hình 1.11 Các thành phần của bình Plantima, Đài Loan 41
Hình 1.12 Hệ thống Plantima với hệ thống điều khiển chu kỳ ngập 41
Hình 1.13 Hệ thống Plantima 42
Hình 2.1 Các giống Lan Hồ Điệp sử dụng trong các thí nghiệm 60
Hình 3.1 PLBs hình thành từ mẫu lá nuôi cấy trên các môi trường khác nhau 73
Hình 3.2 PLBs và chồi của giống 1 (Dtps Taida Salu) trên các môi trường MS có nồng độ chất ĐHSTTV khác nhau 77
Hình 3.3 PLBs và chồi của giống 2 (Dtps Taida Firebird) trên các môi trường MS có nồng độ chất ĐHSTTV khác nhau 78
Trang 14Hình 3.5 Ảnh hưởng của BA lên sự tái sinh chồi từ PLB 86
Hình 3.6 Ảnh hưởng của các nồng độ NAA khác nhau lên sự ra rễ và
sinh trưởng chồi của hai giống Lan Hồ Điệp giống 1 và giống
2 88
Hình 3.7 Sự sinh trưởng và phát triển của Lan Hồ Điệp trong bình
Plantima 92
Hình 3.8 Ảnh hưởng mật độ mẫu cấy lên sự nhân nhanh PLBs 96
Hình 3.9 Ảnh hưởng của thể tích môi trường nuôi cấy lên sự nhân
nhanh PLBs 100
Hình 3.10 Ảnh hưởng của tần suất ngập chìm lên sự nhân nhanh PLBs
105
Hình 3.11 Cây con Lan Hồ Điệp giai đoạn vườn ươm 107
Hình 3.12 Tóm tắt qui trình nhân giống Lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp
có sử dụng hệ thống ngập chìm tạm thời 108
Trang 15- -
Đồ thị 3.1 Ảnh hưởng của chất ĐHSTTV lên sự nhân nhanh PLB từ một
PLB ban đầu 75
Đồ thị 3.2 Ảnh hưởng của 2 loại đường lên sự nhân PLB 81
Đồ thị 3.3 Ảnh hưởng của mật độ mẫu cấy đến sự nhân nhanh PLB trên
Trang 17LỜI MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hiện nay Lan Hồ Điệp (Phalaenopsis sp.) nói chung với các loại Lan
khác nói riêng được xem là cây trồng đem lại nhiều hiệu quả kinh tế cao; do
đó đã có nhiều nhà vườn mạnh dạn đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ
lúa, hoa màu sang trồng Lan và đạt hiệu quả kinh tế cao gấp 2 - 3 lần so với
cây trồng khác Lan Hồ Điệp là một trong những loài Lan quý đang rất được
ưa chuộng và đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp hoa cắt cành
cũng như cây cảnh trên thế giới Chúng không chỉ đẹp về màu sắc, kiểu dáng
mà còn mang một vẻ đẹp sang trọng và trang nhã
Tuy nhiên, số lượng sản xuất cây Lan hiện nay vẫn chưa đáp ứng được
nhu cầu ngày càng tăng của thị trường Nguyên nhân do Lan Hồ Điệp là loài
sinh trưởng chậm và là một loài Lan rất khó nhân giống, thường cho hệ số
nhân thấp trong điều kiện vườn ươm Để có được số lượng lớn cây giống
chất lượng tốt cung cấp cho thị trường sản xuất còn gặp nhiều khó khăn
Hiện tại có một số trường Đại Học, Viện nghiên cứu có hướng phát triển
trên những kỹ thuật mới như: Bioreactor, Nuôi cấy quang tự dưỡng… nhưng
vẫn chưa được áp dụng rộng rãi
Trong những năm gần đây, phương pháp nuôi cấy đỉnh sinh trưởng
đối với cây Lan Hồ Điệp nhằm tạo cây giống sạch bệnh rất được quan tâm
Tuy nhiên phương pháp này thực hiện khó thành công vì đỉnh sinh trưởng
quá nhỏ nên không thể tái sinh hoặc chết đi qua các lần khử trùng Lan Hồ
Điệp là loại Lan đơn thân, thân ngắn và mỗi cây cho một đỉnh sinh trưởng
nên để có nguồn mẫu in vitro cần phải có nhiều mẫu ban đầu làm tăng chi
phí quá trình nuôi cấy Vì vậy, hiện nay các nhà nuôi cấy mô trong nước
Trang 18cũng như trên thế giới thường dùng phát hoa làm vật liệu nuôi cấy, phát hoa
Lan Hồ Điệp có chứa các mắt ngủ có thể tạo thành chồi Do đó, phương
pháp nuôi cấy phát hoa in vitro để tạo chồi được xem là đặc trưng ở Lan Hồ
Điệp nhưng hệ số nhân giống từ phương pháp này cũng rất thấp
Gần đây, các hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời đã được nhiều
nước trên thế giới triển khai và ứng dụng trong nhân giống nhiều loại cây
trồng Hệ thống này có tác dụng làm tăng cường sức sống của chồi và tăng
khả năng tạo phôi soma, phôi được tạo ra không bị biến dị; loại bỏ được hiện
tượng thủy tinh thể khi nuôi cấy lỏng Thực vật được nhân giống trong hệ
thống ngập chìm có khả năng thích nghi tốt hơn trong giai đoạn thuần hóa
ngoài vườn ươm so với các thực vật được nuôi cấy trong hệ thống bán rắn
hay lỏng
Việc ứng dụng hệ thống ngập chìm tạm thời trong nhân giống hoa
kiểng đặc biệt là Lan Hồ Điệp ở Việt Nam chỉ mới được ứng dụng trong thời
gian gần đây Với mục đích là khảo sát khả năng ứng dụng hệ thống này
trong nâng cao số lượng cũng như chất lượng của cây giống Lan Hồ Điệp
khi so sánh với các hệ thống nuôi cấy thông thường Th.S Cung Hoàng Phi
Phượng và các cộng sự đã ứng dụng thành công hệ thống góp phần mở ra
khả năng sản xuất với số lượng lớn cây giống có chất lượng tốt đáp ứng nhu
cầu thị trường tại Việt Nam
Để từng bước áp dụng công nghệ mới trong sản xuất cây Lan giống ở
nước ta, đẩy nhanh tiến độ sản xuất cây giống theo qui mô công nghiệp, góp
phần khắc phục sự thiếu hụt cây giống trên thị trường Qua đề tài "NHÂN
GIỐNG LAN HỒ ĐIỆP PHALAENOPSIS SP BẰNG KỸ THUẬT NUÔI
CẤY NGẬP CHÌM TẠM THỜI (TIS – Temporary Immersion System)" với
mong muốn có thể tìm hiểu rõ về kỹ thuật nuôi cấy này cũng như những ưu
Trang 19điểm nhân giống Lan Hồ Điệp bằng nuôi cấy ngập chìm so với những
phương pháp nuôi cấy khác.
