PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU Triết học thời kỳ Phục hưng với sự sâu sắc về nội dung và phong phú về hình thức biểu hiện đã đánh dấu sự khởi sắc của sinh hoạt tinh thần sau nhiều thế kỷ bị kìm hãm. Khôi phục những giá trị văn hóa, khoa học cổ đại; đề cao con người, mong muốn thay đổi đời sống chính trị xã hội theo hướng thế tục hóa, tăng cường năng lực nhận thức và đẩy mạnh việc khám phá những bí mật của tự nhiên, mở rộng “vương quốc của con người”, triết học thời Phục hưng thật xứng đáng là triết học của “những vị thần khổng lồ”. Thời kỳ Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản (thế kỷ XV – XVI), tức sang một hình thức phát triển cao hơn. Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản, đã hình thành trong lòng xã hội phong kiến có xu hướng trở thành phương thức sản xuất thống trị, gắn liền với nhu cầu phát triển khoa học, kỹ thuật và tạo ra thị trường kinh tế thống nhất, phá vỡ những cát cứ phong kiến lâu đời thời Trung cổ. Trong thời đại Phục hưng ở Tây Âu, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đã bênh vực triết học duy vật, chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học trung cổ. Tuy vậy, trong các hệ thống triết học ở thời đại này, các yếu tố của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm thường xen kẽ nhau, xu hướng vô thần biểu hiện dưới cái vỏ phiếm thần luận. Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc thù là khoa học chống tôn giáo, tri thức thực nghiệm đối lập với những lập luận kinh viện. Sự chuyên chính của giáo hội và sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện trung cổ đã không ngăn cản được sự phát triển bước đầu của khoa học thực nghiệm và triết học duy vật – tiền đề cho những thành tựu mới và những đặc điểm mới của triết học trong các thế kỷ tiếp theo. Mặc dù tồn tại cách chúng ta nhiều thế kỷ, nhưng những vấn đề triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng vẫn chưa mất tính thời sự của nó. C. Mác nhận xét, “một dân tộc chỉ đứng ngang tầm thời đại khi có một nền tảng triết học vững chắc”. Vì vậy, việc nghiên cứu các di sản triết học thời kỳ Phục hưng giúp ta hiểu được tiến trình phát triển của tư tưởng nhân loại, có thêm cơ sở để hiểu sâu sắc hơn, đúng đắn hơn chủ nghĩa Mác Lênin, đồng thời giúp chúng ta có được những cơ sở lịch sử cần thiết để giải quyết nhiều vấn đề phục vụ sự nghiệp đổi mới nước ta hiện nay, chẳng hạn như đề ra các chính sách tôn giáo hợp lý, giải quyết nhiều vấn đề mối quan hệ giữa khoa học kỹ thuật và khoa học nhân văn, các vấn đề dân chủ và tự do cá nhân con người... Trên cơ sở đó mà học viên chọn đề tài Những đặc điểm chủ yếu của triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng để làm tiểu luận môn.
Trang 1PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Triết học thời kỳ Phục hưng với sự sâu sắc về nội dung và phong phú
về hình thức biểu hiện đã đánh dấu sự khởi sắc của sinh hoạt tinh thần saunhiều thế kỷ bị kìm hãm Khôi phục những giá trị văn hóa, khoa học cổ đại;
đề cao con người, mong muốn thay đổi đời sống chính trị - xã hội theo hướngthế tục hóa, tăng cường năng lực nhận thức và đẩy mạnh việc khám phánhững bí mật của tự nhiên, mở rộng “vương quốc của con người”, triết họcthời Phục hưng thật xứng đáng là triết học của “những vị thần khổng lồ”
Thời kỳ Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ
xã hội phong kiến sang xã hội tư bản (thế kỷ XV – XVI), tức sang một hìnhthức phát triển cao hơn Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản, đãhình thành trong lòng xã hội phong kiến có xu hướng trở thành phương thứcsản xuất thống trị, gắn liền với nhu cầu phát triển khoa học, kỹ thuật và tạo rathị trường kinh tế thống nhất, phá vỡ những cát cứ phong kiến lâu đời thờiTrung cổ
Trong thời đại Phục hưng ở Tây Âu, các nhà tư tưởng của giai cấp tưsản đã bênh vực triết học duy vật, chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần họctrung cổ Tuy vậy, trong các hệ thống triết học ở thời đại này, các yếu tố củachủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm thường xen kẽ nhau, xu hướng vôthần biểu hiện dưới cái vỏ phiếm thần luận Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duyvật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc thù làkhoa học chống tôn giáo, tri thức thực nghiệm đối lập với những lập luận kinhviện
Sự chuyên chính của giáo hội và sự thống trị của chủ nghĩa kinh việntrung cổ đã không ngăn cản được sự phát triển bước đầu của khoa học thực
Trang 2nghiệm và triết học duy vật – tiền đề cho những thành tựu mới và những đặcđiểm mới của triết học trong các thế kỷ tiếp theo.
