Nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải DươngNghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải DươngNghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải DươngNghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
ĐÀO ĐỨC MẪN
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG BỀN VỮNG
MỘT SỐ LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TẠI HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
ĐÀO ĐỨC MẪN
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG BỀN VỮNG
MỘT SỐ LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TẠI HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên
cứu trong luận án này là trung thực, khách quan và chưa từng được tập thể, cá nhân công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận án này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận án
Đào Đức Mẫn
Trang 4iii
LỜI CẢM ƠN
Luận án này được thực hiện và hoàn thành tại Trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh và PGS TS Hà Thị Thanh Bình - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội là những người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và định hướng giúp tôi trưởng thành trong công tác nghiên cứu và hoàn thiện luận án
Tôi xin ghi nhận và biết ơn sự giúp đỡ quý báu của tập thể các thầy, cô giáo
Bộ môn Quy hoạch đất đai - Khoa Quản lý đất đai, Bộ môn Canh tác học - Khoa Nông học, Ban Quản lý Đào tạo, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này
Luận án này được thực hiện với sự hỗ trợ của Tập thể cán bộ Văn phòng Ủy ban Nhân dân huyện Tứ kỳ, tỉnh Hải Dương; Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã giúp
đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện, nghiên cứu đề tài Tôi xin trân trọng cám ơn sự hỗ trợ quý báu đó
Trong thời gian học tập và nghiên cứu, tôi cũng đã nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ tận tình từ Lãnh đạo Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và động viên tinh thần giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án Tôi xin trân trọng cám ơn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới bạn bè và người thân đã luôn kịp thời động viên, chia sẻ và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án
Một lần nữa tôi xin trân trọng cám ơn sự giúp đỡ của các cá nhân và tập thể
đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận án
Đào Đức Mẫn
Trang 5iv
MỤC LỤC
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Những đóng góp mới của luận án 3
1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp bền vững 4 1.1.1 Đất và sử dụng đất nông nghiệp 4 1.1.2 Cơ sở khoa học của sử dụng đất bền vững 15 1.1.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 22 1.2 Các nghiên cứu sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 29 1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 31 1.3 Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững 33 1.3.1 Xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới 33 1.3.2 Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam 35 1.4 Đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp bền vững 38 1.4.1 Đánh giá đất thích hợp theo FAO 38 1.4.2 Đánh giá đất đai ở Việt Nam 39
Trang 62.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến sử dụng đất 49 2.1.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử dụng
2.1.3 Đánh giá hiện trạng môi trường đất của các loại hình sử dụng đất chủ yếu 49 2.1.4 Đánh giá thích hợp đất đai cho các loại sử dụng đất 49 2.1.5 Ứng dụng mô hình toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu đề xuất sử
dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu phục vụ quy hoạch sử dụng đất 49
2.2.1 Phương pháp chọn điểm 50 2.2.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin 50 2.2.3 Phương pháp thống kê tổng hợp 51 2.2.4 Phương pháp đánh giá thích hợp theo FAO 51 2.2.5 Phương pháp tính hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội sử dụng đất 52 2.2.6 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 53 2.2.7 Phương pháp chuyên gia 54 2.2.8 Phương pháp mô hình toán 54 2.2.9 Phương pháp minh họa bằng bản đồ, biểu đồ 55
