PHẦN MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài:Việt Nam là nước có tốc độ đô thị hóa cao trong khu vực và trên thế giới nhưng năng lực quản lý Nhà nước về đô thị giữa các địa phương lại không đồng đều, có nơi chưa theo kịp với tốc độ phát triển. Do vậy, trong quá trình quản lý đô thị, các cấp chính quyền đô thị ở Việt Nam phải luôn đương đầu để giải quyết những khó khăn thường trực như: tình trạng xây dựng hỗn loạn không tuân thủ qui hoạch, vấn đề cấp thoát nước, thiếu cây xanh, tình trạng thiếu nhà ở (nhà ổ chuột), nạn ùn tắc giao thông, đường sá xuống cấp, mạng lưới điện quá tải, ô nhiễm môi trường, thiếu công ăn việc làm, thất nghiệp, nghèo đói, tệ nạn xã hội, gia tăng dân số, trật tự giao thông…Thực trạng đó bắt nguồn từ các nguyên nhân sau đây: hệ thống pháp luật chưa đủ để vận hành nền kinh tế thị trường nên nảy sinh nhiều tiêu cực (đô thị là nơi giáp mặt giữa cung và cầu, nó là hàn thử biểu về tình hình kinh tế, nó rất nhạy cảm với các chính sách kinh tế vĩ mô). Luật pháp về đô thị chưa đủ, chưa đồng bộ, pháp chế chưa nghiêm. Cơ sở hạ tầng của đô thị lạc hậu, không đồng bộ, xuống cấp nghiêm trọng làm phát sinh những hậu quả xấu. Công tác tổ chức và Quản lý Nhà nước về đô thị chưa khoa học, chưa đáp ứng được yêu cầu. Công tác qui hoạch đô thị tiến hành chậm, chưa đồng bộ. Chưa phân biệt được quản lý đô thị và quản lý nông thôn (điều này thể hiện trong công tác tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, trình độ cán bộ…).Trước thực trạng như vậy, công tác Quản lý Nhà nước về dô thị đòi hỏi phải có những nét đặc thù riêng: tổ chức quản lý đô thị theo nguyên tắc tập trung thống nhất cao, tránh tình trạng “cắt khúc”, quản lý đô thị nhất thiết phải theo qui hoạch...Những người quản lý đô thị, kể cả hoạch định các chính sách vĩ mô hay các viên chức hành chính trong bộ máy chính quyền các cấp của đô thị phải nắm vững những đặc thù của đô thị để từ đó có những chính sách và những hành động quản lý phù hợp và hữu hiệu. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:Qua nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận về đô thị, về Nhà nước, về Quản lý Nhà nước, về Quản lý Nhà nước về đô thị. Làm rõ nội dung quản lý Nhà nước về đô thị và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về đô thị trong giai đoạn hiện nay.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:3.1. Khách thể nghiên cứu của đề tài là Nhà nước CHXHCN Việt Nam.3.2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài: hoạt động quản lý của Nhà nước về đô thị.4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài:4.1. Cơ sở lý luận: đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Quản lý Nhà nước, về đô thị và quản lý Nhà nước về đô thị.4.2. Phương pháp nghiên cứu: phương pháp chủ yếu để nghiên cứu thực hiện đề tài là phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp phân tích, tổng hợp.5. Kết cấu của đề tài:Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Tiểu luận gồm có 3 chương.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam là nước có tốc độ đô thị hóa cao trong khu vực và trên thế giới nhưng năng lực quản lý Nhà nước về đô thị giữa các địa phương lại không đồng đều, có nơi chưa theo kịp với tốc độ phát triển Do vậy, trong quá trình quản lý đô thị, các cấp chính quyền đô thị ở Việt Nam phải luôn đương đầu để giải quyết những khó khăn thường trực như: tình trạng xây dựng hỗn loạn không tuân thủ qui hoạch, vấn đề cấp thoát nước, thiếu cây xanh, tình trạng thiếu nhà ở (nhà ổ chuột), nạn ùn tắc giao thông, đường sá xuống cấp, mạng lưới điện quá tải, ô nhiễm môi trường, thiếu công ăn việc làm, thất nghiệp, nghèo đói, tệ nạn
xã hội, gia tăng dân số, trật tự giao thông…
Thực trạng đó bắt nguồn từ các nguyên nhân sau đây: hệ thống pháp luật chưa đủ để vận hành nền kinh tế thị trường nên nảy sinh nhiều tiêu cực (đô thị là nơi giáp mặt giữa cung và cầu, nó là hàn thử biểu về tình hình kinh tế, nó rất nhạy cảm với các chính sách kinh tế vĩ mô) Luật pháp về đô thị chưa đủ, chưa đồng bộ, pháp chế chưa nghiêm Cơ sở hạ tầng của đô thị lạc hậu, không đồng
bộ, xuống cấp nghiêm trọng làm phát sinh những hậu quả xấu Công tác tổ chức
và Quản lý Nhà nước về đô thị chưa khoa học, chưa đáp ứng được yêu cầu Công tác qui hoạch đô thị tiến hành chậm, chưa đồng bộ Chưa phân biệt được quản lý
đô thị và quản lý nông thôn (điều này thể hiện trong công tác tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, trình độ cán bộ…)
Trước thực trạng như vậy, công tác Quản lý Nhà nước về dô thị đòi hỏi phải có những nét đặc thù riêng: tổ chức quản lý đô thị theo nguyên tắc tập trung thống nhất cao, tránh tình trạng “cắt khúc”, quản lý đô thị nhất thiết phải theo qui hoạch
Trang 2Những người quản lý đô thị, kể cả hoạch định các chính sách vĩ mô hay các viên chức hành chính trong bộ máy chính quyền các cấp của đô thị phải nắm vững những đặc thù của đô thị để từ đó có những chính sách và những hành động quản lý phù hợp và hữu hiệu
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Qua nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận về đô thị, về Nhà nước, về Quản lý Nhà nước, về Quản lý Nhà nước về đô thị Làm rõ nội dung quản lý Nhà nước về đô thị và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về đô thị trong giai đoạn hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
3.1 Khách thể nghiên cứu của đề tài là Nhà nước CHXHCN Việt Nam 3.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài: hoạt động quản lý của Nhà nước về
đô thị
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài:
4.1 Cơ sở lý luận: đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Quản lý Nhà nước, về đô thị và quản lý Nhà nước về đô thị
4.2 Phương pháp nghiên cứu: phương pháp chủ yếu để nghiên cứu thực hiện đề tài là phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp phân tích, tổng hợp
5 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Tiểu luận gồm có 3 chương
Trang 3PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quản lý Nhà nước và Quản lý Nhà nước về đô thị:
1.1 Về Quản lý Nhà nước:
1.1.1 Khái niệm:
1.1.1.1 Quản lý:
Theo Điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước
Định nghĩa trên thích hợp với tất cả mọi trường hợp, từ sự vận động của một cơ thể sống, một vật thể cơ giới, một thiết bị tự động hóa đến hoạt động của một tổ chức xã hội, một đơn vị kinh tế hay cơ quan Nhà nước
Theo Mác: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”
Lênin đã khẳng định: Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà còn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa
Để điều khiển, phối hợp hoạt động của tập thể những con người, chúng ta cần có những phương tiện buộc con người phải hành động theo những nguyên tắc nhất định, phải phục tùng những khuôn mẫu, những mệnh lệnh nhất định Cơ
sở của sự phục tùng hoặc là uy tín, hoặc là quyền uy Quyền uy là phương tiện rất quan trọng để chủ thể quản lý buộc đối tượng quản lý phải phục tùng, là yếu
tố không thể thiếu của quản lý Không có quyền uy thì hoạt động quản lý sẽ không có hiệu quả
Trang 4Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý Quản lý xuất hiện ở bất kỳ đâu, khi nào nếu ở đó và lúc đó có hoạt động chung của con người Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục đích đã định trước Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy
1.1.1.2 Quản lý Nhà nước:
Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả
bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ”
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành
vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình
1.1.2 Đặc trưng của quản lý Nhà nước:
Quản lý Nhà nước mang tính quyền lực và dựa trên cơ sở pháp luật Quyền lực đó do giai cấp thống trị thiết lập dựa trên cơ sở của quyền uy Điều kiện để xây dựng quyền uy là sức mạnh kinh tế Ngoài ra, quyền uy còn dựa trên các lực lượng khác, các công cụ của giai cấp thống trị như quân đội, công an, luật pháp
Trang 5Quản lý Nhà nước luôn mang tính tổ chức và điều chỉnh Nhà nước có một
hệ thống bộ máy gồm cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong nội bộ của mỗi cơ quan ấy lại có một hệ thống ngành dọc của riêng mình, tạo thành một thể thống nhất và bền chặt, tác động hỗ trợ nhau mọi hoạt động nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất
Quản lý Nhà nước phải mang tính khoa học và hệ thống
1.2 Quản lý Nhà nước về đô thị:
1.2.1 Khái niệm:
1.2.1.1 Đô thị:
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ dân số cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp; người dân sống và làm việc khoa học, văn minh, hiện đại, có hiệu quả kinh tế cao, có cơ sở hạ tầng đồng bộ, có môi trường sống tốt hơn cho con người
1.2.1.2 Quản lý Nhà nước về đô thị:
Quản lý Nhà nước về đô thị là toàn bộ hoạt động của Chính phủ, các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp (có thẩm quyền) dựa trên cơ sở pháp luật để điều chỉnh các quy định quản lý về đô thị, điều chỉnh các hoạt động về xây dựng, quy hoạch đô thị, về đất ở, nhà ở, hạ tầng kỹ thuật, về cảnh quan môi trường, văn hóa xã hội tại các đô thị; điều chỉnh các hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong nội thành, nội thị, giữ gìn sự ổn định trật tự xã hội tại các đô thị nhằm thực hiện các mục tiêu về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, giáo dục, y tế tại các đô thị mà Nhà nước đã đề ra
1.2.2 Phân loại đô thị:
1.2.2.1 Điều kiện để phân loại:
Các Thành phố, thị xã, thị trấn được các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập’
Trang 6Trung tâm tổng hợp các chuyên ngành, tập trung tất cả các cơ quan quản
lý Nhà nước, dịch vụ …
Quy mô dân số tối thiểu là 4000 người/đô thị
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp phải từ 65% dân số trở lên
Cơ sở hạ tầng để phục vụ cho hoạt động của dân cư tối thiểu phải bằng 70% so với tiêu chuẩn từng loại đô thị
Mật độ dân số nội thành phải đạt tối thiểu 2000 người/km2
1.2.2.2 Phân loại:
Có tổng số 06 loại đô thị:
Loại đặc biệt: Thủ đô hoặc những nơi có chức năng đầu mối, trung tâm, ảnh hưởng lớn; phải có từ 5 triệu người trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong nội thành phải trên 95% dân số
Loại một: có chức năng văn hóa, xã hội, du lịch, dịch vụ đối với cả nước
và quốc tế; lao động phi nông nghiệp trên 85% dân số; cơ sở hạ tầng được xây nhiều mặt, hoàn chỉnh
Ngoài ra, còn có đô thị loại hai, loại ba, loại bốn và đô thị loại năm
Trang 7Chương 2: Nội dung và thực trạng Quản lý Nhà nước về đô thị:
2.1 Nội dung Quản lý Nhà nước về đô thị:
2.1.1 Quản lý Nhà nước về quy hoạch và xây dựng phát triển đô thị:
Lĩnh vực quản lý đô thị này có các nội dung chính sau:
Ban hành các quy định về quy hoạch và quản lý xây dựng phát triển đô thị Quản lý quy hoạch xây dựng đô thị
Quản lý kiến trúc đô thị
Quản lý di sản văn hoá, lịch sử, di sản kiến trúc và cảnh quan đô thị
Quản lý xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
Quản lý nhà và đất đô thị
Quản lý môi trường đô thị
Quản lý trật tự xây dựng đô thị
Với các nội dung quản lý nêu trên, quản lý quy hoạch và xây dựng phát triển đô thị có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hoạt động xây dựng phát triển đô thị Những quy hoạch, kế hoạch, dự án, thiết kế xây dựng dù có chất lượng cao nhưng nếu không được quản lý tốt sẽ không thể phát huy tác
Trang 8dụng Không những vậy, quản lý đô thị còn có tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với việc phân bổ, huy động các nguồn lực phát triển đô thị cũng như đảm bảo công bằng xã hội