Mặc dù tồn tại cách chúng ta nhiều thế kỷ, nhưng những vấn đề triếthọc Tây Âu thời kỳ Phục hưng vẫn chưa mất tính thời sự của nó C Mác nhậnxét, “một dân tộc chỉ đứng ngang tầm thời đại khi có một nền tảng triết họcvững chắc” Vì vậy, việc nghiên cứu các di sản triết học thời kỳ Phục hưnggiúp ta hiểu được tiến trình phát triển của tư tưởng nhân loại, có thêm cơ sở
để hiểu sâu sắc hơn, đúng đắn hơn chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời giúpchúng ta có được những cơ sở lịch sử cần thiết để giải quyết nhiều vấn đềphục vụ sự nghiệp đổi mới nước ta hiện nay, chẳng hạn như đề ra các chínhsách tôn giáo hợp lý, giải quyết nhiều vấn đề mối quan hệ giữa khoa học kỹthuật và khoa học nhân văn, các vấn đề dân chủ và tự do cá nhân con người
Trên cơ sở đó mà học viên chọn đề tài Những đặc điểm chủ yếu của triết
học Tây Âu thời kỳ Phục hưng để làm tiểu luận môn.
Mục đích và nhiệm vụ của đề tài giúp làm rõ thêm quá trình hình thành
và phát triển của triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng, từ đó cho ta thấy đượcnhững hạn chế của nó như còn yếu tố duy tâm, thỏa hiệp, duy vật chưa triệtđể và những đóng góp to lớn của nó đối với sự phát triển của khoa học vàtriết học duy vật
Kết cấu đề tài gồm 3 phần : Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong phần nội dung gồm có 2 chương: Chương I, nêu lên những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và những đại biểu tiêu biểu triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV – XVI); chương II, phân tích nêu lên những đặc điểm chủ yếu của triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV – XVI)
Do giới hạn của đề tài, cũng như khả năng bản thân nên đề tài khótránh khỏi những hạn chế thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của quýthầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ
NHỮNG ĐẠI BIỂU TIÊU BIỂU CỦA TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI KỲPHỤC HƯNG (THẾ KỶ XV-XVI):
1 Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội:
Thời kỳ Phục hưng là thời kỳ được gọi để biểu thị sự phục hồi và làmhưng thịnh lại những giá trị văn hóa cổ đại trong điều kiện thế kỷ XV – XVI ởchâu Âu Đây là thời kỳ đang có những mầm mống về kinh tế, chính trị, tưtưởng, văn hóa… cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Nhiều công trường thủcông đã xuất hiện với số lượng công nhân càng tăng lên, giai cấp tư sản mớiđang hình thành, những chủ xưởng, chủ hiệu buôn, chủ thuyền buôn… đangngày càng có vị trí trong xã hội Chế độ phong kiến đang đứng trước cuộc đạikhủng hoảng Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân, thợ thủ công đã đứng lênđấu tranh chống lại quý tộc, phong kiến đòi xóa bỏ đặt quyền, đặt lợi phongkiến Giai cấp tư sản ra đời cũng tìm mọi cách chống lại giai cấp phong kiến
để nhằm phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Sự phát triển tư bản chủnghĩa mặc dù dưới dạng mầm mống, dòi hỏi phải đánh đổ nền tảng thế giớiquan của chế độ phong kiến, tức là đánh đổ thuyết địa tâm – cho trái đất làtrung tâm của vũ trụ Điều này kích thích cho triết học và khoa học tự nhiên rađời
Do yêu cầu phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa, đòi hỏi phải pháttriển lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa Chính điều đó đã thôi thúc dòngtriết học nhân bản ra đời và xuất hiện chủ nghĩa nhân đạo tư sản, đề cao conngười, muốn giải phóng con người Đồng thời do yêu cầu phát triển kinh tế tưbản chủ nghĩa, đòi hỏi khoa học kỹ thuật phát triển để phát triển công cụ sảnxuất, cũng như đánh đổ thuyết địa tâm, điều này đã thôi thúc những nhà triết
Trang 4học mang tính chính trị - xã hội ra đời đề cao vai trò của cơ học, toán học,thiên văn học…