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định nồng độ chất ĐHSTTV tối ưu cho sự biệt hóa PLB từ mẫu
lá, đồng thời tìm môi trường thích hợp cho sự ra rễ của các chồi Lan Hồ
Điệp nhằm thiết lập nhân nhanh giống cây Lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp
bằng kỹ thuật nuôi cấy ngập chìm tạm thời TIS (Temporary Immersion
System)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nồng độ các khoáng đa lượng trong môi trường MS
và ảnh hưởng của nồng độ và loại đường lên sự nhân nhanh PLB của Lan
Hồ Điệp Qua đó khảo sát việc nhân nhanh PLB bằng hệ thống nuôi cấy
ngập chìm tạm thời Plantima của Đài Loan trên đối tượng Phalaenopsis
Dtps Taida Salu
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học:
Hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời TIS thuộc dạng bioreator đơn
giản Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã xác định việc áp dụng công nghệ TIS
trong vi nhân giống cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, chất lượng cây
giống tốt, nâng cao hệ số nhân chồi gấp 3 - 20 lần so với phương pháp nhân
truyền thống, rút ngắn được thời gian nuôi cấy trong phòng, góp phần làm
giảm giá thành sản phẩm cây giống
Ý nghĩa thực tiễn:
Áp dụng hệ thống TIS trong vi nhân giống hoa Lan ở nước ta là một
công nghệ mới, nó sẽ mở ra triển vọng cho việc sản xuất cây giống theo qui
mô công nghiệp, đáp ứng đủ lượng cây trồng với chất lượng cao cho sản
xuất trong nước và cho xuất khẩu
Trang 20Cây Lan giống sản xuất bằng hệ thống TIS trong nước giúp người
nông dân chủ động sản xuất, hạn chế nhập cây giống từ nước ngoài, góp
phần ngăn chặn được dịch bệnh lây lan từ nước ngoài qua con đường cây
giống
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nuôi cấy PLB trong hệ thống nuôi cấy ngập
chìm tạm thời, nghiên cứu trên 5 giống Lan Hồ Điệp chủ yếu là giống 1
(Dtps Taida Salu) và giống 2 (Dtps Taida Firebird) Thí nghiệm bố trí kiểu
đầy đủ và ngẫu nhiên hoàn toàn
Trang 21CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu sơ lược về kỹ thuật nuôi cấy in vitro
1.1.1 Lịch sử và những thành tựu đạt được trong nuôi cấy in vitro
Năm 1838, hai nhà sinh vật học người Đức, Schleiden và Schwanm
đưa ra thuyết tế bào và nêu rõ mọi cơ thể sinh vật có phức tạp tới đâu thì đều
có cấu tạo đơn vị rất nhỏ là tế bào
Năm 1902, Haberlandt thực hiện nuôi cấy tế bào thực vật đầu tiên từ
lá của một số cây một lá mầm như: Errythronium, Orrnithogalum…
Năm 1922, Kotte và Robins lập lại thí nghiệm của Haberlandt nhưng
trên đỉnh sinh trưởng của rễ một cây hòa thảo, trên môi trường lỏng có muối
khoáng và glucose Tuy nhiên sự sinh trưởng này chỉ kéo dài trong thời gian
ngắn
Năm 1934, White và Gautheret đã nuôi cấy thành công rễ cà chua trên
môi trường muối khoáng và dịch chiết nấm men Cùng thời điểm Nobecourt
và Gautheret duy trì sự sinh trưởng của mô sẹo cà rốt
Năm 1951, Skoog và Miller đã phát hiện ra các hợp chất có thể điều
khiển sự nhân chồi
Năm 1955, các chất kích thích sự phân bào được Skoog đặt tên là
kinetin và gộp với các chất kích thích phân bào tự nhiên gọi là cytokinin
Năm 1956, Morel, học trò của Gautheret, áp dụng thành công nuôi
cấy mô vào cây Lan (Cymbidium) tạo ra các protocorm
Năm 1960 – 1964, Morel cho rằng có thể nhân giống vô tính Lan
bằng nuôi cấy đỉnh sinh trưởng Từ kết quả đó, Lan được xem là cây nuôi
cấy mô đầu tiên được thương mại hóa
Trang 22Đến nay, hầu hết các giống Lan đã được nhân giống nhanh bằng
phương pháp nuôi cấy mô như: Dendrobium, Cattleya, Phalaenopsis, Ngọc
Điểm và ngay cả Lan Hài nổi tiếng của Việt Nam
1.1.2 Các bước nhân giống in vitro
Nhân giống vô tính các cây trồng in vitro gồm các giai đoạn sau:
- Chọn lựa và khử trùng mẫu cấy
- Tạo thể nhân giống in vitro
- Nhân giống in vitro
- Tái sinh cây in vitro hoàn chỉnh
- Chuyển cây con in vitro ra vườn ươm
1.1.3 Các kỹ thuật nuôi cấy in vitro
1.1.3.1 Nuôi cấy nốt đơn thân
Sử dụng mẫu cấy là chồi ngọn hoặc chồi bên có mang một đoạn thân
ngắn Chồi này được kích thích tăng trưởng, ra rễ tạo cây nguyên vẹn, nhiều
chồi và lá được hình thành Tiếp tục cấy chuyền trên môi trường dinh dưỡng
