Tổng quan chung về các nội dung được các tác giả trên nghiên cứu đối với môđun giả nội xạ bao gồm: Nghiên cứu các tính chất của môđun giả nội xạ mà tương tự các tính chất của môđun tựa n
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THẾ HẢI
MỘT SỐ MỞ RỘNG CỦA LỚP MÔĐUN GIẢ NỘI XẠ
VÀ VÀNH LIÊN QUAN
Chuyên ngành: ĐẠI SỐ VÀ LÝ THUYẾT SỐ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TOÁN HỌC
Người hướng dẫn khoa học 1: GS.TS LÊ VĂN THUYẾTNgười hướng dẫn khoa học 2: TS BÀNH ĐỨC DŨNG
HUẾ - NĂM 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi được viết riênghoặc viết chung với các đồng tác giả Các kết quả nghiên cứu nêu trong
luận án là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
PHAN THẾ HẢI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai người Thầyhướng dẫn là GS.TS Lê Văn Thuyết, Đại học Huế và TS Bành Đức Dũng,
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh, những người Thầy rất
nghiêm khắc nhưng mẫu mực, những người luôn tận tình dạy bảo, hướng
dẫn, cổ vũ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của
mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Toán và Phòng Sau đại học của TrườngĐại học Sư phạm-Đại học Huế; Ban Đào tạo Đại học Huế; Trường Cao đẳng
Sư phạm Bà Rịa-Vũng Tàu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được học
tập, nghiên cứu và hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh của mình
Tôi xin cảm ơn Khoa Toán, Trường Đại học công nghệ Gebze, Thổ Nhĩ
Kỳ và Khoa Đại số-Logic Toán thuộc Viện Toán-Cơ Lobachevsky, Trường
Đại học Kazan, Liên bang Nga đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được sang
thực tập, nghiên cứu trong thời gian từ 20/4/2015 đến 20/6/2015 (tại Thổ
Nhĩ Kỳ) và từ 01/5/2016 đến 06/7/2016 (tại Liên bang Nga)
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Trương Công Quỳnh, TrườngĐại học Sư phạm-Đại học Đà Nẵng đã có sự nhiệt tình giúp đỡ và trao đổi
chuyên môn trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như quá trình viết
và chỉnh sửa luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè và các anh chị em nghiên cứusinh đã luôn động viên và cổ vũ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến đại gia đình của tôi
đã đồng cảm và chia sẻ những khó khăn trong suốt thời gian tôi làm nghiên
cứu sinh và hoàn thành luận án Cảm ơn sự hy sinh của vợ và hai con, chính
họ là chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn
thành luận án này
PHAN THẾ HẢI
Trang 4MỤC LỤC
1.1 Một số kí hiệu và khái niệm cơ bản 161.2 Môđun nội xạ, xạ ảnh và một số mở rộng của môđun nội xạ 191.3 Vành Artin, Noether và một số lớp vành quan trọng khác 231.4 Môđun nửa đơn và vành Artin nửa đơn 26
2.1 Định nghĩa và ví dụ 302.2 Các kết quả liên quan đến môđun giả nội xạ cốt yếu 32
3.1 Định nghĩa và ví dụ 483.2 Các kết quả liên quan đến môđun ADS tổng quát 50
4.1 Môđun thỏa mãn điều kiện (C) 644.2 Đặc trưng của một số lớp vành thông qua môđun thỏa mãn
điều kiện (C) 82
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
[1] Tài liệu số 1 ở mục "Tài liệu tham khảo"
N Tập hợp các số tự nhiên
Q, R Trường các số hữu tỷ, số thực (tương ứng)
|X| Bản số của tập hợp XE(M ) Bao nội xạ của môđun MEndR(M ) Vành các tự đồng cấu của R-môđun MIm(f ), Ker(f ) Ảnh, hạt nhân của đồng cấu f (tương ứng)
Mn(R) Vành ma trận vuông cấp n lấy các hệ tử trên vành R
MR (RM ) M là một R-môđun phải, trái (tương ứng)
M (tích trực tiếp của |I| bản sao của môđun M)
N ≤ M N là môđun con của môđun M
N < M N là môđun con thực sự của môđun M
N ≤e M N là môđun con cốt yếu (hay lớn) của môđun M
N M N là môđun con đối cốt yếu (hay bé) của môđun M
N ≤⊕ M N là hạng tử trực tiếp của môđun M
N ' M N đẳng cấu với môđun M
N ⊕ M Tổng trực tiếp của môđun N và môđun M
rR(X), lR(X) Linh hóa tử phải và trái của tập hợp X trong RR[x] Vành đa thức trên vành R
Rad(M ), J (R) Căn của môđun M, căn của vành R (tương ứng)
Soc(M ) Đế của môđun M
Sr, Sl Soc(RR), Soc(RR)
Trang 6DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ
bất biến đầy đủ fully invariant
bất biến đẳng cấu automorphism-invariant
điều kiện dây chuyền giảm Descending Chain Condition
điều kiện dây chuyền tăng Ascending Chain Condition
giả nội xạ cốt yếu essentially pseudo-injective
giả nội xạ cốt yếu mạnh strongly essentially pseudo-injective
hạng tử trực tiếp direct summand
M được sinh con bởi N M is subgenerated by N
M là một vật sinh con của N M is a subgenerator for N
Trang 7THUẬT NGỮ TIẾNG ANH
M sinh ra N M generates N
môđun cốt yếu (lớn) (large) essential modulemôđun đối cốt yếu (bé) (small) superfluous modulemôđun mở rộng extending module
môđun trung thành faithful modulemôđun tự do free modulemôđun tự nội xạ self-injective modulemôđun tựa nội xạ quasi-injective modulemôđun tự sinh self-generator module
mở rộng cốt yếu essential extension
N-giả nội xạ pseudo-N-injective
N-giả nội xạ cốt yếu essentially pseudo N-injective
N-nửa xạ ảnh semi-N-projectivenội xạ tương hỗ (relative) mutually injective
nửa xạ ảnh semi projectivephần bù giao complement
thể (vành chia) skew field (division ring)tựa liên tục quasi-continuous
vành Artin nửa đơn semisimple Artinian ringvành nửa di truyền semihereditary ringvành QF quasi Frobenius ringvành tự nội xạ self-injective ring
Trang 8MỞ ĐẦU
Lý thuyết vành nói chung và lý thuyết vành kết hợp nói riêng đã xuấthiện khoảng 120 năm nay và đang được các nhà toán học tiếp tục quan tâm
nghiên cứu Để nghiên cứu cấu trúc vành, chúng ta có thể đi theo hai hướng
chính Hướng thứ nhất là nghiên cứu cấu trúc của vành thông qua các điều
kiện bên trong (tức là nghiên cứu các iđêan một phía) và hướng thứ hai là
đặc trưng vành bằng các điều kiện bên ngoài (tức là nghiên cứu các môđun
trên chúng) Trong luận án này, chúng tôi nghiên cứu cấu trúc vành theo
hướng thứ hai
Trong lý thuyết môđun, khái niệm môđun nội xạ được Baer đề xuấtvào năm 1940 Theo đó, một môđun M được gọi là N-nội xạ nếu với mỗi
môđun con A của N thì mọi đồng cấu f : A → M đều mở rộng được đến
đồng cấu g : N → M Môđun M được gọi là nội xạ nếu M là N-nội xạ với
mọi môđun N Không chỉ đưa ra khái niệm môđun nội xạ, Baer còn đưa
ra một tiêu chuẩn quan trọng để kiểm tra khi nào thì một R-môđun M là
nội xạ Tiêu chuẩn đó mang tên "Tiêu chuẩn Baer" và được phát biểu như
sau: Môđun MR là nội xạ nếu với mọi iđêan phải I của R, mọi đồng cấu
f : IR → MR đều mở rộng được đến đồng cấu g : RR → MR
Từ khi có tiêu chuẩn Baer ra đời, hai hướng nghiên cứu chính về sự mởrộng của môđun nội xạ đã được đề cập Đó là nghiên cứu sự mở rộng môđun
nội xạ từ định nghĩa gốc và từ Tiêu chuẩn Baer Vì mục đích của luận án
này, chúng tôi chỉ đề cập đến một sự mở rộng của môđun nội xạ từ định
nghĩa gốc mà Johnson và Wong đã đề xuất vào năm 1961 trong [26], đó là
môđun tựa nội xạ Môđun M được gọi là tựa nội xạ nếu M là M-nội xạ
Môđun tựa nội xạ là một mở rộng thực sự của môđun nội xạ
Vào năm 1967, Singh và Jain đã nghiên cứu một trường hợp tổng quátcủa môđun tựa nội xạ, đó là môđun giả nội xạ (xem [38]) Theo đó, môđun
M được gọi là N-giả nội xạ nếu với mọi môđun con A của N thì mỗi đơn
Trang 9cấu từ A vào M đều mở rộng được đến đồng cấu từ N vào M Môđun M
được gọi là giả nội xạ nếu M là M-giả nội xạ Có thể nói môđun giả nội xạ
là một khái niệm đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm đặc biệt của các
nhà nghiên cứu Các công trình tiêu biểu liên quan đến môđun giả nội xạ
có thể kể đến là Singh và Jain (1967, [38]), Hallett (1971, [21]), Teply (1975,
