1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HƯỚNG dẫn học SINH đổi đơn vị BẰNG CÁCH đặt NGÓN TAY

15 332 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 364 KB
File đính kèm ĐỔI ĐƠN VỊ BẰNG CÁCH ĐẶT NGÓN TAY.rar (160 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vật lý là một khoa học thực nghiệm cho nên hầu hết các định luật, các thuyết vật lý đều phải được xây dựng từ trên cơ sở những kết quả đo đạc thực nghiệm được định lượng một cách chuẩn xác và hợp lý theo bản chất vật lý của đối tượng. Cho nên, việc đo lường các đại lượng vật lý là một lĩnh vực quan trọng không thể thiếu được trong nghiên cứu vật lý.

Trang 1

I TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỔI ĐƠN VỊ BẰNG CÁCH ĐẶT NGÓN TAY

II ĐỐI TƯỢNG - PHẠM VI - PHƯƠNG PHÁP VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:

1 Đối tượng nghiên cứu: Đổi đơn vị trong vật lý lớp 6 ở cấp trung học cơ sở.

2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện với học sinh ở khối lớp 6 trường

THCS Thị Trấn Cái Nhum - Mang Thít - Vĩnh Long

3 Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này, tôi sử dụng

một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

a Nhóm các phương pháp lý luận:

- Phân tích và tổng hợp tài liệu

- Phân loại và hệ thống hóa lý thuyết.

b Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp quan sát sư phạm

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

c Nhóm các phương pháp toán học:

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp đối chiếu

4 Thời gian nghiên cứu: Năm học 2014 - 2015.

III LÝ DO CHỌN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VÀ MÔ TẢ NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

1 Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm:

Vật lý là khoa học thực nghiệm, cách tiếp cận với môn học đòi hỏi học sinh phải

có nhiều tư duy (bao gồm cả tư duy thực tế lẫn tư duy trừu tượng)

Mỗi môn học có những mục tiêu riêng Chương trình vật lý THCS có mục tiêu kế thừa kiến thức vật lý ở Tiểu học, hoàn thiện cho học sinh kiến thức vật lý THCS, cơ bản, gần gủi với cuộc sống và là tiền đề cho chương trình vật lý THPT Bên cạnh đó, chương trình vật lý THCS còn chú trọng rèn luyện kỹ năng tiến hành các phép đo như đo độ dài;

đo thể tích; đo khối lượng; Ở cấp Tiểu học, học sinh được tiếp cận với các phép đo này thông qua môn toán học Tuy nhiên, ở chương trình vật lý THCS học sinh được củng cố

và phát triên thêm những phép đo mới như khối lượng riêng; đo nhiệt độ; đo lực

Ngay bài học đầu tiên của chương trình vật lý THCS học sinh lại được nói về phép

đo đó là Đo độ dài Trong bài học về Đo độ dài, học sinh được ôn lại kiến thức về đơn vị

đo độ dài và kỹ năng đổi đơn vị

Do đây là kiến thức học sinh đã được tiếp thu từ Tiểu học, cách hướng dẫn của mỗi giáo viên mỗi khác Vì vậy, theo quan sát trong nhiều năm giảng dạy vật lý lớp 6, bản

Trang 2

thân tôi thấy rằng trong việc đổi đơn vị học sinh chưa tiến hành tốt như mong đợi; học sinh tiến hành đổi đơn vị theo nhiều cách khác nhau; việc đổi đơn vị sai rất nhiều, thậm chí một số học sinh không nhớ cách đổi đơn vị Thấy được vướng mắc, khó khăn của học sinh tôi đã không ngừng tìm tòi, cải tiến, đổi mới phương pháp, phương thức giảng dạy nhằm giúp học sinh đổi đơn vị một cách dễ dàng, chính xác

Từ những lý do trên, tôi quyết định thực hiện sáng kiến kinh nghiệm: “Hướng dẫn

học sinh đổi đơn vị bằng cách đặt ngón tay”.