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến sử dụng đất 57
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 63
Trang 7vi
3.1.3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện Tứ Kỳ 66 3.1.4 Định hướng phát triển của huyện Tứ Kỳ đến năm 2020 67 3.1.5 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 70 3.2 Hiện trạng sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chủ yếu 72 3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất và loại hình sử dụng đất chủ yếu 72 3.2.2 Hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chủ yếu 79 3.3 Hiện trạng môi trường đất của các loại hình sử dụng đất chủ yếu 94
3.3.3 Loại hình chuyên rau màu 105 3.4 Đánh giá thích hợp đất đai cho các loại sử dụng đất 113 3.4.1 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 113 3.4.2 Đánh giá thích hợp đất đai 120 3.5 Ứng dụng mô hình toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu đề xuất sử
dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu phục vụ quy hoạch sử dụng đất 132 3.5.1 Xác định các mục tiêu và hạn chế trong bài toán tối ưu 132 3.5.2 Xác định các yếu tố đầu vào của bài toán 133 3.5.3 Kết quả chạy bài toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu 134 3.5.4 Đề xuất loại hình sử dụng đất bền vững đến năm 2020 137 3.5.5 Giải pháp thực hiện các phương án đề xuất 145
Trang 93.13 Mức độ sử dụng phân bón cho đất chuyên lúa năm 2010 95 3.14 So sánh mức đầu tư phân bón với khuyến cáo 95 3.15 Mức độ sử dụng thuốc BVTV cho đất chuyên lúa năm 2010 95 3.16 Một số tính chất hóa học đất chuyên lúa 97 3.17 Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất chuyên lúa 98 3.18 Mức độ sử dụng phân bón cho các cây trồng trên đất lúa - màu năm 2010 99 3.19 So sánh mức đầu tư phân bón của các cây trồng trên đất lúa - màu
Trang 103.24 So sánh mức đầu tư phân bón của các cây trồng trên đất chuyên rau
3.25 Mức độ sử dụng thuốc BVTV cho các loại cây trồng trên đất chuyên
3.26 Một số tính chất hóa học đất chuyên rau màu 109 3.27 Hàm lượng một số kim loai nặng trong đất chuyên rau màu 110 3.28 So sánh một số tính chất hóa học của các loại hình sử dụng đất chủ yếu 111 3.29 Chỉ tiêu và phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 114 3.30 Phân bố đơn vị đất đai theo loại đất 115 3.31 Yêu cầu sử dụng đất và khả năng thích hợp đất đai của các loại hình
3.34 Kịch bản sử dụng đất theo điều kiện tự nhiên, lao động và khả năng
3.35 Đề xuất sử dụng đất tối ưu đến năm 2020 của huyện Tứ Kỳ 138 3.36 Diện tích các loại cây trồng theo các đề xuất sử dụng đất đến năm
3.37 Bố trí kiểu sử dụng đất trên các loại hình sử dụng theo đề xuất 01 140 3.38 Bố trí kiểu sử dụng đất trên các loại hình sử dụng theo đề xuất 02 143
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã và đang tập trung nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất, trong đó các đề tài đều hướng tới đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu phần lớn mới chỉ dừng ở mức vĩ
mô, những nghiên cứu chi tiết còn chưa được thực hiện nhiều
Theo Nguyễn Văn Bộ và Đào Thế Anh (2010), Việt Nam có chỗ dựa vững chắc là nông nghiệp để có thể vượt qua mọi cuộc khủng hoảng Nếu kích thích cho nông nghiệp phát triển sẽ không chỉ đảm bảo kinh tế phát triển mà còn ổn định an ninh xã hội Để đảm bảo phát triển bền vững phải tiến hành song song việc công nghiệp hoá và đô thị hoá cả ở thành thị lẫn nông thôn, trong đó công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn phải thích hợp với điều kiện đất ít người đông
Đồng bằng sông Hồng có diện tích tự nhiên 1.490,981 ngàn ha, chỉ chiếm 4,5% diện tích cả nước trong khi dân số bằng 22% cả nước Bình quân đất nông nghiệp/đầu người chỉ đạt 477 m2 (tương đương 40,7% trung bình cả nước) Là vùng kinh tế trọng điểm, tập trung nhiều các viện nghiên cứu, trường đại học, nông dân