[41]), Jain và Singh (1975, [25]), Dung-Huynh-Smith và Wisbauer (1996,
[14]), Dinh (2005, [13]), Alahmadi, Er và Jain (2005, [6]) Tổng quan chung
về các nội dung được các tác giả trên nghiên cứu đối với môđun giả nội xạ
bao gồm: Nghiên cứu các tính chất của môđun giả nội xạ mà tương tự các
tính chất của môđun tựa nội xạ; xét xem khi nào thì một môđun giả nội xạ
sẽ là môđun tựa nội xạ; đưa ra các ví dụ để chứng tỏ tồn tại môđun giả nội
xạ mà không tựa nội xạ; nghiên cứu thêm các tính chất riêng của môđun
giả nội xạ để từ đó đặc trưng một số vành quan trọng như vành Artin nửa
đơn, vành QF, vành PF, vành Artin và vành Noether, vv
Cũng cần nói thêm rằng, mặc dù môđun giả nội xạ là một mở rộng củamôđun tựa nội xạ nhưng nó có phải là một mở rộng thực sự hay không
thì chưa ai trả lời được từ năm 1967 cho đến khi xuất hiện công trình của
Hallett vào năm 1971 (xem [21]) Trong luận án tiến sĩ của mình, Hallett
đã đưa ra ví dụ về môđun giả nội xạ mà không tựa nội xạ Sau đó, vì nhiều
mục đích khác nhau, Teply ([41]) cũng như Jain và Singh ([25]) đã bổ sung
nhiều ví dụ khác để chứng tỏ tồn tại một môđun giả nội xạ mà không tựa
nội xạ
Như một sự tất yếu của quá trình phát triển toán học, môđun giả nội xạ
ra đời với nhiều tính chất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu lý thuyết vành
đã tạo nên động lực lớn thúc đẩy các nhà nghiên cứu tiếp tục quan tâm đến
sự mở rộng của môđun này Một số mở rộng đáng kể của lớp môđun giả nội
xạ là lớp môđun giả nội xạ cốt yếu (xem [6]), môđun nội xạ cốt yếu (xem
[14]), môđun C2 (xem [14] và [32]), vv
Sự nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này là tiếp tục nghiên cứumột số mở rộng của lớp môđun giả nội xạ để từ đó đặc trưng các vành
Trang 10quen thuộc Vì vậy, chúng tôi chọn tên đề tài để nghiên cứu trong luận án
là "Một số mở rộng của lớp môđun giả nội xạ và vành liên quan"
Cấu trúc của luận án được chia thành 4 chương
Chương 1 dành để trình bày các khái niệm cơ bản và một số kết quả đãbiết nhằm sử dụng cho các chương sau
Trong Chương 2, chúng tôi nghiên cứu các tính chất của môđun giả nội
xạ cốt yếu
Vào năm 2005, các tác giả Alahmadi, Er và Jain đã nghiên cứu mộttrường hợp tổng quát của môđun giả nội xạ, đó là môđun giả nội xạ cốt
yếu (xem [6]) Theo đó, môđun M được gọi là N-giả nội xạ cốt yếu nếu với
mỗi môđun con A cốt yếu của N thì mọi đơn cấu f : A → M đều mở rộng
được đến đồng cấu g : N → M Môđun M được gọi là môđun giả nội xạ
cốt yếu nếuM là M-giả nội xạ cốt yếu Trong [6], các tác giả đã nghiên cứu
một số tính chất của môđun giả nội xạ cốt yếu và các ứng dụng của nó để
đặc trưng vành Artin nửa đơn, vành QF và vành SI Mặt khác, các tác giả
cũng đã chứng minh được rằng: Một môđun có chiều Goldie hữu hạn là giả
nội xạ khi và chỉ khi nó là giả nội xạ cốt yếu Những kết quả đầu tiên mà
chúng tôi thu được trong chương này là các đặc trưng của môđun N-giả nội
xạ cốt yếu (Mệnh đề 2.2.1, Định lý 2.2.2, Mệnh đề 2.2.6 và Định lý 2.2.7)
Trong [13], tác giả đã chứng minh được rằng, mọi môđun giả nội xạ đều
thỏa mãn điều kiện C2 Đối với môđun giả nội xạ cốt yếu, chúng tôi chứng
minh được rằng, mọi môđun giả nội xạ cốt yếu đều thỏa mãn điều kiện C3
(Định lý 2.2.11)
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa môđun giả nội xạ và tựa nội xạ,
H Q Dinh đã đặt ra câu hỏi trong [13] là: Một môđun không suy biến, giả
nội xạ và CS có phải là môđun tựa nội xạ hay không? Bằng việc nghiên
cứu tính chất của môđun giả nội xạ cốt yếu, chúng tôi đã chứng minh được
rằng, một môđun M là tựa nội xạ nếu và chỉ nếu M là môđun giả nội xạ
cốt yếu và CS (Định lý 2.2.12) Từ kết quả này, chúng tôi thu được câu trả
Trang 11lời cho câu hỏi nêu trên là: Một môđun M là tựa nội xạ nếu và chỉ nếu M
là môđun giả nội xạ và CS Ngoài các tính chất của môđun giả nội xạ cốt
yếu đã được đưa ra ở trên, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa môđun giả
nội xạ cốt yếu và vành các tự đồng cấu của nó cũng được chúng tôi đề cập
trong Định lý 2.2.14, đó là: Khi M là môđun tự sinh thì M là giả nội xạ
cốt yếu nếu vành EndR(M ) là giả nội xạ cốt yếu phải
Cho R là một vành và Ω là lớp các R-môđun nào đó, Ω được gọi là đếmịn nếu với bất kỳ M, N ∈ Ω, chúng ta có Soc(M ) ' Soc(N ) khi và chỉ
khi M ' N (xem [24]) Một môđun M được gọi là giả nội xạ cốt yếu mạnh
nếu M là N-giả nội xạ cốt yếu với mọi R-môđun phải N Chúng tôi ký
hiệuSE là lớp các R-môđun phải giả nội xạ cốt yếu mạnh và PR là lớp các
R-môđun phải xạ ảnh Khi đó chúng tôi chứng minh được rằng, R là vành
QF khi và chỉ khi lớp PR ∪ SE là đế mịn (Định lý 2.2.15) Trong trường
hợp R là vành Artin nửa đơn thì chúng tôi thu được kết quả: R là Artin
nửa đơn khi và chỉ khi lớp tất cả các R-môđun giả nội xạ cốt yếu là đế mịn
khi và chỉ khi lớp SE là đế mịn (Định lý 2.2.16) Ngoài các tính chất liên
quan đến vành Artin nửa đơn nói trên, việc nghiên cứu các tính chất của
môđun giả nội xạ cốt yếu liên quan đến vành Noether, vành đối nửa đơn và
mở rộng vành cũng được chúng tôi đề cập trong Định lý 2.2.17 và Định lý
tích M = S ⊕ T và với mỗi phần bù giao T0 của S thì M = S ⊕ T0 (xem
[7]) Trong công trình của mình, các tác giả trên đã chỉ ra được rằng, khái
niệm môđun ADS là một mở rộng thực sự của môđun tựa liên tục Nhiều
kết quả thú vị liên quan đến môđun này đã được nghiên cứu trong [7] và
[35] Có một tính chất của môđun giả nội xạ cốt yếu liên quan mật thiết đến
định nghĩa của môđun ADS mà chúng tôi quan tâm, đó là: Nếu M và N là
Trang 12các môđun và X = N ⊕ M thì N là M-giả nội xạ cốt yếu nếu và chỉ nếu
với bất kỳ phần bù giao K của N trong X mà K ∩ M = 0 thì X = N ⊕ K
(xem [6]) Từ mối liên quan này, chúng tôi đề xuất một mở rộng của môđun
ADS, đó là môđun ADS tổng quát Một môđun M được gọi là ADS tổng
quát nếu với mỗi sự phân tích M = S ⊕ T của M và mỗi phần bù giao T0
của S mà T0∩ T = 0 thì M = S ⊕ T0 Lớp môđun ADS tổng quát là một
mở rộng thực sự của lớp các môđun ADS (Ví dụ 3.1.2) Trong [7], các tác
giả đã chứng minh được rằng, nếu M là môđun ADS thì với bất kỳ sự phân
tích M = A ⊕ B, ta luôn có A và B là nội xạ tương hỗ Đối với môđun
ADS tổng quát, chúng tôi chỉ ra được rằng, môđun M là ADS tổng quát
thì với bất kỳ sự phân tích M = A ⊕ B, ta luôn có A và B là giả nội xạ
cốt yếu tương hỗ (Định lý 3.2.1) Nhiều kết quả chúng tôi thu được đối với
môđun ADS tổng quát là tương tự với các kết quả của môđun ADS trong
[35] Tuy nhiên, cũng có một số kết quả trong môđun ADS không còn đúng
nữa đối với môđun ADS tổng quát Chẳng hạn, để hạng tử trực tiếp của
môđun ADS tổng quát là ADS tổng quát thì chúng tôi cần thêm một số
điều kiện như môđun M phải là môđun phân phối hoặc hạng tử trực tiếp
của môđun M phải thỏa mãn điều kiện CS (Mệnh đề 3.2.6)
Trong [35], các tác giả đã chứng minh được rằng, M là nửa đơn nếu vàchỉ nếu mỗi môđun trongσ[M ] là ADS nếu và chỉ nếu mỗi môđun hữu hạn
sinh trong σ[M ] là ADS nếu và chỉ nếu mỗi môđun 2-sinh trong σ[M ] là
ADS Đối với môđun ADS tổng quát chúng tôi chứng minh được rằng, M
là nửa đơn nếu và chỉ nếu mỗi môđun trong σ[M ] là ADS tổng quát nếu và
chỉ nếu mỗi môđun hữu hạn sinh trong σ[M ] là ADS tổng quát nếu và chỉ
nếu mỗi môđun 3-sinh trong σ[M ] là ADS tổng quát (Định lý 3.2.10) Do
đó, một vành R là Artin nửa đơn khi và chỉ khi mỗi R-môđun phải là ADS
tổng quát khi và chỉ khi mỗi R-môđun phải hữu hạn sinh là ADS tổng quát
khi và chỉ khi mỗi R-môđun phải 3-sinh là ADS tổng quát (Hệ quả 3.2.11)