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:

a Cơ sở lý luận:

Vật lý là một khoa học thực nghiệm cho nên hầu hết các định luật, các thuyết vật

lý đều phải được xây dựng từ trên cơ sở những kết quả đo đạc thực nghiệm được định lượng một cách chuẩn xác và hợp lý theo bản chất vật lý của đối tượng Cho nên, việc đo lường các đại lượng vật lý là một lĩnh vực quan trọng không thể thiếu được trong nghiên cứu vật lý

Vật lý học được xây dựng trên đo lường các đại lượng vật chất Những đại lượng vật lý nhất định được chọn làm đại lượng cơ bản (ví dụ độ dài, thời gian và khối lượng); mỗi đại lượng được định nghĩa theo một chuẩn nào đó và được gán một đơn vị đo (ví dụ mét, giây và kilogram) Những đại lượng vật lý khác được định nghĩa theo các đại lượng

cơ bản và các chuẩn của chúng cùng các đơn vị

Ðo lường một vật là so sánh vật cần đo với một vật chuẩn gọi là đơn vị Khi cần

đo độ dài của một cái bàn, ta so sánh nó với độ dài cây thước được quy ước là một mét, nếu nó gấp 2,5 lần độ dài cây thước, ta nói, độ dài cái bàn là 2,5m Trong thực tế, đại lượng vật lý nào dùng phương pháp so sánh để đo được kết quả người ta gọi chúng là đại lượng đo trực tiếp Chiều dài, khối lượng, thời gian là các đại lượng đo trực tiếp Ðại đa

số các đại lượng vật lý khác như khối lượng riêng, gia tốc, xung lượng thì không thể đo trực tiếp được, mà phải thông qua tính toán, chúng được gọi chung là các đại lượng đo gián tiếp

Thực ra mỗi đại lượng vật lý đều phải có đơn vị đo riêng nhưng vì có một số đại lượng vật lý không thể đo trực tiếp, vả lại các đại lượng vật lý đều liên hệ với nhau qua các công thức, định luật vật lý, nên người ta chỉ chọn một số đơn vị đo trực tiếp mang tính phổ biến và thông dụng làm đơn vị cơ bản để xây dựng các đơn vị đo đạc các đại lượng vật lý khác Ví dụ như đơn vị đo gia tốc là m/s2, đơn vị đo khối lượng riêng là kg/m3 Ðó là các đơn vị dẫn xuất Ðơn vị dẫn xuất là đơn vị được suy ra từ đơn vị cơ bản qua các công thức của định luật hoặc định lý

Vì mỗi nước dùng những đơn vị đo khác nhau gây khó khăn cho việc trao đổi những thông tin khoa học nên từ năm 1960, các nhà khoa học đã thống nhất sử dụng một

hệ thống đơn vị đo lường cơ bản, viết tắt là SI (Systeme International) Ðây là một hệ thống đơn vị đo lường quốc tế hợp pháp ở đa số các nước trên thế giới hiện nay

Trang 3

Hệ SI bao gồm 7 đơn vị đo cơ bản là:

Các đại lượng dùng trong vật lý có một số thuộc các đại lượng vô hướng còn đa số

là những đại lượng véctơ Đại lượng vô hướng chỉ có đặc trưng về độ lớn; còn đại lượng véctơ, ngoài độ lớn, còn có đặc trưng về phương và chiều

Một tiện lợi khi xử lý các số đo rất lớn hay rất nhỏ, ta sử dụng các tiếp ngữ Mỗi tiếp ngữ biểu diễn một lũy thừa nhất định của 10, được dùng như một hệ số nhân Việc gắn một tiếp ngữ với một đơn vị SI có tác dụng nhân với thừa số đi kèm Những số có quá nhiều số hạng thì làm tròn số để việc tính toán không phức tạp

Ký hiệu tiếp ngữ (bội số và ước số) của đơn vị đo

a-Các đơn vị đo lường cơ bản:

Đo độ dài: Ðơn vị cơ bản là mét Mét được định nghĩa là một độ dài bằng chiều

dài quãng đường mà ánh sáng đi qua chân không trong 1/299792458 giây

Trang 4

Các đơn vị đo độ dài khác tính bằng mét

1 năm ánh sáng Light year 9, 461 x 1015

Đo khối lượng: Ðơn vị cơ bản là kilogram Kilogam là khối lượng một vật chuẩn

bằng Platin-Iridi được giữ tại phòng cân đo quốc tế Sèvres gần Paris Khối lượng 1kg gần bằng khối lượng của 1000cm3 nước nguyên chất ở nhiệt độ 4oC

Một số đơn vị khối lượng tính bằng kg

u (đơn vị khối lượng nguyên tử) 1,66057 x 10-27

Cara (đo khối lượng đá quí) 2 x 10-4

Đo thời gian: Thời gian đo bằng giây Giây được định nghĩa là khoảng thời gian

bằng tổng của 9192631770 chu kỳ bức xạ ứng với sự chuyển giữa hai mức trạng thái cơ bản siêu tinh tế của nguyên tử Cesi-133

Chúng ta thường cần chuyển đổi đơn vị trong đó một đại lượng vật lý được chuyển đổi Ta đổi bằng phương pháp gọi là biến đổi xích - liên kết Trong phương pháp này, ta nhân số đo ban đầu với một hệ số chuyển đổi (một tỷ số của các đơn vị bằng đơn vị)

b Cơ sở thực tiễn:

Tôi đã tiến hành tìm hiểu về việc đổi đơn vị của các đại lượng đo lường cơ bản qua các kênh thông tin sau:

Trang 5

- Qua nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng dạy và học của giáo viên và học sinh ở trường Tiểu học Thị trấn Cái Nhum và trường Trung học cơ sở Thị trấn Cái Nhum thông qua các tiết

dự giờ thăm lớp, dự giờ dạy tốt và thao giảng chuyên đề của tổ chuyên môn

- Qua tham dự hội giảng chuyên đề vật lý cấp huyện ở các trường THCS trong huyện Mang Thít

- Qua trao đổi với giáo viên trong tổ chuyên môn, các thành viên trong tổ nghiệp vụ của phòng Giáo dục - Đào tạo Mang Thít

- Qua trao đổi thông tin với học sinh ở khối lớp 4 + 5 trường Tiểu học Thị trấn Cái Nhum

và khối lớp 6 trường Trung học cơ sở Thị trấn Cái Nhum

Qua việc tìm hiểu trên, tôi rút ra những nhận xét như sau:

+ Đối với việc học của học sinh:

Thực trạng:

- Phần lớn học sinh thuộc tiếp ngữ được giáo viên hướng dẫn ở tiểu học (kilo, hecto, deca, deci, centi, milli) gắn với đơn vị của các đại lượng vật lý cơ bản (độ dài, khối lượng, diện tích, thể tích) để hình thành dãy bội và ước của đơn vị (gồm 3 bội và 3 ước của đơn vị đang xét) như:

+ Đơn vị độ dài: kilomet, hectomet, decamet, mét, decimet, centimet, millimet + Đơn vị khối lượng: tấn, tạ, yến, kilogam, hectogam, decagam, gam

+ Đơn vị diện tích: kilomet vuông, hectomet vuông, decamet vuông, mét vuông, decimet vuông, centimet vuông, millimet vuông

- Phần lớn học sinh thực hiện tốt việc đổi đơn vị theo thứ tự đổi từ lớn sang bé (đổi xuôi)

- Học sinh thực hiện tốt với các đơn vị có số mủ 1 (kg, m )

- Học sinh gặp khó trong việc đổi đơn vị theo thứ tự đổi từ bé sang lớn (đổi ngược)

- Phần lớn học sinh thật sự khó khăn và thường sai khi đổi các đơn vị có số mủ bình phương và lập phương (m2, m3 )

Nguyên nhân:

- Học sinh không nhớ dãy tiếp ngữ

- Không mạnh dạn áp dụng dãy tiếp ngữ cho tất cả các đơn vị

- Quên áp cơ số 100 (102) và cơ số 1 000 (103) đối với các đơn vị bình phương và lập phương

+ Đối với việc dạy của giáo viên:

- Nhiều giáo viên cũng cho rằng có ít nhiều khó khăn khi dạy học sinh đổi đơn vị

- Chưa có sự thống nhất trong việc hướng dẫn học sinh đổi đơn vị giữa các giáo viên, gần như mỗi giáo viên hướng dẫn theo một cách khác nhau Phần lớn, giáo viên dạy theo hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân

- Qua nghiên cứu, trao đổi, tôi thấy rằng giáo viên thường giảng dạy theo các phương thức sau:

Trang 6

Nhóm phương thức 1: Vừa nhẩm, vừa viết

Nhiều giáo viên, đặc biệt là những giáo viên trẻ, mới ra trường, còn ít kinh nghiệm giảng dạy thường chọn phương thức vừa nhẩm vừa viết

Khi giảng dạy theo phương thức này, giáo viên thường hướng dẫn cho học sinh tiếp ngữ và gán với đơn vị của đại lượng cần đổi và yêu cầu học sinh học thuộc lòng

Ví dụ: Đo độ dài: kilomet, hectomet, decamet, mét, decimet, centimet, millimet Sau đó giáo viên cho ví dụ và hướng dẫn cho học tiến hành đổi đơn vị từ lớn sang

bé và từ bé sang lớn bằng cách nhẩm thầm dãy tiếp ngữ và viết ra Theo cách này chữ số hàng đơn vị của nó luôn gắn với tên đơn vị đó, sau đó cứ mỗi chữ số hàng tiếp theo gắn với 1 đơn vị liền trước (hoặc liền sau) nó, nếu thiếu chữ số thì viết chữ số 0 cho đến đơn

vị cần đổi (điền dấu phẩy vào sau đơn vị đổi nếu đổi ngược)

Ví dụ:

a) Đổi xuôi: 75m = ?dm

Học sinh nhẩm là 75m, nhẫm tiếp dm do không có số nên học sinh viết thêm số 0 Kết quả là 750dm

b) Đổi ngược: 20mm = ?m

Học sinh nhẩm là 0mm, nhẫm tiếp 2dm, nhẩm tiếp 0m do không có chữ số nên học sinh viết thêm số 0 sau đó điền dấu phẩy sau số 0 Kết quả là 0,20m

Nếu bài tập cho số thập phân thì giáo viên hướng dẫn học sinh mỗi lần nhẩm thì dời dấu phẩy sang 1 chữ số (đổi xuôi dời sang phải, đổi ngược dời sang trái)

Đối với các đơn vị bình phương và lập phương thì mỗi lần nhẩm lần lượt viết 2 và

3 chữ số

Nhóm phương thức 2: Lập bảng.

Những giáo viên giảng dạy lâu năm, nhiều kinh nghiệm thường hướng dẫn học sinh đổi đơn vị theo phương thức lập bảng

Khi hướng dẫn học sinh đổi đơn vị theo phương thức này giáo viên cũng hướng dẫn cho học sinh tiếp ngữ và gán với đơn vị của đại lượng cần đổi và yêu cầu học sinh học thuộc lòng Khi tiến hành đổi đơn vị giáo viên yêu cầu học sinh phải viết lại dãy tiếp ngữ ra giấy rồi thực hiện như cách vừa nhẩm, vừa viết Thực ra bản chất, ý nghĩa của bài toán là như nhau song cách thể hiện khác nhau, cách này học sinh ít nhầm lẫn hơn bởi các em đã viết các tiếp ngữ đơn vị đo theo thức tự, chỉ cần một lần viết đã áp dụng cho nhiều bài đổi và nó hiển thị rõ ràng không như phương pháp vừa nhẩm vừa viết ở trên

Nhóm phương thức 3: Thực hiện phép chia.

Một phần giáo viên hướng dẫn học sinh đổi đơn vị theo phương thức thực hiện phép chia

Khi hướng dẫn học sinh đổi đơn vị theo phương thức này giáo viên cũng hướng dẫn học sinh dãy tiếp ngữ và hướng dẫn thêm: Đơn vị chính là mét; deca: nghĩa là 10 (mười); hecto: nghĩa là 100 (một trăm); kilo: nghĩa là 1 000 (một nghìn); deci: nghĩa là 1/10 (một phần mười); centi: nghĩa là 1/100 (một phần trăm); milli: nghĩa là 1/1 000 (một phần nghìn) Như vậy, học sinh có thể hiểu kilomet là một nghìn mét hoặc centimet là một phần một trăm mét v.v Trong cách này giáo viên hướng dẫn lấy giá trị cần đổi chia cho giá trị tiếp ngữ cần đổi

Trang 7

Ví dụ:

a) Đổi xuôi: 18m = ?mm

Học sinh hiểu 1millimet = 1/1 000m

Học sinh thực hiện 18/1/1 000 = 18x1 000 = 18 000mm

b) Đổi ngược: 45m = ?km

Học sinh hiểu 1km = 1 000m

Học sinh thực hiện 45/1 000 = 0,045km

Ngoài ra, một số giáo viên còn hướng dẫn học sinh nhiều cách đổi khác như quy tắc tam xuất, phương thức ngược chia - xuôi nhân

Tóm lại, việc hướng dẫn học sinh đổi đơn vị các phép đo có nhiều cách thực hiện khác nhau Trong các cách nêu trên, mỗi cách có những điểm hay và hạn chế khác nhau Tuy nhiên, có một hạn chế tổng quan là có quá nhiều cách dẫn đến việc khi lên cấp THCS các học sinh gần như rất khó hợp nhau trong việc đổi đơn vị Vì, nhiều học sinh lại được hướng dẫn nhiều cách đổi đơn vị khác nhau

c Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:

- Từ các nguyên nhân, các cơ sở trên, qua quá trình tìm tòi, nghiêm cứu, qua kinh nghiệm

giảng dạy nhiều năm của bản thân Tôi rút ra kinh nghiệm giảng dạy “Hướng dẫn học

sinh đổi đơn vị bằng cách đặt ngón tay”.

- “Hướng dẫn học sinh đổi đơn vị bằng cách đặt ngón tay” là phương thức đổi đơn vị

chính xác tuyệt đối, dễ thực hiện và đặc biệt rất trực quan

- Phương pháp giảng dạy này được tiến hành theo các bước sau:

+ Bước một: Hướng dẫn học sinh dãy tiếp ngữ.

- Việc hướng dẫn học sinh dãy tiếp ngữ chỉ thực hiện ở cấp Tiểu học

- Ở cấp THCS giáo viên chỉ yêu cầu học sinh nhắc lại dãy tiếp ngữ đã học ở Tiểu học (yêu cầu học sinh phải thuộc và ghi ra chính xác)

- Chỉ giới thiệu học sinh dãy tiếp ngữ thường sử dụng: gồm 3 bội và 3 ước

Bội: kilo, hecto, deca

Đơn vị của đại lượng vật lý

Ước: deci, centi, milli

- Hướng dẫn học sinh gắn đơn vị của đại lượng vật lý vào dãy tiếp ngữ và cách ký hiệu

Ví dụ:

a) Phép đo độ dài: Đơn vị là mét, ký hiệu m thì có dãy tiếp ngữ:

kilomet (km), hectomet (hm), decamet (dam), mét (m), decimet (dm), centimet (cm), millimet (mm)

kilomet vuông (km2), hectomet vuông (hm2), decamet vuông (dam2), mét vuông (m2), decimet vuông (dm2), centimet vuông (cm2), millimet vuông (mm2)

Trang 8

kilomet khối (km3), hectomet khối (hm3), decamet khối (dam3), mét khối (m3), decimet khối (dm3), centimet khối (cm3), millimet khối (mm3)

d) Phép đo khối lượng: Đơn vị là kilogam, ký hiệu kg thì có dãy tiếp ngữ

tấn (T), tạ (t), yến (y), kilogam (kg), hectogam (hg), decagam (dg), gam (g)

+ Bước hai: Tiến hành đổi đơn vị.

- Trước tiên, học sinh viết ra nháp số cần đổi và đơn vị

- Sau đó, học sinh đặt ngón tay trỏ (bàn tay trái) lần đầu tiên bên dưới chữ số hàng đơn vị

- Tiếp sau đó, học sinh vừa nhẩm thầm một tiếp ngữ (liền trước nếu đổi ngược; liền sau nếu đổi xuôi), vừa di chuyển ngón tay một lần (đổi ngược thì di chuyển ngón tay sang trái; đổi xuôi thì di chuyển ngón sang phải)

- Mỗi lần nhẩm thầm một tiếp ngữ thì di chuyển ngón tay một lần Sau khi di chuyển ngón tay thì quan sát, nếu trên đầu ngón tay có chữ số thì giữ nguyên chữ số đó, nếu không có chữ số thì điền vào ngay bên trên đầu ngón tay chữ số 0

- Việc nhẩm thầm tiếp ngữ và di chuyển ngón tay chỉ dừng lại khi đến đơn vị cần đổi

- Sau khi dừng nhẩm thầm và di chuyển ngón tay, nếu chữ số đầu tiên là số 0 thì viết dấu phẩy (,) sau số 0 đầu tiên

- Cuối cùng ghi kết quả vào bài làm

- Đối với những đơn vị có số mũ là 1 như: mét (m); kilogam (kg) thì sử dụng một ngón tay (ngón tay trỏ trái)

- Đối với những đơn vị có số mũ là 2 như: mét vuông (m2) thì sử dụng hai ngón tay (ngón tay trỏ và ngón tay giữa trái)

- Đối với những đơn vị có số mũ là 3 như: mét khối (m3) thì sử dụng ba ngón tay (ngón tay trỏ, ngón tay giữa và ngón áp út trái)

IV CÁC GIẢI PHÁP CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

1 Giải pháp thực hiện sáng kiến kinh nghiệm:

Việc thực hiện, vận dụng sáng kiến kinh nghiệm “Hướng dẫn học sinh đổi đơn vị

bằng cách đặt ngón tay” cần thực hiện các giải pháp sau:

+ Trong việc giảng dạy của giáo viên:

- Cần sự thống nhất trong cách hướng dẫn học sinh đổi đơn vị

- Trong giảng dạy cần chú trọng việc hướng dẫn, kiểm tra học sinh dãy tiếp ngữ và ký hiệu

