TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠMKON TUMKHOA TIỂU HỌC – MẦM NON ------BÀI TẬP LỚN Tên đề tài: Sưu tầm một số bài đồng dao và thiết kế trò chơi tương ứng nhằm phát triển khả năng giao tiếp ch
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠMKON TUM
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON
- -BÀI TẬP LỚN
Tên đề tài: Sưu tầm một số bài đồng dao và thiết kế trò chơi tương ứng
nhằm phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi.
Sinh viên thực hiện: HUỲNH THỊ NGỌC HƯƠNG
TRƯƠNG NGUYỄN THU HIỀN Giáo viên hướng dẫn : NGUYỄN THỊ CÚC
Kon Tum, 04/03/2017
Trang 2-LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trong khoa giáo dục mầm non Trường CĐSP Kon Tum Đặc biệt vô cùng biết ơn cô Nguyễn Thị Cúc đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ chúng em hoàn thành bài tập và qua bài tập này cô đã cho em biết nhiều kinh nghiệm, kĩ năng cũng như có những hành trang vững chắc để bước tiếp trên con đường sự nghiệp “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”
Xin chúc các thầy cô giáo sức khỏe, kính chúc cô Nguyễn Thị Cúc tiếp tục đạt được nhiều thành công lớn trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Kon Tum 2017Sinh viênHuỳnh Thị Ngọc HươngTrương Nguyễn Thu Hiền
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng
em và được sự hướng dẫn khoa học của cô Nguyễn Thị Cúc Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào chúng em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung bài tập lớn của mình
Trang 4MỤC LỤC
1.Lời cam đoan……….i
2.Lời cảm ơn……… ii
3 Mục lục……… iii
A MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài trang 2 Mục đích nghiên cứu………
3 Đối tượng xây dựng khách thể………
4 Giả thuyết khoa học………
5 Các nhiệm vụ nghiên cứu………
6 Phương pháp nghiên cứu………
7 Đóng góp mới của đề tài………
B.NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số cơ sở lí luận của đề tài………
1.1.1 Khái niệm, phân loại đồng dao………
1.1.2 Mối quan hệ giữa đồng dao và các loại trò chơi được tổ chức trong trường mầm non………
1.1.3 Đồng dao và trò chơi có sử dụng đồng dao ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi………
1.2 1.2.1 Vai trò của giao tiếp đối với trẻ 5-6 tuổi………
1.2.2 Đặc điểm, khả năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi………
CHƯƠNG 2 SƯU TẦM 2.1 Sưu tầm một số bài đồng dao 2.1.1 Đồng dao trẻ em hát………
2.1.2 Đồng dao trẻ em hát – chơi………
2.1.3 Đồng dao hát ru………
2.1.4 Đồng dao đố vui………
2.1.5 Ca dao………
2.2 Thiết kế một số trò chơi có sử dụng các bài đồng dao 2.2.1 Trò chơi 1………
2.2.2 Trò chơi 2………
2.2.3 Trò chơi 3………
C KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ 1.Kết luận………
2.Kiến nghị………
D TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5A.MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Do ngôn ngữ đặc thù, đồng dao đã góp phần trong việc bồi dưỡng rèn luyện tiếng nói cho trẻ thơ.Sinh hoạt đồng dao có tác dụng luyện trí nhớ cho trẻ em Trẻ không thuộc bài hát thụ động mà thuộc với tất cả sự hứng thú của nó
Tham gia sinh hoạt đồng dao là đứa trẻ đã bắt đầu bước vào sinh hoạt văn hóa tập thể một cách tự nguyện Tuỳ theo lứa tuổi, trẻ có thể chơi các trò khác nhau Lúc còn nhỏ, chúng có thể chơi các trò: Chi chi chành chành, thi chân đẹp, kéo cưa lừa xẻ, dung dăng dung dẻ… Khi lớn hơn ở lứa tuổi mẫu giáo , trẻ có thể chơi những trò chơi khó như kết hợp các động tác và hơi thở trong lúc hát, lúc diễn: trốn tìm, thả đỉa ba ba, rồng rắn, nhảy ra nhảy vô, bịt mắt bắt dê, chuyền thẻ Đồng dao cũng là một cuốn từ điển sống, chứa đựng một kho từ vựng phong phú.Qua sinh hoạt đồng dao trẻ em được
tiếp xúc, tập phát âm, khám phá và rèn luyện với ngôn ngữ tiếng Việt một cách có ý
thức
Đối với các em nhỏ, thì trong một bài đồng dao số lượng từ còn ít như ở trò Chi
vi chít vít: Chi vi/ Chít vít/ Bán mít/ chợ Đông/ Bán hồng/ chợ Tây/ Bán mây/ chợ huyện/ Bán miến/ chợ Đào/… (có các từ: mít, hồng, mây, miến, chợ, bán…).Thông qua kho tàng từ ngữ giàu có, đồng dao giáo dục các em nhận thức được tự nhiên và xã hội Trong đồng dao, ngôn ngữ có tính thơ ca, có vần, có nhịp ngữ nghĩa không phải làyếu tố được quan tâm duy nhất, mà trẻ chú ý nhiều đến ngữ âm, nhịp vần Đó là một thứ lời nói vần, một bước trung gian từ ngôn ngữ giao tiếp đến thơ dân gian Nhiều tròchơi có yêu cầu thao tác, các thao tác phải đều đặn và đồng loạt
Khi biết nói ở lứa tuổi lên 3, thì bé bắt đầu sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, đồngthời với khả năng bộc lộ cảm xúc thông qua giao tiếp phi ngôn ngữ qua ánh mắt vớinhững nét mặt và các dấu hiệu của cơ thể, nếu được đáp ứng đầy đủ sẽ giúp cho béhình thành sự tự tin vào bản thân cũng như xây dựng những mối tương giao với mọingười xung quanh
Vì thế kỹ năng giao tiếp được xem là một năng lực cần thiết cho trẻ mở rộngquan hệ từ trong gia đình cho đến ngoài nhà trường và xã hội Đây là một kỹ năngphức tạp bao gồm nhiều yếu tố và khác nhau, vì thế ngoài những yếu tố của năng lựcnội tại có sẵn nơi trẻ, thì các bậc phụ huynh, giáo viên mầm non cũng cần quan tâm ápdụng những biện pháp để giúp trẻ phát triển về kỹ năng giao tiếp thông qua việc tổchức trò chơi tác động bằng cách kích thích nhiều giác quan, mà chủ yếu là nghe –nhìn Điển hình và các câu đồng dao, đều được thiết kế ngắn gọn và từ ngữ rất bắt tai
Từ đấy trẻ sẽ dễ dàng ghi nhớ các câu đồng dao và đọc theo Trẻ sẽ được nghe các bàiđồng dao từ thầy cô, bạn bè, cha mẹ thông qua các trò chơi có liên quan, nhìn các bạn
và đọc theo Góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp của trẻ, từ đây ta có thể khẳng địnhcác bài đồng dao góp phần to lớn đối với sự phát triển kĩ năng giao tiếp của trẻ
Ở các trường mầm non đa số đã đưa các bài đồng dao vào các nhóm trẻ có độtuổi từ 2 tuổi trở lên và được thiết kế dưới dạng trò chơi là phổ biến nhất Điều ấy sẽ
Trang 6tạo hứng thú cho trẻ và giúp trẻ dễ dàng tiếp thu được bài học thông qua các bài đồngdao.
2 Mục đích nghiên cứu
- Dựa trên những lời đồng dao và thiết kế các trò chơi phù hợp với chủ đề đồng dao
- Cho trẻ làm quen với các bài đồng dao và chơi các trò chơi tương ứng với các bài đồng dao đó
- Giúp trẻ phát triển một cách toàn diện về: ngôn ngữ, thể chất, nhận thức, thẩm mỹ vàtình cảm quan hệ xã hội, hướng trẻ đến với truyền thống văn hóa dân tộc
- Với những bài đồng dao mới này còn có thể sử dụng phù hợp cho một số chủ đề của năm học như: thực vật, động vật, dinh dưỡng, nghề nghiệp, quê hương, giao thông…
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng( tên đề tài)
Sưu tầm một số bài đồng dao và thiết kế trò chơi tương ứng nhằm phát triển khảnăng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi
3.2 Khách thể tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Với các bài đồng dao sáng tác được, tôi áp dụng trong công tác giáo dục trẻ tại trường mầm non hoa trạng nguyên như sau:
- Tôi tổ chức cho trẻ làm quen với các bài đồng dao ở mọi lúc mọi nơi: trong giờ làmquen với văn học, giờ hoạt động ngoài trời, giờ hoạt động góc, các hoạt động chuyểntiếp, giờ sinh hoạt chiều và tích hợp trong các môn học khác , trong tất cả các chủ đềcủa năm học…
- Tôi tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi tương ứng với các bài đồng dao tùy theo từngchủ đề, tùy theo nội dung giáo dục mà giáo viên có thể lựa chọn những bài đồng daokhác nhau và phù hợp
- Giúp trẻ hiểu được nội dung ngôn ngữ riêng của từng bài đồng dao làm phong phúvốn từ cho trẻ
4 Giả thuyết khoa học
a) Đối với trẻ đến trường là vừa học, vừa chơi, học thông qua lúc chơi Nếu các trò chơi trong quá rình học của trẻ được thiết kế hấp dẫn phù hợp với đặc điểm tâm sinh
lý của trẻ thì trò chơi sẽ góp phần tích cực trong việc giáo dục cho trẻ 5-6 tuổi giúp trẻ học tập thoải mái hơn, hiệu quả hơn
Trang 7b) Chúng em cho rằng việc sưu tầm và thiết kế các trò chơi đồng dao sẽ giúp ích cho công tác giáo dục chăm sóc trẻ 5-6 tuổi.
5 Các nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lí luận về đề tài nghiên cứu
- Sưu tầm một số bài đồng dao
- Thiết kế trò chơi nhắm phát khả năng giao tiếp cho trẻ
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp đọc sách và tài liệu
7 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài: Sưu tầm một số bài đồng dao và thiết kế trò chơi tương ứng
nhằm phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi
Thứ nhất đề tài này nhằm mang đến cho người đọc những hiểu biết về sự phong phú của thể loại đồng dao Việt Nam ta có từ xưa đến nay
Thứ hai đề tài đem đến cho người đọc một số trò chơi được thiết kế từ các bài đồng dao
để dạy cho trẻ nhằm phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi
B.NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.Một số cơ sở lí luận của đề tài
1.1 Khái niệm, phân loại đồng dao
Đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻ em Việt Nam Đồng dao bao gồm nhiều loại: các bài hát, câu hát trẻ em, lời hát trong các trò chơi, bài hát ru em Thường gặp nhất là các bài đồng dao gắn liền với các trò chơi trẻ em Nói chung, đồng dao trong các trò chơi trẻ em ở các vùng miền đều khá giống nhau ở nội dung, chỉ khác một vài tiếng địa phương
Ngày nay, cùng với các trò chơi dân gian, đồng dao không còn phổ biến như xưa
Có thể xác định hệ thống đồng dao Việt Nam gồm năm bộ phận:
Đồng dao trẻ em hát Đồng dao trẻ em hát-trẻ em chơi Đồng dao hát ru
Đồng dao trẻ em đố vui
Ca dao cho trẻ em Ranh giới giữa các thể loại trên chỉ là tương đối
1.2 Mối quan hệ giữa đồng dao và các loại trò chơi được tổ chức trong trường mầm non
Nhiều loại hình văn hóa, văn nghệ dân gian khác đã được sưu tầm, biên soạn, điều tra, nghiên cứu và phát huy, thì trò chơi - đồng dao vốn mang những giá trị quý báu trong việc giáo dục và phát triển tâm lý, tính cách cho trẻ em
Môi trường vui chơi, thực hành của trẻ trong những trò chơi - đồng dao cũng chính là một môi trường trao truyền cho các em giá trị văn hóa của cộng đồng
Trang 8phong phú, đa dạng và linh hoạt Với sự thay đổi của thời gian và không gian văn hóa, trò chơi - đồng dao ngày nay cần có những thể loại và 'sắc thái' mới, đa dạng, phù hợp với các đặc điểm tâm, sinh lý, môi trường sinh hoạt và học tập, đồng thời cũng là trường học của cuộc sống thì mới thực sự đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ Nội dung, yêu cầu và hình thức của các trò chơi phải phong phú, thỏa mãn nhu cầu phát triển nhiều mặt cho các em Mỗi trò chơi phải như mở ra trước mắt trẻ những không gian vui chơi mới lạ, hấp dẫn, những sự trải nghiệm đa dạng, độc đáo để thu hút trẻ tích cực và hào hứng khi tham gia vào các hoạt động vui chơi, đồng thời cũng kích thích sự chủ động, phát huy trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo của trẻ.
Trò chơi nói chung và trò chơi - đồng dao nói riêng có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ Thông qua hoạt động vui chơi, trẻ em sẽ được tập làm quen với các tình huống và kỹ năng trong cuộc sống sau này Những cảm xúc đa dạng, những mối quan hệ, quy tắc trong ứng xử, giao tiếp hay các trải nghiệm phong phú, đa dạng của cuộc sống thông qua các trò chơi, đặc biệt là các trò chơi - đồng dao không chỉ hằng ngày, hằng giờ bồi đắp đời sống tinh thần và hoàn thiện các chức năng tâm, sinh lý cho các em mà còn tạo nên khả năng tự điều chỉnh, sự thích ứng nhanh và những ứng xử văn hóa trong môi trường tập thể, cộng đồng và xã hội Chính vì nhận thức được vai trò và giá trị độc đáo của những khúc đồng dao xưa mà trong nhiều thập niên gần đây đã xuất hiện những sáng tác, biên soạn, tuy không nhiều, của một số tác giả dựa trên chất liệu của những khúc đồng dao Những sáng tác này đã
và đang được đông đảo trẻ em hào hứng đón nhận
Thông qua các trò chơi - đồng dao, đặc biệt là các trò chơi phát triển khả năng thực hành nghệ thuật, trẻ cũng sẽ thể hiện lòng yêu thích cái đẹp và năng khiếu làm
ra cái đẹp, từ đó trẻ sẽ có được các định hướng về giá trị thẩm mỹ trong cuộc sống Tạo điều kiện cho trẻ chơi là mở những con đường để trẻ có thể phát triển một cách tự nhiên nhất
1.3 Đồng dao và loại trò chơi có sử dụng đồng dao ảnh hưởng đến sự phát triển khả nănggiao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Trò chơi dân gian là một hoạt động có tác động mạnh mẽ đến trẻ em, nó
là phương tiện giáo dục nhân cách toàn diện cho trẻ mầm non Trò chơi dân gian cung cấp cho các em những kiến thức xã hội cần thiết cho cuộc sống của trẻ: tập mua bán, tập lao động, làm quen với các nghề nghiệp trong xã hội…
Trò chơi dân gian là phương tiện giáo dục trẻ em có thái độ đúng đắn trong các mối quan
hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên Nhất là trẻ có độ tuổi
từ 5 đến 6 tuổi đang trong ngưỡng sắp bước vào lớp một cần phải chú trọng việc phát triển nhân cách cho trẻ một cách đúng đắn nhưng vẫn không gây áp lực cho trẻ thì các tròchơi liên kết với các bài đồng dao là một ví dụ điển hình cho giải pháp tốt mà vẫn có hiệu quả cao
Ở độ tuổi 5 đến 6 tháng tuổi, trẻ vẫn còn bỡ ngỡ với mọi sự vật, hiện tượng.Trò chơi dân gian giúp cho trẻ phát triển trí tưởng tượng, cũng là phương tiện phát triển ngôn ngữ có hiệu quả Khi tham gia chơi, trẻ được ca hát, nhảy múa, đối đáp… Qua đó, vốn từ của trẻđược phong phú, ngôn ngữ mạch lạc
Trang 9Trò chơi dân gian là phương tiện giáo dục thể chất cho trẻ một cách có hiệu quả Khi tham gia vào các trò chơi vận động dân gian, các vận động cơ bản của trẻ được rèn
luyện, nhờ đó mà trẻ trở nên nhanh nhẹn, kéo léo, hoạt bát trong hoạt động
Trò chơi dân gian còn có ý nghĩa trong việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ còn góp phần hình thành nhân cách văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt Nam
2
2.1 Vai trò của giao tiếp đối với trẻ 5-6 tuổi
* Giao tiếp giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh
- Thông qua giao tiếp và các câu nói của ngườu lớn, trẻ em làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh, hiểu được những đặc tính, tính chất, công dụng của các từ tươnmg ứng với nó
- Giao tiếp giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh
- Thông qua giao tiếp và các câu nói của người lớn, trẻ em làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh, hiểu được những đặc tính, tính chất, công dụng của các từ tương ứng với nó
- Giao tiếp là phương tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy
- Giao tiếp là phương tiện giúp trẻ vui chơi và nhận thức thế giới xung quanh Giúp trẻ trao đổi những ý đồ chơi, giao lưu tình cảm lúc chơi, phát triển tư duy và trí tưởng tượng của trẻ
- Giao tiếp không những là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh mà còn làphương tiện để trẻ biểu hiện nhận thức bên ngoài
* Giao tiếp là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ
- Giao tiếp là phương tiện để giao lưu cảm xúc và phát triển tình cảm
- Khi giao tiếp với người lớn, trẻ nhận được những sắc thái tình cảm khác nhau Qua nét mặt, giọng nói, ngữ điệu, ngữ nghĩa chứa đựng trong các từ, các câu nói, dần dần trẻ củng biết thể hiện những cảm xúc khác nhau của mình
- Trong quá trình giao tiếp, người lớn luôn hướng dẫn, uốn nắn hành vi của trẻ bằng lời nói, nét mặt, nụ cười khiến trẻ có thể nhận ra hành vi của mình là đúng hay sai Bằng conđường đó, trẻ dần dần hình thành được những thói quen tốt và học được những cách ứng
2.2 Đặc điểm khả năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi
- Trẻ từ 5-6 tuổi có thể sử dụng thông thạo tiếng mẹ đẻ để giao tiếp Khả năng ngôn ngữ của trẻ liên quan chặt chẽ đến sự phát triển trí tuệ và những kinh nghiệm của trẻ Trẻ có thể dùng ngôn ngữ để thể hiện các mối quan hệ qua lại nhiều mặt của các sự vật, hiện
Trang 10tượng trong cuộc sống mà trẻ nhận thức được, bước đầu có sự khái quát và đưa ra kết luận như: " Chanh thì chua còn đường thì ngọt" ; " Bố là đàn ông còn mẹ là đàn bà".
- Vốn từ của trẻ ở lứa tuổi này đã phong phú, trẻ đã hiểu được một số từ đại khái, biết sử dụng một số từ ghép đơn giản và có ý nghĩa đối lập: bé xíu, to đùng, chua chua, ngọt ngọt, lời nói của trẻ đã có sự biểu cảm , biết sử dụng ngữ điệu, cách nói so sánh để diễnđạt, thu hút sự chú ý của mọi người
- Trẻ ở lứa tuổi này rất thích sử dụng các từ trẻ mới biết hoặc từ trẻ tự nghĩ ra Trẻ đưa chúng vào các họat động ngôn ngữ sáng tạo ,như khi kể chuyện, đóng kịch, các trò chơi đóng vai,
- Tuy nhiên khả năng ngôn ngữ của từng cá nhân trẻ ở lứa tuổi này vẫn có sự khác biệt lớn về mức độ phong phú về vốn từ, về cách diễn đạt mạch lạc và nói đúng ngữ pháp và cách thể hiện lời nói sáng tạo Do đó cô cần chú ý trong quá trình giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ đẻ rút ngắn sự khác biệt trên và phát huy vốn tích cực của trẻ, khuyến khích trẻ sử dụng chung khi trẻ tự kể và trao đổi với những người xung quanh
Tôi ngồi nói thiệt
Quả quít thì chua
Bắt vua phải trả
Quả vả thì chát
Tôi tát mặt quan
Quan chạy la làng
Quăng đi quả quít
Quăng đi quả vả
Trả về quả na
2 Ăn một bát cơm
Nhớ người cày ruộng
Ăn một đĩa muống
Trang 11B
3 Ba bà đi bán lợn con
Bán đi chẳng được lon xon chạy về
Ba bà đi bán lợn sề
Bán đi chẳng được chạy về lon xon
4 Ba bà đi chợ mua bốn quả dưa
Chia đi chia lại đã trưa mất rồi
May sao lại gặp một người
Ba bà ba quả phần tôi quả này
5 Bà già dung dẻ đi chơi
Trẻ em lọm khọm lo người đấm lưng
6 Ban đêm oi bức mặt trời
Ban ngày mát mẻ trăng cười trên caoBan đêm nắng đỏ hồng hào
Ban ngày nhấp nháy ông sao đầy trời
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Quả hồng mòng nuốt bà già tám mươi1Nắm xôi nuốt trẻ lên mười
Chân giò, chai rượu nuốt người lao đao.Lúa mạ nhảy lên ăn bò
Cỏ năn, cỏ lác rình mò bắt trâu2
Gà con đuổi bắt diều hâu
Chim ri đánh đuổi vỡ đầu bồ nông
9 Bao giờ cho đến tháng năm
Thổi nồi cơm nếp vừa nằm vừa ăn
Trang 1210 Bao giờ cho chuối có cành
Cho sung có nụ, cho hành có hoaBao giờ cho khỉ đeo hoa
Cho voi đánh sáp, cho gà nhuộm răng
11 Bắc kim thang cà lan bí rợ
Cột bên kèo là kèo bên cột
Chú bán dầu qua cầu mà té
Chú bán ếch ở lại làm chi
Con le le đánh trống thổi kèn
Con bìm bịp thổi tò tí le tò le
12 Bắc thang lên đến cung mây
Hỏi sao chú Cuội phải ấp cây cả đờiCuội nghe thấy nói, Cuội cười
Bởi hay nói dối phải ngồi ấp cây
13 Băm bầu, băm bí
Băm chị thằng Ngô
Băm cô thuốc lào
Bán thuốc cho tao
Ba đồng một điếu
14 Bắt lươn, lươn bò xuống cỏ
Bắt cò, cò bỏ cò bay
Ôi thôi hỏng cả đôi tay
Lươn bò xuống cỏ, cò bay lên trời
15 Bê là bê vàng
Bê đứng rềnh ràng
Bê đi với mẹ
Bê đừng chạy xuống bể
Bê đừng chạy lên ngàn
Mà cọp mang
Mà sấu nuốt
Đi tìm nơi cỏ tốt
Bê gặm cho ngon
Bê là bê con
Bê là bê vàng
16 Bí ngô (đỏ) là cô đậu nành
Đậu nành là anh dưa chuột
Trang 13Dưa chuột là ruột dưa gang
Dưa gang là nàng dưa hấu
Dưa hấu là cậu bí ngô
Bí ngô là cô đậu nành
Chim ri là dì sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen
Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ các
Bồ các là bác chim ri
20 Bố mày đi tát, mẹ mày đi hôi
Ở nhà tao xách cỗ xôi lên trời
Trang 1422 Bồng bồng cõng rồng đi chơiGặp khi tối trời
Giấy mỏng tanh tanh
Chanh chua như dấm
Trang 1524 Buổi mai ngủ dậy
Xuống tắm biển Đông
Gặp bà bán hương
Hương thơm phưng phức
25 Buổi mai ăn cơm cho no
Đi ra chợ Gio
Mua chín cái tréc
Đắp chín cái lò
Cái nấu canh ngò
Cái kho củ cải
Cái nấu chuối xanh
Cái nấu cá kình
Cái rim thịt vịt
Cái hầm thịt gà
Trang 16Cái nấu om cà
Cái kho đu đủ
Cái nấu củ khoai tây
Nghe tin anh học trường này
Bồn chồn trong dạ bỏ chín cái tréc này không coi
26 Buổi mai ngủ dậy
Hai cái kho cải
Ba cái kho nải chuối xanh
Bốn cái nấu canh rau má
Năm cái kho cá chim chim
Sáu cái kho rim thịt vịt
Bảy cái làm thịt con gà
Tám cái kho cà đu đủ
Chín cái kho củ môn tây
B
1 Ba bà đi bán lợn con
Bán đi chẳng được lon xon chạy về
Ba bà đi bán lợn sề
Bán đi chẳng được chạy về lon xon
2 Ba bà đi chợ mua bốn quả dưa
Chia đi chia lại đã trưa mất rồi
May sao lại gặp một người
Ba bà ba quả phần tôi quả này
3 Bà già dung dẻ đi chơi
Trẻ em lọm khọm lo người đấm lưng
4.Ban đêm oi bức mặt trời
Ban ngày mát mẻ trăng cười trên cao
Ban đêm nắng đỏ hồng hào
Ban ngày nhấp nháy ông sao đầy trời
5 Bàn tay trắng
Bàn tay đen
Đĩa đậu đen
Trang 17Bí ngô là cô đậu nành
7 Bồ các là bác chim riChim ri là dì sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen
Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ các
Bồ các là bác chim ri
C
1 Cà cưỡng bay cao
Chào mào bay thấp
Cu bay về ấp
Quạ bay về trời
Nghe tiếng chủ mời
Ra ăn thịt chuột
Thịt gà đang luộc
Thịt chuột đang hâm
Dọn thầy một mâm
Thầy ăn kẻo tối
2 Cà cưỡng bay cao
Chào mào bay thấp
Cu bay về ấp
Trở mỏ về trời
Nghe thấy thầy mời
Về ăn thịt chuột
Mâm dưới nhẵn ruột
Mâm trên nhẵn đầu
Chín chả ngàn lâu
Con trâu ních hết.1
3 Cá biển, cá đồng
Cá sông, cá ruộng
Trang 18Dân yêu dân chuộng
Trang 195 Cái bống là cái bống bang
Con đi tìm sàng cho mẹ đổ khoaiCon ăn một mẹ ăn hai
Con đi bốc muối thì khoai chẳng cònCon ngồi con khóc nỉ non
Mẹ đi lấy vọt con bon đầu hè
Có đánh thì đánh vọt tre
Chớ đánh vọt nứa mà què chân con
6 Cái bống đi chợ Cầu Nôm
Sao mày chẳng rủ cái tôm đi cùngCái bống đi chợ Cầu Cần
Thấy hai ông bụt ngồi vần nồi cơm
Trang 20Ông thì xới xới đơm đơm
Ông thì giữ mãi nồi cơm chẳng vần
7 Cái con chim chích
Cái thủ cái tai
Đem lên biếu chú
Đút vào vườn quỳnh
Băm bầu băm bí
3 Diều hâu mà liệng cho tròn
Đến mai tao gả gà con cho mày
Trang 21Là con ông lão
Bữa nay nắng ráo
- Mua con ông lão.Vừa mua vừa dạo
Cò nhảy, gãy cây
Mây leo, bèo trôi
Trang 22Năm thằng năm gậy
Cho thầy thắt lưngMua cặp bánh chưngCho thầy bỏ túi!
Rủ nhau trốn mauẾch kêu “ộp ộp”Ếch kêu “ặp ặp”
G
Gánh gánh gồng gồngGánh núi gánh sôngGánh củi gánh cành
Ta chạy cho nhanh
Về xây nhà bếp
Nầy nồi cơm nếpChia ra năm phầnMột phần cho mẹMột phần cho chaMột phần cho bàMột phần cho chịMột phần cho anh