Do những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triến mạnh, đặcbiệt là sau thế kỷ XVI, những tích lũy tư bản đầu tiên đã làm nảy sinh rấtnhiều vấn đề xã hội ở phương Tây đòi hỏi các nhà triết học phải giải quyết, đó
là điều kiện giải phóng cho dòng triết học mang tính không tưởng ra đời –những tư tưởng xã hội không tưởng thời kỳ này
Như vậy, những hoàn cảnh lịch sử Tây Âu thời kỳ Phục hưng đã quyđịnh nội dung triết học thời kỳ này, làm cho nó không chỉ đơn thuần dừng lại
ở việc tiếp thu và khôi phục các giá trị tư tưởng truyền thống, mà trái lại, pháttriển với nhiều màu sắc riêng của một thời kỳ lịch sử, như Ăngghen nhận xét,
“từ xưa tới nay, nhân loại đã trải qua; đó là một thời đại cần có những conngười khổng lồ và đã sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lựcsuy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và
về mặt học thuyết sâu rộng”(1) Để làm rõ vấn đề này, cần phân tích những đặcđiểm chủ yếu của triết học Tây Âu thời kỳ này
2 Những đại biểu triết học tiêu biểu:
2.1 Một số đại biểu của triết học tự nhiên :
Nicôlai Côpécnic (1473-1543) Côpécnic là nhà thiên văn học, nhà
triết học nổi tiếng người Balan Ông là người đã khởi xướng thuyết Nhật tâm(mặt trời là trung tâm của vũ trụ) Côpécnic đã chứng minh rằng, trái đấtkhông phải là trung tâm của vũ trụ Trái đất không phải là đứng im mà luônvận động quanh mặt trời và tự quay xung quanh trục của nó Sự tự quay củatrái đất xung quanh trục của mình được ông lý giải bằng sự thay đổi ngày vàđêm Mặt trăng với ông là vệ tinh của trái đất, quay xung quanh trái đất.Thuyết Nhật tâm của Côpécnic có ý nghĩa hết sức to lớn, nó đã vượt ra ngoài
Trang 5khuôn khổ của thiên văn học và đã góp phần củng cố thế giới quan duy vật.Côpécnic cũng chống lại quan niệm của Arixtốt cho rằng có hai loại vận động
là vận động hoàn thiện ở trên trời và vận động không hoàn thiện ở dưới đất.Theo Côpécnic, không có sự khác nhau về nguyên tắc giữa vận động ở tráiđất với vận động ở mặt trời, mặt trăng
Trước phát minh của Côpécnic, một số linh mục đã sử dụng nó đã cảicách lịch và cho rằng những phát minh này đã giúp tính toán vận động củacác hành tinh chính xác hơn hệ thống của Arixtốt và Ptôlêmê Nhưng phầnlớn các linh mục và Giáo hội Kitô giáo nói chung đã chống lại phát minh này
Tuy nhiên, phát minh của Côpécnic vẫn còn những hạn chế nhất định: Thứ
nhất, khi ông cho độ lớn của trái đất so với bầu trời là nhỏ và khoảng cách từ
trái đất tới các vì sao là lớn là đúng thì ông cho rằng biên giới của thế giới là
không đổi Thứ hai, đối với Côpécnic, các vì sao là bất động và đều nằm trong
cùng một mặt cầu duy nhất Những hạn chế này về sau đã được G Brunôkhắc phục
Gióocđanô Brunô (1548 – 1600) Brunô là nhà thiên văn học, nhà triết
học nổi tiếng người Italia Ông chịu ảnh hưởng nhiều của triết học tự nhiên,đặc biệt là phát minh của Côpécníc Brunô là nhà triết học có xu hướng phiếmthần Đối với Brunô “Tự nhiên là Thượng đế trong các vật” Như vậy,Thượng đế ở Brunô đồng nhất với các vật, với tự nhiên Đây chính là bướcchuyển từ quan niệm hữu thần sang quan niệm vô thần Quan niệm này củaBrunô đã mâu thuẫn với quan niệm của Arixtốt về “vật chất thứ nhất” – thứvật chất thụ động
Trong quan niệm về vũ trụ thì quan niệm xuất phát điểm của Brunô làquan niệm về tính vô tận của vũ trụ, của tự nhiên Ông cho rằng không gian là
vô cùng tận, ông ủng hộ tư tưởng cho rằng có vô vàn thế giới khác nhau trong
vũ trụ Khác với Côpécníc khi cho mặt trời là trung tâm tuyệt đối của vũ trụ,
Trang 6Brunô cho rằng trung tâm tuyệt đối như vậy không có Mặt trời chỉ là trungtâm hệ thiên hà của chúng ta Trong vũ trụ không có giới hạn, mặt trời, các vìsao cũng luôn vận động Hơn nữa, ông còn đúng khi chỉ ra rằng, không chỉmặt trời của chúng ta mới có các vệ tinh quay xung quanh nó, ngay cả các vìsao xa xôi cũng có các vệ tinh quay xung quanh.