có truyền thống canh tác lâu đời nhưng hiệu quả sử dụng đất canh tác chưa cao, đồng thời lực lượng lao động dư thừa quá lớn Mặc dù có sự chuyển dịch về thành phố và khu công nghiệp nhưng tỷ lệ dân cư nông thôn vẫn chiếm 75,5% (năm 2004)
so với 84,2% (năm 1990), nếu không có hướng giải quyết sẽ gây ra hậu quả không lường trước về kinh tế - xã hội Do vậy, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hiệu quả, khai thác lợi thế về thị trường, điều kiện tự nhiên và lao động là yêu cầu cấp thiết (Nguyễn Văn Bộ và Nguyễn Trọng Khanh, 2010)
Tứ Kỳ là một huyện thuộc vùng đồng bằng sông Hồng cũng không nằm ngoài quy luật đó Là một trong 12 đơn vị hành chính của tỉnh Hải Dương, với tổng diện tích đất tự nhiên là 17.019,01 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 11.212,06 ha (đất trồng cây hàng năm 8.497,79 ha) Bình quân diện tích đất canh tác chỉ đạt 527,8
m2/đầu người, trong khi giá trị sản xuất ngành nông nghiệp vẫn chiếm 45% tổng giá
Trang 13trị sản xuất toàn huyện (năm 2010) Tứ Kỳ có nhiều lợi thế cho sản xuất nông nghiệp, nằm gần viện nghiên cứu cây lương thực thực phẩm, một trung tâm nghiên cứu cây trồng đứng hàng đầu cả nước, có lợi thế trong việc tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật mới kết hợp với lực lượng lao động nông nghiệp dồi dào có kinh nghiệm canh tác lâu đời, khí hậu ôn hoà, địa hình khá đồng nhất, đất có độ phì khá là tiền đề để phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả Tuy nhiên, nhiều tiềm năng vẫn chưa được phát huy, khai thác một cách đầy đủ, cơ cấu cây trồng mùa vụ chưa được xác định phù hợp với điều kiện của huyện, các xã trên địa bàn huyện Thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa phát triển, nhất là xuất khẩu nông sản, việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho phù hợp với tính chất đất đai và từng loại hình sử dụng đất chưa được quan tâm đúng mức Các nguồn lực chưa được khai thác, thể hiện như: đất sản xuất nông nghiệp của các hộ dân còn manh mún, phân tán; chưa hình thành được các vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hóa nhằm đẩy mạnh sản xuất phát triển, việc tổ chức kinh doanh dịch vụ, chế biến nông sản chưa gắn với việc sản xuất hàng hóa, chưa có chiến lược quy hoạch dài hạn gắn quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển nông nghiệp, đặc biệt đối với các loại cây trồng, loại hình sử dụng đất là thế mạnh của huyện
Để hướng tới sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, an toàn, bền vững trên địa bàn huyện cần có những nghiên cứu đánh giá toàn diện về tiềm năng lợi thế, đồng thời xác định những điểm yếu đang hạn chế sự phát triển nông nghiệp làm cơ sở cho các nhà quản lý, quy hoạch sử dụng đất theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, phù hợp với chính sách pháp triển nông nghiệp của Đảng và điều kiện cụ thể
của huyện Đề tài “Nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương” được thực hiện nhằm góp phần bổ sung cơ sở lý
luận và thực tiễn cho định hướng sử dụng đất hợp lý, bền vững ở huyện Tứ Kỳ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tiềm năng, hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu từ đó đề xuất bố trí sử dụng bền vững phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu, các kiểu sử dụng đất và các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được giới hạn nghiên cứu trong phạm vi đất trồng cây hàng năm với các loại hình, các kiểu sử dụng đất chủ yếu, gồm các loại hình sử dụng đất chuyên lúa, lúa - màu và chuyên rau màu trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa các cây trồng, loại hình sử dụng đất với chất lượng đất và làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội đối với các cây trồng, loại hình sử dụng đất, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc bố trí hợp lý hệ thống sử dụng đất và các loại hình sử dụng đất khi xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho địa bàn cấp huyện
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp cơ sở dữ liệu cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp vừa đạt hiệu quả cao vừa đảm bảo sử dụng đất và phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và mở ra các hướng nghiên cứu tiếp theo cho các huyện khác trong tỉnh và những vùng có điều kiện tương tự
5 Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã vận dụng thành công mô hình toán học GAMS, kết hợp với kết quả đánh giá chất lượng đất, hiệu quả các loại hình sử dụng đất để giải bài toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu liên quan đến hiệu quả sử dụng đất để đề xuất hướng
sử dụng đất nông nghiệp bền vững cho một huyện điển hình của vùng đồng bằng sông Hồng, đất chật người đông, làm cơ sở cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiệu quả và bền vững
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã chỉ ra lợi thế để phát triển sản xuất trồng trọt là lực lượng lao động dồi dào và trở ngại trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội trong sử dụng đất canh tác ở huyện Tứ Kỳ là thiếu vốn đầu tư cho sản xuất trồng trọt
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp bền vững
1.1.1 Đất và sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1.1 Đất, vai trò và chức năng của đất
Tài nguyên đất được hình thành dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động tích cực của con người, có ý nghĩa rất lớn và toàn diện trong cuộc sống loài người cũng như phát triển xã hội
Về mặt thuật ngữ, có rất nhiều “khái niệm hay quan điểm” về tài nguyên đất
và vai trò, ý nghĩa của nó đối với cuộc sống xã hội loài người Nhìn từ góc độ thổ nhưỡng học (Nguyễn Mười và cs., 2000) nguồn gốc ban đầu của đất (soil) là từ các loại đá mẹ nằm trong thiên nhiên lâu đời bị phá hủy dần dần dưới tác động của các yếu tố lý học, hóa học và sinh học Theo Vi-li-am (dẫn theo Nguyễn Ngọc Bình, 2007) thì đất là một lớp vật thể tơi xốp trên bề mặt của hành tinh chúng ta, mà thực vật có thể sinh trưởng được; đồng thời, các tác giả cũng đều cho rằng đất là một thể
tự nhiên, được hình thành lâu đời, do các kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá
mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian (tuổi)
Về quan điểm sinh thái và môi trường (Lê Văn Khoa, 2000) đất là một vật thể sống, một “vật mang” của các hệ sinh thái tồn tại trên trái đất, con người tác động vào đất cũng chính là tác động vào các hệ sinh thái mà đất “mang” trên mình
nó Cùng quan điểm, Vũ Thị Bình (2003), cho rằng đất là tài nguyên không tái tạo,
là vật mang của hệ sinh thái Đất là thành phần của môi trường thiên nhiên, của sinh quyển và có mối quan hệ mật thiết với các tài nguyên thiên nhiên khác (như nước, thực vật, ) (Blume et al., 1998)
Theo Vũ Thị Bình (2003), đất đai là một vùng đất có ranh giới, có vị trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội như thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật và hoạt
Trang 16động sản xuất của con người Nguyễn Đức Minh (1994), cho biết đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (sông, hồ, đầm, lầy ), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, quần thể thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa hay đường xá, nhà cửa )
Từ những nhận định nêu trên có thể khẳng định: Đất đai là tài nguyên không tái tạo, là một trong những yếu tố cấu thành của hệ sinh thái trái đất, là “vật mang” của nhiều hệ sinh thái khác - “ngôi nhà chung” của mọi sinh vật sinh sống và có mối quan hệ mật thiết với các tài nguyên thiên nhiên khác, không chỉ là tư liệu sản xuất nông lâm nghiệp chủ yếu mà còn là địa bàn lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc dân, nơi cư trú, sinh hoạt của con người, góp phần duy trì và làm cho
sự sống của con người thêm thịnh vượng
Giá trị của tài nguyên thiên nhiên, trong đó có đất, được khẳng định trong toàn bộ quá trình phát triển lực lượng sản xuất và sản xuất của cải vật chất Theo Các Mác: Công nhân không thể tạo ra được cái gì khi thiếu thiên nhiên, thiếu thế giới cảm nhận bên ngoài Đây chỉ là phương tiện mà công nhân thực hiện lao động của mình, triển khai hoạt động, nhờ đó lao động sẽ sản xuất ra sản phẩm (Kinh tế học chính trị Mác-Lênin, 2001) Trong các nghiên cứu của Võ Tử Can (2004), Đoàn Công Quỳ (2006) và một số người khác, các tác giả đều có đồng quan điểm với nghiên cứu đúc kết “Lao động chỉ là cha, còn đất là mẹ sinh sản ra mọi của cải vật chất” hay theo Phan Huy Chú “Của báu của một nước không có gì bằng đất đai Nhân dân và của cải đều do đấy mà ra” (dẫn theo Nguyễn Dũng Tiến, 2009)
Vai trò của đất được thể hiện thông qua các chức năng: là môi trường để các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển, địa bàn cho các quá trình biến đổi và phân hủy các phế thải hữu cơ và khoáng, nơi cư trú cho các động vật, thực vật, vi sinh vật, nấm…, địa bàn cho các công trình xây dựng, địa bàn để lọc nước và cung cấp nước (Lê Văn Khoa, 1993) Với đất đai, vai trò được nhìn nhận là môi trường sống,
Trang 17cơ sở của quá trình sản xuất, hình thành cân bằng sinh thái, kho tàng lưu trữ và cung cấp nguồn nước, không gian của sự sống, trung gian để bảo tồn, bảo tàng lịch sử và
là vật mang sự sống (Đoàn Công Quỳ, 2006)
Theo Nguyễn Mười và cs (2000), đối với các công trình xây dựng, đất chỉ là nguyên liệu chịu lực, còn trong sản xuất nông nghiệp đất là cơ sở sinh sống và phát triển cây trồng Trong các điều kiện vật chất cần thiết, nhiều tác giả đều cho rằng đất đai là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất, nơi tìm được công cụ, nguyên liệu lao động, khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi ngành kinh tế và là nơi sinh tồn, hoạt động của con người (Nguyễn Đức Minh, 1994; Đoàn Công Quỳ, 2006)
Đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ đối với sản xuất nông lâm nghiệp mà còn với nhiều ngành khác như xây dựng, giao thông, ngư nghiệp, diêm nghiệp Do tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế quốc dân, đất là tài sản bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia
Tuy nhiên, vai trò và ý nghĩa (chưa đề cập đến giá trị kinh tế) của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau Đối với các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (khoáng sản) Quá trình sản xuất và sản phẩm tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm và các tính chất của đất Trong khi đối với các ngành nông - lâm nghiệp, đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo ) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi ) Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất (Nguyễn Đức Minh, 1994; Võ Tử Can, 1998)
Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng đất lại rất có hạn Toàn lục địa diện tích đóng băng vĩnh cửu (1.360 triệu ha), chỉ có 13.340 triệu ha, trong đó đất có khả năng canh tác là 3.030 triệu ha (hiện có 1.475 triệu ha), 3.200 triệu ha đất đồng cỏ
Trang 18chăn thả, 4.050 triệu ha đất rừng, các loại đất khác có 4.615 triệu ha Mặt khác, diện tích đất tự nhiên và đất canh tác trên đầu người càng giảm do áp lực dân số, sự phát triển đô thị, công nghiệp và cơ sở hạ tầng Bình quân đất canh tác trên đầu người của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam hiện chỉ còn dưới 0,15 ha (Lê Thái Bạt và Luyện Hữu Cử, 2012)
Chức năng của đất là môi trường giữ năng lượng ánh sáng mặt trời, giữ nước mưa, cung cấp và dự trữ chất dinh dưỡng, nước cho cây, cung cấp cho cây khả năng bám giữ và hút chất dinh dưỡng, cung cấp không gian cho cây tạo ra diện tích lá, đồng hoá CO2, nước, đạm khí trời và các chất dinh dưỡng khoáng (N, P và 18 nguyên tố khác) cùng với phân bón (N, P, K) cộng với phân gia súc và lá rụng… bổ sung vào đất, các vật chất sống có entropi thấp, các sản phẩm quang hơp có entropi thấp có thể được thu hoạch và nếu qua bảo quản chế biến có thể trở thành thức ăn cho người, gia súc hoặc nguyên liệu thô cho công nghiệp
Mặc dù có nhiều loại đất khác nhau nhưng đất nhiệt đới có đặc điểm chung, nhất là vùng ẩm, nhiều loại đất có độ phì tự nhiên thấp Sự rửa trôi khoáng chất tạo nên tầng đế cày vững chắc ngăn cản việc tiêu nước và sự sinh trưởng của rễ Hàm lượng hữu cơ trong đất thấp do chất hữu cơ bị phân giải nhanh vào đầu mùa mưa, cấu trúc của đất kém, đất không được phục hồi dưới điều kiện thâm canh, làm tăng rủi ro xói mòn do gió và do nước, đặc biệt khi không còn thảm thực vật che phủ (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2008)
Những điều trên cho thấy tài nguyên đất là một bộ phận quan trọng của tiềm năng sản xuất, là sức sản xuất thiên nhiên của xã hội Chính vì vậy, việc sử dụng đất phải được dựa trên những cơ sở khoa học, hợp lý và mang lại hiệu quả
Trang 19tự nhiên Thế cân bằng sinh thái bị phá vỡ, hàng triệu ha đất canh tác bị mất khả năng canh tác Thành phần khí quyển thay đổi làm thay đổi cân bằng nhiệt lượng, khí CO2 đã gây ra những trận mưa a xít ở nhiều nơi, chất chlorofluoro cacbon (CFC) tăng lên đã gây hiệu ứng nhà kính làm thủng tầng ôzôn có khả năng cản trở các tia tử ngoại và bảo vệ sự sống trên trái đất (Ferrero and Nigrelli, 1998; Phạm Đình Phê và Cao Thị Lan, 2001; Nguyễn Đình Bộ, 2010)
Người ta ước tính có đến 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động của con người gây ra Ít nhất tới nay đã có khoảng 66 triệu ha đất được tưới tiêu đã bị nhiễm mặn thứ cấp, hàng năm có từ 6-7 triệu ha đất nông nghiệp không sản xuất được do bị xói mòn (tỷ lệ này lớn hơn 2 lần so với 3 thế kỷ trước) Ngoài ra mỗi năm còn thêm gần 2 triệu ha đất ngập úng, chua, mặn làm giảm sức sản xuất Thoái hoá đất đang ngày càng trầm trọng và lan rộng trên toàn thế giới (Trần Thị Áng, 1995; Trần Kông Tấu, 2002; Phan Thị Trúc Giang, 2008)
Báo cáo nghiên cứu về tài nguyên đất cũng đã đánh giá việc áp dụng các biện pháp thâm canh như: sử dụng phân bón, quản lý, bảo vệ không hợp lý sẽ là nguyên nhân dẫn đến suy giảm môi trường đất cũng như chất lượng môi trường tại khu vực sản xuất (Lê Thạc Cán, 1994; Nguyễn Đình Bộ, 2010)
Theo kết quả nghiên cứu của FAO (1990, 1995), dự trữ đất canh tác ở các nước đang phát triển còn khá lớn, song phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở châu Phi và các nước Mỹ La tinh, còn diện tích đất canh tác ở các nước châu Á gần như đã được khai thác hết
Vì vậy, trước áp lực tăng dân số, trong khi diện tích đất đai có hạn, nhất là đất nông nghiệp tăng chậm, thì nhu cầu đáp ứng về lương thực, thực phẩm sẽ trở nên cấp thiết trong thế kỷ 21
Trang 201.1.1.3 Loại hình sử dụng đất
Trong đánh giá đất, FAO đã đưa ra khái niệm về loại hình sử dụng đất, đưa việc xác định loại hình sử dụng đất vào nội dung các bước đánh giá đất và coi loại hình sử dụng đất là một đối tượng của quá trình đánh giá đất
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT) là một cây trồng, một tổ hợp cây trồng hoặc một phương thức canh tác trên một vạt đất với những phương thức quản lý trong điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định (FAO, 1976, 1985)
Yêu cầu của các LUT là những đòi hỏi về đặc điểm và tính chất đất đai để bảo vệ mỗi LUT phát triển bền vững Đó là yêu cầu sinh trưởng, quản lý, chăm sóc, các yêu cầu bảo vệ đất và môi trường (FAO, 1988)
Có thể liệt kê một số LUT phổ biến trong nông nghiệp hiện nay như:
- Chuyên trồng lúa: có thể canh tác nhờ nước mưa hay có tưới chủ động, trồng 1 vụ, 2 vụ hay 3 vụ trong năm;
- Chuyên trồng màu: thường áp dụng cho các vùng đất cao thiếu nước tưới, đất có thành phần cơ giới nhẹ;
- Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn, thực hiện những công thức luân canh nhiều vụ trong năm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người, đồng thời còn có tác dụng cải tạo độ phì của đất Cũng có thể nhằm khắc phục những hạn chế về điều kiện tưới không chủ động một số tháng trong năm, nhất là vào mùa khô
- Trồng cỏ chăn nuôi;
- Nuôi trồng thủy sản;
- Trồng rừng (FAO, 1988)
1.1.1.4 Sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
a) Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Trên thế giới, diện tích đất có khả năng canh tác khoảng 3.190 triệu ha, tập trung nhiều ở Châu Phi 734 triệu ha, Nam Mỹ 681 triệu ha, Châu Á 627 triệu ha (Nguyễn Quang Học, 2000; Nguyễn Đình Bộ, 2010)
Trang 21Luận án đầy đủ ở file: Luận án Full