thích hợp đến khi đủ số lượng chồi cần thiết để chúng được cảm ứng ra rễ
trở thành cây con hoàn chỉnh và được chuyển ra trồng trong đất
1.1.3.2 Nuôi cấy chồi bên
Về nguyên tắc, phương pháp này giống như phương pháp nuôi cấy nốt
đơn thân Nhưng khác nhau là trong phương pháp nuôi cấy nốt đơn thân có
sự kéo dài chồi, thân và thường không cần đến cytokinin để phát triển Còn
phương pháp nhân chồi bên, chồi được cô lập trên môi trường dinh dưỡng
và các chồi bên từ nách lá phát triển dưới tác dụng của cytokinin nồng độ
cao Vai trò của cytokinin lúc này là hạn chế ưu tính ngọn để cho các chồi
bên có thể phát triển
1.1.3.3 Nuôi cấy đỉnh sinh trưởng
Chồi ngọn được rửa sạch và khử trùng bằng cồn, hypochlorite
Trang 23calcium Sau đó dùng dao mổ tách rời đỉnh sinh trưởng (gồm vùng mô phân
sinh và cả phần dưới ngọn) ra khỏi ngọn và cấy trên môi trường tái sinh cây
hoàn chỉnh Với phương pháp này, chúng ta tạo được cây sạch bệnh, sạch
virus
1.1.3.4 Nuôi cấy mô sẹo
Tạo mô sẹo được tiến hành lần đầu tiên vào năm 1920, mô sẹo là một
khối tế bào không có tổ chức, hình thành từ các mô hoặc cơ quan đã phân
hoá dưới các điều kiện đặc biệt (vết thương, xử lý hoá chất, tia phóng xạ, )
Các tế bào của mô sẹo phải chịu sự phản phân hoá trước lần phân chia đầu
tiên (Halperin, 1969)
Mô sẹo tăng trưởng nhanh trên môi trường có chất auxin và trong môi
trường không có chất kích thích thì mô sẹo có thể tái sinh thành cây hoàn
chỉnh Cụm mô sẹo có thể tái sinh cùng một lúc nhiều chồi hơn là nuôi cấy
đỉnh sinh trưởng, nhưng khả năng bị biến dị tế bào soma lại cao hơn
1.1.3.5 Nuôi cấy huyền phù tế bào
Huyền phù tế bào được tạo từ các mảnh mô sẹo nuôi cấy trong môi
trường lỏng lắc liên tục Trong môi trường lỏng, mô sẹo phóng thích ra
những tế bào riêng lẻ hay những cụm tế bào dính nhau để hấp thụ các chất
dinh dưỡng Sau đó tế bào được chuyển sang môi trường đặc để tái sinh
thành cây
1.1.3.6 Nuôi cấy thể đơn bội
Cây thể đơn bội mang bộ nhiễm sắc thể giảm đi một nửa, sử dụng
những phần sau cho việc nuôi cấy in vitro:
- Túi phấn: Thu túi phấn từ chồi hoa thì chỉ khử trùng chồi hoa Còn
thu túi phấn của hoa đã nở thì phải khử trùng túi phấn
- Hạt phấn: Được nuôi cấy trên môi trường để tạo mô sẹo
- Cụm hoa: Thường nuôi cấy trong môi trường lỏng
Trang 241.1.3.7 Nuôi cấy protoplast (tế bào trần)
Tế bào thực vật được xử lý bằng hoá lý để tách lớp vỏ cenlulose,
nhưng vẫn còn giữ chức năng của tế bào Trong môi trường thích hợp,
protoplast có thể phân chia tế bào hay tái sinh thành cây (Nguyễn Đức
Lượng, 2002)
Với cách nuôi cấy này, ta có thể áp dụng để chuyển gene vào tế bào
trần hay tạo cây đa bội bằng cách dung hợp hai tế bào trần với nhau
1.1.4 Ưu và nhược điểm của kỹ thuật nhân giống in vitro
1.1.4.1 Ưu điểm
Thuận lợi của phương pháp vi nhân giống trên môi trường bán rắn so
với phương pháp nhân giống truyền thống (giâm, chiết, ghép ) là:
- Những cây nhân giống in vitro đồng nhất về di truyền
- Có khả năng tái sinh cây con từ các vùng mô và cơ quan khác nhau
của cây như: trục thân, lóng thân, phiến lá, cuống lá, hoa, chồi phát hoa, hạt
phấn… mà ngoài tự nhiên không thể thực hiện được
- Hệ số nhân cao, sản xuất được số lượng lớn cây giống trong một
thời gian ngắn nhằm đáp ứng nhu cầu thương mại
- Được nuôi cấy trong điều kiện vô trùng, cây khỏe mạnh, sạch virus
thông qua xử lý nhiệt hay nuôi cấy đỉnh sinh trưởng
- Sản xuất quanh năm và chủ động kiểm soát được các yếu tố ngoại
cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm…
- Tạo cây có khả năng ra hoa, tạo quả sớm
- Tạo dòng toàn cây cái (cây chà là) hoặc toàn cây đực (cây măng
tây) theo mong muốn
- Dễ dàng tạo giống cây trồng mới bằng phương pháp chuyển gen
Trang 25Ngoài ra, phương pháp vi nhân giống còn giảm được nhiều công sức
chăm sóc, nguồn mẫu dự trữ lâu dài và chiếm ít không gian so với phương
pháp nhân giống truyền thống
1.1.4.2 Nhược điểm
Dễ xuất hiện các biến dị soma trong quá trình nuôi cấy, đặc biệt tái
sinh qua mô sẹo
Quá trình nhân giống phức tạp gồm nhiều giai đoạn liên quan và cần