Đối với trường hợp môđun 2-sinh trong σ[M ], chúng tôi đã chỉ ra rằng, một
môđun xiclic M là nửa đơn khi và chỉ khi mỗi môđun 2-sinh trong σ[M ] là
Trang 13ADS tổng quát (Mệnh đề 3.2.12) Từ kết quả này, chúng tôi thu lại được kết
quả trong [35], đó là: R là vành Artin nửa đơn khi và chỉ khi mỗi R-môđun
phải 2-sinh là ADS Mối quan hệ giữa môđun ADS tổng quát với môđun
tựa nội xạ được chúng tôi quan tâm trong Định lý 3.2.14 Trong phần cuối
của chương này, cũng giống như môđun giả nội xạ cốt yếu, một kết quả liên
quan đến mở rộng vành ADS tổng quát được chúng tôi nghiên cứu trong
Định lý 3.2.15
Trong Chương 4, chúng tôi nghiên cứu một trường hợp mở rộng củamôđun C2, đó là: Môđun thỏa mãn điều kiện (C) Việc nghiên cứu lớp
môđun thỏa mãn điều kiện (C) cho chúng tôi thu được một số kết quả để
từ đó đặc trưng một số lớp vành quen thuộc
Như chúng ta đều biết, vành QF (hay còn gọi là tựa Frobenius) đượcNakayama giới thiệu vào năm 1939, đó là vành Artin hai phía và tự nội xạ
hai phía Một trong những kết quả đẹp đẽ về mối quan hệ giữa môđun xạ
ảnh và môđun nội xạ liên quan đến vành QF là định lý Faith-Walker Định
lý được phát biểu rằng: Vành R là QF khi và chỉ khi mọi R-môđun phải
(trái) nội xạ là xạ ảnh, khi và chỉ khi mọi R-môđun phải (trái) xạ ảnh là
nội xạ Nhiều đặc trưng khác cho một vành là QF đã được nhiều nhà toán
học quan tâm nghiên cứu Cuốn sách chuyên khảo [33] được xem là cuốn
sách chứa đầy đủ thông tin nhất về vành QF Vào năm 1967, Faith-Walker
đã chứng minh được rằng, vành R là QF khi và chỉ khi mọi R-môđun phải
(trái) nhúng được vào một môđun tự do Như vậy, nếu mỗi R-môđun phải
nhúng được vào một môđun tự do thì R là vành QF Một câu hỏi được
đưa ra ở đây là: Nếu mỗi R-môđun phải hữu hạn sinh nhúng được vào một
môđun tự do thì R có phải là vành QF hay không? Vành R mà mỗi R
-môđun phải hữu hạn sinh nhúng được vào một -môđun tự do thì được gọi
là vành FGF Do đó, câu hỏi mà chúng ta vừa đề cập có thể viết ngắn gọn
lại là: Vành FGF có phải là vành QF hay không? Câu hỏi này chính là giả
thuyết FGF nổi tiếng mà đến nay vẫn chưa có câu trả lời Trong [33], các
tác giả đã chứng minh được rằng, nếu R là vành FGF và C2 thì R là vành
Trang 14QF Như vậy, việc nghiên cứu môđun C2 và các mở rộng của nó được hy
vọng là sẽ góp phần làm sáng tỏ giả thuyết FGF nói trên
Theo [33] thì các khái niệm về vành thỏa mãn các điều kiện C1, C2 vàC3 được đề xuất bởi Utumi vào năm 1961 Sau đó việc mở rộng tới các
môđun lần lượt thuộc về Jeremy đối với môđun C1 (năm 1971), Takeuchi
đối với môđun C2 (năm 1972), Mohammed và Bouhy đối với môđun C3
(năm 1976)
Cho M là một môđun và S = EndR(M ) Trong Bổ đề 4.1.1, chúng tôichứng minh được rằng, môđun M là môđun C2 nếu và chỉ nếu với bất kỳ
s ∈ S, mà Ker(s) là hạng tử trực tiếp của M thì Im(s) là hạng tử trực tiếp
của M Từ kết quả này, chúng tôi đề xuất một mở rộng của môđun C2,
đó là môđun thỏa mãn điều kiện (C) Một môđun M được gọi là thỏa mãn
điều kiện (C) nếu với mỗi s ∈ S và s 6= 0, tồn tại n ∈ N sao cho sn 6= 0 và
nếu Ker(sn) là hạng tử trực tiếp của M thì Im(sn) là hạng tử trực tiếp của
M Một vành R được gọi là thỏa mãn điều kiện (C) phải nếu RR là môđun
thỏa mãn điều kiện (C) Một số mệnh đề tương đương với một môđun thỏa
mãn điều kiện (C) đã được chúng tôi đưa ra trong Định lý 4.1.10 và điều
kiện đủ cho một môđun thỏa mãn điều kiện (C) cũng đã được chúng tôi đề
cập trong Mệnh đề 4.1.11 Từ định nghĩa của môđun thỏa mãn điều kiện
(C), chúng ta có mọi môđun C2 đều thỏa mãn điều kiện(C) Khi môđun M
có vành các tự đồng cấu S = EndR(M ) là vành địa phương thì chúng tôi
chứng minh được 2 lớp môđun này là trùng nhau (Mệnh đề 4.1.7) Đối với
môđun C2 thì hạng tử trực tiếp của môđun C2 cũng là môđun C2 Trong
Định lý 4.1.12, chúng tôi cũng chứng minh được rằng, hạng tử trực tiếp của
môđun thỏa mãn điều kiện (C) cũng là môđun thỏa mãn điều kiện (C)
Khi M là một môđun thỏa mãn điều kiện (C) mà có sự phân tích
M = A1⊕A2 thì trong Mệnh đề 4.1.13, chúng tôi chứng minh được rằng, nếu
f : A1 → A2 là một R-đồng cấu thỏa mãn Ker(f ) ≤⊕ A1 thì Im(f ) ≤⊕ A2
Từ mệnh đề này, chúng tôi thu được một hệ quả về mối liên hệ giữa môđun
thỏa mãn điều kiện (C) và môđun C2 là: Nếu M ⊕ M là một môđun thỏa
Trang 15mãn điều kiện (C) thì M là môđun C2 (Hệ quả 4.1.15).
Về mối quan hệ giữa môđun thỏa mãn điều kiện (C) và vành các tựđồng cấu S = EndR(M ) của nó, chúng tôi chứng minh được rằng, nếu M
là môđun tự sinh thì M thỏa mãn điều kiện (C) khi và chỉ khi S là vành
thỏa mãn điều kiện (C) phải (Định lý 4.1.17)
Trong [30] và [31], các tác giả Lee, Rizvi và Roman đã đưa ra các kháiniệm môđun Rickart và d-Rickart như sau: Một môđun M được gọi là
Rickart nếu ∀s ∈ S thì Ker(s) = e(M ) với e2 = e ∈ S và M được gọi là
d-Rickart nếu ∀s ∈ S thì Im(s) = e(M ) với e2 = e ∈ S Mối liên hệ giữa
môđun M với tính chính quy của vành các tự đồng cấuS = EndR(M ) cũng
đã được các tác giả trên đưa ra trong [30] và [31] Theo đó, S là vành chính
quy khi và chỉ khi M là môđun Rickart và thỏa mãn điều kiện C2 khi và
chỉ khi M là môđun d-Rickart và thỏa mãn điều kiện D2 Đối với môđun
thỏa mãn điều kiện (C), chúng tôi cũng chứng minh được rằng, S là vành
chính quy khi và chỉ khi M là môđun Rickart và thỏa mãn điều kiện (C) khi
và chỉ khi M là môđun d-Rickart và s(M ) là M-nửa xạ ảnh với mọi s ∈ S
(Định lý 4.1.21)
Việc nghiên cứu môđun thỏa mãn điều kiện (C) để đặc trưng vành đượcchúng tôi quan tâm trong phần cuối của luận án này Khi R là vành chính
quy (theo nghĩa von Neumann), một số tính chất của R-môđun thỏa mãn
điều kiện (C) được chúng tôi đưa ra trong Định lý 4.2.2 Khi R là vành di
truyền, một kết quả quan trọng đã biết là, vành R là di truyền nếu và chỉ
nếu mỗi môđun thương của mộtR-môđun phải nội xạ là nội xạ Trong Định
lý 4.2.4, chúng tôi chứng minh được rằng R là vành di truyền phải nếu và
chỉ nếu mỗi môđun thương của một R-môđun phải nội xạ là môđun thỏa
mãn điều kiện (C) Chúng tôi cũng thu được một số kết quả về việc đặc
trưng vành Noether đối với môđun thỏa mãn điều kiện (C) trong Định lý
4.2.5 Cuối cùng, các đặc trưng liên quan đến vành nửa Artin được chúng
tôi nghiên cứu trong Định lý 4.2.6
Trang 16CHƯƠNG 1
Kiến thức chuẩn bị
Trong luận án này, nếu không nói gì thêm, vành R đã cho luôn được giảthiết là vành kết hợp, có đơn vị 1 6= 0 và mọi R-môđun được xét là môđun
unita phải hoặc trái
1.1 Một số kí hiệu và khái niệm cơ bản
Trước hết, chúng tôi giới thiệu những ký hiệu, khái niệm và các tínhchất cơ bản sẽ được sử dụng trong luận án Những khái niệm và kết quả
cơ bản liên quan đến luận án mà không được giới thiệu ở đây chúng ta có
thể tham khảo trong các tài liệu của Anderson-Fuller ([10]),
Dung-Huynh-Smith-Wisbauer ([14]), Kasch ([28]), Lam ([29]), Nicholson-Yousif ([33]) và
Wisbauer ([42])
Với vành R đã cho, ta viết MR (RM ) để chỉ M là một R-môđun phải(t.ư., trái) Trong một ngữ cảnh cụ thể của luận án, khi không sợ nhầm lẫn
về phía của môđun, để đơn giản ta viết môđun M thay vì MR Chúng tôi
dùng các ký hiệu A ≤ M (A < M ) để chỉ A là môđun con (t.ư., thực sự)
của môđun M Nếu A là một hạng tử trực tiếp của môđun M thì ta viết
A ≤⊕ M Ký hiệu Mn(R) là để chỉ vành các ma trận vuông cấpnlấy các hệ
tử trên vành R Nếu I là một tập với card(I) = α và M là một môđun, ta
sẽ kí hiệu tổng trực tiếpα bản sao củaM bởiM(I) hoặcM(α), tích trực tiếp
α bản sao của M bởi MI hoặc Mα Ta ký hiệu Mod-R (R-Mod) là phạm
Trang 17trù các R-môđun phải (t.ư., trái) Cho M và N là các R-môđun phải, đồng
