1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)

138 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGUYỄN VĂN BA

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGUYỄN VĂN BA

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục

Mã số : 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Thức

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian 2 năm học tập tại Học viện Quản lý giáo dục, với những kiến thức đã tiếp thu được ở các thầy cô, với những trăn trở về sự nghiệp giáo

dục tại nơi tôi sinh ra, cuối cùng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Quản lý

hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” Đây tuy là một nội dung rất nhỏ của khoa học quản

lý giáo dục, song lại là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo Học viện Quản lý giáo dục và đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Xuân Thức, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình lập đề cương, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, quan tâm của Hội đồng khoa học, Ban Giám đốc khoa Sau đại học Học viện Quản lý giáo dục đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để bản thân tôi hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi của Sở giáo dục Đào tạo tỉnh Nam Định, phòng GD&ĐT huyện Giao Thủy, các đồng chí chuyên viên, các đồng chí Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, giáo viên các trường THCS huyện Giao Thủy, các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình cung cấp

số liệu, đóng góp ý kiến trong quá trình chúng tôi nghiên cứu

Đề tài tuy đã được nghiên cứu kỹ và bản thân đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến chỉ dẫn và đóng góp của các thầy, cô và các đồng nghiệp để

có thể hoàn thiện luận văn, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc Quản

lý hoạt động GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy nói riêng và tỉnh Nam Định nói chung

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Văn Ba

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL : Cán bộ quản lý GDPL : Giáo dục pháp luật

GV : Giáo viên

HS : Học sinh Nxb : Nhà xuất bản THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC BẢNG SỐ viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ………7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động nhà trường 7

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật và quản lý giáo dục pháp luật 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản 10

1.2.1 Quản lí 10

1.2.2 Pháp luật và các khái niệm liên quan 13

1.2.3 Giáo dục pháp luật 14

1.2.4 Phổ biến giáo dục pháp luật 17

1.2.5 Quản lí giáo dục pháp luật 18

1.3 Giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 18

1.3.1 Đặc điểm của học sinh trung học cơ sở 18

1.3.2 Giáo dục pháp luật cho học sinh trường trung học cơ sở 23

Trang 6

1.4 Quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh của hiệu trưởng trường trung

học cơ sở 25

1.4.1 Lập kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 25

1.4.2 Tổ chức bộ máy giáo dục pháp luật cho học sinh THCS 27

1.4.3 Lãnh đạo, điều khiển công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 28

1.4.4 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 29

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 30

1.5.1 Yếu tố chủ quan 30

1.5.2 Yếu tố khách quan 32

Kết luận Chương 1 35

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH 36

2.1 Khảo sát thực trạng quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh các trường trung học cơ sở 36

2.1.1 Mục đích khảo sát 36

2.1.2 Nội dung khảo sát 36

2.1.3 Phương pháp khảo sát 36

2.1.4 Tiêu chuẩn và thang đánh giá 37

2.1.5 Địa bàn nghiên cứu và mẫu khảo sát thực trạng 37

2.2 Thực trạng hành vi vi phạm pháp luật của học sinh các trường trung học cơ sở 38

2.2.1 Tình hình trẻ em chưa thành niên vi phạm pháp luật 38

2.2.2 Các lỗi vi phạm pháp luật của học sinh trung học cơ sở 41

2.2.3 Những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của học sinh trung học cơ sở 42

Trang 7

2.3 Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh các trường trung học cơ

sở 43 2.3.1 Đánh giá thực trạng nhận thức về công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 43 2.3.2 Thực trạng nhận thức mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 44 2.3.3 Thực trạng thực hiện các nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học cơ sở 45 2.3.4 Thực trạng các hình thức giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 47 2.3.5 Thực trạng sử dụng các biện pháp để GDPL cho học sinh 49 2.3.6 Thực trạng đánh giá kết quả rèn luyện, thực hiện giáo dục pháp luật của học sinh trung học cơ sở 52 2.3.7 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 54 2.4 Thực trạng quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh các trường trung học cơ sở 57 2.4.1 Lập kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 57 2.4.2 Tổ chức bộ máy giáo dục pháp luật cho học sinh THCS 59 2.4.3 Chỉ đạo, điều khiển công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 60 2.4.4 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 61 2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 64 2.5.1 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục cho học sinh trung học cơ sở 64 2.5.2 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục cho học sinh trung học cơ sở 66

Trang 8

2.6 Đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh

Trung học cơ sở 68

2.6.1 Thành công 68

2.6.2 Hạn chế 69

2.6.3 Nguyên nhân 70

Kết luận Chương 2 72

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH 73

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 73

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 73

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 74

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 75

3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định trong bối cảnh hiện nay 76

3.2.1 Lập kế hoạch giáo dục pháp luật theo chủ điểm giáo dục phù hợp với học sinh trung học cơ sở 76

3.2.2 Xây dựng chương trình phổ biến pháp luật ngoại khóa thống nhất cho các trường phổ thông 79

3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật cho giáo viên và cộng tác viên 82

3.2.4 Chỉ đạo thực hiện giáo dục pháp luật cho học sinh thông qua các môn học trong nhà trường 86

3.2.5 Đa dạng hóa các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa, hoạt động tập thể theo các chủ điểm giáo dục pháp luật 89

3.2.6 Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh trường trung học cơ sở 92

Trang 9

3.2.7 Chỉ đạo xây dựng tủ sách pháp luật trong trường học, biên soạn các tài liệu tham khảo, tài liệu phổ biến pháp luật cho cán bộ quản lý,

giáo viên, và học sinh thống nhất trong các nhà trường 95

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 99

3.4 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 101

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 101

3.4.2 Mẫu và địa bàn khảo sát 101

3.4.3 Cách cho điểm và thang đánh giá 101

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 102

Kết luận chương 3 107

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108

1 Kết luận 108

2 Khuyến nghị 109

2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 109

2.2 Đối với Sở giáo dục và đào tạo Nam Định 110

2.3 Đối với Phòng giáo dục - Đào tạo Giao Thủy 110

2.4 Đối với các trường THCS 110

2.5 Đối với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể địa phương, các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan tuyên truyền 111

2.6 Đối với nhân dân, cha mẹ học sinh 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC BẢNG SỐ

Bảng 2.1 Mẫu khảo sát thực trạng giáo dục pháp luật và quản lí giáo dục

pháp luật cho học sinh 38

Bảng 2.2 Số trẻ em chưa thành niên vi phạm pháp luật ở huyện Giao Thủy 38 Bảng 2.3 Đánh giá biểu hiện của một số hành vi vi phạm pháp luật của học sinh trung học cơ sở 39

Bảng 2.4 Đánh giá về các lỗi vi phạm pháp luật của học sinh THCS 41

Bảng 2.5 Đánh giá nguyên nhân những hành vi VPPL của học sinh 42

Bảng 2.6 Đánh giá mức độ quan trọng của nhận thức đến công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở trường trung học cơ sở 43

Bảng 2.7 Mức độ đạt được về nhận thức của mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 44

Bảng 2.8 Mức độ thực hiện các nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học cơ sở 45

Bảng 2.9 Mức độ thực hiện hình thức GDPL cho học sinh THCS 47

Bảng 2.10: Mức độ sử dụng các biện pháp GDPL cho học sinh 49

Bảng 2.11: Mức độ sử dụng các biện pháp GDPL cho học sinh 51

Bảng 2.12 Thực trạng đánh giá kết quả rèn luyện, thực hiện giáo dục pháp luật của học sinh ở trường trung học cơ sở 52

Bảng 2.13 Cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 54

Bảng 2.14: Mức độ thực hiện Lập kế hoạch quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 57