khoảng thời gian dài trước khi có thể thích ứng trồng ngoài vườn ươm
Nhân giống trên môi trường bán rắn có giá thành sản xuất vẫn còn cao
(do sử dụng agar) và thời gian cấy chuyền dài Khi sản xuất ở qui mô công
nghiệp, chi phí cho năng lượng và nhân công vẫn còn rất lớn
Sự đa dạng của dòng sản phẩm nhân giống rất hạn chế cụ thể như đối
với các loài ngũ cốc và sự tái hình thành cây in vitro thường khó xảy ra, đặc
biệt với các cây thân gỗ
1.2 Tình hình sản xuất hoa Lan trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất hoa Lan trên thế giới
Hiện nay nhu cầu về hoa Lan trên thị trường thế giới rất lớn, ngày
càng tăng và mang lại lợi nhuận kinh tế cao Tỷ lệ hàng năm của ngành sản
xuất hoa trên thế giới là 10%, đạt khoảng 40 tỉ USD Trong năm 2000, kim
ngạch xuất nhập khẩu của Lan cắt cành và cây Lan trên thế giới đạt 150 triệu
USD, trong đó Lan cắt cành đạt 128 triệu USD
Thị trường tiêu thụ hoa Lan ở Châu Âu rất hấp dẫn Năm 2006, khối
EU có sản lượng xuất khẩu hoa Lan trên thế giới đạt 55 tỉ sản phẩm, mang
lại giá trị kim ngạch xuất khẩu hoa Lan là 73 EUR Trong đó, Hà Lan là
quốc gia duy nhất ở Châu âu có công nghiệp trồng Lan xuất khẩu, do trồng
nhà kính nên Hà Lan có thể xuất khẩu hoa quanh năm, đồng thời là đầu mối
trung gian nhập khẩu hoa Lan (37%) từ các nước khác trên thế giới Năm
Trang 262006, Hà Lan xuất khẩu hoa Lan chiếm 95% (52.049 ngàn sản phẩm) trên
tổng sản lượng hoa Lan trong khối EU (Nguồn: AIPH/Union Fluer:
International Statistics Flowers an Plants 2007)
Mặc dù, khối châu Âu có sản lượng xuất khẩu hoa Lan cao hơn so với
các khối khác nhưng do nhu cầu tiêu thụ hoa Lan trong khối EU cao nên
trong năm 2006 sản lượng nhập khẩu hoa Lan từ các nước lên tới 155 tỉ sản
phẩm, giá trị kim ngạch nhập khẩu đạt gần 90 tỉ EUR (Nguồn: AIPH/Union
Fluer: International Statistics Flowers an Plants 2007)
Hoa Lan hiện nay đang là mặt hàng xuất khẩu chiến lược, mang lại
nguồn lợi kinh tế cho nhiều quốc gia Châu Á Thái Lan là nước xuất khẩu
chủ yếu là hoa Lan nhiệt đới, đặc biệt là Dendrobium, phổ biến nhất là
Dendrobium sonia và Jumbo White Ngoài ra cũng còn một số loài nổi tiếng
khác như Aranda, Mokara, Vanda và Oncidium Hơn 80% Dendrodium trên
thị trường thế giới là từ Thái Lan Chỉ với loại hoa Lan chủ lực là
Dendrobium, Thái Lan đạt doanh thu mỗi năm gần 600 triệu USD từ giá trị
xuất khẩu loại hoa này
Trong khi đó, Đài Loan là nước đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất
khẩu hoa Lan Hồ Điệp bằng qui trình công nghệ cao, giá trị doanh thu từ
xuất khẩu loại hoa này hàng năm khoảng 43 triệu USD Trên thị trường thế
giới, sản phẩm chủ yếu của hoa Lan Hồ Điệp là hoa chậu, sản phẩm này có
giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần so với Lan Hồ Điệp cắt cành
Hàng năm, Đài Loan sản xuất được 36 triệu cành Phalaenopsis Trong
đó, 12 triệu cành hoa Lan được xuất khẩu ra các nước như: 3 triệu cành đến
Nhật Bản; 3 triệu cành đến Trung Quốc; 2,5 triệu cành tới Hoa Kỳ và 3,5
triệu cành cho các quốc gia khác Vào tháng 6/2004, Hoa Kỳ đã cấp giấy
phép xuất khẩu Phalaenopsis cho Đài Loan trên thị trường Hoa Kỳ (Nguồn:
The world’s fascination with potted orchid- Floraculture Itn.htm)
Trang 271.2.2 Tình hình sản xuất hoa Lan ở Việt Nam
Tại Việt Nam ngành sản xuất kinh doanh hoa kiểng nói chung và Lan
nói riêng trong vòng 10 năm trở lại đây rất phát triển với nhiều chủng loại
Diện tích trồng hoa ở Việt Nam hiện nay là 2.500 ha nhưng hoa Lan
chỉ chiếm 5- 6% Nước ta bắt đầu sản xuất và thương mại hoa Lan tập trung
khoảng 6 năm trở lại đây nhưng tốc độ phát triển khá nhanh Chỉ riêng TP
HCM diện tích vườn Lan tới nay đã gần 80 ha, hoa Lan đang mang lại thu
nhập cao cho nhiều nông hộ Tuy nhiên hiện nay do cây giống trong nước
không đủ cung cấp cho sản xuất, nên các nhà vườn nhập cây giống từ nước
ngoài như: Thái Lan, Đài Loan và Trung Quốc (Nguồn: Báo cáo điều tra
thống kê của Sở NN& PTNT TP.HCM, năm 2008)
Theo thống kê của Sở NN& PTNT TP.HCM trong năm 2003, doanh
số kinh doanh hoa Lan, cây kiểng chỉ đạt 200 - 300 tỉ đồng nhưng đến năm
2005 đã tăng đến 600 - 700 tỉ đồng ngay từ những tháng đầu năm