cấu từ M đến N được hiểu là đồng cấu từ R-môđun phải M đến R-môđun
phải N
Cho M là một R-môđun phải và tập ∅ 6= X ⊂ M Linh hóa tử phải của
X trong R được ký hiệu là rR(X) và được xác định như sau:
rR(X) = {r ∈ R | xr = 0 ∀x ∈ X}
Khi không sợ nhầm lẫn về vành cơ sở R chúng ta có thể viết gọn là r(X)
thay vì rR(X) Khi X = {x1, x2, , xn} thì chúng ta viết r(x1, x2, , xn)
thay vìr({x1, x2, , xn}) Ta córR(X)là một iđêan phải của vành R Hơn
nữa, nếu X là môđun con của M thì rR(X)là một iđêan (phải và trái) của
R Linh hóa tử trái của X trong R được ký hiệu là lR(X) và được định
điều kiện K ∩ N = 0 Theo [10, Proposition 5.21] thì mọi môđun con trong
M luôn tồn tại phần bù giao trong M
Môđun con A của môđun M được gọi là cốt yếu hoặc lớn trong M nếuvới mỗi môđun con khác không B của M ta đều có A ∩ B 6= 0 Khi đó,
chúng ta cũng gọi M là một mở rộng cốt yếu của A và được ký hiệu là
A ≤e M Một đơn cấuf : M → N được gọi là đơn cấu cốt yếu (hoặc nhúng
cốt yếu) nếu Im(f ) ≤e N Đối ngẫu với khái niệm cốt yếu, môđun con A
của môđunM được gọi là đối cốt yếu hoặc bé trongM, ký hiệu là A M,
nếu với mỗi môđun con B 6= M của M chúng ta đều có A + B 6= M Một
toàn cấu g : M → N được gọi là toàn cấu đối cốt yếu (hoặc toàn cấu bé )
nếu Ker(g) M
Phần tử x của vành R được gọi là phần tử lũy đẳng nếu x2 = x Các
Trang 18cặp phần tử lũy đẳng e1, e2 của vành R được gọi là trực giao nếu e1.e2 =
e2.e1 = 0
Một kết quả về phần tử lũy đẳng liên quan đến luận án là bổ đề sauđây:
Bổ đề 1.1.1 ([5, Lemma 5]) Cho R là một vành thỏa mãn R = ReR với
e2 = e ∈ R và M là một R-môđun phải Đặt S = eRe và giả sử L là một
môđun con của M Khi đó:
(1) L là cốt yếu trong M nếu và chỉ nếu Le là cốt yếu trong (M e)S
(2) L là phần bù giao của K trong M nếu và chỉ nếu Le là phần bù giao
của Ke trong (M e)S
(3) MR = L ⊕ K nếu và chỉ nếu (M e)S = Le ⊕ Ke
ChoM vàN là cácR-môđun, theo [42, Definitions, trang 118] thì môđun
N được gọi là được sinh bởi M (M-sinh) hay M sinh ra N nếu tồn tại toàn
cấu f : M(Λ) → N, với tập chỉ số Λ nào đó Môđun M được gọi là tự sinh
nếu nó sinh ra mọi môđun con của nó, có nghĩa là với mọi môđun con N
của M thì luôn tồn tại toàn cấu f : M(Λ) → N với tập chỉ số Λ nào đó Ta
nói một R-môđun phải N là được sinh con bởi M hoặc M là một vật sinh
con của N nếu N đẳng cấu với một môđun con của một môđun M-sinh
Ta ký hiệu σ[M ] là phạm trù con của phạm trù Mod-R mà các vật là các
R-môđun phải được sinh con bởi M và các cấu xạ là các đồng cấu môđun
Rõ ràng, σ[M ] là phạm trù con đầy đủ của phạm trù Mod-R
Đế phải của môđunMR được kí hiệu là Soc(MR), nó là tổng các môđuncon đơn của MR, là giao của tất cả các môđun con cốt yếu của MR Nếu
MR không chứa một môđun con đơn nào thì Soc(MR) = 0 Căn của môđun
MR được kí hiệu là Rad(MR), nó là giao của tất cả các môđun con tối đại
của MR, là tổng tất cả các môđun con bé của MR Nếu MR không chứa
môđun con tối đại nào thì ta định nghĩa Rad(MR) = MR Đặc biệt, chúng
Trang 19ta đã biếtRad(RR) = Rad(RR) = J (R) Do đó không sợ nhầm lẫn, ta luôn
kí hiệu J (R) để chỉ căn Jacobson của vành R và cũng là căn của RR
Cho R-môđun M và L là lớp các môđun con nào đó của M Ta nói
L thỏa mãn điều kiện dây chuyền tăng, viết là ACC, nếu mọi dãy tăng
A1 ≤ A2 ≤ ≤ An ≤ các môđun thuộc L đều dừng, tức là tồn tại
n ∈ N sao cho An = An+i với mọi i ∈ N Ta nói L thỏa mãn điều kiện dây
chuyền giảm, viết là DCC, nếu mọi dãy giảm D1 ≥ D2 ≥ ≥ Dn ≥
các môđun thuộc L đều dừng, tức là tồn tại n ∈ N sao cho Dn = Dn+i với
mọi i ∈ N Một R-môđun phải M được gọi là Noether nếu tập tất cả các
môđun con của M thỏa mãn ACC và M được gọi là môđun Artin nếu tập
tất cả các môđun con của M thỏa mãn DCC
1.2 Môđun nội xạ, xạ ảnh và một số mở rộng của
môđun nội xạ
Cho M, N là các môđun, A là một môđun con của M và các đồng cấu
f : A → N, f : M → N¯ Khi đó người ta gọi f¯là một mở rộng của đồng
cấu f hoặc f mở rộng được đến đồng cấu f¯(hoặc f mở rộng được đến M)
nếu f (x) = f (x)¯ với mọi x ∈ A.
Sau đây, chúng tôi giới thiệu lớp các môđun quan trọng và có nhiều ứngdụng trong lý thuyết vành kết hợp, đó là môđun nội xạ và môđun xạ ảnh
Một môđun M được gọi là N-nội xạ nếu với mỗi môđun con A của N
thì mọi đồng cấu f : A → M đều mở rộng được đến đồng cấu g : N → M
Nếu môđun M là M-nội xạ thì M được gọi là tựa nội xạ hoặc tự nội xạ
Nếu M là N-nội xạ với mọi N ∈ Mod-R thì M được gọi là nội xạ Các
môđun M1, , Mn được gọi là nội xạ tương hỗ nếu Mi là Mj-nội xạ với
mọi i 6= j, 1 ≤ i, j ≤ n Một kết quả về môđun nội xạ liên quan đến luận
Trang 20Khi đó:
(1) M là A-nội xạ khi và chỉ khi Mi là A-nội xạ với mọi i = 1, 2, , n
(2) M là tựa nội xạ khi và chỉ khiMi là Mj-nội xạ với mọi i, j = 1, 2, , n
Mn là tựa nội xạ khi và chỉ khi M là tựa nội xạ với mọi 1 ≤ n ∈ N.
Bao nội xạ của môđun M là một môđun nội xạ N cùng với một đơncấu cốt yếu ι : M → N Lúc này, người ta vẫn thường gọi N là bao nội xạ
của M và ký hiệu là N = E(M ) Hơn nữa, mọi môđun được nhúng cốt yếu
vào một môđun nội xạ nên mọi môđun luôn có bao nội xạ
Đối ngẫu với môđun nội xạ, ta có môđun P được gọi là N-xạ ảnh nếuvới mọi toàn cấu g : N → M và mỗi đồng cấu f : P → M đều tồn tại một
đồng cấu h : P → N sao cho f = gh Môđun P được gọi là xạ ảnh nếu P
là N-xạ ảnh với mọi môđun N thuộc Mod-R
Phủ xạ ảnh của một môđun M là một môđun xạ ảnh P cùng với mộttoàn cấu đối cốt yếup : P → M Khi đó, ta vẫn thường gọi P là phủ xạ ảnh
của M Mặc dù mọi môđun là ảnh toàn cấu của một môđun xạ ảnh nhưng
một môđun không nhất thiết có phủ xạ ảnh Vành R mà mọi R-môđun có
trên thực tế, ta chỉ cần kiểm tra M có R-nội xạ hay không là đủ nhờ tiêu
chuẩn Baer sau đây
Tiêu chuẩn Baer: Một R-môđun M là nội xạ nếu với mọi iđêan phải
Trang 21I của R, mọi đồng cấu f : IR → MR đều mở rộng được đến đồng cấu
¯
f : RR → MR
Có hai hướng mở rộng chính về môđun nội xạ, đó là: Mở rộng từ địnhnghĩa gốc và mở rộng từ tiêu chuẩn Baer Các mở rộng của môđun nội xạ
theo hướng từ định nghĩa gốc là môđun C-nội xạ, đế nội xạ mạnh, giả nội
xạ, FP-nội xạ, vv Các mở rộng của môđun nội xạ theo tiêu chuẩn Baer là
môđun F-nội xạ, P-nội xạ, GP-nội xạ, nội xạ cực tiểu, nội xạ bé, vv
Vì mục đích riêng của luận án, chúng tôi chỉ quan tâm đến một mở rộngcủa môđun nội xạ, đó là môđun giả nội xạ
Cho R là một vành và M, N là các R-môđun phải Khi đó, theo [25],một môđun M được gọi là N-giả nội xạ nếu với mỗi môđun con A của N
thì mọi đơn cấu f : A → M đều mở rộng được đến đồng cấu g : N → M
Môđun M được gọi là giả nội xạ nếu M là M-giả nội xạ Hai môđun M và
N được gọi là giả nội xạ tương hỗ nếu M là N-giả nội xạ và N là M-giả
nội xạ Một vành R được gọi là giả nội xạ phải nếu RR là một môđun giả
nội xạ
Mặt khác, theo [6], một môđun M được gọi là N-giả nội xạ cốt yếu nếuvới mỗi môđun con cốt yếu A của N thì mọi đơn cấu f : A → M đều mở
rộng được đến đồng cấu g : N → M Môđun M được gọi là giả nội xạ cốt
yếu nếu M là M-giả nội xạ cốt yếu Hai môđun M và N được gọi là giả
nội xạ cốt yếu tương hỗ nếu M là N-giả nội xạ cốt yếu và N là M-giả nội
xạ cốt yếu Một vành R được gọi là giả nội xạ cốt yếu phải nếu RR là một
môđun giả nội xạ cốt yếu
Nhiều kết quả liên quan đến môđun giả nội xạ cốt yếu đã được các tácgiả Alahmadi, Er và Jain đưa ra trong [6] Tuy nhiên, vì mục đích riêng của
luận án, chúng tôi chỉ đưa ra một số kết quả sau đây:
Bổ đề 1.2.3 ([6, Proposition 2.2]) Cho M và N là các môđun và X =
N ⊕ M Khi đó, các điều kiện sau đây là tương đương:
Trang 22(1) N là M-giả nội xạ cốt yếu.
