Việc tuyên bố một cá nhân là đã chết và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một cá nhân là đã chết được quy định trong các điều 81, 82 và 83 của Bộ luật dân sự 2005 và tại các điều 71, 72 và 73 Bọ luật dân sự 2015. Bộ luật dân sự 2015 đã kế thừa những quy định của Bộ luật dân sự 2005, ngoài ra còn có một số bổ sung để phù hợp với thực tiễn.
Trang 1MỤC LỤC
A.MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 2
I KHÁI NIỆM CHẾT VÀ TUYÊN BỐ CHẾT 2
II TUYÊN BỐ CÁ NHÂN CHẾT VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC TUYÊN BỐ CÁ LÀ ĐÃ NHÂN CHẾT 3
1 Điều kiện để tuyên bố một cá nhân là đã chết 4
2.Xác định ngày chết cho người bị tuyên bố là đã chết 6
3 Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một cá nhân là đã chết 8
III HỦY BỎ QUYẾT ĐỊNH TUYÊN BỐ MỘT CÁ NHÂN LÀ ĐÃ CHẾT VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ 9
IV MỘT SỐ VẤN ĐỀ VƯỚNG MẮC KHI TUYÊN BỐ MỘT CÁ NHÂN LÀ ĐÃ CHẾT VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT 11
1 Một số vướng mắc 11
2 Một số đề xuất hướng giải quyết các vướng mắc 14
V NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 SO VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 TRONG VIỆC TUYÊN BỐ MỘT CÁ NHÂN LÀ ĐÃ CHẾT 16
C.KẾT LUẬN 17
Tài liệu tham khảo 18
Trang 2A.MỞ ĐẦU
Chế định “thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố mất tích, tuyên bố chết” trong bộ luật dân sự Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng Trong quan hệ pháp luật dân sự quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các cá nhân gắn bó mật thiết với nhau Nếu như với một cá nhân vắng mặt tại nơi cư trú trong một thời gian dài mà không có tin tức chứng minh người đó còn sống hay đã chết sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người có lợi ích liên quan đến người đó Chính vì vậy mà các quy định trong chế định này giúp bảo vệ quyền và lợi ích cho người vắng mặt và những người khác có lợi ích liên quan Trong chế định này có các quy định về việc tuyên bố một cá người là đã chết Nó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong trong các quan hệ pháp dân sự Chính vì vậy mà việc tìm hiểu các quy định
về “điều kiện và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố cá nhân là đã chết trong pháp luật Việt Nam” có ý nghĩa hết sức quan trọng Và đây cũng là đề tài mà em chọn để làm bài luận cá nhân của mình
B NỘI DUNG
I KHÁI NIỆM CHẾT VÀ TUYÊN BỐ CHẾT
Cái chết của mỗi người được chia thành hai loại đó là cái chết sinh học và cái chết pháp lý:
Thứ nhất, về cái chết sinh học, có rất nhiều các cách định nghĩa khác nhau về cái chết, tùy vào các quan điểm tôn giáo, chính trị và kinh tế khác nhau thì lại có cách khác nhau về cái chết Theo y học thì: Chết đó là sự chấm dứt của mọi hoạt động sống như hô hấp, trao đổi chất, sự phân chia các tế bào đều chấm dứt vĩnh viễn
Trang 3Thứ hai, đó là cái chết pháp lý: Đó là việc thông qua các thủ tục tố tụng Tòa
án ra quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết khi đã qua một thời hạn nhất định
mà người đó không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết
Qua đây ta có thể thấy rằng, cái chết sinh học thì tất cả mọi người đều phải trải qua và hầu như ai cũng biết Còn cái chết pháp lý là cái chết trên giấy tờ về mặ pháp lý của cá nhân trong các quan hệ dân sự, pháp luật và trong các quan hệ xã hội Người có cái chết pháp lý có thể là người đã có cái chết sinh học nhưng cũng
có thể chưa
II TUYÊN BỐ CÁ NHÂN CHẾT VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC TUYÊN BỐ CÁ LÀ ĐÃ NHÂN CHẾT
Điều 71 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
1 Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:
a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.