Cũng như hầu hết các hoạt động khác, yếu tố con người có tầm quan trọng đặc biệt trong quản lý đô thị Ngoài yêu cầu về đạo đức, người lãnh đạo hoặc cán bộ quản lý đô thị phải có kiến thức vững về chuyên môn và kỹ năng quản lý Yêu cầu về kiến thức chuyên môn bao gồm kiến thức về các quy định pháp luật,
hệ thống các quy chuẩn, tiêu chuẩn và kiến thức cơ bản của chuyên ngành về xây dựng đô thị Yêu cầu về kỹ năng bao gồm hiểu biết về khoa học, tâm lý trong quản lý, kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, giao tiếp, tham gia ý kiến hoặc ra quyết định, lưu trữ hồ sơ
Trong bối cảnh xây dựng, phát triển đô thị hiện nay, một trong những bất cập làm hạn chế hiệu quả của quản lý đô thị, đó là trình độ chuyên môn và kỹ năng của lực lượng cán bộ quản lý đô thị, đặc biệt là cán bộ quản lý đô thị cấp phường, thị trấn, thị xã, thành phố (thuộc tỉnh) Tuy chưa có những thông kê chính xác nhưng qua thực tế một số khoá đào tạo bồi dưỡng về quản lý đô thị có thể thấy một số điểm yếu sau:
Số cán bộ quản lý đô thị không có chuyên môn về xây dựng khá lớn, nhất
là tại các phường, thị trấn Đây là điểm yếu cơ bản bởi nếu không có chuyên môn về xây dựng sẽ rất khó khăn để nắm bắt các quy định pháp luật, các yêu cầu, thông số, quy định chuyên ngành làm cơ sở cho hoạt động quản lý
Hầu hết các cán bộ quản lý đô thị đều được thuyên chuyển hoặc tuyển dụng từ cán bộ chuyên môn kỹ thuật và không được trang bị kỹ năng quản lý nói chung và kỹ năng trong quản lý đô thị nói riêng Các địa phương có định kỳ tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nhưng chủ yếu là về kiến thức pháp luật mà không chú
ý đến kỹ năng và kiến thức chuyên môn
Trang 9Để tăng cường chất lượng và hiệu quả của công tác lập và quản lý quy hoạch xây dựng, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 09/2008/CT-TTg ngày
28 tháng 02 năm 2008 yêu cầu các Bộ, UBND các tỉnh, TP trực thuộc trung ương thực hiện một loạt nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ về đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý đô thị
2.1.2 Quản lý Nhà nước về trật tự an toàn tại các đô thị:
Phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề trật tự an toàn tại các đô thị
Phải xây dựng các định hưỡng, mục tiêu, chiến lược, các chương trình về bảo vệ trật tự an toàn tại các đô thị; phải xây dựng các tổ chức, lực lượng để bảo
vệ an toàn trật tự tại các đô thị; phải xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật tại đô thị
Phải xây dựng cơ quan quản lý Nhà nước về trật tự tại các đô thị
Phải xây dựng phong trào toàn dân tham gia bảo vệ trật tự đô thị
2.2 Thực trạng phát triển đô thị và thực trạng quản lý Nhà nước về đô thị ở Việt Nam hiện nay:
2.2.1 Những kết quả đạt được:
Năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Ðịnh hướng phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2020, trong đó vai trò của các đô thị được xác định là những động lực phát triển chính trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu phát triển đất nước cơ bản thành nước công nghiệp vào năm 2020
Nhìn lại chặng đường hơn 10 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, sự quản lý của Nhà nước, sự nỗ lực vận động của toàn xã hội, chúng ta có thể tự hào với những thành tựu quan trọng đã đạt được của công tác phát triển đô thị toàn quốc Hệ thống đô thị quốc gia đã có sự chuyển biến tích cực cả về lượng cũng như về chất Mạng lưới đô thị quốc gia đã và đang được phát triển, mở rộng
Trang 10từ 629 đô thị năm 1999 đến nay đã tăng lên 754 đô thị Về dân cư đô thị, tỷ lệ đô thị hóa đã tăng từ 20,7% năm 1999 đến nay đạt gần 30% nếu tính dân số nội thị Trong đó, có hai đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, đô thị loại I tăng thêm năm đô thị, trong khi đó loại V tăng thêm 99 đô thị Ðiều này đã chứng tỏ mức độ đô thị hóa đã phát triển mạnh ở khu vực các đô thị nhỏ, lan tỏa trên diện rộng và phân bố đồng đều hơn trên phạm vi cả nước