Theo TS Dương Hoa Xô - Trung tâm Công Nghệ Sinh Học TP
HCM, đến nay đã hoàn thiện qui trình nhân giống in vitro cho 7 nhóm giống
hoa Lan, có khả năng cung cấp 200.000 cây con hoa Lan cấy mô thuộc các
nhóm Mokara, Dendrobium, Phalaenopsis, Catteya Năm 2007, Trung tâm
đã cung cấp cho các nhà vườn khoảng 50.000 cây hoa Lan cấy mô các loại
Năm 2008, sản xuất 100.000 cây giống hoa Lan cấy mô, tập trung cho nhóm
hoa Lan cắt cành Mokara, Dendrobium và một số giống lan rừng quý
Đặc biệt Đà Lạt là nơi sản xuất hoa Lan sớm nhất cả nước với nguồn
cây giống phong phú được tìm trong rừng sâu Lâm Đồng dẫn đầu cả nước
về nguồn lợi Lan rừng với 101 chi và 396 loài, chiếm 55,3% về chi và
76,5% về loài Lan rừng của Việt Nam Không ít loài Lan được phát hiện lần
đầu tiên trên thế giới mang tên Đà Lạt, 10/12 loài Lan quý của Việt Nam
Trang 28phân bố ở vùng rừng Lâm Đồng Những năm 1980, Đà Lạt đã xuất khẩu số
lượng lớn cành hoa sang các nước Đông Âu
Những năm gần đây, ngành sản xuất hoa Lan ở Đà Lạt đã hồi sinh và
phát triển mạnh mẽ nhờ ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao vào sản xuất Với
công nghệ hiện đại, đã giúp làm giảm chi phí trồng từ 40.000 - 70.000
đồng/gốc Lan trước đây, xuống chỉ còn 4.000 - 7.000 đồng/gốc Sử dụng
công nghệ nuôi cấy mô in vitro và đặc biệt bằng phương pháp gây vết
thương kết hợp nuôi cấy lỏng
TS Dương Tấn Nhựt cùng các cộng sự ở Phân Viện Sinh Học Đà Lạt
đã nhân giống thành công Hồng Hài - loài Lan hài duy nhất trên thế giới có
hương thơm, được Tổ chức Bảo vệ động thực vật hoang dã thế giới đưa vào
danh mục thực vật cần bảo vệ bởi chúng chỉ phân bố hẹp ở Việt Nam, khó
sống và khó sinh sản
Theo TS Dương Tấn Nhựt, Thành phố Đà Lạt là cỗ máy điều hòa
khổng lồ cho phép sản xuất địa Lan trong thiên nhiên theo hướng công
nghiệp với chi phí sản xuất chỉ bằng 1/10 so với các quốc gia phải trồng Lan
trong nhà kính, có hệ thống điều hòa nhiệt độ
Lan Đà Lạt đã và đang mở rộng thị trường ra nhiều châu lục, trong đó
có những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan Nhiều doanh
nghiệp trong và ngoài nước đang tiến hành khảo sát lập trang trại sản xuất
hoa Lan quy mô lớn bởi tiềm năng, triển vọng đầu tư tại Đà Lạt là rất lớn so
với Trung Quốc và các nước ASEAN khác
1.3 Giới thiệu về Lan Hồ Điệp
1.3.1 Nguồn gốc và phân bố
Lan Hồ Điệp là giống Lan có tên gọi Phalaenopsis Tên gọi này bắt
nguồn từ tiếng Hi Lạp trong đó Phalaina có nghĩa là “con bướm” và Opsis
Trang 29có nghĩa là “giống như” Lan Hồ Điệp là loài lan có hoa giống bươm bướm
phất phơ rất đẹp
Lan Hồ Điệp được khám phá năm 1750, đầu tiên được ông Rumphius
đặt tên là Angraecum album Năm 1753 Linne đổi tên thành Epidendrum
amabile; và năm 1825 Blume một nhà thực vật Hà Lan định danh một lần
nữa là Phalaenopsis amabilis và tên đó được dùng cho đến ngày nay
Lan Hồ Điệp có chừng 44 loại nguyên giống, mọc trên dãy Himalaya
đến suốt châu Á và sang cả Úc châu. Lan Hồ Điệp phân bố chủ yếu ở:
Malaysia, Indonesia, Philipin, phía Đông Ấn Độ và miền Bắc Australia Lan
Hồ Điệp có thể mọc ở khí hậu nhiệt đới và đồi núi cao 2000m nên vừa chịu
được khí hậu nóng ẩm vừa chịu được khí hậu mát
Ở Việt Nam có khoảng 4 - 5 loài Lan Hồ Điệp rừng như:
- Lan Hồ Điệp dẹt (Phalaenopsis coenu): cây sống phụ, rễ lớn,
không có thân, lá hình bầu dục thuôn dài Phát hoa dài 30 cm, hoa màu vàng
xanh, có từ 6 - 12 hoa, hoa nở rất lâu tàn và có hương thơm Cây mọc ở
miền Trung, có dáng đẹp, có thể trồng ở Đà Lạt; hoa nở vào mùa thu
- Lan Hồ Điệp trung (Phalaenopsis parishii): cây nhỏ, lá hình trái
xoan, màu xanh bong, rụng vào mùa khô Phát hoa mọc thẳng đứng, mang
3- 9 hoa ở đỉnh màu vàng nhạt môi hồng tươi, giữa có 2 vạch nâu Cây mọc
đẹp, hoa đứng, màu sắc sặc sỡ nên được trồng làm cảnh, trang trí cho phòng
họp; hoa nở vào mùa xuân
- Lan Hồ Điệp ấn (Phalaenopsis mannii): cây mảnh, có lá dạng bầu
thuôn, hơi cong, màu xanh bóng Phát hoa dài thường buông thòng xuống,
hoa tập trung ở đỉnh cánh màu vàng nghệ với vân màu đỏ Cây mọc ở Trung
Bộ, Đà Lạt - Lâm Đồng; hoa nở vào mùa hè
Trang 30Hình 1.1 Lan Hồ Điệp ấn