Trang 42 Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết.
3 Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
1 Điều kiện để tuyên bố một cá nhân là đã chết
Cái chết của một người đó là sự kiện pháp lý làm chấm dứt tư cách chủ thể của người đó Cái chết của một cá nhân phải được xác định một cách xác thực chính xác, và theo quy định tại Khoản 2 Điều 30 BLDS 2015 thì khi một cá nhân chết thì phải được khai tử Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trường hợp mà một người biệt tích nhưng chưa có thông tin xác thực là còn sống hay đã chết cũng gây
ra nhiều trở ngại cho Tòa án trong việc tuyên bố một cá nhân là đã chết Vì vậy để hạn chế những sai sót và tăng tính chính xác trong trường hợp một người biệt tích còn sống nhưng đã bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì trước khi ra quyết định tuyên
bố một cá nhân là đã chết thì Tòa án phải dựa vào các điều kiện đó là:
Thứ nhất, cần phải có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan Người
có lợi ích liên quan là những người có mối quan hệ nào đó (hôn nhân gia đình, quan hệ hành chính, quan hệ dân sự, lao động…) với người vắng mặt mà sự vắng mặt của người đó ảnh hưởng đến quyền lợi của họ
Theo Khoản 1 Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 thì: “Người
có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự” Người có quyền và lợi ích liên quan phải có
đơn gửi đến Tòa án, yêu cầu Tòa án tuyên bố cá nhân chết Ngoài ra, bên cạnh đơn
yêu cầu thì tại Khoản 2 Điều 391 BLTTDS 2015 có quy định: “Kèm theo đơn yêu
cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu
Trang 5tuyên bố là đã chết thuộc trường hợp theo quy định của Bộ luật dân sự” Mục đích
của việc tuyên bố chết đối với một cá nhân nhằm tạo ra cơ sở pháp lí để những người có quyền và lợi ích liên quan bảo vệ quyền lợi của mình Ví dụ như việc ngân hàng yêu cầu Tòa án tuyên bố một người vay tiền của ngân hàng là đã chết khi người đó đã biệt tích lâu ngày nhằm thu hồi lại khoản nợ từ tài của người đó để lại theo quy định của pháp luật thừa kế Hay là để giải quyết vấn đề chia tài sản của người đó…Mặt khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự thì Tòa án chỉ thụ lý vụ việc khi có đơn khởi kiện của đương sự Vì vậy Tòa án chỉ có thể ra quyết định tuyên bố một cá chết khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan
Thứ hai, đã qua thời hạn quy định mà cá nhân đó vẫn không có tin tức là còn sống Tòa án chỉ tuyên bố một người là đã chết nếu qua thời hạn luật định mà vẫn không có tin tức là người đó còn sống Thời hạn để tuyên bố một người là đã chết được chia thành những trường hợp cụ thể Theo Khoản 1 Điều 71 BLDS 2015 thời hạn cụ thể để tuyên bố một cá nhân đã chết cụ thể như sau:
Sau 3 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống Khi một người biệt tích hai năm liền thì người có quyền và lợi ích liên quan của người biệt tích có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích Như vậy, tổng thời gian mà người vắng mặt khỏi nơi cư trú có thể bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là đã chết là 5 năm liền mà không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết
Biệt tích trong chiến tranh sau 5 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống Tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xác định “ ngày kết thúc chiến tranh” Ngày tuyên bố chấm dứt chiến tranh, ngày kí hiệp định đình chiến…cũng có thể chưa được coi là ngày chấm dứt chiến tranh nếu chiến sự vẫn xảy ra
Trang 6Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm kể từ ngày mà thảm họa, thiên tai đó chấm dứt mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Biệt tích 5 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực là còn sống Thời điểm bắt để tính thời hạn 5 năm là ngày có tin tức cuối cùng về người đó Nếu không xác định được ngày thì tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo có tin tức cuối cùng, nếu không xác định được ngày tháng thì tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo có tin tức cuối cùng
Thứ ba, phải thông qua thủ tục tìm kiếm Khoản 1 Điều 392 quy định: “Trong
thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, Tòa
án ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết” Việc thông báo tìm kiếm với mục đích xác định lần cuối cùng về tin tức sống
còn của một người trước khi Tòa án quyết định về thân phận pháp lí của họ Nội dung và thời hạn thông báo được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 388
BLTTHS 2015 cụ thể: “Nội dung thông báo và việc công bố thông báo được thực
hiện theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật này Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên”.