Brunô còn có qquan đieểm tiến bộ chống lại triết học kinh viện khi
chứng minh tính thống nhất vật lý của thế giới Ông cho rằng tất cả các thế
giới trong vũ trụ, tất cả các hành tinh đều được cấu tạo từ 5 yếu tố: đất, nước,lửa, không khí và ête Ête chỉ là tác nhân liên kết 4 yếu tố kia với nhau cũngnhư liên kết các thế giới, các hành tinh với nhau Nhưng Brunô lại sai lầm khirơi vào quan điểm vật hoạt luận (cho mọi vật đều có linh hồn)
Về lý luận nhận thức, Brunô xuất phát từ quan điểm con người là một
bộ phận không thể tách rời của vũ trụ, con người là thế giới vi mô phản ánhthế giới vĩ mô Ông cho nhận thức gồm: Cảm giác, lý trí và trí tuệ Ông đốilập cảm giác với trí tuệ Ông đánh giá thấp vai trò của cảm giác trong nhậnthức Cảm giác có hạn mà vũ trụ vô cùng vô tận nên cảm giác có thể đánh lừachúng ta trong nhận thức Brunô cho rằng “Ai muốn nhận thức những bí mậtcủa thế giới hãy xem xét và quan sát cái tối thiểu và cái tối đa của những mâuthuẫn của những mặt đối lập”(2) Trên cơ sở đó Brunô đã nhìn thấy sự thốngnhất của các mặt đối lập trong tất cả các lĩnh vực Ông cũng hoàn toàn đúngkhi phủ nhận chân lý của thần học và cho giới tự nhiên là đối tượng của nhậnthức
Có thể nói, Brunô là nhà triết học khoa học tự nhiên duy vật xuất sắcthời Phục hưng Quan điểm duy vật, khoa học của ông đã góp phần thúc đẩytriết học duy vật, khoa học và thiên văn học phát triển
2.2 Một số đại biểu tiêu biểu của triết học nhân đạo:
Trang 7Pêtrô Pômpônátxi (1462-1525) Pômpônátxi là nhà triết học nhân đạo
người Italia Ông tiếp tục tinh thần tự do tư tưởng Tư tưởng của ông chốnglại những giáo điều của Giáo hội Kitô giáo Pômpônátxi đã khẳng định rằngchân lý của thần học không giải thích được thế giới tự nhiên, chỉ đề cập tớinhững vấn đề đạo đức của nhân dân mà thôi Ông cho rằng, giáo lý của nhàthời chỉ mang lại điều ác cho xã hội Ông đã đối lập chân lý triết học với chân
lý thần học Chân lý triết học, theo ông là có cơ sở, nó hướng tới giải thích thếgiới và chính con người
Về linh hồn, Pômpônátxi cho rằng linh hồn cụ thể của bất kỳ ai đềukhông là bất tử Theo ông trí tuệ có ba dạng: một là trực quan (speculativus);hai là thực tiễn hay hoạt động (practicus, operativus) và tác động (factivus) ỞArixtốt không có dạng tác động Chính dạng thứ ba (dạng tác động) của trí tuệ
đã nói lên con người chính là người sáng tạo Con người, theo Pômpônátxikhác con vật ở chỗ biết phân biệt cái ác và cái thiện và biết trở thành thực thể
có đạo đức
Trong quan niệm về thế giới, Pômpônátxi có tư tưởng quyết định luận.Ông phủ nhận nguyên nhân siêu tự nhiên hay ngoài tự nhiên của các sự vật,hiện tượng Mặc dù Pômpônátxi có ý ủng hộ chiêm tinh học nhưng nhìnchung, tư tưởng của ông là tiến bộ so với thời đại Nét nổi bậc trong tư tưởngcủa ông là chống lại những giáo điều của Giáo hội Kitô giáo, khẳng định vị trícủa con người, của triết học trước thần học và nhà thờ Đây chính là tinh thầnnhân đạo của Pômpônátxi