Bảng 2.15: Mức độ thực hiện Lập kế hoạch GDPL cho học sinh THCS 58

Bảng 2.16 Mức độ thực hiện tổ chức quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 59

Bảng 2.17 Mức độ thực hiện chỉ đạo công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 60

Trang 11

Bảng 2.18 Mức độ thực hiện kiểm tra và đánh giá công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 61 Bảng 2.19 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý GDPL cho học sinh THCS (từ phía hiệu trưởng và nhà trường THCS) 64 Bảng 2.20 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở 66 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý GDPL cho học sinh THCS 102 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý GDPL cho học sinh THCS 103 Bảng 3.3 Đánh giá mức độ phù hợp giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp GDPL cho HS bậc THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy 105

Trang 12

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mức độ thực hiện quản lý GDPL cho học sinh THCS 63 Biểu đồ 2.2 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học cơ sở 68

Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý GDPL cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy 100 Biểu đồ 3.1 Mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp quản lý GDPL cho học sinh THCS 106

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ vai trò của công tác quản lý giáo dục pháp luật cho

học sinh trong việc nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật và hành vi pháp luật cho học sinh

Trong quá trình đổi mới đất nước, xây dựng “nhà nước pháp quyền

Việt Nam xã hội chủ nghĩa” của dân, do dân và vì dân thì vấn đề làm sao để

mọi tầng lớp nhân dân đều có ý thức tôn trọng pháp luật, tự nguyện tuân thủ

và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có tinh thần bảo vệ pháp luật, “Sống và

làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” là một điều hết sức quan trọng, cần

thiết, đặc biệt là với đối tượng học sinh, sinh viên - những công dân trẻ luôn chiếm gần 1/4 dân số cả nước Việc nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên là một vấn đề quan trọng quyết định đến việc thực hiện thành công nhiệm vụ tăng cường quản lí nhà nước bằng pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đây cũng là yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết, mang tính khách quan, hoàn toàn phù hợp với mục

tiêu giáo dục toàn diện của chúng ta là: “Đào tạo con người Việt Nam phát

triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[17]

Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác GDPL, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác này Văn kiện Đại hội của Đảng đã xác

định rõ: “Đưa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trường học của Đảng và

Nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học) của các đoàn thể nhân dân Cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân” Văn kiện Đại hội Đảng

khẳng định: "Đẩy mạnh GDPL, đạo đức, thẩm mĩ, môi trường, dân số, rèn

luyện thể chất cho học sinh” Văn kiện Đại hội Đảng nêu: “Phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp

Trang 14

luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”

Nghị quyết Đại hội XI, Đảng ta khẳng định: “Triển khai mạnh mẽ công tác

tuyên truyền GDPL, huy động lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia cuộc vận động thiết lập trật tự,

kỷ cương và các hoạt động thường xuyên, xây dựng nếp sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật trong cơ quan nhà nước và trong toàn xã hội”[8]

Để đảm bảo cho công tác GDPL được tiến hành thường xuyên, liên tục, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo: Ngày 09/12/2003,

Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) đã ra Chỉ thị số 32/CT-TW “Về tăng

cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến GDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân” Ngày 20/11/2009 Thủ tướng

Chính phủ ban hành Quyết định số 1928/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án

“Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, GDPL trong nhà trường”; Ngày

16/11/2010, Bộ Giáo dục - Đào tạo và Bộ Tư pháp ban hành Thông tư Liên tịch số: 30/2010/TTLT-BGDĐT-BTP Hướng dẫn việc phối hợp thực hiện

công tác phổ biến, GDPL trong nhà trường nhằm mục đích “Nâng cao chất

lượng và hiệu quả công tác phổ biến, GDPL trong nhà trường, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhà giáo và người học” Ngày

04/4/2016, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 01-KL/TW, đề ra nhiệm vụ:

“Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp phổ biến, tuyên truyền, GDPL”

1.2 Giao Thuỷ là huyện ven biển của tỉnh Nam Định, trong những năm qua, Giao Thủy đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, ngành giáo dục - đào tạo của huyện có nhiều khởi sắc Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đã đạt được, ngành giáo dục - đào tạo huyện nói chung, bậc THCS nói riêng vẫn còn những hạn chế, nhất là về công tác GDPL, quản lí GDPL cho học sinh Thời gian qua, trên địa bàn huyện đã

có không ít học sinh THCS không làm chủ được bản thân, sa ngã vào các tệ nạn xã hội dẫn đến sa sút về đạo đức, yếu kém về học tập hoặc có hành vi VPPL phải bỏ học Số học sinh THCS vi phạm pháp luật có xu hướng tăng, làm vẩn đục môi trường văn hoá trong nhà trường Do đó, công tác GDPL cho

Trang 15

học sinh THCS là vấn đề cấp thiết của huyện Giao Thủy hiện nay mà nhà trường giữ vai trò then chốt

1.3 Trong lĩnh vực quản lý giáo dục đã có những công trình nghiên cứu ở cấp độ Thạc sỹ về quản lý các hoạt động giáo dục học sinh trong nhà trường THCS như quản lý giáo dục đạo đức, quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo, quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, tuy nhiên nội dung quản lý hoạt động GDPL cho học sinh còn ít được nghiên cứu mặc

dù vấn đề này vô cùng cần thiết và cấp thiết trong nhà trường THCS

Từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động GDPL

cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” với

mong muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, GDPL cho học sinh, đóng góp một phần vào công tác GDPL hiện nay cho học sinh nói chung

và bậc THCS huyện Giao Thủy nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, đề tài đề xuất một

số biện pháp quản lí hoạt động GDPL cho học sinh nhằm góp phần nâng cao

hiệu quả GDPL cho học sinh ở các trường THCS huyện Giao Thủy, tỉnh Nam

Định, nhằm góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của học sinh bậc THCS trong bối cảnh hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lí giáo dục pháp luật cho

học sinh bậc Trung học cơ sở

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí hoạt động GDPL cho

học sinh trường THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

4 Giả thuyết khoa học

Trong những năm qua, quản lí hoạt động GDPL cho học sinh ở các

trường THCS huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã đạt được kết quả nhất định song vẫn còn những hạn chế, bất cập do đó hiệu quả GDPL cho học sinh chưa cao Nếu xác định và áp dụng các biện pháp quản lí hoạt động GDPL cho học

Trang 16

sinh theo tiếp cận chức năng quản lý thì sẽ nâng cao hiệu quả GDPL và hạn

chế các hành vi vi phạm pháp luật của học sinh THCS huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh

ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định trong những năm qua, đánh giá những ưu, nhược điểm và các nguyên nhân

5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật ở các trường Trung học cơ

sở huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định trong bối cảnh hiện nay

5.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật đề xuất

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn chủ thể quản lý: Quản lý GDPL cho học sinh là trách

nhiệm của nhiều chủ thể quản lý: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, lãnh đạo các

tổ chức chính trị xã hội trong nhà trường nhưng chủ thể quản lý chính trong

luận văn được xác định là Hiệu trưởng trường THCS, các chủ thể khác là chủ

thể phối hợp trong quản lý GDPL cho học sinh

6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu: 05 trường Trung học cơ sở trên địa

bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

6.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu: thời gian 01 năm học, năm học

2017-2018

6.4 Giới hạn đối tượng khảo sát: 285 cán bộ quản lý, giáo viên, học

sinh và các lực lượng xã hội tham gia giáo dục pháp luật, trong đó:

+ 06 cán bộ và chuyên viên phòng GD&ĐT huyện Giao Thủy

Trang 17

+ 23 cán bộ quản lý: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, các trường THCS huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

+ 46 giáo viên của 05 trường THCS trên địa bàn huyện được khảo sát + 150 học sinh thuộc 05 trường THCS được khảo sát

+ 60 người thuộc các lực lượng xã hội tham gia giáo dục pháp luật

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các văn bản, tài liệu, các văn kiện của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, Điều lệ trường THCS, các tài liệu của Bộ Giáo dục - Đào tạo, của Công an, chính quyền các cấp liên quan đến công tác GDPL cho học sinh, sinh viên nói chung, học sinh THCS nói riêng, các tạp chí, sách về GDPL cho học sinh

- Nghiên cứu các tài liệu lưu trữ, báo cáo tổng kết của Công an huyện, Phòng GD-ĐT và các trường THCS trên địa bàn huyện

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Tổng kết các kinh nghiệm quản lí hoạt động GDPL cho học sinh ở các trường THCS

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Nhằm thu thập các thông tin từ đội ngũ cán bộ quản lí, đội ngũ giáo viên và học sinh của các trường THCS huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định về thực trạng các biện pháp quản lí GDPL

cho học sinh ở các trường THCS huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

- Phương pháp quan sát: Nhằm thu thập các thông tin về thực trạng quản lí GDPL cho học sinh ở các trường THCS huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

- Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình tiến hành luận văn chúng tôi thường xuyên xin ý kiến chuyên gia về các lĩnh vực liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài Qua ý kiến chuyên gia, tác giả có thể điều chỉnh các nhận định, đề xuất

- Phương pháp toán thống kê: Xử lý, phân tích để định lượng kết quả nghiên cứu

Trang 18

7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học

Sử dụng một số công thức toán thống kê để xử lý các thông tin, xử lý các kết quả điều tra, kết quả nghiên cứu nhằm rút ra kết luận khoa học

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học cơ sở

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học

sinh trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định trong bối cảnh hiện nay

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động nhà trường

Quản lý hoạt động trong nhà trường đã có nhiều công trình nghiên cứu theo các hướng khác nhau, như: quản lý dạy học, quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp, quản lý giáo dục đạo đức v.v Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu ở cấp độ Thạc sĩ, Tiến sĩ sau:

- Trong lĩnh vực Quản lý dạy học có: Luận văn Thạc sĩ của Nghiêm Nữ

Diễm Thùy, năm 2008 “Biện pháp quản lí công tác kiểm tra - đánh giá két

quả học tập của sinh viên ở Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội”; Luận văn

Thạc sĩ của Hà Quang Vinh năm 2011, “Biện pháp quản lí công tác giáo viên

chủ nhiệm lớp ở trường Trung học phổ thông Đức Hợp, tỉnh Hưng Yên”;

Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Tuyến năm 2011, “Công tác bồi dưỡng nâng

cao năng lực đội ngũ hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện An Lão, thành phố Hải Phòng”; Luận văn Thạc sĩ của Bùi Mạnh Toàn, năm 2015, “Biện pháp quản lí của Hiệu trưởng các trường THCS huyện Điện Biên nhằm nâng cao chất lượng dạy học”; …

- Trong lĩnh vực Quản lí tổ chuyên môn có: Luận văn Thạc sĩ của Nông

Thị Hảo, năm 2009 “Biện pháp quản lí của tổ trưởng chuyên môn đói với

công tác xây dựng hồ sơ môn học của giáo viên trường Trung học phổ thông - Thái Nguyên”; Luận văn Thạc sĩ của Lê Quang Hoa, năm 2015 “Quản lí hoạt động của tổ chuyên môn ở trường THCS Vân Hà, Đông Anh - Hà Nội”;…

- Trong lĩnh vực Quản lý hoạt động NGLL có: Luận văn Tiến sĩ của

Phạm Thị Lệ Nhân, năm 2015 “Quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

theo hướng xã hội hóa ở trường Trung học phổ thông Thành phố Hồ Chí Minh”; Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Hoa, năm 2015 “Quản lí hoạt động

Trang 20

giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS Hải Toàn, huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định”;…

- Trong lĩnh vực Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức có: Đề tài mã số

C 2006-29-05 “Một số giải pháp chỉ đạo của hiệu trưởng nhằm nâng cao

chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Thị

Thanh Thủy; Luận án tiến sĩ “Giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS

tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới giáo dục hiện nay” của

Đỗ Tuyết Bảo (2001); Luận án tiến sĩ: “Xây dựng mô hình quản lý công tác

giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường ĐHSP trong giai đoạn hiện nay”

của Nguyễn Thị Hoàng Anh (2011); Luận án tiến sĩ , “Quản lý giáo dục đạo

đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ” của Nguyễn Thanh Phú (2014);…

- Quản lý hoạt động tự học: Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Tuyết

Hồng, năm 2008 “Biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên Trường

Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định”…

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật và quản lý giáo dục pháp luật

Về vấn đề GDPL và quản lí hoạt động GDPL trong nhà trường phổ thông đã có một số tác giả nghiên cứu dưới dạng giáo trình, sách nghiên cứu, tham khảo hoặc một số luận văn thạc sĩ Một số công trình nghiên cứu có giá

trị sử dụng cao trong thực tiễn như: Giáo trình “Lí luận Nhà nước và Pháp

luật” do PGS.TS Lê Minh Tâm chủ biên, xuất bản năm 2000; cuốn “Bàn về GDPL” của PGS.TS Trần Ngọc Đường và TS Dương Thanh Mai, xuất bản

năm 1995; cuốn “Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật” của Đào Trí

Úc, xuất bản năm 1995

Về vấn đề GDPL trong nhà trường có cuốn “Giáo dục pháp luật trong

nhà trường” của Nguyễn Đình Đặng Lục xuất bản năm 2000; cuốn “Giáo

dục pháp luật trong trường phổ thông”; “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn

Trang 21

về GDPL trong công cuộc đổi mới”, Bộ Tư pháp (1995); “Một số vấn đề GDPL ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số” (1996), Nhà xuất bản chính trị

Quốc gia, Hà Nội; “Giáo dục pháp luật trong các trường Đại học, THCN và

dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay” tác giả Đinh Xuân Thảo

(1997); Vụ phổ biến GDPL (1997), “Một số vấn đề về GDPL trong giai đoạn

hiện nay” - Nxb Thanh niên, Hà Nội; Luận văn thạc sĩ của Ngô Thị Thu Hà

năm 1997; “Công tác tuyên truyền GDPL ở nước ta- Thực trạng và giải

pháp”, Luận văn thạc sĩ của Hồ Quốc Dũng năm 1997; “Giáo dục pháp luật qua hoạt động báo chí” Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Hùng năm 2003,

“Vai trò của pháp luật trong hình thành nhân cách” của Nguyễn Đình Đặng

Lục, xuất bản năm 2005; “Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ

quản lý hành chính nhà nước hiện nay”, Lê Đình Khiêm (1996); “Giải phóng, nâng cao chất lượng công tác phổ biến, GDPL trong nhà trường”

Đặng Thị Thu Huyền (2009) - Đề tài Khoa học công nghệ - Mã số

B2009-37-09NV; “Cẩm nang công tác phổ biến, GDPL”, Vụ Pháp chế - Bộ GD và ĐT (2009); “Phổ biến GDPL trong nhà trường”, Luận án Tiến sĩ Luật học của

tác giả Nguyễn Đình Đặng Lục (2012)

Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào công tác quản

lý các hoạt động giáo dục học sinh, sinh viên như quản lý dạy học, quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp, quản lý giáo dục đạo đức, quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo, quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, cho học sinh Trong lĩnh vực GDPL cho học sinh, các nghiên cứu chủ yếu về GDPL và phổ biến GDPL cho học sinh, các nghiên cứu về quản lý GDPL còn rất ít Đặc biệt, trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý GDPL cho học sinh Vì vậy tác giả tập trung

nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh bậc THCS huyện

Giao Thủy, tỉnh Nam Định” nhằm đổi mới, bổ sung và hoàn thiện các nội

dung GDPL chính cũng như những biện pháp quản lí GDPL cho học sinh ở trường THCS trong bối cảnh hiện nay

Trang 22

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lí

Quản lí là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học và nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau Ở đây luận văn xin nêu ra một số quan điểm, trên cơ sở đó rút ra khái niệm về quản lý

* Quan điểm của các lĩnh vực khoa học bàn về quản lý:

Theo quan điểm điều khiển học: Quản lí là chức năng của những hệ

thống có tổ chức, với bản chất khác nhau (xã hội, kỹ thuật, sinh học ), nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động

Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lí là phương thức tác

động có chủ đích của một chủ thể lên hệ thống bao gồm hệ nguyên tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt được mục tiêu

Theo cách tiếp cận hệ thống: Quản lí là sự tác động của chủ thể A đến

khách thể B nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã định

* Ý kiến của các nhà khoa học trong và ngoài nước bàn về quản lý:

Theo H.Koontz (người Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm

đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường, trong đó, con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất

và sự bất mãn cá nhân ít nhất”[13]

Theo Aunapu: “Quản lý là một hệ thống xã hội, khoa học và nghệ thuật

tác động vào hệ thống mà chủ yếu là việc tác động vào con người nhằm hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội xác định”[1]

Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức,

có định hướng của chủ thể (người quản lí, người tổ chức quản lí) lên khách

Trang 23

thể (đối tượng quản lí) về các mặt chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[12]

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là tác động có mục đích, có kế

hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (khách thể quản lí) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”[dẫn theo 3];

Theo Trần Kiểm: “Quản lí một hệ thống xã hội là tác động có mục đích

đến tập thể người - thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi

và đạt tới mục đích dự kiến”[dẫn theo 3];

Ta thấy, dù cách diễn đạt khác nhau, xong trong quan niệm của các nhà nghiên cứu khái niệm quản lí đều thể hiện: Quản lí là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội Lao động quản lí là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại và phát triển Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lí Quản lí là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm người trong xã hội Quản lí vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Chính vì vậy, trong hoạt động quản lí, người quản lí phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích

Từ đây có thể hiểu khái niệm quản lí: Quản lí là sự tác động có tổ

chức, có hướng đích của một chủ thể quản lí lên đối tượng và khách thể quản

lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

Với định nghĩa trên cho thấy, quản lý có các chức năng cơ bản sau:

- Chức năng lập kế hoạch: Là khâu quan trọng nhất trong hoạt động

quản lí Lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu cần thiết cho

sự phấn đấu của một tổ chức Nó chỉ ra các hoạt động, các biện pháp cơ bản

và các điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của

Trang 24

quản lí, là sự quyết định lựa chọn phương hướng hành động của một tổ chức

và các bộ phận của nó phải tuân thủ theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của

tổ chức

- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc,

quyền hành và nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Nhờ tổ chức hiệu quả mà người quản lí có thể phối hợp, điều phối nguồn lực tốt hơn Một tổ chức hình thành phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội tại và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực

-.Chức năng điều hành (lãnh đạo): Là quá trình nhà quản lí dùng ảnh

hưởng quyền uy của mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức Vai trò của người lãnh đạo là phải chuyển được ý tưởng, quyết định của mình vào nhận thức của các thành viên, hướng những người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị

- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản

lí Quản lí mà không kiểm tra thì coi như không quản lí Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người quản lí đánh giá được kết quả của công việc, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế, tồn tại Từ đó, có biện pháp phù hợp điều chỉnh

kế hoạch, tổ chức lãnh đạo

Tóm lại: Chức năng quản lí có thể coi là những nhiệm vụ có tính nghề

nghiệp mà tất cả các nhà quản lí phải thực hiện trong quá trình quản lí của mình Các chức năng quản lí thể hiện bản chất của quá trình quản lí, việc thực hiện các chức năng quản lí là đảm bảo cho hoạt động quản lí tồn tại và phát triển Các chức năng quản lí có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó là cơ sở, điều kiện của nhau, đan xen, tương tác với nhau trong một quá trình quản lí đầy năng động, sáng tạo, nhằm đưa tổ chức tiếp cận mục tiêu đã xác định một cách hiệu quả

Trang 25

1.2.2 Pháp luật và các khái niệm liên quan

Pháp luật là một hiện tượng xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị của một xã hội có giai cấp Pháp luật là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực Nhà nước, duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp nắm quyền Theo học thuyết Mác-Lênin, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp

Giá trị xã hội của pháp luật thể hiện ở chỗ một quy phạm pháp luật vừa

là thước đo của hành vi con người, vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các quan

hệ xã hội

Như vậy, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội Hai thuộc tính này có mối quan hệ mật thiết với nhau Xét theo quan điểm hệ thống, không có pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp, ngược lại, cũng không có pháp luật chỉ thể hiện tính xã hội

Từ những nhận xét trên, có thể hiểu pháp luật là hệ thống các quy tắc

xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện

ý chí của giai cấp nắm quyền lãnh đạo và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ

xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội

* Ý thức pháp luật:

Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội được hình thành dưới sự tác động của toàn bộ mọi mặt đời sống xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người với pháp luật, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội

* Quy phạm pháp luật

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp nắm quyền để điều chỉnh các quan hệ xã hội

* Vi phạm pháp luật

Trang 26

Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

* Trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý được hiểu là sự phản ứng tiêu cực của Nhà nước đối với các chủ thể vi phạm pháp luật, bởi vì chủ thể chỉ được phép lựa chọn cho mình cách xử sự mà quy phạm pháp luật đã nêu ra, làm trái với điều đó thì chủ thể phải gánh chịu trách nhiệm về việc làm của mình, chịu sự trừng phạt của Nhà nước

* Pháp chế

Pháp chế là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác

* Nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền là nhà nước đảm bảo tính tối cao của pháp luật, nhà nước bảo đảm và bảo vệ quyền tự do cá nhân và bảo đảm quan hệ trách nhiệm giữa nhà nước và cá nhân, hay nói một cách khác: Nhà nước pháp quyền là một hình thức chính trị pháp lý hợp lý để quản lý, xây dựng một xã hội văn minh, công bằng và dân chủ

1.2.3 Giáo dục pháp luật

GDPL là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong khoa học giáo dục cũng như trong sự nghiệp giáo dục ở nước ta Khái niệm GDPL thường được quan niệm là một dạng hoạt động gắn liền với việc triển khai thực hiện pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật

Có quan niệm cho rằng GDPL không phải là một bộ phận độc lập của

hệ thống giáo dục ở trường phổ thông, nó là một bộ phận giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục đạo đức Một khi giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục đạo đức được tiến hành tốt thì hiển nhiên sẽ có sự tôn trọng pháp luật của

Trang 27

công dân Tuyên truyền, phổ biến hay giải thích pháp luật là công việc, nhiệm

vụ của cơ quan chuyên trách, của các phương tiện thông tin đại chúng của bộ máy tuyên truyền

Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng GDPL đồng nghĩa với dạy và học pháp luật ở trong các nhà trường, còn việc tuyên truyền, phổ biến về pháp luật ở ngoài xã hội không phải là GDPL