Tìm kiếm là thủ tục không thể thiếu khi tuyên bố một cá nhân là đã chết, thông qua thủ tục này có thể nâng cao tính chính xác trong quyết định của Tòa án Mặt khác về nguyên tắc Tòa án chỉ có thể tuyên bố một người là đã chết khi hộ “ vẫn không có tin tức là còn sống”
Về thủ tục hành chính, quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Uỷ ban nhân nhân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi trú theo quy định của pháp luật về hộ tịch
Trang 72.Xác định ngày chết cho người bị tuyên bố là đã chết
Việc xác định ngày chết của một người có ý nghĩa vô cùng quan trọng Đó là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhiều người Ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết là cơ sở để xác định ngày mở thừa kế đối với di sản của người đó và là ngày để xác định các quan hệ khác mà người đó tham gia được coi là chấm dứt Tuy nhiên bộ luật dân sự lại quy định một cách chung chung nhất về việc xác định ngày chết như sau: “Căn cứ vào từng trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết” Tuy nhiên trong việc xác định ngày chết hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau
Có ý kiến cho rằng cần sửa đổi quy định trên về việc xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết theo hướng không căn cứ vào ngày quyết định của Tòa
án tuyên bố người đó là đã chết có hiệu lực pháp luật mà tùy trường hợp cụ thể, Tòa án sẽ xác định ngày chết của người đó và nêu rõ trong quyết định tuyên bố chết Trên thực tế, cách giải quyết của các Tòa án cũng có nhiều điểm khác biệt Có trường hợp Tòa án tuyên bố ngày chết là căn cứ vào ngày người đó vắng mặt tại nơi cơ trú, nhưng cũng có trường hợp lại xác định là ngày Tòa án mở phiên tòa, nhưng có trường hợp xác định vào ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực Qua nội dung các bản án cho thấy mặc dù tình tiết của Tòa án tương đối giống nhau, nhưng cách xác định ngày chết của mỗi Tòa án lại khác nhau, không thống nhất, trong khi
đó đây lại là một vấn đề rất quan trọng, có liên quan đến việc xác định thời điểm
mở thừa kế, diện người thừa kế, thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Bên cạnh ý kiến nêu trên có ý kiến cho rằng nên xác định ngày chết của người
bị tuyên bố chết là ngày người đó biệt tích khỏi nơi cư trú, vì các lí do sau:
Thứ nhất, quyết định này đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân có liên quan, đặc biệt là các đối tượng thuộc diện được hưởng di sản thừa kế
Trang 8thế vị Thực tế cho thấy người bị Tòa án tuyên bố chết bị biệt tích ở nơi cư trú trong khoảng thời gian rất dài, tính đến ngày người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu Tòa án xác định người đó đã chết Do đó nếu xác định ngày chết là ngày người đó biệt tích tại nơi cư trú sẽ tránh được các vấn đề phức tạp phát sinh từ khối tài sản của người thừa kế
Thứ hai, do khoảng thời gian kể từ khi người đó biệt tích cho đến khi bị Tòa
án tuyên bố chết là khá dài (khoảng 5 năm),nếu xác định ngày chết là ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người có quyền, lợi ích liên quan đến tài sản của người bị tuyên bố chết (ví dụ: người đang
có quan hệ hợp đồng mua bán tài sản với người đó, người đã đồng sở hữu với tài sản thuộc sở hữu chung với người bị tuyên bố chết) và các quan hệ dân sự đó sẽ bị ngưng trệ cho đến khi Tòa án có quyết định tuyên bố người đó chết
Tuy nhiên theo khoản 2 điều 71 Luật dân sự 2015 thì Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố chết căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 71 luật này
3 Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một cá nhân là đã chết
“Điều 72 Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên
bố là đã chết
1 Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.