Tăng trưởng kinh tế ở khu vực đô thị trung bình đạt từ 12 đến 15%, cao gấp 1,5 đến 2 lần so với mặt bằng chung trong cả nước Năm 2007-2009 đạt khoảng từ 8 đến 10%(H) Hiện nay nguồn thu đô thị, nhất là của các thành phố lớn chiếm tỷ lệ 70% trong cơ cấu GDP cả nước Tại một số đô thị lớn, GDP bình quân đầu người đạt hơn 1.500 USD như Hà Nội khoảng 1.500 USD/năm, Nha Trang 1.779 USD/năm Sự phát triển kinh tế đô thị đã và đang tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động, góp phần quan trọng trong việc duy trì sự ổn định
và phát triển chung của xã hội
Sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã đem lại những nguồn lực quan trọng cho việc xây dựng và cải tạo chỉnh trang diện mạo của các đô thị Kiến trúc và cảnh quan đô thị đã được các chính quyền đô thị quan tâm đầu tư phát triển với sự xuất hiện ngày càng nhiều các quần thể kiến trúc, mảng đô thị hiện đại, ứng dụng công nghệ thiết kế, xây dựng tiên tiến của thế giới Tại nhiều
đô thị đã và đang xuất hiện các công trình kiến trúc cao tầng là những điểm nhấn kiến trúc đô thị có chất lượng cao Ði đôi với việc đầu tư xây dựng các khu đô thị mới hiện đại, đồng bộ thì công tác cải tạo, chỉnh trang đô thị và bảo tồn các giá trị di sản kiến trúc đô thị đã được coi trọng, góp phần duy trì và tạo dựng bản sắc của từng đô thị
Chất lượng cuộc sống người dân đô thị đang từng bước được cải thiện thông qua sự đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng tại các đô thị Năm 1999, diện tích nhà ở bình quân đầu người đạt 6 m2 đến nay đã tăng gấp đôi, đạt 12 m2 Mô
Trang 11hình đầu tư phát triển các khu đô thị mới đồng bộ đã được nghiên cứu nhân rộng tại nhiều địa phương trong cả nước, sử dụng có hiệu quả quỹ đất dành cho phát triển đô thị, đồng thời từng bước giải quyết nhu cầu rất lớn của xã hội về nhà ở
Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội đô thị như hệ thống giao thông, cấp nước, thoát nước, chiếu sáng, cây xanh, thu gom và xử lý chất thải rắn và công trình phúc lợi công cộng của các đô thị được đầu tư xây dựng, cải tạo và phát triển khá nhanh, tạo nên bộ khung cơ bản để các đô thị phát triển Về cấp nước sạch, thời điểm năm 1999 Việt Nam vẫn còn hơn 70% số dân đô thị sử dụng nước không bảo đảm vệ sinh, đến nay bình quân trên cả nước 73% số dân
đô thị đã được cấp nước sạch Chất lượng phục vụ của giao thông công cộng tại các đô thị, các vùng và trên cả nước ngày càng tốt hơn Hiện nay, nhiều địa phương đang tập trung nguồn vốn ODA để đầu tư xây dựng và phát triển giao thông công cộng đô thị như dự án đường sắt trên cao tại Hà Nội, dự án tàu điện ngầm tại thành phố Hồ Chí Minh, các tuyến giao thông huyết mạch, tuyến vành đai các đô thị lớn, cầu qua sông, v.v
Vấn đề cải thiện điều kiện môi trường đô thị cũng đã được chính quyền đô thị quan tâm Một số đô thị đã có nhà máy hoặc trạm xử lý nước thải được đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt bình quân cả nước đạt khoảng 80% Chúng ta đã có ba công nghệ trong nước xử lý chất thải rắn sinh hoạt đã được Bộ Xây dựng cấp giấy chứng nhận: SERAPHINE, ANSINH-ASC, MBT-CD Cấp điện và chiếu sáng đô thị được cải thiện rõ rệt 90% số các tuyến đường trục chính cấp đô thị từ các đô thị loại 3 trở lên được chiếu sáng Dịch vụ cung cấp thông tin liên lạc phát triển nhanh chóng phục vụ tích cực cho các yêu cầu đặt ra của sự phát triển kinh tế - xã hội
Hơn mười năm qua, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn phát triển xã hội, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Xây dựng và các bộ, ngành đã và đang từng bước hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực xây dựng và phát