Mục tiêu nghiên cứu Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH Một thành viên Yến Sào Khánh Hòa thời gian qua trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cáo hiệu quả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Quyết định thành lập hội đồng: 1024/QĐ-ĐHNT ngày 27/11/2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Khánh Hòa, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Người thực hiện
Huỳnh Thị Phương Vi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu tài liệu và điều tra thu thập thông tin, đến
nay đề tài: “Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH Một thành
viên Yến Sào Khánh Hòa” đã được thực hiện thành công
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến: TS Nguyễn Thành Cường, người
đã hướng dẫn tôi làm đề cương cho đến khi hoàn thành luận văn cao học
Khánh Hòa, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Người thực hiện
Huỳnh Thị Phương Vi
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 12
1.1 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 12
1.2 Bản chất và ý nghĩa của hiệu quả sản xuất kinh doanh 12
1.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 13
1.4 Các quan điểm đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 14
1.5 Phương pháp tính các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh 16
1.6 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh 16
1.6.1 Các quan điểm cơ bản 16
1.6.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 18
1.7 Các phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh 23
1.7.1 Phương pháp so sánh 24
1.7.2 Phương pháp phân tích tài chính Dupont 24
1.7.3 Phương pháp phân tích phi tài chính 28
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY MỘT THÀNH VIÊN YẾN SÀO KHÁNH HÒA 30
2.1 Khái quát về công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa 30
2.1.1 Giới thiệu công ty 30
2.1.2 Sự hình thành và phát triển 30
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại công ty 33
2.2 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa giai đoạn 2012 -2016 thông qua số liệu báo cáo tài chính 35
Trang 62.2.1 Phân tích hiệu quả hoạt động SXKD của công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa
thông qua các chỉ tiêu khả năng sinh lời 35
2.2.2 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua khả năng hoạt động của công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa 36
2.2.3 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua hiệu quả sử dụng chi phí 38
2.2.4 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động 39
2.2.5 Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội 41
2.2.6 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua phương trình Dupont 42
2.2.7 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua sự cảm nhận của cán bộ quản lý của công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa 48
2.3 Đánh giá chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa 51
2.3.1 Những mặt đã đạt được 51
2.3.2 Những mặt còn hạn chế, nguyên nhân 51
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 2 53
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY MÔT THÀNH VIÊN YẾN SÀO KHÁNH HÒA TRONG THỜI GIAN TỚI 54
3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 54
3.2 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty một thành viên yến sào Khánh Hòa trong thời gian tới 56
3.2.1 Giải pháp 1: Nâng cao năng lực quản trị công ty nhằm cắt giảm chi phí 56
3.2.2 Giải pháp 2: Nâng cao năng suất lao động 59
3.2.3 Giải pháp 3: Tăng cường nâng cao năng lực về vốn của Công ty 61
3.2.4 Giải pháp 4: Tăng cường công tác quản lý, sử dụng tài sản 64
3.3 Kiến nghị 66
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 3 66
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
RE Tỷ suất sinh lời của tài sản
ROA Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản ROE Tỷ suất sinh lời VCSH
SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Khả năng sinh lời tại công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa qua các năm 35 Bảng 2.2: Khả năng hoạt động tại công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa qua các năm 37 Bảng 2.3: Hiệu quả sử dụng chi phí tại công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa qua các năm 39 Bảng 2.4: Hiệu quả sử dụng lao động tại công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa qua các năm 40 Bảng 2.5: Hiệu quả kinh tế xã hội tại công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa 41 Bảng 2.6: Đánh giá ROA dựa trên phương trình Dupont tại công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa 44 Bảng 2.7: Đánh giá ROE dựa trên phương trình Dupont tại công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa 47 Bảng 2.8: Đo lường hiệu quả kinh doanh cảm nhận đối với Công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa 48 Bảng 2.9: Sự hài lòng với các quyết định khen thưởng, bổ nhiệm dựa trên kết quả của
hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của Công ty 50 Bảng 2.10: Mối quan hệ giữa hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh với những khía cạnh quan trọng quyết định sự thành công của Công ty 50
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình Dupont tính ROA 26 Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức công ty Yến Sào Khánh Hòa 34 Hình 2.2: Xu hướng khả năng sinh lời của công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa qua các năm 36 Hình 2.3: Xu hướng khả năng hoạt động của công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa qua các năm 37 Hình 2.4: Xu hướng hiệu quả sử dụng chi phí của công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa qua các năm 39 Hình 2.5: Xu hướng hiệu quả sử dụng lao động của công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa qua các năm 40 Hình 2.6: Xu hướng hiệu quả kinh tế xã hội của công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa qua các năm 41
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Từ năm 2011-2015, Công ty đầu tư xây dựng, mở rộng thêm các nhà máy: Nhà máy chế biến nguyên liệu yến sào, Nhà máy Nước giải khát cao cấp Yến sào Cam Thịnh, Nhà máy Nước giải khát Sanna quy mô với thiết bị hiện đại theo tiêu chuẩn Châu Âu Các sản phẩm sản xuất đảm bảo chất lượng được quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, HACCP, tiêu chuẩn tích hợp của cộng đồng Châu Âu IFS, tiêu chuẩn liên hiệp Anh BRC, tiêu chuẩn FDA Hoa Kỳ đảm bảo đẩy mạnh xuất khẩu vào Châu
Âu, Châu Mỹ
Hiện nay Công ty phát triển 40 dòng sản phẩm được chế biến từ yến sào chất lượng cao, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh các dòng sản phẩm của Công ty Yến sào Khánh Hòa tại 63 tỉnh thành trong cả nước với hơn 1.000 nhà phân phối và xuất khẩu trên 21 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với hệ thống showroom, cửa hàng liên kết tại Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hồng Kong, Đài Loan, Nhật Bản, Úc, Canada, Singapore và các nước Asean
Với những thành tựu đạt được của Công ty Yến Sào và sự đóng góp nguồn thu cho ngân sách tỉnh Khánh Hòa nên tôi quyết định chọn Công ty Yến Sào làm đề tài nghiên cứu khoa học Bên cạnh đó, với chủ trương của Đảng và Nhà nước đang tiến hành lập Kế hoạch thực hiện Phương án sắp xếp, đổi mới và tái cơ cấu công ty nhà nước giai đoạn 2016-2020, việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là cơ sở để
chuyển đổi hình thức cổ phần hóa công ty Chính vì lý do đó nên tôi chọn đề tài “Phân
tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH Một thành viên Yến Sào Khánh Hòa” để làm luận văn thạc sĩ
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH Một thành viên Yến Sào Khánh Hòa thời gian qua trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cáo hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp, so sánh: … Số liệu thu được từ Công
ty được tác giả tính toán để đánh giá hiệu quả hoạt động tại Công ty
Phương pháp chuyên gia: Dựa trên các câu hỏi phỏng vấn sâu, rút ra các kết luận liên quan đến việc tìm ra các tiêu chí của hiệu quả kinh doanh cảm nhận phù hợp với Công ty
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tổng hợp các dữ liệu thứ cấp, hệ thống hóa từ các nguồn tin cậy như các báo cáo tài chính của Công ty qua các năm 2012-2016, cập nhật số liệu được công bố của Sở Tài chính Khánh Hòa và Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Khánh Hòa,…Trên cơ sở số liệu thu thập được, tác giả sử dụng phần mềm EXCEL để thống kê mô tả, so sánh, phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV Yến Sào Khánh Hòa
4 Về kết quả nghiên cứu
Qua đề tài, tác giả đã giải quyết một số nội dung chính sau: Khái quát lại các quan điểm, khái niệm, một số quan niệm về các chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trên cơ sở lý thuyết, tác giả phân tích thực trạng của Công ty Tác giả phân tích các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Công ty Đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra những mặt hạn chế, những vấn đề bất cập cần giải quyết trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Trên cơ sở nhận định về thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Từ khóa: Hiệu quả hoạt động, công ty Yến Sào Khánh Hòa, ROA, ROE
Trang 12GIỚI THIỆU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Khánh Hòa là nơi tôi đang sinh sống, học tập và làm việc nên tôi rất quan tâm đến sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhà Nhiều năm qua, Khánh Hòa là tỉnh
có tốc độ phát triển kinh tế và thu ngân sách cao trong khu vực và cả nước Khánh Hòa được biết tới không chỉ là địa phương có tiềm năng lớn về du lịch và còn các ngành nghề kinh tế khác Sự phát triển của tỉnh Khánh Hòa có sự đóng góp của các công ty , trong đó Công ty TNHH Một thành viên Yến Sào Khánh Hòa là một trong những công
ty nhà nước đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Khánh Hòa
Trước bối cảnh các công ty trong nước tất yếu phải chịu sự tác động mạnh mẽ của quy luật cạnh tranh Do đó muốn tồn tại và phát triển, muốn vươn lên thì trước hết đòi hỏi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phải có hiệu quả Công ty TNHH Một thành viên Yến Sào Khánh Hòa đã tăng cường sự chủ động trong hoạt động sản xuất–kinh doanh, phát huy tính tự chủ, hiệu quả cao trong công tác sản xuất-kinh doanh, xuất khẩu, doanh thu tăng cao, đóng góp ngân sách Nhà nước ngày càng tăng
Năm 2015, công ty Yến sào Khánh Hòa đã vinh dự dành giải Vàng giải thưởng Chất lượng Quốc gia và bằng khen của Thủ tướng Chính phủ Đây là sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước đối với những đóng góp của công ty vào phong trào năng suất chất lượng tại Việt Nam Công ty Yến sào Khánh Hòa là Công ty Nhà nước trực thuộc UBND tỉnh Khánh Hòa, được thành lập vào ngày 09/11/1990 Năm 2009, Công ty
Trang 13Yến Sào Khánh Hoà chuyển đổi thành Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Yến Sào Khánh Hoà Trải qua 25 năm xây dựng và phát triển, giữa biết bao thử thách của biến động thị trường, Công ty Yến sào Khánh Hòa đã chứng tỏ được bản lĩnh, sự mạnh
mẽ của mình, đạt được nhiều thành tựu to lớn Công ty đã nỗ lực xây dựng, phát triển với tâm huyết ngành nghề, từng bước mở rộng và khẳng định giá trị thương hiệu:
Từ năm 2011-2015, Công ty đầu tư xây dựng, mở rộng thêm các nhà máy: Nhà máy chế biến nguyên liệu yến sào, Nhà máy Nước giải khát cao cấp Yến sào Cam Thịnh, Nhà máy Nước giải khát Sanna quy mô với thiết bị hiện đại theo tiêu chuẩn Châu Âu Các sản phẩm sản xuất đảm bảo chất lượng được quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, HACCP, tiêu chuẩn tích hợp của cộng đồng Châu Âu IFS, tiêu chuẩn liên hiệp Anh BRC, tiêu chuẩn FDA Hoa Kỳ đảm bảo đẩy mạnh xuất khẩu vào Châu
Âu, Châu Mỹ
Hiện nay Công ty phát triển 40 dòng sản phẩm được chế biến từ yến sào chất lượng cao, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh các dòng sản phẩm của Công ty Yến sào Khánh Hòa tại 63 tỉnh thành trong cả nước với hơn 1.000 nhà phân phối và xuất khẩu trên 21 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với hệ thống showroom, cửa hàng liên kết tại Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hồng Kong, Đài Loan, Nhật Bản, Úc, Canada, Singapore và các nước Asean
Với những thành tựu đạt được của Công ty Yến Sào và sự đóng góp nguồn thu cho ngân sách tỉnh Khánh Hòa nên tôi quyết định chọn Công ty Yến Sào làm đề tài nghiên cứu khoa học Bên cạnh đó, với chủ trương của Đảng và Nhà nước đang tiến hành lập Kế hoạch thực hiện Phương án sắp xếp, đổi mới và tái cơ cấu công ty nhà nước giai đoạn 2016-2020, việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là cơ sở để chuyển đổi hình thức cổ phần hóa công ty Chính vì lý do đó nên tôi chọn đề tài
“Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH Một thành viên Yến Sào Khánh Hòa” để làm luận văn thạc sĩ
2 Tổng quan nghiên cứu liên quan
2.1 Nghiên cứu ngoài nước
Kết quả hoạt động của công ty thường được đánh giá dưới góc độ kết quả hoạt động tài chính và được trình bày trong các tài liệu về phân tích hoạt động kinh doanh
Trang 14hoặc phân tích hoạt động tài chính Hiện nay có một số tài liệu và nghiên cứu có liên quan đến đo lường và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của công ty, chẳng hạn như các nghiên cứu sau:
US Bititci và cộng sự (1997) đã nghiên cứu hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh, kết quả nghiên cứu nhóm tác giả đã nêu lên vai trò quan trọng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá trong quá trình đánh giá HQKD của DN, các mô hình liên kết các chỉ tiêu ở các khía cạnh khác nhau của quá trình kinh doanh và đề xuất các mô hình tham khảo để đánh giá HQKD như các mô hình của châu Âu (The European
Model for Business Excellence - EFQM, 1995); mô hình Business Classification
Model của Puttick và Hill (1993); mô hình Systems Classification Model của Ginzberg
và mô hình Performance
Nghiên cứu của C Walsh (2008) đã cho thấy hoạt động của công ty được đánh giá dựa các nhóm hệ số tài chính và khả năng sinh lợi Ngoài ra tác giả cũng đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty Tương tự, Higgins (2005) cũng đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của công ty dựa trên kết quả hoạt động tài chính
R.Simon (2000): Performance Measurement and Control System for Impleming Strategy, Prentice Hall Tác giả đã dựa vào các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính để đánh giá kết quả hoạt động của công ty Tài liệu cũng đưa ra hướng dẫn cho các công
ty xây dựng hệ thống kiểm soát và quản lý nhằm đạt được hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Bài báo “Linking knowledge management strategy to business performance in
construction organizations” của các tác giả Herbert S.Robinson, Patricia M.Carrillo,
Chimay J.Anumba và Ahmed M.Al- Ghassani từ trường đại học Tổng hợp
Loughborough Vương quốc Anh đăng trong tài liệu hội thảo hàng năm tổ chức lần thứ
17 tại trường đại học Tổng hợp Salford tháng 9 năm 2001 và tạp chí Researchers in Construction Management số 1 năm 2002 (các trang từ 577 đến 586) đã phân tích mối quan hệ giữa quản trị chiến lược với hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các công
ty xây dựng ở Anh
Bài báo “Performance implications of strategic performance measurement in
financial services firms” được đăng trên tập san Accounting, Organizations and
Trang 15Society số 28 năm 2003 (từ trang 715 đến 741) của các tác giả Christopher D Ittner, David F Larcker và Taylor Randall đến từ trường Đại học Tổng hợp Pennsylvania và trường Đại học Tổng hợp Utah (Mỹ) đã giới thiệu về hệ thống đánh giá HQKD chiến lược trong các DN dịch vụ tài chính ở Mỹ
Bài báo "Performance measurement and organzational effectivenes: bridging the
gap" của PGS Jean Francois Henri, khoa Kế toán trường Đại học Tổng hợp Laval,
Québec, Canada đăng trên tạp chí Managerial Finance số 30 năm 2004 đã nghiên cứu
về mối quan hệ và khoảng cách giữa các chỉ tiêu đánh giá HQKD và DN hiệu quả Trong bài viết của mình, tác giả đã trình bày các mô hình lý thuyết về DN hiệu quả và các mô hình đánh giá HQKD của DN Tác giả đã chỉ ra những khoảng cách giữa hệ thống đánh giá HQKD với mô hình DN hiệu quả đồng thời đề xuất giải pháp thu hẹp khoảng cách giữa chúng
Bài báo “Performance efficiency evaluation of the Taiwan’s shipping industry:
an application of data envelopment analysis” của các tác giả Wen -Cheng Lin, Chin -
Feng Liu (Prof.), Ching - Wu Chu (Prof.) đăng trên tạp chí Proceedings of the Eastern Asia Society for Transportation Studies, số 5 năm 2005 (các trang 467 - 476) giới
thiệu về hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả gồm các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính áp dụng trong ngành công nghiệp vận tải biển của Đài Loan
Bài báo “Measurement of corporate performance through balanced scorecard:
an overview” của các tác giả Samir Ghosh và Subrata Mukherjee giảng viên Đại học
Vidyasagar đăng trên tạp chí “Vidyasagar University Journal of Commerce” số 11, tháng 3 năm 2006 phân tích các ưu điểm khi sử dụng Bảng điểm cân bằng để đánh giá HQKD của DN
Bài báo “Performance Measurement: Questions for Tomorrow” của các tác giả
Umit Bititci, Viktor Dörfler, Sai Nudurupati1 (Đại học Tổng hợp Strathclyde, Glasgow, UK), Patrizia Garengo (Đại học Tổng hợp Padova, Italy) đăng trên tạp chí Nghiên cứu SIOM Research Paper Series số 05 tháng 10/2009 của Đại học Glasgow, giới thiệu về xu hướng phát triển hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN trên thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa
Luận án tiến sỹ: "Measuring Performance in Small and Medium Enterprises in
the Information & Communication Technology Industries" của tác giả Donglin Wu
Trang 16bảo vệ tại trường Quản trị kinh doanh thuộc trường Đại học RMIT tháng 2 năm 2009 Trong luận án của mình, Wu nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến thành công của các DN quy mô vừa và nhỏ trong lĩnh vực tin học viễn thông của Australia để đề xuất
hệ thống đánh giá HQKD khung cho các DN này
Luận văn thạc sỹ: "Proposal of a Performance Measurement System for
e-commerce SMEs in Denmark" của Ana Carolina Rossi (2012) nghiên cứu đặc điểm
hoạt động và thực trạng hệ thống đánh giá HQKD của các DN thương mại điện tử quy
mô vừa và nhỏ ở Đan Mạch để đề xuất sử dụng hệ thống đánh giá hiệu quả trên cơ ở phân tích các mô hình đánh giá HQKD đang được các DN áp dụng hiện nay
Bài báo "Competitive strategy, performance measurement and organizational
performance: empirical study in Thai listed companies" của hai tác giả Luliya
Teeratansirikool và and Sununta Siengthai từ Viện công nghệ châu Á (AIT) tại hội thảo “Proceedings of 16th International Business Research Conference” tổ chức tại Dubai tháng 4 năm 2012 nghiên cứu về mối quan hệ giữa chiến lược cạnh tranh với các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và HQKD của 561 công ty niêm yết tại Thái Lan
Trong các công trình nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu (thước đo) đánh giá HQKD của DN đặc biệt phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả Robert Kaplan, giáo sư kế toán của đại học Harvard và Dawid Norton, giám đốc điều hành của Công
ty Nolan Norton về hệ thống đánh giá HQKD chiến lược bằng Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard) Điển hình trong các công trình nghiên cứu của các tác giả này là các bài báo và cuốn sách sau:
Bài báo "Transforming the balanced scorecard from performance measurement
to strategic management" đăng trên tạp chí Accounting Horizons số 15 năm 2001
(trang 87 - 104)
Bài báo “The Balanced Scorecard: Measures That Drive Performance”, trên tạp
chí Harvard Business Review, số tháng 1, 2 năm 1992 (pp 71 - 79)
Thông qua các bài báo trên, các tác giả cho rằng: hệ thống đánh giá hiệu quả phụ thuộc quá nhiều vào các chỉ tiêu tài chính có thể dẫn đến sai lầm của các nhà quản trị khi đánh giá HQKD của DN và có thể thúc đẩy các hành vi bất lợi cho DN Chẳng hạn nhà quản trị có thể từ chối cơ hội đầu tư cần thiết cho sự phát triển của DN nhưng lại
Trang 17làm cho tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư của bộ phận do anh ta quản lý bị giảm đi Để có được lợi nhuận cao, nhà quản trị có thể tận dụng công suất máy móc thiết bị để sản xuất nhiều sản phẩm nhằm hạ giá thành Tuy nhiên, sản xuất nhiều nhưng không bán được sẽ làm cho hàng tồn kho nhiều lên dẫn đến nhu cầu tăng vốn và làm phát sinh chi phí lưu kho, v.v từ đó có thể làm giảm HQKD của DN
Trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện thành công chiến lược của DN, các tác giả cho rằng trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN cần chứa đựng các chỉ tiêu phản ánh những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện thành công chiến lược Các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện thành công chiến lược thường bao gồm: chất lượng nhân viên, quy trình kinh doanh nội bộ, sự hài lòng của khách hàng, Từ các phân tích của mình, các tác giả đề xuất
sử dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thực hiện thành công chiến lược kinh doanh của DN được liên kết với nhau theo quan hệ nhân quả gọi là "Bảng điểm cân bằng"
Công trình nghiên cứu của các tác giả này đã mở đầu cho các nghiên cứu sau đó
về hệ thống đánh giá HQKD trong các DN cụ thể và mở rộng sang các lĩnh vực khác như trong các tổ chức phi lợi nhuận, các cơ quan công quyền, v.v Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài gần đây đều tập trung vào các nội dung sau:
- Chỉ ra những hạn chế của hệ thống đánh giá truyền thống chỉ dựa vào các chỉ tiêu tài chính không còn phù hợp trong điều kiện cạnh tranh cùng với vai trò ngày càng tăng của các tài sản vô hình đối với thành công của DN
- Đánh giá vai trò ngày càng quan trọng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD
trong DN và vai trò ngày càng quan trọng cũng như sự cần thiết của các chỉ tiêu phi tài chính với việc thực hiện thành công chiến lược của DN
- Đưa ra các đề xuất xây dựng hệ thống đánh giá gắn với mục tiêu chiến lược của
DN bao gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, các chỉ tiêu ngắn hạn gắn với các chỉ tiêu dài hạn và mục tiêu chiến lược, v.v liên hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
- Đánh giá HQKD gắn với mục tiêu thực hiện chiến lược, đánh giá tác động của các nhân tố tới việc thực hiện thành công chiến lược
Trang 182.2 Nghiên cứu trong nước
Ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về HQKD Trong số các công trình này, có một số công trình tiêu biểu sau:
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang với luận án tiến sỹ “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các DN xây dựng ở Việt Nam” (2002) Trong luận án này, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã nghiên cứu thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các DN xây dựng và đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính cho các DN này Mặc dù đạt được những thành công trong đề xuất hoàn thiện chỉ tiêu phân tích tài chính cho các DN xây dựng nhưng khía cạnh nghiên cứu của luận án tập trung vào phân tích tài chính Nội dung của luận án chưa đề cập đến đánh giá hiệu quả cũng như những tác động của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD đối với hoạt động của DN
và phương hướng hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong DN
Luận án tiến sỹ: “Phân tích HQKD trong các DN khai thác khoáng sản Việt Nam” (2008) của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương thực hiện tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008 Trong luận án của mình, tác giả Nguyễn Thị Mai Hương đã nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp hoàn thiện các chỉ tiêu và phương pháp phân tích HQKD trong các DN khai thác khoáng sản ở Miền Trung Tương tự như tác giả Nguyễn Ngọc Quang, trong luận án của mình, tác giả Nguyễn Thị Mai Hương chỉ tập trung nghiên cứu và phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD và các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD của DN dưới góc độ hiệu quả tài chính trong ngắn hạn mà chưa đánh giá dưới góc độ quản trị chiến lược và thực hiện mục tiêu chiến lược Các đề xuất của tác giả luận án tập trung vào hoàn thiện nội dung và phân tích HQKD để giúp cho
DN đánh giá đúng đắn HQKD của mình
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện phân tích HQKD trong các DN chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung Bộ” của tác giả Đỗ Huyền Trang thực hiện tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2012 Trong luận án của mình, tác giả Đỗ Huyền Trang đã nghiên cứu và phân tích thực trạng phân tích HQKD của các DN chế biến gỗ xuất khẩu ở Khu vực Nam Trung Bộ Nội dung luận án của tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện phương pháp và chỉ tiêu phân tích HQKD ngắn hạn, chưa đề cập đến phân tích HQKD dài hạn và hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá HQKD dài hạn
Trang 19Ngoài các luận án tiến sỹ, một số luận văn thạc sỹ và luận văn cử nhân cũng đề cập đến đề tài phân tích HQKD và các giải pháp nâng cao HQKD của các DN Tiêu biểu như luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Khắc Hán (2005) nghiên cứu đề tài:
“Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các công ty xăng dầu Việt Nam” Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Thị Bích Thủy (2005) với đề tài: “Phân tích HQKD trong các DN sản xuất than thuộc TCT Than Việt Nam”, v.v Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến HQKD tập trung chủ yếu theo 2 nhóm đề tài:
Nhóm thứ nhất là các đề tài phân tích tình trạng tài chính và HQKD của các DN dựa trên phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD từ các báo cáo tài chính của các DN để đánh giá thực trạng HQKD, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao HQKD của các DN được nghiên cứu
Nhóm thứ hai là các đề tài nghiên cứu hoàn thiện phân tích tình trạng tài chính và HQKD của các DN Theo hướng này, các đề tài nghiên cứu đều tập trung đánh giá thực trạng phân tích HQKD của các DN hiện nay trên các khía cạnh: tài liệu sử dụng cho phân tích, phương pháp phân tích và nội dung (các chỉ tiêu) phân tích HQKD Từ thực trạng phân tích HQKD của các DN, các tác giả nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện phương pháp, nội dung phân tích và nâng cao chất lượng của tài liệu
sử dụng cho phân tích HQKD Tiêu biểu cho nhóm đề tài này là các công trình nghiên cứu của các tác giả sau: “Phân tích HQKD tại Công ty TNHH Tân Bảo Vũ” của Nguyễn Thị Nhất Linh (Đại học Kinh tế quốc dân, 2008) nghiên cứu và đánh giá thực trạng phân tích HQKD của Công ty TNHH Tân Bảo Vũ
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện phân tích HQKD tại TCT Tài Nguyên và Môi Trường Việt Nam” của học viên cao học Vương Thị Thu Hiền (Đại học Kinh tế quốc dân, 2010) nghiên cứu nội dung và phương pháp phân tích HQKD của TCT Tài nguyên và Môi trường Việt Nam
“Hoàn thiện phân tích HQKD ở công ty Viễn Thông Hà Nội” của học viên cao học Nguyễn Thị Phương Trang (Đại học Kinh tế quốc dân, 2010) Trong luận văn của mình, tác giả đã nghiên cứu thực trạng phân tích HQKD của công ty Viễn thông Hà Nội để đề xuất các giải pháp hoàn thiện phân tích HQKD ở công ty này Trong số các
Trang 20giải pháp đề xuất, tác giả có đề xuất hoàn thiện các chỉ tiêu phân tích HQKD của Công
ty Viễn thông Hà Nội
“Phân tích HQKD tại công ty TNHH Hoàng Thủy” của Nguyễn Thị Hồng Điệp (Đại học Thương Mại, 2009) nghiên cứu thực trạng phân tích HQKD của công ty TNHH Hoàng Thủy, v.v “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích HQKD và phương hướng nâng cao HQKD tại Viện máy và công cụ nông nghiệp”
Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này có các đặc điểm sau:
- Các nghiên cứu đều dựa trên các số liệu tài chính được thu thập từ các báo cáo
tài chính của các DN Các tác giả chưa sử dụng các chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá HQKD của các DN
- Việc đánh giá HQKD mới chỉ tập trung vào đánh giá HQKD ngắn hạn theo kỳ
lập báo cáo (1 năm), chưa có các đánh giá HQKD dài hạn (HQKD chiến lược)
- Các công trình nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá HQKD của toàn DN, chưa
đánh giá HQKD của từng bộ phận trong DN Hạn chế của việc đánh giá này là chưa chỉ ra được các nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng đến HQKD của DN để có các giải pháp phù hợp
- Các nghiên cứu mới chỉ được thực hiện trên góc độ phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD, chưa có các công trình nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD để giúp cho các nhà quản trị có thể kiểm soát và đánh giá đúng đắn HQKD của các DN
Từ nghiên cứu các công trình ở trong và ngoài nước nêu trên, tác giả rút ra các kết luận sau:
- Các công trình nghiên cứu trong nước chưa nhận thấy tầm quan trọng của việc
sử dụng các chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá HQKD của các DN và việc đánh giá mới tập trung vào ngắn hạn, chưa có các chỉ tiêu đánh giá dài hạn, gắn với chiến lược Một hạn chế nữa của các công trình nghiên cứu trong nước là mới chỉ tập trung đánh giá HQKD của toàn DN, chưa đánh giá HQKD của từng bộ phận trong DN Các nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện trên góc độ phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD, chưa có các công trình nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD để giúp cho các nhà quản trị có thể kiểm soát và đánh giá đúng đắn HQKD của các DN
Trang 21- Các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã chỉ ra được những hạn chế của hệ
thống đánh giá truyền thống nếu chỉ dựa vào các chỉ tiêu tài chính, đồng thời các công trình này cũng đã đánh giá vai trò ngày càng quan trọng cũng như sự cần thiết của các chỉ tiêu phi tài chính đối với việc thực hiện thành công chiến lược của DN
- Mặc dù chỉ rõ tầm quan trọng của các chỉ tiêu phi tài chính nhưng các công
trình nghiên cứu của nước ngoài không phủ nhận vai trò của các chỉ tiêu tài chính, ngược lại còn khẳng định mối liên hệ chặt chẽ của hai nhóm chỉ tiêu này trong hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH Một thành viên
Yến Sào Khánh Hòa thời gian qua trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cáo hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
hiệu quả của hoạt động kinh doanh tại Công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa
Đánh giá hiệu quả hoạt động Công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa thông qua khả năng sinh lời giai đoạn 2012 -2016
Trang 225 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như điều tra thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích… Đối với dữ liệu thứ cấp, tác giả tổng hợp, hệ thống hóa từ các nguồn dữ liệu tin cậy như: các Báo cáo tài chính từ năm 2012-2016 của Công ty MTV Yến sào Khánh Hòa, số liệu của Sở Tài chính Khánh Hòa Trên cơ sở số liệu thu thập được, tác giả sử dụng phần mềm Excel để thống kê mô tả, so sánh, phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty
7 Dự kiến kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo; nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty MTV Yến Sào Khánh Hòa giai đoạn 2012-2016
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời gian tới
Trang 23CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh dooanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất ra tức là giá trị sử dụng của nó; hoặc là doanh thu và nhất là lợi nhuận thu được sau quá trình kinh doanh Quan điểm này lẫn lộn giữa hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh, giữa hiệu quả và mục tiêu kinh doanh;
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế, được phản ảnh qua nhịp
độ tăng của các chỉ tiêu kinh tế Cách hiểu này là phiến diện chỉ đứng trên giác độ biến động theo thời gian
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết quả kinh tế Đây là biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái niệm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả sản xuất kinh doanh là các chỉ tiêu được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa kết quả với chi phí Định nghĩa như vậy chỉ đề cập đến cách xác lập các chỉ tiêu chứ không toát lên ý niệm của vấn đề
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh Quan niệm này muốn quy hiệu quả sản xuất kinh doanh về một chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó
Bởi vậy cần một khái niệm bao quát hơn và cũng là khái niệm tác giả sử dụng trong đề tài là:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, nó phản ảnh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh là thu được lợi ích nhiều hơn (Nguyễn Tấn Bình, 2008)
1.2 Bản chất và ý nghĩa của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ quản lý sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu và vốn) để đạt được kết quả tốt nhất trên cơ sở tối thiểu hóa chi phí Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả sản xuất kinh
Trang 24doanh của doanh nghiệp cần làm rõ khác nhau và mối quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh
Kết quả kinh doanh là những gì doanh nghiệp thu được sau một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhất định Kết quả là mục tiêu của doanh nghiệp, có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoặc đơn vị giá trị Kết quả cũng phản ánh mặt chất lượng của sản xuất kinh doanh hoàn toàn định tính như uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm…Tự bản thân mình, kết quả kinh doanh chưa thể hiện nó được tạo ra ở mức nào và với chi phí bao nhiêu
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù phản ánh trình độ khai thác sử dụng các nguồn lực sản xuất (tiền vốn, vật tư, lao động…), phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tạo ra với mức chi phí nhất định gắn với điều kiện
cụ thể của doanh nghiệp Để xác định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài địa lượng kết quả kinh doanh còn phải xác định được đại lượng chi phí
Xác định chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ là vấn đề không đơn giản Việc tính toán các chi phí như chi phí kế toán, chi phí kinh doanh…phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế hạch toán, trình độ quản lý kinh doanh Tóm lại, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh tương đối phức tạp và khó tính toán bởi chi phí và kết quả thường khó xác định một cách chính xác (Nguyễn Hải Sản, 2007)
1.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm, càng ngày người ta càng sử dụng các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất phục vụ các nhu cầu khác nhau của con người Trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm đi thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng và tăng không có giới hạn Điều này phản ánh quy luật khan hiếm Quy luật khan hiếm buộc mọi doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời chính xác ba câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận sản phẩm phù hợp Nếu doanh nghiệp nào không đáp ứng nỗi ba câu hỏi trên sẽ dẫn tới khả năng không thể tồn tại
Trong cơ chế thị trường, mở cửa và ngày càng hội nhập, doanh nghiệp phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh Vì vậy, để duy trì lợi thế về giá cả doanh nghiệp
Trang 25phải sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất hơn so với các doanh nghiệp khác Chỉ trên cơ sở sản xuất kinh doanh với hiệu quả cao, doanh nghiệp mới có khả năng đạt được điều này Hiệu quả kinh doanh ngày càng cao càng phản ánh việc sử dụng tiết kiệm nguồn lực sản xuất Vì vậy, nâng cao hiệu quả là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện tốt mục tiêu của mình (Dương Hữu Hạnh, 2009)
1.4 Các quan điểm đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để đánh giá đúng quan điểm về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải quán triệt một số quan điểm sau:
Quan điểm 1: Đảm bảo lẫn hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả chính trị, xã hội Quan
điểm này cho rằng doanh nghiệp vừa đạt hiệu quả kinh tế nhưng vẫn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, xã hội Nghĩa là bên cạnh việc phấn đấu nỗ lực thu được nhiều lợi nhuận thì doanh nghiệp phải đảm bảo đầy đủ công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập cho họ, đồng thời phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước Hiệu quả kinh doanh đạt được một cách toàn diện khi nó không làm suy giảm hiệu quả chính trị, xã hội Vì hoạt động của doanh nghiệp phải nằm trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước, và xu thế phát triển của doanh nghiệp phải phù hợp với sự vận động phát triển chung của toàn bộ quốc gia
Quan điểm 2: Đảm bảo tính toàn diện và tính bộ phận trong quá trình nâng cao
hiệu quả kinh doanh Theo quan điểm này việc nâng cao hiệu quả kinh doanh phải là
sự kết hợp hài hòa giữa nâng cao hiệu quả của các bộ phận và sự tăng lên của hiệu quả kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp là nền tảng của sự phát triển lâu dài, bền vững Quan điểm này cho ta thấy khi nâng cao hiệu quả kinh doanh phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong toàn bộ lĩnh vực quản lý của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu cuối cùng, mục tiêu lợi nhuận
Quan điểm 3:Đảm bảo hài hòa các lợi ích, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích
xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả kinh doanh phải thỏa mãn hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau Nghĩa là việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp thì thu nhập của người lao động cũng phải tăng, đồng thời mức nộp ngân sách nhà nước cũng tăng Bởi vì thực hiện được các yêu cầu trên thì mới tạo được động lực cho các thành phần có liên quan tham gia tích cực vào việc