2 Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.”
Căn cứ vào điều 72 BLDS 2015 thì việc Tòa án tuyên bố một người là đã chết gây ra các hậu quả pháp lí đó là:
Trang 9Thứ nhất, về tư cách chủ thể: Tư cách chủ thể của người bị ra quyết định tuyên
bố chết là đã chết chấm dứt hoàn toàn (giống như một người chết bình thường) Tức là, tính từ thời điểm quyết định của Tòa án có hiệu lực thì cá nhân đó không thẻ tham gia vào bất cứ quan hệ dân sự nào với tư cách là một chủ thể của quan hệ đó
Thứ hai, về quan hệ nhân thân: quan hệ về hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân của cá nhân bị tuyên bố chết chấm dứt Nếu vợ, chồng của cá nhân bị tuyên bố chết kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật Như vậy nếu vợ hoặc chồng của một người bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là đã chết thì người đó có thể kết hôn với người khác và việc kết hôn vời người khác đó hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật Ngoài ra, các quan hệ nhân thân khác như các quan hệ về tên gọi, danh dự, nhân phẩm hay các quan hệ gắn với tài sản như quyền tác giả về tác phẩm văn học, quyền tác giả về phát minh sáng chế cũng được giải quyết như đối với người đã chết, tức là chấm dứt các quan hệ đó
III HỦY BỎ QUYẾT ĐỊNH TUYÊN BỐ MỘT CÁ NHÂN LÀ ĐÃ CHẾT VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ
Khoản 1 Điều 73 BLDS 2015 quy định: “Khi một người bị tuyên bố là đã
chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết”.
Ta thấy rằng việc Tòa án ra quyết định tuyên bố là đã chết với cá nhân thì cái chét đó thực chất chỉ là cái chết mang tính “suy đoán pháp lý” Do đó, sự suy đoán này có thể chính xác, có thể không chính xác Việc một cá nhân bị Tòa án tuyên bố
Trang 10là đã chết thì cái chết đó chỉ là cái chết pháp lý, và người đó có thể vẫn chưa có cái chết sinh học bình thường nhưng vì một số lý do nào đó mà người đó không có tin tức là mình còn sống trong một thời gian dài và Tòa án phải tuyên bố người đó là
đã chết theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan đến người đó Trên thực tế ta cũng đã thấy có nhiều trường hợp một người sau khi đã bị Tòa án ra quyết định tuyên bố chết trở về Khi còn sống và trở về thì cá nhân người đó cũng cần phải tham gia vào các quan hệ dân sự một cách bình thường với tư cách là một chủ thể chính vì vậy mà người đó hoặc người có quyền và lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết
Hậu quả pháp lý của việc Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết được quy định tại các Khoản 2,3 Điều 73 BLDS 2015, cụ thể
đó là:
Thứ nhất, về tư cách chủ thể: Tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là đã chết được trở lại tình trạng ban đầu như khi họ còn sống Như vậy tư cách chủ thể của người đó được khôi phục và người đó được tham gia vào các giao dịch dân sự, các quan hệ dân sự một cách bình thường
Thứ hai, về quan hệ nhân thân: Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là
đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người
đó là đã chết, tuy nhiên cần lưu ý các trường hợp sau đây:
Trường hợp, vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa
án cho ly hôn theo quy định tai Khoản 2 Điều 63 BLDS 2015 thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật Nếu người bị tuyên bố là đã chết trở về mà muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng đối với vợ hoặc chồng đã được Tòa án cho ly hôn sẽ phải làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật