PHẦN I: MỞ ĐẦU Có thể nói vấn đề con người là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế giới từ trước đến nay. Đó là vấn đề mà luôn được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc nhất. Không những thế, trong nhiều đề tài khoa học của xã hội xưa và nay thì đề tài con người là một trung tâm luôn được các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý. Các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, y học, triết học, xã hội học… từ rất sớm trong lịch sử đã quan tâm đến con người và không ngừng nghiên cứu về nó. Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ý nghĩa riêng đối với sự hiểu biết và làm lợi cho con người. Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnh vực triết học lại còn nhiều mâu thuẫn trong quan điểm, nhận thức và nó đã gây nên sự đấu tranh không biết khi nào dừng. Những lập trường chính trị, trình độ nhận thức và tâm lý của những người nghiên cứu khác nhau và do đó đã đưa ra những tư tưởng, hướng giải quyết khác nhau. Khi đề cập tới vấn đề con người, các nhà triết học đều tự hỏi: Thế giới con người đang sống là gì? Con người có vai trò như thế nào trong “tồn tại người” và trong thế giới xung quanh nó? Con người có thể nhận thức và nhận thức đúng được thế giới hay không?... Đó là những câu hỏi được đặt ra mà bất cứ tư tưởng, trường phái triết học nào, ở thời kỳ nào cũng phải quan tâm lý giải. Chính ở đây các quan điểm duy vật hoặc duy tâm, “có thể biết” hoặc “không thể biết” đã bộc lộ rõ ràng. Chính vì vấn đề con người là nội dung cơ bản, cốt lõi và mục tiêu chủ yếu của triết học và đây cũng là vấn đề mà bản thân cảm thấy tâm đắc nên đã chọn vấn đề con người để làm đề tài tiểu luận. Tuy nhiên, đây là vấn đề khó mà bản thân mới tiếp cận nên không tham vọng trình bày vấn đề con người trong toàn bộ lịch sử triết học nói chung, mà chỉ giới hạn ở “vấn đề con người trong triết học phương Tây trước Mác”. Trong quá trình thực hiện, mặc dù có nhiều cố gắng, song không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
Có thể nói vấn đề con người là một trong những vấn đề quan trọng nhấtcủa thế giới từ trước đến nay Đó là vấn đề mà luôn được các nhà khoa học, cácnhà nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc nhất Không những thế, trong nhiều
đề tài khoa học của xã hội xưa và nay thì đề tài con người là một trung tâm luônđược các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý Các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, yhọc, triết học, xã hội học… từ rất sớm trong lịch sử đã quan tâm đến con người
và không ngừng nghiên cứu về nó Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ý nghĩariêng đối với sự hiểu biết và làm lợi cho con người
Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnh vực triết học lại còn nhiều mâuthuẫn trong quan điểm, nhận thức và nó đã gây nên sự đấu tranh không biết khinào dừng Những lập trường chính trị, trình độ nhận thức và tâm lý của nhữngngười nghiên cứu khác nhau và do đó đã đưa ra những tư tưởng, hướng giảiquyết khác nhau
Khi đề cập tới vấn đề con người, các nhà triết học đều tự hỏi: Thế giớicon người đang sống là gì? Con người có vai trò như thế nào trong “tồn tạingười” và trong thế giới xung quanh nó? Con người có thể nhận thức và nhậnthức đúng được thế giới hay không? Đó là những câu hỏi được đặt ra mà bất
cứ tư tưởng, trường phái triết học nào, ở thời kỳ nào cũng phải quan tâm lý giải.Chính ở đây các quan điểm duy vật hoặc duy tâm, “có thể biết” hoặc “không thểbiết” đã bộc lộ rõ ràng
Chính vì vấn đề con người là nội dung cơ bản, cốt lõi và mục tiêu chủ yếucủa triết học và đây cũng là vấn đề mà bản thân cảm thấy tâm đắc nên đã chọnvấn đề con người để làm đề tài tiểu luận Tuy nhiên, đây là vấn đề khó mà bảnthân mới tiếp cận nên không tham vọng trình bày vấn đề con người trong toàn
bộ lịch sử triết học nói chung, mà chỉ giới hạn ở “vấn đề con người trong triết học phương Tây trước Mác”
Trang 2Trong quá trình thực hiện, mặc dù có nhiều cố gắng, song không thể tránhkhỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quýbáu của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn!
PHẦN II: NỘI DUNG
I- QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP
CỔ ĐẠI
Hêraclit (khoảng 520 - 460 TCN) Hêraclít là nhà triết học nổi tiếng của
Hy Lạp cổ đại Ông cho rằng, con người về bản tính là bình đẳng Sự bất bìnhđẳng của con người, theo ông là hậu quả của sự bất bình đẳng về lợi ích Phầnlớn mọi người trong xã hội, theo ông là sống không theo logos mà theo sự tínhtoán Họ bị trói buộc bởi những mong muốn cá nhân của mình Hạnh phúc vớiông, không phải là sự thỏa mãn về thể xác mà là ở sự suy tư, suy nghĩ, ở việcbiết nói sự thật, biết hành động theo tiếng nói của tự nhiên
Khi quan sát thế giới, Hêraclít đã có những quan điểm mang tính biệnchứng, rằng mọi vật trong thế giới luôn luôn vận động, thay đổi và phát triểnkhông ngừng Trong con người có hai mặt đối lập là lửa và cái ẩm ướt Lửa sinh
ra linh hồn Nếu người nào đó có nhiều yếu tố lửa thì người ấy là người tốt vìtâm hồn người ấy khô ráo, sạch sẽ Còn người nào có nhiều yếu tố ẩm ướt làngười xấu Logos của con người chính là yếu tố lửa chứa đựng trong đó.Hêraclít phát hiện ra nguyên lý đấu tranh giữa hai mặt đối lập trong một chỉnhthể thống nhất Trong con người đó là sự đấu tranh và chuyển hóa giữa hai mặt:bệnh tật và sức khỏe; cái thiện và cái ác; cái đói và cái no; cái mệt mỏi và cái thúvị
Trang 3Do đề cao vai trò của tri thức, ông đã đề cao vai trò của con người quý tộctrong xã hội, xem thường số đông nô lệ Ông chủ trương dùng bạo lực để đàn ápphong trào dân chủ.
Hêraclít đã đưa triết học duy vật tiến thêm một bước trong quan niệm vềthế giới, về con người Con người được hòa đồng vào chỉnh thể thống nhất là vũtrụ mà không có sự tha hóa của con người ra khỏi chỉnh thể ấy Tuy nhiên, khinhìn nhận xã hội con người, ông không khỏi có những hạn chế do đứng trên lậptrường của tầng lớp chủ nô - quý tộc để xem xét, nhằm bảo vệ lợi ích cho giaicấp mình
Pitago (khoảng 580 - 500 TCN) Pitagor xuất thân từ một gia đình dòng
dõi quý tộc, nhiều năm hoạt động chính trị - xã hội Ông cho rằng thế giới đượcsắp xếp trên trật tự của các con số Trật tự của các con số là tiền thân của trật tự
xã hội, tạo nên thứ bậc, đẳng cấp trong xã hội Mọi người trong xã hội phải tuântheo một trật tự xã hội nhất định Ông đề cao quyền lực tối cao của thần thánh,khuyên con người phải tìm sự hưởng lạc ở chỗ nào đó bên ngoài do các thầnthánh mang lại, bởi thần thánh là công minh nhất Sau thần thánh là các nhà hoạtđộng chính trị, xã hội, rồi đến bố mẹ Người lớn tuổi có trách nhiệm tuyêntruyền dạy dỗ theo một đạo luật nhất định trước uy linh của thánh thần Nhưvậy, theo Pitago, suy cho cùng, con người phải tuân theo uy linh của thần thánhtối cao
Prôtago (481 - 411 Tr.CN) Prôtagor là đại biểu của phái ngụy biện thời
kỳ đầu phát triển của nó Từ quan niệm về tính tương đối về giới tự nhiên, ôngcho rằng mọi sự vật luôn luôn tồn tại hai ý kiến trái ngược nhau Điều này chẳngkhác gì công nhận mọi cái đều là chân lý Thực chất đây vừa là biểu hiện củachủ nghĩa tương đối vừa là biểu hiện của quan điểm không thể biết về nhận thứccủa ông Chính từ lập trường này, Prôtago đã đưa ra một luận điểm nổi tiếng:
“Con người là thước đo của mọi vật đang tồn tại, rằng chúng tồn tại và của mọivật đang không tồn tại rằng, chúng không tồn tại” Nghĩa là con người là thước
Trang 4đo của mọi vật tồn tại và không tồn tại Nhà nước, theo ông gồm nhiều cá nhânkhác nhau, cho nên cái này được coi là tốt với người này có thể được coi làkhông tốt với người khác Từ đó Prôtago cho rằng cái tốt và cái xấu cũng chỉ làtương đối Xuất phát từ chủ nghĩa tương đối và đề cao con người - chủ thể, ôngcho rằng, cũng không thể nói gì về thần thánh cả Nhưng theo ông, tin vào thầnthì vẫn hơn là không tin vào thần.
Xôcrát (khoảng 469 - 399 tr.CN) Xôcrát là nhà triết học đầu tiên của
vùng Aten Ông đã từng thực hiện nghĩa vụ quân sự trong thời gian xảy ra chiếntranh giữa Aten và Spácta Ông bị kết án tử hình vì “đã sáng tạo ra các thần mới
và làm hư hỏng thế hệ trẻ” Triết học của ông hướng vào con người nhiều hơn làgiới tự nhiên Nhưng con người trong triết học của ông chỉ là thực thể đạo đức
Vì vậy triết học của ông được gọi là triết học nhân bản đạo đức Xuất phát từvấn đề trung tâm là con người, ông đề ra nhiệm vụ: “Hãy nhận thức chính mình”
và thấm nhuần khẩu hiệu “Tôi biết rằng, tôi chẳng biết gì cả” Nhưng nhận thứccon người ở đây là nhận thức những vấn đề đạo đức của con người Ông chorằng đạo đức chân chính phải xuất phát từ việc thừa nhận thần thánh và linhhồn; đạo đức chân chính chỉ có ở một số ít người ưu tú là giai cấp quý tộc chủ
nô, còn nô lệ do không có tri thức nên không có đạo đức
Platôn (427 - 347 Tr.CN) Platôn là đại biểu của triết học duy tâm khách
quan Ông là người kịch liệt chống lại chủ nghĩa duy vật và các nhà vô thần.Xuất thân từ tầng lớp quý tộc, Platôn có thái độ thù địch và công lại nền dân chủAten Vấn đề con người là đề tài cơ bản xuyên suốt toàn bộ thế giới quan củaông Platôn cho rằng con người gồm có hai phần, đó là thể xác và linh hồn Đầucủa con người được cấu tạo theo hình cầu vì đó là hình dáng hoàn hảo phù hợpvới phần trời của cơ thể con người Mắt được cấu tạo sao cho có thuộc tính củalửa và ở trên đầu để có thể nhìn thấy và không bị ngã
Linh hồn của con người cũng sống như linh hồn vũ trụ Ban đầu linh hồnnày sống ở các ngôi sao, sau đó chuyển xuống thân thể con người Thể xác của
Trang 5con người có thể mất đi vì nó được cấu tạo từ đất, nước, lửa, không khí Linhhồn của con người là bất tử, bởi lẽ nó được cấu tạo từ linh hồn vũ trụ có nguồngốc từ thượng đế Sau khi thể xác chết, linh hồn rời bỏ thể xác và chuyển về các
vì sao Ông chứng minh sự bất tử của linh hồn bằng các lập luận sau:
Thứ nhất, theo ông chính bước chuyển quan lại của các mặt đối lập tạo
nên sự bất tử của linh hồn Bởi lẽ, theo sự chuyển hóa của các mặt đối lập, cáichết phải biến thành cái sống, nhưng cái chết vẫn luôn xảy ra Điều đó chứng tỏlinh hồn phải chuyển sang trạng thái khác khi thể xác chết để tiếp tục sự sống
Thứ hai, tri thức của con người là do linh hồn nhắc lại cho con người cái
mà nó đã gặp, đã thấy trước khi nhập vào thể xác con người Điều đó chứng tỏlinh hồn tồn tại trước khi có thể xác con người và cả sau khi thể xác con ngườikhông còn, tức là chết
Thứ ba, các sự vật luôn nthay đổi, cơ thể con người cũng luôn thay đổi
nhưng linh hồn thì luôn đồng nhất với chính nó Nghĩa là linh hồn gần giống vớithần thánh Như vậy linh hồn là bất tử
Thứ tư, linh hồn về bản chất là nguyên nhân chân chính của sự vật, là
cuộc sống của thân thể Nếu là cuộc sống của thân thể nó không thể chết Vậy cónghĩa linh hồn là bất tử (Phêđôn 70 C-107 B) Nô lệ, theo Platôn không phải làngười nên không có linh hồn Linh hồn gồm ba phần: lý trí có đặc trưng là thôngminh; tình cảm - có đặc trưng là lòng dũng cảm; tiết chế có đặc trưng là dụcvọng Người nào mà có lý trí chiếm ưu trội trong linh hồn sẽ trở thành nhà triếthọc, thông thái; người nào có tình cảm chiếm ưu trội sẽ trở thành vệ binh làmcông tác chiến tranh; người nào có dục vọng ưu trội sẽ là người lao động chântay Đây là quan điểm sai lầm của Platôn
Arixtốt (384 - 322 Tr.CN) Arixtốt là nhà bách khoa vĩ đại nhất Hy Lạp cổ
đại Ông được Ph Ăngghen coi là “cái đầu bách khoa” thời cổ đại Theo Arixtốtcon người gồm thể xác và linh hồn Linh hồn của con người có trí tuệ và có khả
Trang 6năng tư duy, không bất tử (ông chống lại luận điểm linh hồn bất tử của Pitago vàPlatôn) Tuy nhiên, ông lại rơi vào sai lầm khác khi tách rời trí tuệ khỏi thể xác.Mặc dù ông khẳng định, mọi trạng thái vui, buồn, đói, khát, rét… không thể tách
rời thể xác con người Trong tác phẩm Về linh hồn, ông cho rằng chỉ những thân
thể sống tự nhiên mới có linh hồn Những thân thể nhân tạo như cái búa, cáibàn… không có linh hồn Nhưng những thân thể tự nhiên này có khả năng cócuộc sống Hiện thực hóa được khả năng sống đó là linh hồn Có ba dạnh linhhồn, trong đó có hai dạng thuộc về tâm lý, vật lý Một dạng có tính chất “sau vậtlý” Ở đâu có sự sống thì ở đó có linh hồn Cuộc sống có chu kỳ tất yếu: ăn uống(nuôi dưỡng), trưởng thành và diệt vong Có khả năng ăn uống (nuôi dưỡng) làđặc trưng của linh hồn thực vật Có khả năng xúc giác là đặc trưng của linh hồnđộng vật Linh hồn của các động vật có các đặc trưng của linh hồn thực vật vàlinh hồn động vật Chỉ có linh hồn của con người và thượng đế mới có thêm khảnăng phán đoán và tư duy Trong linh hồn của con người có cả linh hồn thực vật
và linh hồn động vật Linh hồn của Thượng đế có trí tuệ Linh hồn của conngười không thể tách rời thân thể, mặc dù nó không phải là thân thể, nhưng nóthuộc về thân thể Tất nhiên, thân thể tồn tại là vì linh hồn và cho linh hồn Mọitrạng thái của linh hồn đều gắn với thân thể, nhưng trí tuệ có thể tách rời thânthể Ông cũng sai khi cho rằng, trí tuệ không có cơ quan vật chất của nó
Như vậy, qua trên có thể thấy vào thời kỳ cổ đại các nhà triết học đã đềcập nhiều đến vấn đề con người và số phận con người Mặc dù các nhà triết họcthời kỳ này còn có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất con người, chẳng hạnnhư Prôtago cho con người là thước đo của vạn vật; Xôcrát đặt nhiệm vụ nhậnthức con người là chủ yếu chứ không phải giới tự nhiên; Arixtốt cho con người
là “động vật chính trị”… Nhưng nhìn chung, các nhà triết học Hy Lạp cổ đạiđều cho mục tiêu cao quý của con người là chinh phục tự nhiên để phục vụ chomình Con người trong quan hệ với thiên nhiên, nhìn chung là tích cực, thể hiệntinh thần vươn lên làm chủ giới tự nhiên của người Hy Lạp cổ đại Điều nàykhác với triết học phương Đông - thường đề cập con người chính trị - xã hội,
Trang 7con người - với những số phận khác nhau; con người trong quan hệ hài hòa với
tự nhiên
II- QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI TRUNG CỔ (KHOẢNG THẾ KỶ V - XV)
Ôguýtxtanh Avreli (354 - 430) Ôguýtxtanh là nhà triết học của Giáo hội
Kitô giáo Con người theo quan điểm Ôguýtxtanh là yếu đuối, kém cỏi, là thựcthể phi lý tính Ông cũng cho rằng con người gồm hai phần đó là thể xác và linhhồn Trong đó linh hồn của con người có nguồn gốc từ thượng đế cho nên nó cótrí tuệ và bất tử Thể xác có thể mất đi nhưng linh hồn là vĩnh viễn Ôguýtxtanh
là nhà triết học bảo vệ Kitô giáo và nhà thờ Nhà thờ theo ông là vương quốc củaThượng đế ở trái đất Với ông, sự bất bình đẳng trong xã hội là tất yếu Ông chorằng nghèo, khổ, bần cùng là điều kiện tốt để cứu rỗi Nhưng ông lại ngụy biệnrằng giàu mà biết sử dụng hợp lý của cải cũng là góp phần cứu rỗi Chỉ có ởthượng giới là không có phân hóa giàu nghèo, bất công… Con người có cùngmột tổ tông vì vậy không nên chém, giết, chống lại nhau Cuộc sống ở trần gianchỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sống ở thượng giới Vì thế, ông khuyên con ngườikhông nên yêu của cải mà yêu Thượng đế
Tômát Đacanh (1225 - 1274) Tômát Đacanh sinh ra ở Italia, là nhà thần
học, nhà triết học kinh viện nổi tiếng của thời phong kiến Tây Âu Ông có quanđiểm riêng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa triết học và thần học, giữa lýtrí và lòng tin Ông phân rõ ranh giới giữa triết học và thần học nhưng không đốilập chúng với nhau Đối tượng của triết học là nghiên cứu “chân lý của lý trí”.Đối tượng của thần học là nghiên cứu “chân lý của lòng tin tôn giáo” CònThượng đế là khách thể cuối cùng của cả triết học và thần học, là nguồn gốc củamọi chân lý Lý luận nhận thức của ông chứa đựng những yếu tố tiêu cực củacảm giác luận, nhưng nó là bước tiến lớn trong sự phát triển của triết học kinhviện trung cổ vì nó tiếp thu học thuyết của Arixtốt chứ không phải của Platôn
Trang 8Trong lý thuyết xã hội, Tômát Đacanh tuyên truyền tư tưởng sai lầm về sựthống trị của nhà thời đối với xã hội công dân, cuộc sống dưới trần thế chỉ là sựchuẩn bị cho cuộc sống tương lai ở thế giới bên kia Đặc biệt, ông kiên định lậptrường quân chủ và chống lại quyết liệt tư tưởng bình đẳng xã hội, bảo vệ sựphân chia đẳng cấp.
Rôgiê Bêcơn (khoảng 1214 - 1294) Rôgiê Bêcơn sinh ở Anh, là một
trong những người đề xướng vĩ đại nhất của khoa học thực nghiệm trong thời kỳmới Triết học của ông đóng vai trò quan trọng trong việc đấu tranh chống triếthọc kinh viện của các đại biểu trước ông Ông cho rằng có bốn điều trở ngại đối
với chân lý: Một là, sự sùng bái, quy phục trước cái uy tín không có cơ sở và không xứng đáng; Hai là, thói quen lâu đời đối với những quan niệm đã rõ ràng;
Ba là, tính chất vô căn cứ của những phán đoán về số đông; Bốn là, sự che dấu
của các nhà bác học đối với điều ngu dốt của mình dưới cái mặt nạ của sự thôngthái hư ảo Và sau cùng ông khẳng định ba nguồn gốc của nhận thức là uy tín, lýtrí và kinh nghiệm Bêcơn cho rằng uy tín mà thiếu sự chứng minh là uy tínthiếu sót và “những lập luận mà chưa kiểm tra các kết luận bằng con đường kinhnghiệm và thực nghiệm thì chưa thể phân biệt giữa ngụy biện và chứng minh”
Ông cũng có nhiều tư tưởng xã hội tiến bộ, đã dũng cảm lên án ách áp bứcphong kiến, bênh vực quyền lợi của nhân dân Mặc dù trong tác phẩm của ôngcòn có những thiên kiến có tính chất thần bí nhưng Bêcơn cũng đã phát biểunhiều ước đoán táo bạo về khoa học và kỹ thuật
Như vậy, vấn đề con người thông qua các khuynh hướng, trường phái triếthọc Tâu Âu thời Trung cổ cũng được bàn đến ở các mặt: nguồn gốc hình thành,
tự do ý chí, quyền lực đối với tự nhiên
Trong triết học Tây Âu thời Trung cổ, chủ nghĩa duy tâm tôn giáo xemcon người không tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc vào Thượng đế ChínhThượng đế sinh ra con người và cũng Thượng đế tạo ra hoàn cảnh để con người
Trang 9tồn tại và phát triển Nhận thức của con người cũng không ngoài mục đích nhậnthức Thượng đế Do đó, có thể khẳng định rằng triết học hoàn toàn bất lực trongviệc cứu thoát con người Con người trở nên nhỏ bé, yếu ớt bất lực trước cuộcsống nhưng lại an ủi phải bằng lòng với cuộc sống tạm bợ của trần thế vì đó chỉ
là quảng đường hành hương tìm hạnh phúc ở “thế giới bên kia” mới là vĩnhviễn Hậu quả là con người bị thủ tiêu ý chí đấu tranh, vượt qua mọi gian khổ tựgiải thoát mình
III- QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI KỲ PHỤC HƯNG - CẬN ĐẠI (THẾ KỶ XV - XVIII)
Lê - ô - nađ-đô Đơ Vinh Xi (1452 - 1519) Lê - ô - nađ-đô Đơ Vinh Xi
sinh ra trong một gia đình nông dân thuần phác Ông không được học hành đầy
đủ và chưa từng học đại học Nhưng Lê - ô - nađ-đô Đơ Vinh Xi là nhà khoahọc, nhà kỹ thuật, nhà cơ học, nhà toán học, nhà điều khắc, họa sĩ, nhà triết họcngười Italia nổi tiếng Ông phê phán các quan niệm của thần học và giáo hội,tìm cách xây dựng hệ thống thế giới quan khoa học thực sự dựa trên cơ sở kinhnghiệm và thực nghiệm, đề cao vai trò của thực nghiệm trong nhận thức Thừanhận tư tưởng của các nhà nhân đạo, ông khẳng định con người và vũ khí vĩ đạinhất của tạo hóa Dựa trên các sự vật tự nhiên, con người sáng tạo ra các sự vậtmới phục vụ cho cuộc sống của mình
