Nhóm rau ăn lá là nhóm rau chiếm tỉ trọng lớn trong các loại rau được sử dụng ở nước ta. Nhóm này gồm nhiều loại cây thuộc các họ thực vật khác nhau: họ hoa chữ thập (cái bắp, các loại cải…), họ rau Dền, họ Bìm bìm, họ hoa Tán. Rau ăn lá dễ trồng, giàu vitamin (nhất là vitamin C), carotene, khoáng, giàu chất xơ giúp điều hòa chức năng của bộ máy tiêu hóa, chứa tương đối nhiều Calories và ngon nhất khi còn tươi. Rau ăn lá có thể trông quanh năm khi được chọn lọc, trồng, phát triển và bảo quản. Bảng I.1: Một số loại rau ăn lá phổ biến ở Việt Nam Tên loại Phân bố Bộ phận dùng Các dạng sản phẩm Cải bắp Thích hợp khí hậu mát Lá Sản phẩm muối chua, thực phẩm hàng ngày Cải thảo Cải bẹ xanh Cải xoăn Rau ăn hàng ngày, salad Cải bó xôi Cải xoong Rau salad Salad Rau muống Thích hợp khí hậu nhiệt đới Thân và lá Rau ăn hàng ngày Rau má Cây mọc tự nhiên khắp nơi ở độ cao dưới 1800m Lá Rau ăn hàng ngày, salad, nước uống, thuốc Rau mồng tơi Cây không kén đất trừ đất khô cằn quá nhiều sỏi đá Lá Rau ăn hàng ngày, thuốc Tần ô Cây ưa sáng ưa ẩm, thích nghi với nhiều loại đất Thân và lá Rau ăn hàng ngày, thuốc Rau ngót Cây sinh trưởng trên nhiều loại đất, thích hợp khí hậu nóng ẩm lá Rau ăn hàng ngày, thuốc Súp lơ xanh Thích hợp khí hậu ẩm mát Hoa atiso: dùng cả lá, than, hoa Đồ hộp, rau ăn hàng ngày, trà atiso Súp lơ trắng Atiso I. MỘT SỐ LOẠI RAU ĂN LÁ THÔNG THƯỜNG Ơ VIỆT NAM: 1. Rau muống: Rau muống (tên khoa học Ipomoea aquatica) là một loài thực vật nhiệt đới bán thủy sinh thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae), là một loại rau ăn lá. Phân bố tự nhiên chính xác của loài này hiện chưa
Trang 1Chuyên đề 1:
SỰ ĐA DẠNG CỦA ĐỘNG VẬT RỪNG TÂY NGUYÊN
NỘI DUNG:
1 Đặc điểm của địa hình và khí hậu Tây Nguyên
2 Đặc điểm của rừng Tây Nguyên
3 Sự đa dạng của động vật rừng Tây Nguyên
4 Chính sách bảo vệ động vật và bảo vệ rừng của khu vực TâyNguyên
1 Đặc điểm của địa hình và khí hậu Tây Nguyên.
1.1 Đặc điểm của khí hậu Tây Nguyên.
Khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa:
- Mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai thángnóng và khô nhất
Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400-500
m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m(như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm như vùng ôn đới
1.2 Đặc điểm của địa hình Tây Nguyên.
Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà làmột loạt cao nguyên liền kề Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng
Trang 2500 m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nùng, Plâyku, caokhoảng 800 m, cao nguyên M’Đrăk cao khoảng 500 m, cao nguyên Buôn
Mê Thuột cao khoảng 500 m, Mơ Nông cao khoảng 800-1000 m, caonguyên Lâm Viên cao khoảng 1500 m và cao nguyên Di Linh cao khoảng900-1000 m Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởinhững dãy núi và khối núi cao (chính là Trường Sơn Nam)
Hình 1: Bản đồ địa hình Tây Nguyên
Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểuvùng khí hậu, bao gồm:
+ Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai,trước là một tỉnh)
+ Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông)+ Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng)
Trang 3Trung Tây Nguyên độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểuvùng phía Bắc và Nam.
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, giáp với Hạ Lào và Đông BắcCampuchia Trong khi Kon Tum có biên giới phía tây giáp với cả Lào vàCampuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biêngiới với Campuchia Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế
2 Đặc điểm của rừng Tây Nguyên.