Misen Môngtenhơ (1533-1592) Misen Môngtenhơ là nhà triết học
nhân đạo người Pháp Về mặt triết học, ông là người chống lại triết học kinhviện Ông cho rằng triết học kinh viện không đáp ứng yêu cầu của cuộc sống.Ông có tư tưởng hoài nghi nhưng không phải hoài nghi bi quan mà là hoàinghi để phê phán những giáo lý, tri thức của triết học kinh viện
Trang 8Về nhận thức, ông là người kịch liệt chống lại luận điểm của triết họckinh viện cho rằng uy tín là tiêu chuẩn của chân lý Chủ nghĩa nhân đạo củaông thể hiện trong nhận thức luận khi ông đề cao sự thuyết phục cá nhân, nhất
là sự thuyết phục dựa trên cơ sở kinh nghiệm cá nhân và sự lập luận chặt chẽcủa cá nhân Nhận thức, theo ông bắt nguồn từ cảm giác, lý tính là giai đoạncao của nhận thức Ông phủ nhận những chứng minh, lập luận có tính chất lýtính về sự tồn tại của Thượng đế Ông nhấn mạnh vai trò của cảm giác trongnhận thức Theo ông, ngoài mối liên hệ cảm giác với thế giới bên ngoài thì sẽkhông thể có hoạt động nhận thức “Tri thức bắt nguồn từ cảm giác và cũngkết thúc bằng cảm giác”(3)
Con người theo ông có trí tuệ, có khả năng sản xuất, xây dựng, chữabệnh… Điều quan trọng nhất đối với con người là phải “biết sống” Trong cáchành vi đạo đức luôn có “cái tôi” Đây chính là tư tưởng nhân đạo của ông –
đề cao tính cá nhân trong đạo đức Tuy nhiên, các hành vi của con người cầnphải phục tùng các quy tắc xã hội, phù hợp với xã hội và trí tuệ của conngười Tư tưởng nhân đạo của ông còn được thể hiện ở chỗ, ông chống lạiđạo đức khổ hạnh, đề cao đạo đức của những người bình thường trước đạođức giả của phong kiến quý tộc Ông có tư tưởng tiến bộ khi cho rằng chínhcon người đã sáng tạo ra Thượng đế theo ý mình và theo hình ảnh của mình.Giới tự nhiên theo ông luôn vận động theo những quy luật của chính nó Tôngiáo có tính lịch sử Con người sáng tạo ra tôn giáo và sử dụng nó vì nhữngmục đích ích kỷ Tôn giáo thực hiện chức năng cảnh sát của mình, nó giữ conngười trong vòng cương tỏa tinh thần Ông phê phán chiến tranh tôn giáo
Những tư tưởng nhân đạo của Môngtenhơ có ý nghĩa to lớn trong việcchống lại triết học kinh viện, giáo điều và đề cao con người
2.3 Một số đại biểu tiêu biểu của triết học chính trị - xã hội:
Trang 9Tômát Morơ (1478-1535) Tômát Morơ là nhà triết học chính trị - xã
hội nổi tiếng người Anh thế kỷ XV-XVI Tác phẩm nổi tiến của ông là Không
tưởng Tư tưởng cơ bản của ông là lý tưởng về một xã hội công bằng không
còn giai cấp Trong phần 1 tác phẩm Không tưởng của mình, Tômát Morơ đã
phân tích, trình bày những hình ảnh tàn khốc, dã man nhất của thời kỳ tích lũy
tư bản đầu tiên ở Anh Chính C Mác đã dùng nhiều tư liệu phần này của
Morơ cho chương XXIV tập I bộ Tư bản Từ hiện thực của nước Anh khi ấy,
Morơ đã phần nào thấy được bản chất giai cấp của vấn đề Bởi lẽ Morơ đãphát hiện ra rằng, chỉ những người nghèo mới bị săn đuổi như những đàn cừu