(2) Với bất kỳ phần bù giao K của N trong X mà K ∩ M = 0 thì X =
N ⊕ K
Bổ đề 1.2.4 ([6, Proposition 2.3]) Nếu N là M-giả nội xạ cốt yếu thì mỗi
hạng tử trực tiếp của N là M-giả nội xạ cốt yếu
Bổ đề 1.2.5 ([6, Proposition 2.4]) Cho M và N là các môđun Khi đó, các
điều kiện sau đây là tương đương:
(1) N là M-giả nội xạ cốt yếu
(2) N là M
L -giả nội xạ cốt yếu với mọi môđun con L của M.
Bổ đề 1.2.6 ([6, Theorem 2.7]) Nếu M ⊕ N là M-giả nội xạ cốt yếu thì
N là M-nội xạ
Vào năm 1961, trong công trình của mình, Utumi đã định nghĩa về cácvành thỏa mãn các điều kiện C1, C2 và C3 Sau đó, việc mở rộng từ các vành
C1, C2 và C3 sang môđun lần lượt thuộc về Jeremy, Takeuchi, Mohammed
và Bouhy Để giới thiệu các khái niệm về môđun C1, C2, C3 và các mở
rộng của nó, trước tiên, chúng tôi nhắc lại một số điều kiện sau đây đối với
Định nghĩa 1.2.7 Cho M là một môđun Khi đó:
(1) Môđun M được gọi là C1 nếu M thỏa mãn điều kiện C1 Môđun C1
còn được gọi là môđun CS hoặc môđun mở rộng
Trang 23(2) Môđun M được gọi là C2 nếu M thỏa mãn điều kiện C2 Môđun C2
còn được gọi là môđun nội xạ trực tiếp
(3) Môđun M được gọi là C3 nếu M thỏa mãn điều kiện C3
(4) Môđun M được gọi là liên tục nếu M thỏa mãn các điều kiện C1 và
C2
(5) Môđun M được gọi là tựa liên tục nếu M thỏa mãn các điều kiện C1
và C3 Môđun tựa liên tục còn được gọi là môđun π-nội xạ
Cuối cùng, một khái niệm liên quan đến luận án mà đã được Alahmadi,Jain và Leroy đề xuất vào năm 2012, đó là môđun ADS Theo đó, một R-
môđun phải M được gọi là ADS nếu với mỗi sự phân tích M = S ⊕ T và
với mỗi phần bù giao T0 của S, chúng ta có M = S ⊕ T0 (xem [7]) Nhiều
kết quả về môđun ADS đã được các tác giả nghiên cứu trong [7] và [35]
1.3 Vành Artin, Noether và một số lớp vành quan
trọng khác
Định nghĩa 1.3.1 Vành R được gọi là Artin phải, Noether phải nếu RR
là môđun Artin, Noether (tương ứng)
Định lý 1.3.2 ([28, Theorem 6.5.1]) Các điều kiện sau đây là tương đương
đối với vành R:
(1) R là vành Noether phải
(2) Mỗi tổng trực tiếp của các R-môđun phải nội xạ là nội xạ
(3) Mỗi tổng trực tiếp đếm được các bao nội xạ của các R-môđun phải đơn
là nội xạ
Định nghĩa 1.3.3 Một vành R được gọi là địa phương nếu R có duy nhất
một iđêan phải (hoặc trái) cực đại
Trang 24Một kết quả của vành địa phương liên quan đến sự phân tích của mộtmôđun thành tổng trực tiếp của các môđun con mà được sử dụng trong
luận án là bổ đề sau đây:
Bổ đề 1.3.4 ([10, Lemma 26.4]) Cho M là một môđun có sự phân tích
M = K ⊕ L Giả sử N là một hạng tử trực tiếp của M thỏa mãn N =
N1 ⊕ · · · ⊕ Nn trong đó mỗi End(Ni) là một vành địa phương Khi đó, tồn
tại các hạng tử trực tiếp K0 của K và L0 của L sao cho M = N ⊕ K0⊕ L0
Định nghĩa 1.3.5 Vành R được gọi là vành chính quy (theo nghĩa von
Neumann) nếu với mỗi a ∈ R thì luôn tồn tại b ∈ R sao cho a = aba
Thể, vành nửa đơn và vành ma trận Mn(K) với K là một trường lànhững vành chính quy Sau đây, chúng tôi nhắc lại một tính chất quan
trọng liên quan đến vành chính quy
Bổ đề 1.3.6 (McCoy’s Lemma, [37, Lemma 2.1]) ChoR là vành vàa, b ∈ R
mà c = a − aba là một phần tử chính quy thì a là phần tử chính quy
Các vành chính quy có các đặc trưng quan trọng sau đây:
Định lý 1.3.7 ([18, Theorem 1.1]) Các điều kiện sau đây là tương đương
đối với vành R:
(1) R là một vành chính quy
(2) Mọi iđêan phải (trái) xiclic là hạng tử trực tiếp của RR (RR)
(3) Mọi iđêan phải (trái) hữu hạn sinh là hạng tử trực tiếp của RR (RR)
Bổ đề 1.3.8 ([27, Lemma 4]) Cho R là một vành chính quy Nếu R-môđun
M là xạ ảnh thì mọi môđun con hữu hạn sinh của M là hạng tử trực tiếp
của M
Định nghĩa 1.3.9 Vành R được gọi là di truyền phải (nửa di truyền phải )
nếu mỗi iđêan phải (hữu hạn sinh) là xạ ảnh
Trang 25Các khái niệm về vành di truyền (nửa di truyền) trái hoặc hai phía đượcđịnh nghĩa hoàn toàn tương tự.
Rõ ràng, các vành chính quy là nửa di truyền (phải và trái) Các vànhArtin nửa đơn, vành ma trận tam giác trên trên một thể là di truyền phải
và trái (xem [29, 2.36])
Các vành di truyền (một phía) có đặc trưng tiêu biểu sau đây:
Định lý 1.3.10 ([29, Corollary 2.26 và Theorem 3.22]) Các điều kiện sau
đây là tương đương đối với vành R:
(1) R là vành di truyền phải
(2) Mọi môđun thương của một R-môđun phải nội xạ là nội xạ
(3) Mọi môđun con của một R-môđun phải xạ ảnh là xạ ảnh
Lý thuyết vành tựa Frobenius (hay gọi là vành QF) có nguồn gốc từ
lý thuyết biểu diễn nhóm hữu hạn và được Nakayama giới thiệu vào năm
1939 Cho đến nay, đã có rất nhiều đặc trưng của lớp vành này được chỉ
ra Lớp vành tựa Frobenius có vai trò quan trọng trong lý thuyết vành kết
hợp không giao hoán, đã và đang được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
Vành QF được định nghĩa như sau:
Định nghĩa 1.3.11 Vành R được gọi là tựa Frobenius (hay gọi là vành
QF) nếu nó là vành Artin (phải và trái), tự nội xạ (phải và trái)
Sau đây, chúng tôi giới thiệu một số đặc trưng của lớp vành này bằngcách giảm nhẹ tính tự nội xạ (xem [33])
Định lý 1.3.12 Các điều kiện sau đây là tương đương đối với vành R:
(1) R là vành tựa Frobenius
(2) R là vành Artin phải hoặc trái, tự nội xạ phải hoặc trái
(3) R là vành Noether phải hoặc trái, tự nội xạ phải hoặc trái
Trang 26Một đặc trưng đẹp đẽ của vành QF thông qua các lớp môđun nội xạ,
xạ ảnh là định lý Faith-Walker sau đây:
Định lý 1.3.13 ([33, Theorem 7.56]) Các điều kiện sau đây là tương đương
đối với vành R:
(1) R là vành tựa Frobenius
(2) Mọi R-môđun phải (trái) nội xạ là xạ ảnh
(3) Mọi R-môđun phải (trái) xạ ảnh là nội xạ
Trong phần cuối của mục này, chúng tôi giới thiệu về vành nửa Artin
Định nghĩa 1.3.14 Một môđun M được gọi là nửa Artin nếu mọi môđun
thương khác không có đế khác không Một vành R được gọi là vành nửa
Artin phải nếu RR là môđun nửa Artin
Sau đây là một số đặc trưng của vành nửa Artin
Định lý 1.3.15 ([33, Lemma B.31]) Các điều kiện sau đây là tương đương
đối với vành R:
(1) R là vành nửa Artin phải
(2) Mọi R-môđun phải khác không có đế cốt yếu
(3) Mọi R-môđun phải khác không có môđun con đơn
(4) Mọi R-môđun phải là nửa Artin
1.4 Môđun nửa đơn và vành Artin nửa đơn
Định nghĩa 1.4.1 Một môđun M được gọi là đơn nếu M chỉ có đúng hai
môđun con là 0 và M
Trang 27Định nghĩa 1.4.2 Một môđun M được gọi là nửa đơn nếu M phân tích
được thành tổng trực tiếp của các môđun con đơn Một vành R được gọi là
nửa đơn phải (trái) nếu RR (RR) là môđun nửa đơn
Đối với môđun nửa đơn, chúng tôi giới thiệu một đặc trưng quan trọngsau đây:
Bổ đề 1.4.3 ([14, 7.14], [42, 20.2]) Cho M là một R-môđun phải Khi đó,
các điều kiện sau đây là tương đương:
(1) M là môđun nửa đơn
(2) Mọi R-môđun N là M-nội xạ
(3) Mỗi môđun con của M là hạng tử trực tiếp của M
(4) Mỗi môđun trong σ[M ] là M-nội xạ
(5) Mỗi môđun xiclic trong σ[M ] là M-nội xạ
Khi nghiên cứu vành nửa đơn, chúng ta không cần đề cập đến phía của
nó nhờ định lý sau đây:
Định lý 1.4.4 ([23, Theorem 2.2.5]) Các điều kiện sau đây là tương đương
đối với vành R:
(1) R là nửa đơn phải
(2) R là nửa đơn trái
(3) Mọi R-môđun phải M là nửa đơn
(4) Mọi R-môđun trái M là nửa đơn
Tiếp theo, chúng tôi nhắc lại ở đây một số đặc trưng quan trọng củavành nửa đơn liên quan đến phạm trù Mod-R, sự phân tích thành tổng trực
tiếp vành, vành chính quy và vành Artin
Trang 28Định lý 1.4.5 (Osofsky) Vành R là nửa đơn khi và chỉ khi mỗi R-môđun
phải (trái) xiclic là nội xạ
Định lý 1.4.6 (Wedderburn-Artin) Vành R là nửa đơn khi và chỉ khi nó
là tổng trực tiếp vành của một số hữu hạn các vành ma trận trên một thể
Định lý 1.4.7 Vành R là nửa đơn khi và chỉ khi R là vành chính quy và
không chứa tập vô hạn các phần tử lũy đẳng trực giao
Định lý 1.4.8 Vành R là nửa đơn khi và chỉ khi R là Artin phải hay trái
và J (R) = 0
Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến căn của vành, đã
có lúc Jacobson định nghĩa một vành R là nửa đơn khi J (R) = 0 và cho
đến nay vẫn còn một số nhà toán học sử dụng định nghĩa này Chính vì thế,
để khỏi nhầm lẫn, từ Định lý 1.4.8, một số nhà toán học đã gọi vành nửa
đơn trong Định nghĩa 1.4.2 là vành Artin nửa đơn Trong luận án này, kể từ
đây về sau, chúng tôi gọi vành nửa đơn như trong Định nghĩa 1.4.2 là vành
Artin nửa đơn
Trong phần cuối của chương này, chúng tôi tổng hợp các mối quan hệgiữa các môđun và các vành đã được đề cập ở trên bởi các sơ đồ sau đây:
1 Sơ đồ về mối quan hệ giữa các môđun
Trang 292 Sơ đồ về mối quan hệ giữa các vành
Nửa Artin (trái)
Trang 30CHƯƠNG 2
Môđun giả nội xạ cốt yếu
Trong chương này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu các tính chất của môđungiả nội xạ cốt yếu ngoài những tính chất mà đã được Alahmadi, Er và Jain
nghiên cứu trong [6] Một số áp dụng để nghiên cứu các vành Artin nửa đơn,
vành QF, vành Noether và vành đối nửa đơn cũng được đưa ra Các kết quả
chính của chương này là Định lý 2.2.11, Định lý 2.2.12, Định lý 2.2.15, Định
lý 2.2.16 và Định lý 2.2.17 Chương này được viết trong [2] và [34]
2.1 Định nghĩa và ví dụ
Trước hết, chúng tôi nhắc lại định nghĩa về môđun giả nội xạ cốt yếu
đã được Alahmadi, Er và Jain đưa ra trong [6] như sau:
Định nghĩa 2.1.1 Cho M và N là các R-môđun phải Khi đó:
(1) M được gọi là N-giả nội xạ cốt yếu nếu với mỗi môđun con cốt yếu A
của N thì mọi đơn cấu f : A → M đều mở rộng được đến đồng cấu
g : N → M
(2) M được gọi là giả nội xạ cốt yếu nếu M là M-giả nội xạ cốt yếu
(3) Hai môđun M và N được gọi là giả nội xạ cốt yếu tương hỗ nếu M là
N-giả nội xạ cốt yếu và N là M-giả nội xạ cốt yếu
(4) Một vành R được gọi là giả nội xạ cốt yếu phải nếu RR là một môđun
giả nội xạ cốt yếu
Trang 31Từ Định nghĩa 2.1.1 ta có, nếu M là N-giả nội xạ thì M là N-giả nội
xạ cốt yếu Sau đây là ví dụ về môđun giả nội xạ cốt yếu
Ví dụ 2.1.2 Xét các Z-môđun Zp 2, Zp 3 và Zn trong đó p là một số nguyên
tố và 2 ≤ n ∈ N Khi đó:
(1) Zn là môđun giả nội xạ cốt yếu
(2) Zp3 là Zp 2-giả nội xạ cốt yếu
(3) Zp2 không là Zp 3-giả nội xạ cốt yếu
Chứng minh (1) Theo [33, trang 9] thì Z-môđun Zn là tựa nội xạ, do đó
nó là môđun giả nội xạ cốt yếu
(2) Vì môđun Zp 2 chỉ có 3 môđun con là p2Z
f : pZ
p2
Z
→Zp3 Giả sử f (p) = b ∈ Zp3, khi đó ta cóf (p.p) = f (0) = 0 = pb.Vậy, b = 0 hoặc b = p2 Vì f là đơn cấu nên b = p2 và như vậy chỉ có một
đơn cấu duy nhất f : pZ
p2
Z
→Zp3 là đơn cấu được xác định bởi: f (0) = 0 và
f (p) = p2 Bây giờ ta chọn ánh xạ g : Zp2 → Zp3 được xác định g(a) = pa
với mọi a ∈ Zp2 Khi đó, g là một Z-đồng cấu Hơn nữa, với x ∈ pZ
p2
Zthì
x = mp với m = 0, 1, , p − 1 Khi đó g(x) = mp2 = f (x) Từ đó suy ra,