Song có quan niệm lại cho rằng không có khái niệm GDPL Bởi vì pháp luật là quy tắc có tính bắt buộc chung, mọi người phải có nghĩa vụ tuân theo, muốn hay không muốn cũng phải làm theo Do đó, không cần phải đề cập đến khái niệm GDPL mà chỉ cần phổ biến pháp luật để mọi người tự tìm hiểu và có cách xử sự cho đúng pháp luật của nhà nước đã đề ra

Theo chúng tôi, khái niệm GDPL trước tiên phải được hiểu theo nghĩa chung nhất đó là vấn đề giáo dục và là cả vấn đề pháp luật Quá trình hình thành ý thức con người là quá trình chịu ảnh hưởng thống nhất của các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan Trong đó, các điều kiện khách quan đóng vai trò là những nhân tố ảnh hưởng, các nhân tố chủ quan đóng vai trò là các nhân tố tác động GDPL là sự tác động của nhân tố chủ quan do các chủ thể có năng lực làm công tác giáo dục tiến hành Đó là các hoạt động có định hướng, có tổ chức thông qua nội dung, chương trình, phương pháp cụ thể của nhiều chủ thể (nhà trường, các tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan, đoàn thể ) nhằm hình thành ở khách thể những yếu tố chủ quan, trước hết là tri thức hiểu biết, tư tưởng, thái độ, tình cảm về pháp luật Đó chính là thiên chức của giáo dục tiến bộ

GDPL là hình thức cụ thể, là cái riêng, cái đặc thù và cũng là cái chung, cái phổ biến trong mối quan hệ với giáo dục Cụ thể là:

GDPL nhằm hình thành tri thức, tình cảm pháp luật ở mỗi cá nhân, hình thành thói quen xử sự, nếp sống phù hợp với quy định của pháp luật, từ

đó, tự giác tuân thủ pháp luật, có thái độ, hành vi đúng đắn, tích cực trong việc sử dụng pháp luật Như vậy, mục đích của GDPL là hình thành môi

Trang 28

trường chủ quan thuận lợi, phù hợp để từ đó chủ thể định hướng hành vi xã hội của mình theo những chuẩn mực mà pháp luật quy định, góp phần tích cực tăng cường hiệu lực, hiệu quả của pháp luật Mục đích này mang cả ý nghĩa lí luận và thực tiễn

Mặt khác GDPL cũng có nội dung riêng, đó là sự tác động có định hướng để chuyển tải nội dung pháp luật (nguyên tắc, giá trị, quy phạm pháp luật) Những nội dung này phản ánh trong nó về các hiện tượng nhà nước và các hiện tượng xã hội như: quan hệ xã hội, trách nhiệm xã hội được thể hiện thông qua hình thức pháp lí Như khi giáo dục về trách nhiệm của con người trong xã hội thì đạo đức đề cập bằng phương diện đạo lí, còn pháp luật thì đề cập bằng nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lí dưới dạng những hành vi bắt buộc

Xét trên các vấn đề chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức và phương pháp giáo dục thì GDPL cũng có những nét riêng Chủ thể GDPL trước hết phải có những tri thức cần thiết về pháp luật và đời sống pháp luật; phải hiểu được nhân thân, hoàn cảnh, môi trường sống của đối tượng, phải biết cách truyền tải kiến thức pháp luật đến đối tượng, phải là hình mẫu trong việc tuân thủ theo pháp luật Đặc biệt, chủ thể giáo dục phải có khả năng minh họa những vấn đề xảy ra trong đời sống mà có ý nghĩa pháp lí dưới những thuật ngữ, những nguyên tắc, những quy định pháp luật cụ thể Nếu thiếu khả năng này, chủ thể giáo dục mất đi ý nghĩa thực tiễn

Từ những điều nêu trên, có thể nói về GDPL như sau: Giáo dục pháp

luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành

Với khái niệm nêu trên, GDPL không đơn thuần là sự tác động đơn giản, nhất thời mà là một hệ thống các hoạt động có mục đích, có tổ chức với cấu trúc đồng bộ của nó bao gồm: chủ thể, khách thể, đối tượng, nguyên tắc, mục đích xác định

Trang 29

1.2.4 Phổ biến giáo dục pháp luật

Phổ biến GDPL là một từ ghép giữa “phổ biến pháp luật” và “Giáo dục

pháp luật” Phổ biến pháp luật:

Theo từ điển Tiếng Việt [25] hay Từ và ngữ Hán Việt (Nxb Từ điển

Bách Khoa - 2002) thì "Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một

vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông quan hình thức nào đó hoặc làm cho mọi người đều biết đến"

Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành

Phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội

và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để nhà nước dùng để trị dân Bên cạnh đó phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể Ở những mức độ khác nhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội nghị, các cuộc tập huấn

Tóm lại, Phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) hiểu theo nghĩa rộng

là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện PBGDPL (xây dựng chương trình, kế hoạch PBGDPL; triển khai chương trình, kế hoạch PBGDPL thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp PBGDPL; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch PBGDPL)

Hiểu theo nghĩa hẹp là: truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp

cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành

Trang 30

* Với cách hiểu phổ biến GDPL như trên, cho thấy công tác phổ biến GDPL có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Phổ biến, GDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng

- Phổ biến, GDPL có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng, thực hiện pháp luật

- Phổ biến, GDPL được tổ chức thực hiện bởi những chủ thể xác định (Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, UBND các cấp)

- Phổ biến, GDPL nhằm truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật giúp đối tượng được tác động có những hiểu biết nhất định về pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng

1.2.5 Quản lí giáo dục pháp luật

Từ khái niệm quản lí và GDPL, luận văn xác định quản lí GDPL là:

Tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đưa hoạt động GDPL đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất Đó chính là việc trang bị, bồi dưỡng và nâng cao tri thức pháp luật; hình thành, tạo dựng lòng tin vào pháp luật; xây dựng thói quen vững chắc xử sự theo những đòi hỏi của pháp luật (hình thành lối sống và làm việc tuân theo pháp luật) cho các

em học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước

Hoạt động quản lí GDPL theo chức năng quản lý bao gồm: lập kế hoạch GDPL; tổ chức nhân sự trong GDPL; chỉ đạo lãnh đạo trong GDPL và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch GDPL

1.3 Giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở

Giáo dục pháp luật cho học sinh là sự tác động có định hướng của chủ thể giáo dục lên đối tượng giáo dục là học sinh nhằm hình thành ở học sinh ý thức pháp luật, có tình cảm và thái độ đúng đắn với pháp luật, làm cơ sở cho

sự hình thành hành vi và thói quen hành xử đúng quy định của pháp luật

1.3.1 Đặc điểm của học sinh trung học cơ sở

1.3.1.1 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi

Trang 31

Học sinh bậc THCS có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi, lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong thời kì phát triển của mỗi con người, là thời kì chuyển tiếp từ thời tuổi thơ sang tuổi trưởng thành Đây là thời kì phát triển phức tạp nhất, các em ở trong giai đoạn phát triển mạnh về thể lực, tâm lý,

sinh lý, là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi “trẻ con” sang tuổi “người lớn” Ở lứa

tuổi này, tâm lý các em có nhiều biến động rất nhạy cảm, dễ xúc động, dễ bị kích động, bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài như phim, ảnh, các hoạt động văn hoá xã hội Khi cơ thể phát triển tạo ra các nhu cầu tìm hiểu sự việc, những ham muốn về sinh lý, về giới tính cộng với tính tò mò muốn biết hết

mọi việc, muốn làm như “người lớn”, bắt trước người lớn, vì thế, nếu không

được giáo dục, không được dạy bảo dễ nảy sinh các tâm lý lệch lạc dẫn đến hành vi phạm tội, do không được giáo dục, thiếu hiểu biết về cuộc sống nói chung và các hiểu biết về pháp luật nói riêng

1.3.1.2 Đặc điểm ý thức pháp luật của học sinh trung học cơ sở

Đối với các em học sinh THCS do nhận thức về cuộc sống của các em còn đơn giản, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế dẫn đến năng lực áp dụng pháp luật vào xử lý các tình huống trong thực tiễn cuộc sống thiếu nhạy bén, thiếu chính xác rất dễ có các hành vi vi phạm pháp luật Một phần do giới hạn của chương trình học, một phần do lĩnh vực này không phải là lĩnh vực các

em có hứng thú tìm hiểu Cùng với đặc tính trên, phần lớn các em học sinh THCS rất ít quan tâm đến những quy định cụ thể của pháp luật, các em thường hành động theo suy nghĩ chủ quan của mình hoặc theo sự gợi ý hướng dẫn của người khác, các em còn bồng bột, thiếu chín chắn, thích thể hiện cái tôi cá nhân, dễ bị ảnh hưởng do tác động ngoại cảnh Hoạt động của các em chưa chịu sự tác động trực tiếp của pháp luật nên các em chưa hình thành được thói quen và ý thức đối chiếu so sánh giữa hành vi của mình với những quy định nghiêm ngặt của pháp luật Trên thực tế, có nhiều học sinh VPPL khi bị xử lý mới thấy sự hiểu biết của các em về pháp luật còn quá hạn chế, chắp vá, thiếu hệ thống, thiếu chính xác, thậm chí đôi khi pháp luật còn bị bóp méo và bị xuyên tạc theo cách hiểu chủ quan của các em, dẫn đến có nhiều

Trang 32

trường hợp các em thờ ơ, coi thường pháp luật Một số em cho rằng: những

điều quy định trong văn bản pháp luật chỉ mang tính “hình thức” hoặc coi pháp luật như là một “rào cản” phải vượt qua để hướng theo nhu cầu hành động của cá nhân mới là “anh hùng” Ngoài ra ý thức pháp luật của các em

thường xuyên chịu sự tác động trực tiếp về ý thức pháp luật của các thành viên khác trong gia đình và ngoài xã hội Nếu gia đình hoặc người thân, người lớn mà các em quan sát thấy có hành vi vi phạm pháp luật, chắc chắn có ảnh hưởng không nhỏ đến việc chấp hành pháp luật của các em

Xuất phát từ những đặc điểm này, nhà trường cần phải tăng cường việc GDPL cho các em, phải làm cho các em nhận thức được vai trò của pháp luật đối với đời sống xã hội, nhất là trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN Nhà trường cũng cần phải làm cho các

em nhận thức được việc tuân thủ pháp luật chính là một trong những tiền đề

cơ bản để đảm bảo cho tương lai, số phận của từng con người nói riêng và sự

ổn định xã hội nói chung, giúp các em xác định được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, biết dùng nó để làm công cụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mình và những người xung quanh

1.3.1.3 Đặc điểm học tập

Học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh, nhưng ở tuổi này, việc học tập của học sinh THCS có những thay đổi cơ bản Ở các lớp dưới các em được học hệ thống các sự kiện và hiện tượng, hiểu những mối quan hệ cụ thể

và đơn giản giữa các sự kiện và hiện tượng đó Ở trường THCS, việc học tập của các em có sự phức tạp hơn đáng kể, các em chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những cơ sở khoa học Các môn học có sự phân biệt rõ ràng, mỗi môn học gồm các khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc Điều đó đòi hỏi ở các em sự độc lập, tự giác cao

Thái độ, ý thức tự giác trong học tập ở lứa tuổi này cũng tăng lên rõ rệt

Ở học sinh tiểu học, thái độ học tập của các em đối với môn học phụ thuộc vào thái độ của các em đối với giáo viên và điểm số nhận được Nhưng đối với học sinh THCS, thái độ đối với môn học do nội dung môn học và sự đòi

Trang 33

hỏi phải mở rộng tầm hiểu biết chi phối Thái độ đối với môn học đã được phân hoá: môn hay, môn không hay Nhiều em đã có yếu tố tự học, có hứng thú và say mê đối với môn học và học tập Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết nhiều có thể khiến hứng thú của học sinh bị phân tán và không bền vững,

có thể hình thành thái độ dễ dãi, không nghiêm túc đối với các lĩnh vực khác trong cuộc sống

1.3.1.4 Đặc điểm sự phát triển tư duy

Hoạt động tư duy: Hoạt động tư duy của học sinh THCS có những biến

đổi cơ bản: Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng phát triển là đặc điểm cơ bản trong hoạt động tư duy của các em Tuy nhiên, thành phần của tư duy hình tượng cụ thể vẫn phát triển và vẫn giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc tư duy Các em hiểu các dấu hiệu bản chất của đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấu hiệu đó trong mọi trường hợp Khi nắm khái niệm, các em có khi thu hẹp hoặc mở rộng khái niệm không đúng mức

Tính phê phán của tư duy ở các em học sinh THCS cũng được phát triển Các em biết lập luận và giải quyết vấn đề một cách có căn cứ Các em không dễ tin như lúc nhỏ Nhất là ở lứa tuổi này, các em biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm riêng của mình để minh hoạ kiến thức Chính vì vậy, người giáo viên phát triển tư duy trừu tượng cho các em học sinh làm cơ sở để lĩnh hội các khái niệm khoa học trong chương trình học tập Chỉ dẫn cho các em những biện pháp để rèn luyện kĩ năng suy nghĩ có phê phán, độc lập

1.3.1.5 Hoạt động giao tiếp của học sinh trung học cơ sở

Ở các em xuất hiện một cảm giác mới, rất độc đáo “cảm giác mình đã

là người lớn” Các em thấy mình không còn là trẻ con nữa, nhưng cũng có

cảm giác mình chưa thực sự là người lớn Cảm giác về sự trưởng thành của bản thân là một nét đặc trưng trong nhân cách của các em Điều đó thể hiện lập trường sống mới của thiếu niên với người lớn và thế giới xung quanh Cảm giác mình là người lớn thể hiện rất phong phú về nội dung và hình thức Các em quan tâm đến hình thức, tác phong, cử chỉ và những khả năng của

Trang 34

bản thân Trong học tập, các em muốn lĩnh hội tri thức, muốn có quan điểm

và lập trường riêng Trong phạm vi ý thức xã hội, các em muốn độc lập, không bị phụ thuộc vào người lớn ở một mức độ nhất định Các em mong muốn, đòi hỏi người lớn quan hệ đối xử với mình bình đẳng như với người lớn Không can thiệp quá tỉ mỉ vào một số mặt trong đời sống riêng của các

em Học sinh THCS bắt đầu chống đối những yêu cầu mà trước đây các em vẫn thực hiện một cách tự nguyện Các em bảo vệ ý kiến của mình không chỉ trong lời nói mà trong cả hành động Cảm giác về sự trưởng thành và nhu cầu được người lớn thừa nhận là người lớn đã nảy sinh vấn đề quyền hạn của người lớn với trẻ em Các em mong muốn hạn chế quyền hạn của người lớn

và mở rộng quyền hạn của mình, mong muốn người lớn tôn trọng nhân cách, phẩm giá, tin tưởng và mở rộng tính độc lập của bản thân Nguyện vọng muốn được tin tưởng, độc lập, muốn được đối xử bình đẳng nhất định với người lớn có thể thúc đẩy các em tích cực hoạt động chấp nhận những yêu cầu đạo đức của người lớn và những phương thức hành vi trong thế giới người lớn khiến các em xứng đáng với vị thế xã hội tích cực Nhưng mặt khác, nguyện vọng này có thể khiến các em chống cự, không phục tùng những yêu cầu của người lớn

Xu thế cường điệu hoá những thay đổi của bản thân khiến các em có nhu cầu tham gia vào đời sống của người lớn, trong khi đó kinh nghiệm của các em chưa tương xứng với nhu cầu đó Đây là một mâu thuẫn trong sự phát triển nhân cách của các em Chính vì vậy, người lớn cần thấy nhu cầu và nguyện vọng của các em là chính đáng, cần phải thay đổi thái độ đối xử đối với các em Nếu người lớn không chịu thay đổi quan hệ đối với các em thì các

em sẽ là người khởi xướng thay đổi mối quan hệ này Nếu người lớn chống đối sẽ gây ra những phản ứng của các em với người lớn dưới dạng, bất bình, bướng bỉnh, không vâng lời Nếu người lớn thấy sự phản đối của các em mà không suy xét để thay đổi quan hệ với các em thì sự xung đột giữa các em với người lớn còn kéo dài đến hết thời kì của lứa tuổi này Những quan hệ xung đột giữa các em và người lớn dẫn đến làm nảy sinh những hành vi tương ứng

Trang 35

ở các em như: xa lánh người lớn, không tin tưởng vào người lớn, cho rằng người lớn không hiểu và không chịu hiểu các em Các em sẽ khó chịu một cách có ý thức với những yêu cầu, sự đánh giá nhận xét của người lớn Tác động giáo dục của người lớn đối với các em bị giảm sút Trong khi đó, người lớn lại thấy ở các em những nét trẻ con trong dáng dấp, hành động, suy nghĩ

và các em còn phải phụ thuộc nhiều vào người lớn Một số bậc cha mẹ lại cho rằng việc tăng quyền hạn và tính độc lập cho lứa tuổi học sinh THCS là không hợp lí Chính sự không thay đổi thái độ ở người lớn đã gây ra sự đụng độ giữa các em với người lớn làm các em càng chống đối, xa lánh người lớn và thấy người lớn không hề hiểu mình

Với bạn bè: Nhu cầu giao tiếp với bạn phát triển mạnh là một đặc điểm

nổi bật ở học sinh THCS Với bạn bè cùng lứa, học sinh THCS có mối quan

hệ phức tạp hơn nhiều so với bậc Tiểu học Sự giao tiếp của các em đã vượt ra ngoài phạm vi học tập, phạm vi nhà trường Nhiều khi các em kết bạn là cùng một sở thích nào đó, thậm chí có những tình cảm khác giới Một mặt, các em rất khao khát được giao tiếp và cùng được hoạt động chung với nhau, các em mong muốn được sống trong tập thể với những bạn bè tin cậy Mặt khác, cũng biểu hiện nguyện vọng không kém phần quan trọng là muốn được bạn

bè thừa nhận, tôn trọng mình

1.3.2 Giáo dục pháp luật cho học sinh trường trung học cơ sở

1.3.2.1 Vai trò giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường trung học cơ sở

Vai trò của GDPL xuất phát từ vai trò và giá trị xã hội của pháp luật Pháp luật là phương tiện để tổ chức đời sống nhà nước, đời sống xã hội; là công cụ để Nhà nước quản lí xã hội; là phương tiện để người công dân thực hiện lợi ích, nhu cầu, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình Bởi vậy, GDPL tạo ra khả năng hình thành các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho hoạt động quản lí nhà nước, quản lí xã hội Về mặt lí luận, GDPL được coi là một trong những con đường hình thành ý thức của công dân

Đối với hệ thống giáo dục phổ thông, GDPL không chỉ đơn thuần là một hoạt động thực tiễn mà nó là một bộ phận của khoa học giáo dục áp dụng

Trang 36

trong trường phổ thông Vai trò của GDPL được thể hiện trước hết ở chỗ nó làm đầy đủ hơn kiến thức văn hoá phổ thông Trong điều kiện đất nước hiện nay thì văn hoá pháp lí không thể tách rời văn hoá nói chung GDPL ở trường phổ thông có vai trò hỗ trợ cho các hoạt động giáo dục khác, nhất là những bộ môn giáo dục xã hội như: Mỹ thuật, Giáo dục công dân để hình thành nhân cách học sinh Bởi với các thuộc tính của mình, các quy tắc về tình cảm, thẩm

mĩ, đạo đức không đủ sức để lí giải cho học sinh rất nhiều vấn đề cụ thể xảy

ra trong cuộc sống, những đòi hỏi cụ thể của yêu cầu “quản lí xã hội bằng

pháp luật” Mặt khác, để học sinh có đầy đủ nhân cách đúng với chuẩn mực

xã hội, giáo dục phải trải qua một quá trình gồm nhiều bước khác nhau mà

trong đó “Cái tối đa của pháp luật là cái tối thiểu của đạo đức” Bằng

GDPL, học sinh sẽ nắm được những chuẩn mực của xã hội, từ đó rèn luyện thói quen tuân thủ pháp luật Vì những lí do trên mà GDPL có vai trò vô cùng quan trọng đối với học sinh THCS, nhất là trong chiến lược phát triển giáo dục ngày nay của đất nước

1.3.2.2 Nội dung, những con đường giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở

GDPL cho học sinh THCS chúng ta cần chú trọng giáo dục các tri thức

về pháp luật như an toàn giao thông, phòng chống ma tuý, bảo vệ môi

trường, tình huống pháp luật, học sinh nắm được các biểu hiện đúng pháp

luật, những biểu hiện VPPL Từ đó, hình thành cho các em thói quen xử sự, nếp sống phù hợp với quy định của pháp luật, tự giác tuân thủ pháp luật, có thái độ, hành vi đúng đắn, tích cực trong việc sử dụng pháp luật GDPL cho học sinh bằng nhiều con đường:

Giáo dục thông qua các môn học: Thông qua các môn học, các em

được làm quen với các kiến thức về pháp luật ở các khía cạnh khác nhau: Môn Sinh học giúp các em hiểu về động, thực vật, vai trò tồn tại của các loài

để hình thành ở các em sự hiểu biết cần phải bảo tồn thế giới tự nhiên quanh ta; môn Văn học giúp các em biết đúng, sai trong giao tiếp, đối xử giữa con người với con người trong cuộc sống Trong các môn học, môn Giáo dục

Trang 37

công dân là một môn chủ đạo để GDPL cho học sinh Hệ thống các văn bản, các quy phạm pháp luật, các quyền và nghĩa vụ của công dân đã được đưa vào phân phối chương trình và sách giáo khoa môn này

Thông qua các hoạt động ngoại khoá, các hoạt động ngoài giờ lên lớp

là cách GDPL cho học sinh nhẹ nhàng nhất Thông qua các tiết học ngoài giờ

ở trường, các câu lạc bộ ở trường và địa phương, các hoạt động văn hoá, tham quan thực tế sẽ đưa các em vào tìm hiểu các kiến thức pháp luật, nâng cao hiểu biết của các em một cách nhẹ nhàng, tế nhị

GDPL cho học sinh thông qua sự phối hợp giữa nhà trường với các LLGD ngoài nhà trường, đặc biệt là gia đình Đây là con đường giáo dục

cũng hết sức cần thiết Ngoài việc học ở trường, các em về sống giữa gia đình, với cộng đồng địa phương, để GDPL cho các em được thường xuyên, cần kết hợp với các LLGD Làm như vậy GDPL mới đạt được hiệu quả cao

Tự giáo dục là con đường ý nghĩa nhất trong GDPL cho học sinh Quá

trình tự tu dưỡng, tự rèn luyện là quá trình lâu dài, liên tục và suốt đời của mỗi con người Các kiến thức GDPL có đi vào và trở thành các hành vi ở mỗi

em hay không là do sự tự tu dưỡng, tự rèn luyện, tự ý thức của các em

1.4 Quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh của hiệu trưởng trường trung học cơ sở

1.4.1 Lập kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở

Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của quản lý Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai, giúp nhà quản lý xác định được các chức năng khác còn lại nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra

Nếu đứng trên góc độ ra quyết định thì:“Lập kế hoạch là một loại ra

quyết định đặc thù để xác định một tương lai cụ thể mà các nhà quản lý mong muốn cho tổ chức của họ” Quản lý có bốn chức năng cơ bản là lập kế hoạch,

Trang 38

tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Xét theo quan điểm này thì lập kế hoạch là chức năng khởi đầu và trọng yếu đối với mỗi nhà quản lý

Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt được các mục tiêu đó Lập kế hoạch nhằm mục đích xác định mục tiêu cần phải đạt được là cái gì? và phương tiện để đạt được các mục tiêu đó như thế nào? Tức là, lập kế hoạch bao gồm việc xác định rõ các mục tiêu cần đạt được, xây dựng một chiến lược tổng thể để đạt được các mục tiêu đã đặt ra, và việc triển khai một hệ thống các kế hoạch để thống nhất và phối hợp các hoạt động

Lập kế hoạch là xác định các hành động cần thực hiện nhằm đạt được

các mục tiêu đề ra, là việc ra quyết định mang tính đón đầu trước khi thực hiện hành động nhằm đạt một tương lai mong muốn

Lập kế hoạch GDPL cho học sinh là xác định các hành động GDPL cần thực hiện để đạt được mục tiêu GDPL đề ra trong nhà trường phổ thông

Nội dung lập kế hoạch GDPL:

- Phân tích thực trạng việc quản lí thực hiện các nội dung GDPL trong năm học Thực trạng này được thể hiện trong báo cáo đánh giá tổng kết năm học Qua thực trạng đó, nhà trường rút ra được những ưu, nhược điểm của công tác GDPL, những vấn đề nào còn tồn tại cần được sắp xếp để ưu tiên giải quyết từng vấn đề, những vấn đề đã làm tốt thì cần tiếp tục phát huy Từ thực trạng

đó, nhà trường tiếp tục đưa ra các giải pháp để điều chỉnh công tác GDPL trong năm học tới để quá trình GDPL diễn ra thuận lợi và đạt kết quả cao

- Hiệu trưởng nghiên cứu các văn bản, nghị quyết về công tác GDPL cho học sinh, phân tích kế hoạch chung của ngành, của nhà trường, chỉ đạo xây dựng kế hoạch GDPL Trong đó, phải xây dựng được các nội dung GDPL, phải thể hiện mối quan hệ giữa GDPL với các mặt giáo dục khác, đồng thời phải phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và nhà trường cũng như phù hợp với tâm sinh lí của học sinh Xác định các điều kiện GDPL như: thời gian, cơ sở vật chất, tài chính, sự phối hợp giữa các lực lượng trong

và ngoài nhà trường

Trang 39

- Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch GDPL:

+ Kế hoạch phải thể hiện được tính khoa học, tính kế thừa, toàn diện và trọng tâm của công tác quản lí GDPL trong từng giai đoạn của năm học

+ Kế hoạch phải phát huy được những mặt mạnh, khắc phục những mặt còn hạn chế, đưa ra được chiều hướng giáo dục toàn diện cho học sinh

+ Kế hoạch phải xác định được mục tiêu GDPL, thể hiện được mối quan hệ giữa mục đích, phương pháp, nội dung, hình thức, kiểm tra, đánh giá Xác định được các biện pháp để thực hiện kế hoạch GDPL

+ Kế hoạch phải thể hiện được sự phân cấp quản lí trong nhà trường để đảm bảo được tính thống nhất, đồng bộ

1.4.2 Tổ chức bộ máy giáo dục pháp luật cho học sinh THCS

Tổ chức có thể được định nghĩa theo các cách khác nhau Triết học

định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể

tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”

Theo Ducan (1981), tổ chức là một tập hợp các cá nhân riêng lẻ tương

tác lẫn nhau, cùng làm việc hướng tới những mục tiêu chung và mối quan hệ làm việc của họ được xác định theo cơ cấu nhất định Theo định nghĩa này,

yếu tố con người được coi trọng hơn những nguồn lực khác của tổ chức (máy móc, nhà xưởng, công nghệ,…) Ở một giới hạn nào đó, con người trong tổ chức cần phải làm việc hướng tới mục tiêu chung và những hoạt động của họ cần phải được phối hợp để đạt mục tiêu đó Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng tất cả mọi người trong tổ chức đều có những mục tiêu và sự ưu tiên cho các mục tiêu giống nhau, và không phải tất cả các mục tiêu đều rõ ràng đối với tất cả mọi người Theo đó, mối quan hệ của con người trong tổ chức được xác định theo cơ cấu nhất định

Như vậy có thể hiểu tổ chức là: Tập hợp của con người trong xã hội có

phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu xác định; được hình thành

và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp

Trang 40

luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục tiêu chung

Nội dung tổ chức bộ máy GDPL:

- Xác định cơ cấu của tổ chức cho hoạt động pháp luật: phải gắn với mục đích, mục tiêu của hệ thống, phải gắn với nội dung công việc cụ thể Vì

cơ cấu tổ chức là công cụ để thực hiện mục tiêu của hệ thống

- Xây dựng nhiệm vụ của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức tham gia GDPL: Việc xây dựng cơ cấu tổ chức phải bảo đảm nguyên tắc chuyên môn hóa, cân đối và dựa vào nhiệm vụ cụ thể Con người trong cơ cấu tổ chức phải được sắp xếp phù hợp với chuyên ngành đào tạo Phải cụ thể hóa nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của từng bộ phận, từng cá nhân

- Xây dựng cơ chế làm việc, tổ chức điều hành hoạt động GDPL Xây dựng tiêu chuẩn hóa trong tổ chức giúp cho nhà QL và các thành viên đánh giá và tự đánh giá công việc của mình

- Tập huấn cho các lực lượng tham gia công tác GDPL

1.4.3 Lãnh đạo, điều khiển công tác giáo dục pháp luật cho học sinh

trung học cơ sở

Lãnh đạo là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong các tài liệu, sách viết về quản lý và các văn bản pháp lý của Nhà nước Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này

- Theo cách thức: Thì lãnh đạo được định nghĩa “Lãnh đạo là làm thế

nào để các cá nhân và các tập thể đều nhận thấy rằng những mục tiêu theo đuổi hợp với nguyện vọng của mình và khi hoàn thành với những mục tiêu ấy, những nguyện vọng cá nhân cũng được thoả mãn” Theo cách tiếp cận này,

để lãnh đạo được tập thể thì người lãnh đạo phải nhận thức được mục tiêu của các cá nhân trong tập thể và kết hợp hài hoà lợi ích chung của tập thể

- Ở góc độ khả năng thì: “Lãnh đạo là khả năng ảnh hưởng đến hành vi

của người khác Trong tổ chức người lãnh đạo dùng ảnh hưởng để hình thành mục tiêu” Theo định nghĩa này để lãnh đạo được tổ chức thì người lãnh đạo

Ngày đăng: 22/04/2018, 08:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w