- Lan tiểu Hồ Điệp hay Hồ Điệp nhài (Phalaenopsis pulcherrima)
Cây nhỏ sống trên đất cát trong các rừng, chồi và rễ mập khỏe, lá hình trái
xoan Phát hoa nở dài mang hoa ở đỉnh Hoa màu trắng, hồng tím…Hoa nhỏ,
cánh bầu dục , lưỡi có màu đậm hơn, họng màu tím Cây mọc ở miền Trung,
Đồng Nai, Bình Châu… Cây ra hoa vào mùa mưa
Hình 1.2 Lan tiểu Hồ Điệp
Trang 31Ngoài ra còn một số cây như: Phalaenopsis gibbosa, Phalaenopsis
lobbii, Phalaenopsis fuscata, Phalaenopsis cornu x cervi, Phalaenopsis
petelotii… Những cây này thường có hương thơm
Hình 1.3 Phalaenopsis cornu x cervi
Trang 321.3.3 Đặc điểm hình thái
Lan Hồ Điệp là loại Lan đơn thân, ngắn, mập, lá to, dày mọc sát nhau
Đây là giống gồm các loài có hoa lớn và đẹp Phát hoa mọc từ nách lá, dài,
cánh hoa phẳng, môi hoa cong, dẹp, có 2 râu dài; trụ hoa hình bán nguyệt
với 2 phân khối u lên chứa đầy phấn hoa
Lan Hồ Điệp là Lan có màu sắc hoa phong phú từ trắng, hồng, đỏ,
vàng, tím và có loài có sự phối màu tự nhiên như có đốm hay sọc Thời kỳ
nở hoa thay đổi theo từng loài, hoa lâu tàn khoảng 2 - 4 tuần
Lan Hồ Điệp là một loại Lan đại chúng được xếp vào bậc nhất với hoa
to, hình dáng đẹp đẽ, nhiều màu, có hoa quanh năm Nếu trồng đúng cách
Lan Hồ Điệp có thể sống rất lâu; có cây sống được trên 18 năm, sau đó ra
hoa ở ngọn rồi mới chết
Lan Hồ Điệp rất đa dạng về di truyền nhưng chúng cũng có những đặc
tính chung về cấu tạo của cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản
Trang 33Hình 1.4 Sự đa dạng và phong phú về màu sắc, hình dáng Lan Hồ Điệp
Trang 341.3.3.1 Cơ quan sinh dưỡng
+ Thân:
Cây đơn thân không có giả hành, được tạo ra bởi một đỉnh sinh trưởng
hoạt động liên tục Các đốt thân rất ngắn và thường được bao bọc bởi hai
hàng bẹ lá xếp dọc chiều dài thân
+ Lá:
Lá đơn nguyên, dày, không cuốn và có bẹ, mọng nước, có bẹ ôm lấy
thân Hình dạng lá đơn giản với màu xanh đơn thuần hoặc tạp sắc Thông
thường một cây có từ 4 - 5 lá, mỗi lá có hai chồi xếp chồng, chồi bên trên
cho ra một trục phát hoa sau khi cảm ứng ra hoa, chồi bên dưới cho ra một
cây con trong trường hợp có sự cố về hoạt động của đỉnh sinh trưởng ngọn
+ Rễ:
Rễ bất định, khí sinh phát triển mạnh, mọc từ gốc thân xuyên qua bẹ
lá Xung quanh rễ có một màng xốp bao bọc Lớp mô xốp này dễ dàng hút
nước, muối khoáng và các chất dinh dưỡng cho cây Số lượng rễ khá nhiều,
rễ to và hơi dẹp tạo thành một vành đai tăng diện tích tiếp xúc với ánh sáng
1.3.3.2 Cơ quan sinh sản
+ Hoa:
Hoa mọc thành cụm, lưỡng tính, đối xứng hai bên Bao hoa dạng
cánh, rời nhau, xếp thành hai vòng: ba mảnh vòng ngoài và hai mảnh vòng
trong bé hơn, mảnh thứ ba có hình dạng và màu sắc khác hẳn gọi là cánh
môi Gốc cánh môi thường kéo dài ra, chứa tuyến mật Nhị và nhụy dính liền
thành cột nhị nhụy Hạt phấn thường dính lại thành khối phấn Hai khối phấn
ngăn cách nhau bởi trung đới Bộ nhụy gồm 3 lá noãn dính nhau thành bầu
dưới, mang nhiều noãn, đính bên (Hoàng Thị Sản, 2003)
Trang 35Phát hoa hình thành ở nách lá (thường là một phát hoa), có dạng thẳng
đôi khi phân nhánh Trung bình một phát hoa cho 7 - 15 hoa, mỗi hoa bền
khoảng hai tháng
+ Quả:
Quả của Lan Hồ Điệp thuộc dạng quả nang, mở bằng các khe nứt dọc
theo hai bên đường của giá noãn Quả Lan chứa vô số các hạt nhỏ li ti, tùy
vào giống và loài mà quả có thể chứa vào trăm đến vài ngàn hạt Hạt cần trải
qua 130 - 150 ngày để trưởng thành, hạt mở sau 90 ngày Hạt nhỏ được gió
mang xa như hạt bụi, phần lớn hạt bị chết vì chứa phôi chưa phân hóa
Theo Bernard (1999), hạt Lan muốn nảy mầm phải nhiễm nấm
Rhizoctonia vì loại nấm này có tác dụng khởi phát sự tái lập phân bào Trong
thực nghiệm, người ta có thể đánh thức các “phôi sơ khai” (protocorm) khi
sử dụng sốc thẩm thấu bằng cách nuôi cấy hạt trên môi trường chứa sucrose
(Bùi Trang Việt, 2002)
+ Keiki:
Keiki chỉ một cây con mọc từ một mấu trên cuống hoa Một số loài có
hoa nhỏ như Phalaenopsis lueddemaniana thường tạo keiki trên cuống hoa
Hiện tượng này được Williams mô tả lần đầu tiên vào năm 1894 (Williams
và Williams, 1894)
Keiki còn có thể được hình thành ở nhiều loài Phalaenopsis và một số
loại thuộc các chi lai Chẳng hạn trong The Genus Phalaenopsis
(Sweet,1980) có trình bày rõ khả năng phát triển cây con từ đốt phát hoa
Phalaenopsis kunstleri ở Kew Gardens Keiki còn có thể hình thành từ rễ ở
các loài Philippin Phalaenopsis stuartiana (Williams và Williams, 1894) và
Phalaenopsis schilleriana (Davis và Steiner, 1952) Các cây Phalaenopsis
dưới điều kiện nuôi trồng không thuận lợi sẽ tạo ra keiki trên cuống hoa, đặc
biệt khi đỉnh đã bị cắt bỏ
Trang 36Hình 1.5 Keiki của Lan Hồ Điệp
1.3.4 Điều kiện sinh thái của Lan Hồ Điệp
1.3.4.1 Nhiệt độ
Lan Hồ Điệp là loại Lan có thể phát triển ở nhiệt độ tối thiểu 22oC -
25oC ban ngày và 18oC vào ban đêm Nhiệt độ lý tưởng để cây phát triển tốt
là 25oC - 27oC
Lan Hồ Điệp không chịu được điều kiện quá nóng hay quá lạnh, lại
không cần nhiều ánh sánh cho nên thích hợp trồng trong nhà hay trong nhà
kính Khi cây đang ra nụ, nhiệt độ hay độ ẩm thay đổi bất thường sẽ làm cho
nụ hoa hép rụng
1.3.4.2 Độ ẩm
Lan Hồ Điệp chịu ẩm cao, cần ẩm độ 50 - 80 % nhưng không chịu
nhiều nước Giàn che lan cần phải thích hợp che được 70% nắng Lan Hồ
Điệp cần nhiều ẩm hơn nước tưới
1.3.4.3 Ánh sáng
Lan Hồ Điệp cần ánh sáng yếu vì đây là loài ưa bóng mát, biên độ khá
rộng 5000 - 15000m/m2, ánh sáng chỉ cần 20% - 30% là đủ Tuy nhiên
Trang 37không trồng Lan Hồ Điệp ở nơi quá râm mát vì ánh sáng rất cần cho sự sinh
trưởng và trổ hoa Ánh sáng khuếch tán vừa phải rất tốt; nếu chiếu sáng
được 12h - 16h mỗi ngày, 12h cho cây lớn và 16h cho cây nhỏ thì cây sẽ
phát triển tốt hơn
Trồng Hồ Điệp trong nhà kính cần có hệ thống làm mát, ánh sáng
nhân tạo thích hợp để Lan phát triển tốt; còn trồng trong nhà thì cần để Lan
ở gần cửa sổ có ánh nắng hoặc không cũng được
1.3.4.4 Độ thông thoáng
So với các loài Lan khác, sự thông thoáng rất cần thiết cho Lan Hồ
Điệp Lan Hồ Điệp hay bị bệnh thối nhũn lá (phỏng lá), sự thông thoáng
giúp lá cây mau khô sau khi tưới và bộ rễ không bị úng nước nên hạn chế
bệnh rất nhiều Ở nước ta vào mùa mưa Lan Hồ Điệp tăng trưởng mạnh,
nhưng những giọt mưa nặng hạt có thể làm thối đọt cây; do đó để ngăn ngừa
tình trạng trên Lan cần phải được che chắn cẩn thận Cần cung cấp đủ nước
cho cây tránh sự héo rũ, nhăn lá vào mùa gió nhiều và mùa nắng
1.3.4.5 Nhu cầu nước tưới
Lan Hồ điệp là cây đơn thân nên không có giả hành để dự trữ dinh
dưỡng và nước, hơn nữa nước thường tập trung ở lá vì Lan Hồ Điệp có lá
lớn, diện tích tiếp xúc nhiều nên rất dễ thoát hơi nước và chúng không có
mùa nghỉ vì thế phải cung cấp cho cây một lượng nước đầy đủ
Tránh để Lan quá khô vào mùa nắng có thể tưới 3 lần/ngày: sáng,
trưa, chiều Chú ý khi tưới nước vào buổi trưa phải tưới thật đẫm để tránh
nắng sẽ làm sốc cây Lan Mùa mưa thì tuỳ theo điều kiện thời tiết mà tưới
nước cho phù hợp, có thể khoảng 10 ngày tưới một lần Nên tưới vào buổi
sáng để lá cây sẽ khô, tránh nước đọng vào ngọn, lá non dễ bị thối và cây sẽ
chết
Trang 381.3.4.6 Dinh dưỡng
Lan Hồ Điệp cần dinh dưỡng thường xuyên, quanh năm vì không có
mùa nghỉ Khi tưới phân không nên tưới với nồng độ cao và đừng tưới lên
ngọn cây, nhất là lúc lá non mới nhú ra từ đỉnh sinh trưởng Tùy từng độ tuổi
của cây mà ta có lượng phân cần bón với tỷ lệ NPK thích hợp Ngoài việc
dùng phân vô cơ, ta còn có thể tưới xen kẽ thêm phân hữu cơ với nồng độ
loãng có pha thêm thuốc trừ nấm
Lan Hồ Điệp cần bón phân với nồng độ loãng và có thể tưới nhiều lần
trong tuần Có thể tưới thêm phân hữu cơ như: bánh dầu, vitamin B1 kích
thích ra rễ Các chất dinh dưỡng cần thiết nhất là Đạm (N), Lân (P), Kali
(K) và Canxi (Ca) Sự thiếu các chất dinh dưỡng này có thể làm ảnh hưởng
đến sự tăng trưởng, phát triển và làm giảm năng suất hoa
1.3.4.7 Một số sâu bệnh và cách phòng trị
+ Bệnh nhiệt thán: (bệnh đốm nâu)
Là một trong những bệnh hại do nhiễm nấm đĩa gai gây ra, chủ yếu
gây hại trên lá Thời kì đầu phát bệnh thường có những chấm nhỏ màu xám
nhạt hoặc nâu sẫm, dần dần lan rộng thành đốm bầu dục hoặc tròn có vùng
màu vàng bao quanh đốm đen
Có thể dùng zineb 0,2% lưu huỳnh - vôi 0,3%, hay benlat 0,1% để trị
bệnh.
+ Bệnh mảng trắng:
Do hạt khuẩn nhỏ gây ra chủ yếu là gây hại trên mầm mới của cây
Lan, sau khi bị nhiễm bệnh chồi của mầm non sẽ bị phân hủy thấm ra chất
dịch màu vàng và mục rữa khiến cây lan bị rụng chết
Nên thay chậu kịp thời, cắt bỏ rễ cây hư và dùng dung dịch CuSO4
hoặc RD20 rửa sạch cây lẫn chậu lan, sau khi hong khô thì đem đi trồng lại
Trang 39với vật liệu mới Có thể dùng dung dịch benlat hoặc các loại thuốc chứa
benomyl xịt vào cây Lan, góc lá và rễ
+ Bệnh khô lá:
Lá xuất hiện những chấm nhỏ màu nâu đỏ, sau đó nhanh chóng lan ra
thành đốm bệnh hình tròn, đốm bệnh phát sinh ở mép lá có hình bán nguyệt,
làm cho lá Lan bị khô với diện tích lớn có thể nhanh chóng gây chết cây
Cắt bỏ lá bệnh và dọn sạch các lá rụng, có thể phun thuốc zineb 0,2%
truban, banor hoặc benlat 0,1% để phun xịt
+ Bệnh đốm tròn:
Đốm bệnh hình tròn màu đen, ở cả hai mặt lá lõm xuống, khi bệnh
nặng toàn bộ lá trải đều những đốm đen khô và chết, bệnh sinh sản nhanh
Có thể dùng Truban, Banort, Zineb 0,2 % hoặc Benlat 1,2 % phun xịt
+ Bệnh mốc:
Do khuẩn mốc xâm nhập vào lá gây ra Bệnh thường phát sinh ở mặt
lưng của lá, với những đốm màu vàng cam hay dạng mốc sết trên lá Bệnh
thường phát sinh vào mùa hè nóng bức và khi trồng Lan không thông gió
Cắt bỏ những lá bị bệnh nặng, tưới nước kịp thời và hong khô lá Trị
bằng Benlat 0,1% hoặc bất cứ loại thuốc nào có chứa Benomyl
+ Nhện đỏ:
Sống tập trung ở dưới lá bánh tẻ và lá già, hút nhựa làm lá vàng, cháy
khô xơ xác Dùng Cascade 5EC, Comite 73EC, phun kỹ mặt dưới lá khi
nhện mới xuất hiện và kết hợp các biện pháp phòng trị bọ trĩ và rệp
Trang 40Hình 1.6 Nhện đỏ hại Lan
1.3.4.8 Chậu, giá thể và cách trồng
Cách trồng tốt nhất cho các loại Lan Hồ Điệp là chậu thật thoáng, có
nhiều lỗ có thể sử dụng chậu đất nung có nhiều lỗ hay chậu nhựa cũng được
Chậu phải thật sạch không có rêu bám trên thành chậu Thông thường các
nhà vườn trồng Lan với số lượng lớn (vài ngàn cây) thường dùng than, dớn,
xơ dừa, mút làm giá thể để trồng Lan Hồ Điệp Có rất nhiều cách trồng
Lan Hồ Điệp tùy theo từng vùng; nhưng có điểm chung là than, mút nằm
dưới đáy chậu, còn xơ dừa hay dớn sẽ nằm trên miệng chậu Cách trồng này
giúp cây thoát nước tốt vào mùa mưa, không bị thối rễ và phát triển tốt
Trong thời gian khoảng 2 năm ta thay chậu một lần, nếu cây lớn quá nhanh
có thể thay chậu sớm hơn
1.3.5 Giá trị kinh tế và tình hình sản xuất Lan Hồ Điệp
1.3.5.1 Giá trị kinh tế của Lan Hồ Điệp
Lan Hồ Điệp không chỉ phổ biến ở Nam Mĩ, trong những năm gần
đây, Lan Hồ Điệp trở thành loại hoa trồng chậu có giá trị nhất trong ngành
công nghiệp trồng hoa ở Hà Lan Chúng còn là những món quà xa xỉ ở các
nước Châu Á đặc biệt là Nhật Bản Ngoài ra các loài hoa đẹp, xa xỉ cũng
được nhập vào Mỹ để trang trí chậu hoặc dưới dạng quà tặng cao cấp