g là một mở rộng của đồng cấu f Vì vậy, Zp 3 là Zp 2-giả nội xạ cốt yếu
(3) Ta lấy một môđun con cốt yếu của Zp 3 là pZ
p3
Z Xét đơn cấu f :
g : Zp3 → Zp2 là một mở rộng của đơn cấu f Khi đó, giả sử g(1) = b ∈ Zp2
thì pb = pg(1) = g(p.1) = g(p) = f (p) = 1 Vậy pb = 1 với b ∈ Zp2 Tuy
nhiên, trong Zp 2 thì phương trình pb = 1 không có nghiệm nên không tồn
tại đồng cấu g là một mở rộng của f Vậy, Zp 2 không là Zp 3-giả nội xạ cốt
yếu
Trang 322.2 Các kết quả liên quan đến môđun giả nội xạ cốt
(1) M là N-giả nội xạ cốt yếu
(2) Với mỗi R-môđun phải A, với mỗi đơn cấu cốt yếu bất kỳ g : A → N
và đơn cấu f : A → M thì luôn tồn tại đồng cấu h : N → M sao cho
f = gh
Chứng minh (1) ⇒ (2) Cho A là R-môđun phải, g : A → N là một đơn
cấu cốt yếu và f : A → M là một đơn cấu Từ g : A → N là một đơn cấu
cốt yếu, chúng ta có g(A) ≤e N Chúng ta chọn đồng cấu f0 : g(A) → M
sao cho f0(g(a)) = f (a) với mọi a ∈ A Rõ ràng f0 là đơn cấu Do M là
N-giả nội xạ cốt yếu nên tồn tại đồng cấu h : N → M sao cho h|g(A) = f0
Vì vậy, với mọi a ∈ A chúng ta có (hg)(a) = h(g(a)) = f0(g(a)) = f (a)
Theo [33, trang 8], một môđun con N của M được gọi là bất biến đầy
đủ trong M nếu f (N ) ≤ N với mọi f ∈ EndR(M )
Trong [6, Corollary 2.12], các tác giả đã chứng minh được rằng, mộtmôđun M là giả nội xạ cốt yếu nếu và chỉ nếu nó bất biến đầy đủ qua các
đơn cấu trong EndR(E(M )) Trong định lý dưới đây, chúng tôi sẽ chỉ ra
Trang 33rằng, một môđun M là N-giả nội xạ cốt yếu nếu và chỉ nếu α(N ) ≤ M với
mọi đơn cấu α : E(N ) → E(M )
Định lý 2.2.2 Các điều kiện sau đây là tương đương đối với các môđun
M và N:
(1) M là N-giả nội xạ cốt yếu
(2) α(N ) ≤ M với mọi đơn cấu α : E(N ) → E(M )
Chứng minh (1) ⇒ (2) Cho α : E(N ) → E(M ) là một đơn cấu Đặt
A = N ∩ α−1(M ) thì A ≤e N và α(A) ≤ M Thật vậy, lấy 0 6= x ∈ N, do
α là đơn cấu nên 0 6= α(x) ∈ E(M ) Vì M ≤e E(M ) nên tồn tại r ∈ R
để 0 6= α(x)r = α(xr) ∈ M Do đó 0 6= α−1(α(xr)) = xr ∈ α−1(M )
Mặt khác, vì x ∈ N nên xr ∈ N Do vậy xr ∈ A hay A ≤e N Như vậy,
A ≤e N và α là đơn cấu từ A → M Theo (1) thì tồn tại R-đồng cấu
g : N → M sao cho g(a) = α(a) với mọi a ∈ A Bây giờ chúng ta sẽ chứng
minh g(n) = α(n) với mọi n ∈ N
Thật vậy, giả sử tồn tại n0 ∈ N sao cho g(n0) 6= α(n0) Đặt x =g(n0) − α(n0) ∈ E(M ) thì x 6= 0 Do M ≤e E(M ) nên tồn tại r ∈ R sao
cho 0 6= xr = g(n0r) − α(n0r) ∈ M Điều này chứng tỏ α(n0r) ∈ M hay
n0r ∈ α−1(M ) Vì n0r ∈ N nên n0r ∈ N ∩ α−1(M ) hay n0r ∈ A Do đó,
α(n0r) = g(n0r) hay g(n0r) − α(n0r) = xr = 0, kết quả này mâu thuẫn
với xr 6= 0 Do vậy, α(N ) ≤ M với mọi đơn cấu α : E(N ) → E(M )
(2) ⇒ (1) Cho A ≤e N và f : A → M là một đơn cấu Vì A ≤e N nên
E(A) = E(N ), do đó tồn tại đơn cấu g : E(N ) → E(M ) sao cho g|A = f
Theo (2) thì g(N ) ≤ M và g là mở rộng cần tìm của f, có nghĩa M là
N-giả nội xạ cốt yếu
Ví dụ 2.2.3 Xét các Z-môđun Zp 2 và Z⊕Zp3 Khi đó, Zp 2 là Z⊕Zp3-giả
nội xạ cốt yếu
Chứng minh Ta có E(Zp2) = E(Zp3) = Zp∞ và E(Z) = Q nên theo Bổ đề
1.2.2, ta có E(Z⊕ Zp3) = E(Z) ⊕ E(Zp3) = Q ⊕Zp∞ Xét đơn cấu khác
Trang 34không f :Q⊕Zp∞ →Zp∞ Giả sử f không toàn cấu thì f (Q⊕Zp∞) là một
môđun con thực sự của Zp ∞ Nhưng theo [42, (2), 17.13 ] thì f (Q⊕Zp∞) là
hữu hạn Vì f đơn cấu nên f (Q⊕Zp∞) ' Q⊕Zp∞ Do Q⊕Zp∞ là tập vô
hạn nên sự đẳng cấu trên là vô lý Vậy f là một đẳng cấu
Nếu f (Q) 6= Zp∞ thì lại theo [42, (2), 17.13 ], ta có f (Q) hữu hạn nhưng
f (Q) ' Q trong đó Q là tập vô hạn nên vô lý Vậy f (Q) = Zp∞ Tuy nhiên,
f (Q ⊕Zp∞) = Zp ∞ nên f (Q) = f (Q ⊕Zp∞) Từ đó suy ra Q = Q ⊕Zp∞
Điều này là vô lý Do đó, không có đơn cấu nào từ Q⊕Zp∞ → Zp∞ và ta
chỉ có đồng cấu không Vì vậy, theo Định lý 2.2.2, ta có Zp 2 là Z⊕Zp3-giả
nội xạ cốt yếu
Nhận xét 2.2.4 Từ Ví dụ 2.1.2, ta có Zp 2 không là Zp 3-giả nội xạ cốt
yếu, do đó Zp 2 không là Zp 3-giả nội xạ Vì vậy, theo [13, Proposition 2.1] thì
Zp 2 không là Z⊕Zp3-giả nội xạ Tuy nhiên, từ Ví dụ 2.2.3 ta lại có Zp 2 là
Z⊕Zp3-giả nội xạ cốt yếu Do vậy, khái niệm "M là N-giả nội xạ cốt yếu"
là một mở rộng thực sự của khái niệm "M là N-giả nội xạ"
Từ Định lý 2.2.2, khi cho M = N, chúng tôi thu được hệ quả dưới đây
là nội dung của [6, Corollary 2.12]
Hệ quả 2.2.5 ([6, Corollary 2.12]) Các điều kiện sau đây là tương đương
đối với môđun M:
(1) M là giả nội xạ cốt yếu
(2) α(M ) ≤ M với mỗi tự đơn cấu α của E(M )
Tiếp theo là một số kết quả về môđun giả nội xạ cốt yếu tương tự nhưcác kết quả trong [13, Proposition 2.1] về môđun giả nội xạ
Mệnh đề 2.2.6 Cho M và N là các môđun Khi đó:
(1) M là N-giả nội xạ cốt yếu nếu và chỉ nếu M là K-giả nội xạ cốt yếu
với mọi K là môđun con cốt yếu của N
Trang 35(2) Nếu M là N-giả nội xạ cốt yếu và K ' N, thì M là K-giả nội xạ cốt
yếu
(3) Nếu M là N-giả nội xạ cốt yếu và K ' M thì K là N-giả nội xạ cốt
yếu
(4) Giả sử M và N là các môđun giả nội xạ cốt yếu tương hỗ Nếu tồn tại
một đẳng cấu giữa các môđun conA và B trong đó A ≤e N và B ≤e M
thì M ' N
(5) Giả sử A và B là các môđun giả nội xạ cốt yếu tương hỗ Nếu E(A) '
E(B) thì mỗi đẳng cấu từ E(A) → E(B) thu hẹp được thành đẳng cấu
từ A → B Hơn nữa, A và B là giả nội xạ cốt yếu
Chứng minh (1) (⇒) Cho L ≤e K ≤e N và f : L → M là một đơn cấu
Vì E(L) = E(K) = E(N ) nên tồn tại đơn cấu g : E(N ) → E(M ) sao cho
g|L = f Do M là N-giả nội xạ cốt yếu nên theo Định lý 2.2.2, chúng ta có
g(N ) ≤ M Từ đó suy ra g(K) ≤ M và vì vậy M là K-giả nội xạ cốt yếu
(⇐) Khi M là K-giả nội xạ cốt yếu với mọi môđun con cốt yếu K của
N thì hiển nhiên M là N-giả nội xạ cốt yếu
(2) Cho M là N-giả nội xạ cốt yếu và g : K → N là một đẳng cấu, tacần chứng minh M là K-giả nội xạ cốt yếu Đặt L ≤e K thì g(L) ≤e N
Xét đơn cấu f : L → M, khi đó tồn tại một đơn cấu f g0 : g(L) → M,
trong đó g0 : g(L) → L là một đơn cấu Vì M là N-giả nội xạ cốt yếu nên
đơn cấu f g0 có thể mở rộng được đến đồng cấu h : N → M Khi đó đồng
cấu hg : K → M thỏa mãn hg(l) = f g0(g(l)) = f (l) với mọi l ∈ L nên
hg : K → M là một mở rộng của f Vậy M là K-giả nội xạ cốt yếu
(3) Giả sử M là N-giả nội xạ cốt yếu và K ' M, ta cần chứng minh
K là N-giả nội xạ cốt yếu Gọi A là môđun con cốt yếu trong N, xét đơn
cấu f : A → K và g : K → M là một đẳng cấu Đặt h = gf : A → M
Hiển nhiên h là đơn cấu Vì M là N-giả nội xạ cốt yếu nên tồn tại đồng cấu
t : N → M sao cho t(a) = h(a) với mọi a ∈ A Ta đặt u = g−1t : N → K
Trang 36thì u là một đồng cấu Với mọi a ∈ A ta có u(a) = g−1t(a) = g−1h(a) =
g−1gf (a) = f (a), vậy u là đồng cấu mở rộng của đơn cấuf nên K là N-giả
Do đó B = (gg−1)(B) = g(g−1(B)) ≤ g(A) ≤ B Vậy g(A) = B và ta có
g|A : A → B là một đẳng cấu Hơn nữa, từ A là B-giả nội xạ cốt yếu và
B ' A nên theo (2) chúng ta suy ra A là A-giả nội xạ cốt yếu hay A là