- Hướng dẫn học sinh mạnh dạn gán đơn vị của đại lượng vật lý bất kỳ vào dãy tiếp ngữ

- Đối với giáo viên Tiểu học phải thực hiện nghiêm túc, đầy đủ hai bước trong sáng kiến kinh nghiệm

Trang 9

- Đối với giáo viên THCS chỉ bỏ qua bước một khi học sinh thật sự thuộc lòng dãy tiếp ngữ và ký hiệu

- Trong giảng dạy, khi cần đổi đơn vị thì giáo viên nên thực hiện hoặc yêu cầu học sinh phải thực hiện theo kinh nghiệm này để tạo thành thói quen

- Khi học sinh đã sử dụng thành thạo thì có thể định hướng cho học sinh chuyển vừa nhẩm vừa viết thành vừa nhẩm thầm, vừa nhớ thầm

+ Trong việc học của học sinh:

- Phải thuộc lòng dãy tiếp ngữ và ký hiệu

- Trong học tập, khi cần đổi đơn vị thì phải thực hiện theo các bước hướng dẫn của sáng kiến kinh nghiệm này để tạo thành thói quen

- Tự tin hơn khi tiến hành đổi đơn vị

+ Đối với lãnh đạo nhà trường:

- Thường xuyên chỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp dạy - học

- Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo viên thực hiện sáng kiến kinh nghiệm

- Khuyến khích giáo viên thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này

Sáng kiến kinh nghiệm “Hướng dẫn học sinh đổi đơn vị bằng cách đặt ngón tay”

sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi được thực hiện đồng bộ tất cả các giải pháp trên

2 Thí dụ minh họa cho sáng kiến kinh nghiệm:

Ví dụ 1: Đối với những đơn vị có số mũ là 1:

a) Đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị bé (đổi xuôi)

Đề bài: 15m = ?mm

Tiến hành đổi đơn vị:

- Viết ra nháp: 15

- Đặt ngón tay trỏ trái ngay bên dưới hàng đơn vị là số 5 ta có hình ảnh 15

- Sau đó, học sinh vừa nhẩm thầm dm, vừa di chuyển ngón tay sang phải 15

- Do bên trên ngón tay không có chữ số nên học sinh sẽ viết vào đó số 0 150

- Học sinh tiếp tục vừa nhẩm thầm cm, vừa di chuyển ngón tay sang phải 150

P

- Do bên trên ngón tay không có chữ số nên học sinh sẽ viết vào đó số 0 1500

- Học sinh tiếp tục vừa nhẩm thầm mm, vừa di chuyển ngón tay sang phải 1500

Trang 10

- Do bên trên ngón tay không có chữ số nên học sinh sẽ viết vào đó số 0 15000

- Học sinh ghi kết quả vào bài làm: 15m = 15 000mm

b) Đổi từ đơn vị bé sang đơn vị lớn (đổi ngược)

Đề bài: 28cm = ?m

Tiến hành đổi đơn vị:

- Viết ra nháp: 28

- Đặt ngón tay trỏ trái ngay bên dưới hàng đơn vị là số 8 ta có hình ảnh 28

- Sau đó, học sinh vừa nhẩm thầm dm, vừa di chuyển ngón tay sang trái 28

- Do bên trên ngón tay có chữ số 2 nên học sinh giữ nguyên số 2

- Học sinh tiếp tục vừa nhẩm thầm m, vừa di chuyển ngón tay sang trái 28

- Do bên trên ngón tay không có chữ nên học sinh viết vào đó số 0 028

- Do số đầu là số 0 nên học sinh viết dấu phẩy sau số 0 0,28

- Học sinh ghi kết quả vào bài làm: 28cm = 0,28m

Ví dụ 2: Đối với những đơn vị có số mũ là 2:

a) Đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị bé (đổi xuôi)

Tiến hành đổi đơn vị:

- Viết ra nháp: 42

- Đặt ngón tay trỏ trái ngay bên dưới hàng đơn vị là số 2 ta có hình ảnh 42

- Sau đó, học sinh vừa nhẩm thầm dm2, vừa di chuyển ngón tay sang phải 42

- Do bên trên cả hai ngón tay không có chữ số nên học điền vào đó hai số 0 4200

- Học sinh tiếp tục vừa nhẩm thầm cm2, vừa di chuyển ngón tay sang phải 4200

- Bên trên cả hai ngón tay không có chữ số nên học điền vào đó hai số 0 420000

Ngày đăng: 22/04/2018, 03:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w