Giócđanô Brunô (1548 - 1600) Brunô là nhà thiên văn nhà triết học nổi
tiếng người Italia Ông chịu ảnh hưởng nhiều của triết học tự nhiên, đặc biệt làphát minh của Côpécnic Brunô là nhà tự nhiên thần luận nhưng có nhiều yếu tốduy vật Ông cho rằng con người là một bộ phận không thể tách rời của vũ trụ,con người là thế giới vi mô phản ánh thế giới vĩ mô Brunô đánh giá thấp vai tròcủa cảm giác trong nhận thức và đặc biệt đề cao khả năng nhận thức lý tính củacon người Ông cho rằng cảm giác có hạn mà vũ trụ vô cùng vô tận nên cảmgiác có thể đánh lừa chúng ta trong nhận thức
Trang 10Phrênxis Bêcơn (1561 - 1626) Bêcơn là người được C.Mác đánh giá là
ông tổ thực sự của chủ nghĩa duy vật Anh và của khoa học thực nghiệm hiệnđại Ông chống lại triết học kinh viện và muốn xây dựng một quan niệm mới vềtriết học Brunô quan niệm con người là sản phẩm của tạo hóa và gắn liền với tựnhiên Con người một mặt rất gần gũi với động vật; mặt khác lại là một cái gì đórất siêu phàm Bên cạnh các hoạt động chính trị, khoa học, nghệ thuật… conngười còn cần đến tôn giáo để vượt qua những lúc mềm yếu, bất lực, đem lạiniềm tin cho con người Nhưng Nhà thờ không thể chống lại các nhà vô thần,cản trở các hoạt động khoa học, nghệ thuật của con người
Tômát Hốpxơ (1588 - 1679) Hốpxơ sinh ra trong một gia đình linh mục ở
nông thôn nước Anh nhưng lại được lớn lên trong môi trường quý tộc mới, cóđiều kiện đi ra nước ngoài nhiều và đã từng làm thư ký riêng cho Ph Bêcơn.Hốpxơ cho rằng con người là một thể thống nhất giữa tính tự nhiên và tính xãhội Xuất phát từ quan niệm về trạng thái tự nhiên của con người, ông khẳngđịnh khả năng bẩm sinh của con người càng bình đẳng bao nhiêu thì người tacàng bất hạnh bấy nhiêu Nhà nước là sự sáng tạo cao nhất mà con người có thểlàm được Sau khi được nhân dân lập ra, nhà nước đóng vai trò điều hành sựphát triển xã hội, và chính phủ là linh hồn của nhà nước Con người phải cần đếnnhà nước thì mới sống yên ổn được Mỗi cá nhân có nghĩa vụ phải tuân theo luậtpháp của nhà nước Bản thân tôn giáo là cần thiết để khuyên răn mọi người sốngtheo pháp luật
Rơnê Đềcáctơ (1596 - 1650) Đềcáctơ là nhà triết học người Pháp theo
hướng duy lý và có lập trường nhị nguyên luận Ông từng tham gia quân đội vàgiải ngũ năm 1621, đến năm 1628 ông đến Đức và đến Hà Lan năm 1629.Đềcáctơ sống ở Hà Lan gần 20 năm, hầu hết các tác phẩm của ông đều được viết
ở đây Trong quan niệm về cơ thể con người, ông có cái nhìn cơ học Do ảnhhưởng phát minh của Harvêi về sự tuần hoàn của máu, Đêcáctơ đã thấy đượcmối liên hệ của máu với tiêu hóa, với sự thở, với tim Ông coi trái tim như là