giả nội xạ cốt yếu Chứng minh tương tự, ta cũng có B là giả nội xạ cốt
yếu
Trong Bổ đề 1.4.3 ta có, N là môđun nửa đơn khi và chỉ khiM là N-nội
xạ với mọi môđunM Đối với môđun giả nội xạ cốt yếu, chúng tôi thu được
một kết quả mở rộng sau đây:
Định lý 2.2.7 Cho M và N là các môđun Khi đó:
(1) N là môđun nửa đơn khi và chỉ khi M là N-giả nội xạ cốt yếu với mọi
môđun M
(2) Giả sử N = A ⊕ B và M = C ⊕ D sao cho B được nhúng trong D
Nếu M là N-giả nội xạ cốt yếu thì C là A-giả nội xạ cốt yếu
Chứng minh (1) (⇒) Khi N là môđun nửa đơn thì theo Bổ đề 1.4.3, mọi
R-môđun M là N-nội xạ Do đó, với mọi R-môđun M thì M là N-giả nội
xạ cốt yếu
(⇐) Cho A ≤ N, khi đó tồn tại C ≤ N sao cho A ⊕ C ≤e N Giả sử
Trang 37rằng ι : A ⊕ C → N là một đồng cấu bao hàm Vì M là N-giả nội xạ cốt
yếu với mọi môđun M nên A ⊕ C là N-giả nội xạ cốt yếu, do đó tồn tại
f : N → A ⊕ C sao cho f ι = 1A⊕C Theo [3, Mệnh đề 3.15, trang 30] thì ι
chẻ ra hay ι(A ⊕ C) = A ⊕ C ≤⊕ N Giả sử N = (A ⊕ C) ⊕ N0 với N0 ≤ N
thì do A ⊕ C ≤e N nên N0 = 0 Vậy ta có N = A ⊕ C Điều này chứng tỏ
A ≤⊕ N Theo Bổ đề 1.4.3 thì ta có N là môđun nửa đơn
(2) Vì B được nhúng trong D nên tồn tại đơn cấu α : B → D Giả sử
H ≤e Avàf : H → C là một đơn cấu Thế thì,f ⊕α : H ⊕B → M = C⊕D
là một đơn cấu Hơn nữa, theo [10, Proposition 5.20] thìH ⊕B ≤e A⊕B hay
H ⊕B ≤e N VìM là N-giả nội xạ cốt yếu nên tồn tại đồng cấug : N → M
sao cho g là mở rộng của f ⊕ α Đặt f = πgι : A → C với π : M → C là
phép chiếu và ι : A → N là đồng cấu bao hàm Khi đó, với mọi h ∈ H thì
f (h) = πgi(h) = πg(h + b) = π(f ⊕ α)(h + b) = π(f (h) + α(b)) = f (h)
Vì vậy, f |H = f Do đó C là A-giả nội xạ cốt yếu
Hệ quả 2.2.8 Mỗi hạng tử trực tiếp của một môđun giả nội xạ cốt yếu là
giả nội xạ cốt yếu
Chứng minh Hệ quả được suy ra một cách trực tiếp từ Định lý 2.2.7 khi ta
cho M = N, A = C và B = D
Tiếp theo là các tính chất khác của môđun giả nội xạ cốt yếu
Định lý 2.2.9 Các điều kiện sau đây là tương đương đối với môđun M:
(1) Mỗi môđun con của M là giả nội xạ cốt yếu
(2) M là giả nội xạ cốt yếu và mỗi môđun con cốt yếu của M là bất biến
đầy đủ dưới các đơn cấu của EndR(M )
(3) Mỗi môđun con cốt yếu của M là giả nội xạ cốt yếu
Chứng minh (1) ⇒ (2) Chof ∈ EndR(M ) là một đơn cấu và H là môđun
con cốt yếu của M Khi đó tồn tại một đơn cấu g của E(M ) sao cho g
Trang 38là mở rộng của f Do E(H) = E(M ) nên g cũng chính là đơn cấu từ
E(H) → E(H) Theo giả thiết, mỗi môđun con của M là giả nội xạ cốt
yếu nên H là giả nội xạ cốt yếu Vì vậy, theo Hệ quả 2.2.5 ta có g(H) ≤ H
Do g là mở rộng của f nên f (H) ≤ H Vậy H là bất biến đầy đủ dưới đơn
cấu của EndR(M )
(2) ⇒ (3) Cho H là một môđun con cốt yếu của M Giả sử A ≤e H
và f : A → H là một đơn cấu Khi đó, tồn tại một đơn cấu g của E(M )
là một mở rộng của f Vì E(M ) = E(H) nên g là một đơn cấu của E(H)
Theo Hệ quả 2.2.5 ta có g(H) ≤ H và vì vậy g là mở rộng của f hay H là
môđun giả nội xạ cốt yếu
(3) ⇒ (1) Giả sử rằng H là một môđun con của M Khi đó, tồn tạimột môđun K của M sao cho H ⊕ K ≤e M Theo (3) thì H ⊕ K là giả
nội xạ cốt yếu và do đó theo Hệ quả 2.2.8, H cũng là môđun giả nội xạ cốt
Định lý 2.2.10 Cho M = M1 ⊕ M2 và E(M1), E(M2) là các môđun con
bất biến đầy đủ dưới các tự đơn cấu của E(M ) Khi đó M là giả nội xạ cốt
yếu khi và chỉ khi M1, M2 là giả nội xạ cốt yếu
Chứng minh (⇒) Điều này được suy ra từ Hệ quả 2.2.8
(⇐) Vì M = M1 ⊕ M2 nên theo Bổ đề 1.2.2, ta có E(M ) = E(M1) ⊕E(M2) Lấy α : E(M ) → E(M ) là một đơn cấu Khi đó, doE(M1), E(M2)
là các môđun con bất biến đầy đủ dưới các đơn cấu của E(M ) nênα|E(Mi) :
E(Mi) → E(Mi) là đơn cấu với i = 1; 2 Từ M1, M2 là giả nội xạ cốt yếu
Trang 39nên theo Hệ quả 2.2.5, ta có:
α(M ) = α(M1 + M2)
= α(M1) + α(M2)
= α|E(M1)(M1) + α|E(M2)(M2)
≤ M1 + M2 = M
Lại theo Hệ quả 2.2.5, ta có M là giả nội xạ cốt yếu
Trong [13, Theorem 2.6], tác giả đã chứng minh được rằng, mọi môđungiả nội xạ đều thỏa mãn điều kiện C2 Đối với môđun giả nội xạ cốt yếu,
chúng tôi chứng minh được:
Định lý 2.2.11 Mọi môđun giả nội xạ cốt yếu đều thỏa mãn điều kiện C3
Chứng minh Cho M là một môđun giả nội xạ cốt yếu, giả sử A và B là
2 hạng trực tiếp của M thỏa mãn A ∩ B = 0 Chúng ta cần chứng minh
A ⊕ B cũng là hạng tử trực tiếp của M
Vì A ≤⊕ M nên ta có M = A ⊕ A0 Đặt π : M → A0 là phép chiếuchính tắc Vì A ⊕ B ≤ M nên tồn tại C là môđun con của M sao cho
(A ⊕ B) ∩ C = 0 và A ⊕ B ⊕ C ≤e M Đặt D = B ⊕ C, khi đó A ⊕ D =
A ⊕ π(D) Thật vậy, với x ∈ A ⊕ π(D) thì x = a + π(d) trong đó a ∈ A và
d ∈ D Giả sử d = a1 + a01 với a1 ∈ A; a01 ∈ A0 thì x = a + π(a1 + a01) =
a + a01 = a + d − a1 = (a − a1) + d ∈ A ⊕ D Mặt khác, với mọi x ∈ A ⊕ D
thì x = a + d trong đó a ∈ A và d ∈ D Giả sử d = a1 + a01 với a1 ∈ A;
a01 ∈ A0 thì x = a + d = a + (a1 + a01) = (a + a1) + a01 ∈ A ⊕ π(D) Vậy
A ⊕ π(D) = A ⊕ D Hơn nữa, π|D : D → π(D) là một đẳng cấu Do vậy,
1A ⊕ π|D : A ⊕ D → A ⊕ π(D) là một đẳng cấu Do M là môđun giả nội
xạ cốt yếu và A ⊕ D là cốt yếu trong M nên 1A⊕ π|D mở rộng được tới tự
đẳng cấu g của M Vì B ≤⊕ M và π(B) = g(B) ≤⊕ M nên π(B) ≤⊕ A0
Giả sử A0 = π(B) ⊕ A00, khi đó ta có M = A ⊕ A0 = A ⊕ π(B) ⊕ A00 Vì
vậy, A ⊕ π(B) ≤⊕ M Mặt khác, bằng việc chứng minh tương tự như chứng
minh A ⊕ π(D) = A ⊕ D, ta cũng có A ⊕ B = A ⊕ π(B), do đó ta được
A ⊕ B ≤⊕ M
Trang 40Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa môđun giả nội xạ và tựa nội xạ,trong [13, Question 3.5], H Q Dinh đã đặt ra câu hỏi: Một môđun không
suy biến, giả nội xạ và CS có phải là môđun tựa nội xạ hay không? Trong
định lý dưới đây, chúng tôi chứng minh được rằng, một môđun M là tựa
nội xạ nếu và chỉ nếu M là môđun giả nội xạ cốt yếu và CS Từ đó chúng
tôi đưa ra câu trả lời khẳng định cho câu hỏi của H Q Dinh
Định lý 2.2.12 Môđun M là tựa nội xạ khi và chỉ khi M là giả nội xạ cốt
yếu và CS
Chứng minh (⇒) Khi M là môđun tựa nội xạ thì hiển nhiên M là giả nội
xạ cốt yếu và CS
(⇐) Vì M là giả nội xạ cốt yếu nên theo Định lý 2.2.11 ta có M
thỏa mãn điều kiện C3, do đó M là tựa liên tục Mặt khác, với mọi f ∈
EndR(E(M )) thì do E(M ) là môđun liên tục nên theo [11, Theorem 3.9],
ta có f = e + g trong đó e2 = e ∈ EndR(E(M )) và g ∈ Aut(E(M )) Vì
môđun E(M ) là tựa nội xạ nên theo [33, Lemma 1.15] ta có g(M ) ≤ M
Hơn nữa, vìM là tựa liên tục nên theo [32, Theorem 2.8], ta có e(M ) ≤ M
Do đó,f (M ) = e(M ) + g(M ) ≤ M Lại theo [33, Lemma 1.15], ta có M là
Định lý 2.2.14 Cho M là một môđun tự sinh Nếu EndR(M ) là giả nội
xạ cốt yếu phải thì M là giả nội xạ cốt yếu
Chứng minh ĐặtS = EndR(M ), giả sử A ≤e M vàf : A → M là một đơn
cấu Đặt I = {g ∈ S| g(M ) ≤ A} Chúng ta sẽ chứng minh rằng I là một
iđêan phải cốt yếu của S Thật vậy, với mọi m ∈ M, g ∈ I và s ∈ S thì ta