ra khỏi mãnh đất của mình, còn người giàu thì không
Trong phần 2 của tác phẩm Không tưởng, Tômát Morơ xây dựng nên
mô hình của xã hội tương lai Trong xã hội tương lai này mọi người chống lạichủ nghĩa cá nhân bằng cách thay thế sở hữu tư nhân, xóa bỏ sở hữu nóichung để đảm bảo công bằng về sở hữu và nhu cầu Trong xã hội khôngtưởng này tiền không có giá trị Vàng, bạc thay thế chức năng cho tiền nhưngngười dân chỉ dùng làm đồ trang sức Vàng chủ yếu cùng trong quan hệ đốingoại, kinh tế ngoại thương
Tômát Morơ có tư tưởng tiến bộ khi cho rằng chính lao động là cơ sởcủa công bằng Vì vậy, mọi người đều phải lao động Lao động theo TômátMorơ không chỉ là cần thiết cho sự sống mà còn có tính chất đạo đức Laođộng sẽ là bắt buộc với mọi người 6 giờ trong 1 ngày
Xã hội không tưởng này được tồn tại theo nguyên tắc nhà nước dân chủcộng hòa, bỏ phiếu kín bầu cử người lãnh đạo Với Tômát Morơ “Nhà nướcnày như một gia đình lớn, ở đó không có mâu thuẫn giữa của riêng và củachung Lao động đủ nuôi sống mọi người, không có người nghèo”(4)
Trang 10Trong xã hội tương lai ấy con người là vốn quý nhất không thể đổibằng vàng Sức khỏe của con người là quan trọng nhất Mọi người ai cũngyêu hòa bình Luật pháp chỉ để nhắc nhỡ công dân về nghĩa vụ mà thôi Trong
xã hội tương lai này, theo ông vẫn còn một tôn giáo chung Tôn giáo chânchính theo ông không loại trừ niềm tin vào sự bất tử của linh hồn cá nhâncũng như cuộc sống ở thiên đường Mỗi người đều có thể hiểu Thượng đếtheo cách của mình Linh mục phải được bầu ra, phụ nữ cũng có thể làm linhmục Những tội phạm có thể bắt làm nô lệ để làm công ích
Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng tư tưởng của Tômát Morơ có ý nghĩatiến bộ to lớn cả trong thời đại ông và sau này
Tômmadô Campanhella (1568-1639) Ông là nhà triết học, nhà lý
luận của chủ nghĩa xã hội không tưởng người Italia Ông là người đã tham giacuộc đảo chính chống lại Tây Ban Nha Việc không thành ông bị tù 27 năm
Ông đã viết tác phẩm nổi tiếng của mình Thành phố mặt trời ở trong tù vào
năm 1602
Trong Thành phố mặt trời không có sở hữu tư nhân Mọi người sống
thành công xã, lao động không chỉ là nghĩa vụ mà còn là nhu cầu của tất cảcác thành viên của công xã Ngay từ khi còn nhỏ, con người ở đây đã kính
trọng lao động, mỗi người phải lao động 4 giờ trong 1 ngày Trong Thành
phố mặt trời không có người nghèo, không có người giàu, “đồ vật phục vụ
con người chứ không phải ngược lại”(5) Nhà nước trong Thành phố mặt trời
được xây dựng trên nguyên tắc: quan tâm lợi ích chung sau đó mới quan tâmtới lợi ích cá nhân Sức mạnh của nhà nước dựa trên 3 bộ phận: Sức mạnh –việc quân sự; thông thái – việc khoa học và tình yêu – việc ăn ở, sinh con đẻcon cái, giáo dục Mỗi bộ phận trên lại dựa vào các chuyên gia, chẳng hạn cácnhà toán học, lôgíc học… Tất cả bộ máy nhà nước gồm 40 người Hội đồngcủa nhân dân (do bầu) họp 2 lần trong 1 tháng Trẻ em được dạy chơi, dạy