Rừng ở Tây Nguyên không chỉ lớn về diện tích mà còn có giá trị đặcbiệt về chất lượng
Rừng là không gian sinh tồn của các dân tộc Tây Nguyên Không mộtbuôn, làng nào tách biệt khỏi rừng, đất rừng Rừng không chỉ cung cấp chocuộc sống hằng ngày mà còn là nền tảng của sản xuất, là văn hóa trong cuộcsống của đồng bào
Tây Nguyên có 2 loại rừng: Rừng rậm nhiệt đới, rừng khộp Vì TâyNguyên có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, nơi có lượng mưa nhiềuthì rừng rậm nhiệt đới phát triển, nơi có mùa mưa kéo dài thì xuất hiện loại
rừng rụng lá vào mùa khô (rừng khộp).
Trang 43 Sự đa dạng của động vật rừng Tây Nguyên.
Bộ sưu tập động vật ở Tây Nguyên và của cả nước được trưng bày tại
7 phòng ở Phân viên sinh học Đà Lạt gồm 378 mẫu thú của 58 loài, 242 mẫuchim của 94 loài, 42 mẫu lưỡng thê bò sát của 32 loài, 36 mẫu thú nuôi nhàcủa 22 loài và hơn 200 hộp mẫu của các loài côn trùng được sắp xếp theoHình 2: Rậm rạp nhiều loại cây với Hình 3: Thưa thường chỉ có một loại nhiều tầng, xanh tốt quanh năm cây, rụng lá vào mùa khô
Trang 5từng loài, lớp, bộ, họ đi từ động vật phát triển cấp thấp đến cấp cao, từ độngvật biển như: san hô, cua, ốc; loài lưỡng thê như trăn, rắn; động vật nuôi như
gà, vịt, bò, cừu; lớp côn trùng; lớp chim; lớp thú rồi đến loài vật có não bộphát triển ở bậc cao gần với con nguời như họ khỉ, hầu hay linh trưởng
Ở đây nhiều bộ sưu tập côn trùng độc đáo hoặc những loài động vậtquý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng được đưa vào sách đỏ như tê giác, cọpvằn Đông Dương Bảo tàng còn trưng bày và giới thiệu hoạt động nghiêncứu trái đất và sao Kim thông qua 2 mô hình do Chính phủ Liên Xô tặngnăm 1989 Ngoài ra, nơi đây còn giới thiệu 42 loại nấm có tác dụng tốt trongviệc chữa bệnh đã được tìm thấy trên vùng đất Tây Nguyên này
Trang 6- Dơi phát siêu âm vơi tấn suất rất lớn với tần số 30.000 – 70.000 ha
Nhờ tiếp nhận âm thanh vào tai, dơi có thẻ ước lượng khoảng cách xa củachướng ngại vật
- Thức ăn của dơi là sâu bỏ hoặc trái cây
Họ dơi bao (Emballonuridae)
Trang 7Hình :Dơi bao đuôi (Taphozous)
2 Bộ gặm nhấm
Đặc điểm: Mỗi nửa hàm răng có một đôi răng rất lớn, dài cong chìa rangoài, giúp cho con vật gặm thức ăn, không có chân răng, thiếu răng nanh,giữa răng cửa và răng hàm có khoảng trống không răng
- Bán cầu não nhỏ và thiếu rãnh, thuỳ khướu giác lớn
- Sinh sản rất nhanh
Họ nhím (Hystricidas)
Trang 8Hình :Nhím (Acanthion)
Họ sóc cây (Sciuridae)
Hình :Sóc chân vàng (Callosciurus)
Họ sóc bay (Pteromyidae)
Trang 9Hình: Sóc bay sao (Petaurista elegans )
Trang 10Hình: Thỏ xám (Lepus nigricollis)
4 Bộ ăn thịt (Carnivora)
Đặc điểm: Răng nanh lớp, nhọn, răng hàm có gờ dẹp, sắc và răng cửa nhỏ Vuốt lớn Thiếu xương đòn Bán cầu não rất phát triển, vỏ não có nhiều rãnh
Họ chó (Canidae)
Trang 11Hình: Chó sói đỏ (Cuon alpinis)
Họ gấu (Ursidae)
Hì
nh: Gấu chó (Ursus thibetanus) Hình: Gấu ngựa (Ursus malayanus)
Họ chồn (mustelidae)
Trang 12Hình: Chồn bạc má Hình: Lửng lợn (Arctonyx collaris) (Malogale personata)
Hình: Chồn vàng (Martes haviguta) Hình: Rái cá (Lutra lutra)
Hình: Triết bụng vàng (Mustela)
Trang 14Hình: Cầy gấm Hình: Cầy giông (Viverra zibetha) (Prionodon pardicolor)
Hình: Cầy vòi đốm Hình: Cầy hương (Viverricula indica) (Paradosurus hermaphroditus)
Trang 15Hình: Cầy tai trắng Hình: Cầy vằn bắc
(Arctogalidia trivirgata) (Chorotogale owstoni)
Họ mèo (felidae)
Hình: Báo gấm (Neofelis nebulosa) Hình: Báo hoa mai (Panthera pardus)
Hình: Linh miêu (Lynx lynx) Hình: Mèo rừng (Felis bengalensis)
Trang 16Hình: Hổ (Panthera tigris) Hình: Báo hoa mai (Panthera pardus)
Hình: Mèo rừng (Felis bengalensis)
5 Bộ guốc ngón lẻ (Perissodactyla)
Đặc điểm: Gồm những thú guốc lớn, ăn thực vật, chân có ngón thứ ba phát triển hơn cả, các ngón khác nhỏ hoặc tiêu giảm tuỳ theo nhóm thú, phụ
Trang 17thuộc vào mức độ thích nghi với sự chảy nhanh Đốt ngón chân cuối cùng cóguốc rất phát triển Không có xương đòn.
Họ Cheo cheo (Tragulidae)
Trang 18Hình: Cheo cheo (Tragulus javanicus)
Họ hươu nai (Cervidae)
Hình: Hươu cà tông (Cervus eldi) Hình: Hươu sao (Cervus nippon)
Trang 19Hình: Hươu vàng (Cervus porcinus) Hình: Hoẵng (Muntiacus muntjak)
Họ lợn (Suidae)
Trang 20Hình: Lợn rừng (Sus scrofa) Hình: Họ sừng rỗng (Bovidae)
Trang 21Hình: Sơn dương Hình: Bò rừng (Bos banteng)
Trang 22Hình: Voi châu Á (Elephas maximus)
8 Bộ linh trưởng (Primates)
Đặc điểm: Gồm những loài thú đi bằng bàn chân, thích nghi với đới sống trên cây Ngón chân cái đối diễn với các ngón khác thích nghi với sự cầm nắm và leo trèo Hộp sọ tương đối lớn, ổ mắt hướng vwf phía trước Não bộ
có vòm não mới phát triển Thường đẻ một con, con non yếu
Họ Vượn (Hylobatidae)
Trang 23Hình: Vượn đen má trắng Hình: Chà vá chân đỏ (Nomascus leucogenys leucogenys) (Pygathrix nemaeus nemaeus )
Họ khỉ -voọc (Cercopithecidae)
Hình: Voọc chà vá chân xám Hình: Vượn đen má vàng
(Pygathrix cinerea) (Nomascus gabriellae)
Họ vượn (Hylobatidae)
Trang 24Hình: Vượn mông trắng Hình: Vượn mào đen phương Đông
(Trachypithecus delacouri ) (Nomascus nasutus
Viện sinh học Tây Nguyên hiện nay đang trưng bày một số mẫu thú quý hiếm của Việt Nam duy nhất chỉ có ở đây như cầy giông sọc, sóc bay sao, hoãng bạch tạng, sóc đỏ quế, báo lửa xám
Hình: Sóc bay sao (Petaurista elegans) Hình: Cầy giông sọc
(Viverra megaspila
Trang 25Hình: Báo lửa xám (Catopuma temmincki)
Những mẫu vật có ở Bảo tàng đã làm thay đổi nhận định về sự phân
bố của một số loài thú như: Số lượng mẫu mang lớn (loài thú mới được phát hiện ở Vũ Quang (Hà Tĩnh) năm 1993) ở Bảo tàng chứng tỏ loài này rất phổ biến ở Lâm Đồng, cho thấy khu vực Nam Tây Nguyên là vùng phân bố chủ yếu của mang lớn
Hình: Mang lớn ( Megamuntiacus vuquangensis)
Trang 26Một số loài thú quý hiếm có số lượng rất ít trong thiên nhiên ở các vùng khác trong nước, nhưng qua số lượng mẫu ở Bảo tàng chứng tỏ chúng
có số lượng khá ở Lâm Đồng như: Gấu chó, sói đỏ, chồn dơi, cầy mực
Cầy mực (Artictis binturong)
Một danh sách đỏ được Phân viện giới thiệu gồm các loài động vật quí hiếm đang bị đe doạ tuyệt chủng như: Gấu ngựa, Vượn má hung, Sóc bay sao, Sói đỏ, Hổ, Báo hoa mai, Cầy giông sọc,… đến các loài mà trong tương lai có nhiều nguy cơ biến mất khỏi thế giới tự nhiên như: Sơn dương, Mèo gấm, Báo gấm, Beo lửa, Tê giác,…
Trang 27Hình: Tê giác một sừng Hình: Tê giác hai sừng
(Rhinoceros sondaicus) (Rhinoceros sumatrensis )
Một danh sách đỏ cũng được Bảo tàng giới thiệu, từ các loài đang nguy cấp (đang bị đe doạ tuyệt chủng) như Gấu ngựa, Mang lớn, Cầy vằn bắc, Vượn má hung, Sóc bay sao, Sói đỏ, Cầy Giông sọc, Gấu chó, Hổ, Báo hoa mai, đến các loài sẽ nguy cấp (có thể bị đe doạ tuyệt chủng) như Sơn dương, Cầy mực, Mèo gấm, Báo gấm, Beo lửa, Rái cá vuốt bé, Kỳ đà nước, Vọc vá chân đen, Lửng lợn,
Mèo gấm (Pardofelis marmorata )
4 Chính sách bảo vệ rừng và bảo vệ động vật rừng Tây Nguyên.
4.1 Chính sách bảo vệ rừng
Rừng là một thế mạnh của khu vực Tây Nguyên, nhưng hiện nay rừngTây Nguyên ngày càng bị suy kiệt do hoạt động khai thác rừng bừa bãi và tình trạng cháy rừng xảy ra tại các tỉnh Tây Nguyên
Trang 28Năm 1980, tổng diện tích rừng của Tây Nguyên có 3.868.400 ha, chiếm 70,66% tổng diện tích tự nhiên Nhưng từ năm 1980 đến 1995, trung bình mỗi năm Tây Nguyên "xóa sổ" 120 nghìn ha rừng.
Rừng giàu và trung bình giảm 75%, rừng nghèo tăng 109% Từ năm
1995 đến nay, mỗi năm không dưới 45 nghìn ha rừng bị phá
Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của rừng đối với sự phát triển bền vữngcủa vùng Tây Nguyên, trong Quyết định 168/2001/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên 2001-2005 đã đặt ra yêu cầu "phát triển mạnh lâm nghiệp Tây Nguyên là nhiệm vụ trước mắt và lâu dài nâng độ che phủ lên 65% vào năm 2010"
Gần đây, Ðảng, Nhà nước đề ra chủ trương xã hội hóa nghề rừng, Chính phủ đã có quyết sách mạnh mẽ trong việc huy động đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tham gia vào quá trình xã hội hóa nghề rừng theo hướng bền vững, Quyết định 304/2005/QÐ-TT ra ngày 23/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên
Đến nay, các tỉnh ở Tây Nguyên đã giao 2.158.582 ha rừng Trong đó giao cho tổ chức kinh tế 1.018.777 ha rừng; Ban quản lý rừng 950.417 ha; lực lượng vũ trang 126.561 ha, cá nhân 38.996 ha và các thành phần khác nhận 23.832 ha
Thực hiện dự án trồng mới năm triệu ha rừng trong 4 năm đã trồng được 1.383.866 ha rừng; khoanh nuôi tái sinh 80.390 ha rừng; trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng 10.985 ha; trồng rừng sản xuất 38.581 ha; chăm sóc 16.582 ha rừng
Chính sách bảo vệ động vật :
Trang 29Hiện nay trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên tập trung đến 13 khu bảo tồn thiên nhiên và rừng quốc gia, nhiều nhất trong cả nước, chiếm 2/3 trong hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam Đây cũng là nơi có đa dạng sinh học lớn nhất, tập trung phần lớn số loài động vật hoang dã ở Việt Nam (718 loài, trong đó: thú 105, bò sát: 94, lưỡng cư: 48, chim: 375…).
Nhưng lâu nay, ở Tây Nguyên, hễ có trường hợp thú quý hiếm nào bắt giữ được, ngành chức năng đều chuyển giao ngược cho Trung tâm Cứu hộ, Vườn quốc gia Cúc Phương Việc chuyển giao này vừa thiếu khoa học, gây tốn kém tiền của lại bất lợi cho động vật Điều này đưa đến đòi hỏi phải có một trung tâm cứu hộ động vật ở Tây Nguyên
Do nhiều tác động của con người và sự biến đổi của môi trường, các loài động vật ở Tây Nguyên ngày bị giảm sút về số lượng cũng như thành phần loài
Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (Daklak) do nạn săn trộm và sự tàn phá rừng, các loại động vật quý hiếm của khu đa dạng sinh học này như bò tót,
bò rừng chỉ còn tồn tại rất ít, loài hổ và hươu đầm lầy là động vật rất quý ở đây nay cũng không còn
Đặc biệt ở Tây Nguyên cuộc sống của loài hổ đang bị đe dọa và số lượng bị giảm đáng kể