Trang 26nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh để đạt được lợi ích trước mắt thì cũng phải chú trọng đến lợi ích lâu dài Hiện nay, một số doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận trước mắt đã khai thác tài nguyên một cách bừa bãi sẽ dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên trong tương lai, gây ô nhiễm môi trường chung Mặc dù hiện tại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là
có hiệu quả nhưng trong tương lai đã phải là có hiệu quả hay không, điều này cần phải được xem xét
Quan điểm 4: Trong nến kinh tế cạnh tranh, muốn tồn tại và phát triển doanh
nghiệp phải có sức cạnh tranh Một doanh nghiệp có sức cạnh tranh không bao giờ là doanh nghiệp yếu, tối thiểu là doanh nghiệp “khỏe” ở tầm trung bình-đạt trình độ lợi dụng nguồn lực ở mức trung bình Đây chính là cơ sở của quan điểm lấy giá trị trung bình của mỗi chỉ tiêu làm tiêu chuẩn hiệu quả
Quan điểm 5: Một doanh nghiệp được coi là hoạt động có hiệu quả khi hội đủ
các tiêu chuẩn sau:
- Bảo toàn và phát triển được vốn sản xuất, trích khấu hao tài sản cố định theo đúng quy định của chế độ hiện hành;
- Kinh doanh có lãi, nộp đủ tiền thu sử dụng vốn và lập đủ các quỹ doanh nghiệp:
dự phòng tài chính, trợ cấp mất việc làm cho người lao động, đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng, phúc lợi…
- Trả đầy đủ các khoản nợ đến hạn (tức không có nợ quá hạn);
- Nộp đủ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động theo quy định
- Nộp đủ các khoản thuế theo quy định;
- Trả lương cho người lao động tối thiểu phải bằng mức bình quân của các doanh nghiệp trên cùng địa bàn
Chỉ khi nào đạt được sáu tiêu chuẩn trên thì chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp có vai trò nổi bật là mức doanh lợi chung hay còn gọi là tỷ suất lợi nhuận trên vốn mới là chỉ tiêu thực, không có tình trạng lãi giả, lỗ thực
Các doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả khi kinh doanh thua lỗ từ 2 năm liên tục trở lên mà tổng số lũy kế nợ khó đòi, các khoản giảm giá tài sản đã chiếm trên ¾ vốn sản xuất kinh doanh và không có thị trường tiêu thụ ổn định (Nguyễn Tấn Bình, 2008)
Trang 271.5 Phương pháp tính các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh
C: là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó
Và có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế Vậy hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định (Nguyễn Tấn Bình, 2008)
1.6 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.6.1 Các quan điểm cơ bản
Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nó liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, và nó phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Do đó, khi xem xét hiệu quả kinh doanh cần quán triệt một số quan điểm sau:
- Đảm bảo thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị và kinh doanh trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
Trang 28Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, trước hết thể hiện ở việc thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh hay đơn đặt hàng của nhà nước giao cho doanh nghiệp hay là các hợp đồng kinh tế nhà nước đã ký kết với doanh nghiệp, vì đó
là nhu cầu và là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân, của nền kinh tế hàng hoá
Những nhiệm vụ kinh tế chính trị mà nhà nước giao cho doanh nghiệp trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá, đòi hỏi doanh nghiệp phải quyết định việc sản xuất và bán những hàng hoá thị trường cần, nền kinh tế cần, chứ không phải hàng hoá bản thân doanh nghiệp có
- Bảo đảm tính toàn diện và hệ thống trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Quan điểm này đòi hỏi nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát và đảm bảo yêu cầu nâng cao hiệu quả nền kinh tế xã hội, của ngành, của địa phương và cơ sở Hơn nữa trong từng đơn vị cơ sở khi xem xét đánh giá hiệu quả kinh doanh phải coi trong tất cả các hoạt động, các lĩnh vực, các khâu của quá trình kinh doanh và phải xem xét đầy đủ các mối quan hệ, các tác động qua lại của các tổ chức, các lĩnh vực trong một hệ thống theo mục tiêu đã xác định
- Đảm bảo tính thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
Quan điểm này đòi hỏi khi đánh giá và xác định mục tiêu biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát từ đặc điểm, điều kiện kinh tế xã hội của ngành, của địa phương của doanh nghiệp trong từng thời kì Chỉ có như vậy, chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh, phương án kinh doanh của doanh nghiệp mới có đủ cơ sở khoa học thực hiện, đảm bảo lòng tin của người lao động, hạn chế rủi ro, tổn thất
- Phải căn cứ vào kết quả cuối cùng cả về hiện vật và giá trị để đánh giá hiệu quả kinh doanh
Quan điểm này đòi hỏi khi tính toán đánh giá hiệu quả một mặt phải căn cứ vào
số lượng hàng hoá đã tiêu thụ và giá trị thu nhập của những hàng hoá đó theo giá cả thị trường, mặt khác phải tính toán đủ chi phí đã chi ra để sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
đó Căn cứ vào kết quả cuối cùng cả về hiện vật và giá trị đó là đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế thị trường Ngoài ra còn đòi hỏi các nhà kinh doanh phải tính toán đúng đắn
Trang 29hợp lý lượng hàng hoá mua vào cho quá trình kinh doanh tiếp theo Điều đó còn cho phép đánh giá đúng đắn khả năng thoả mãn nhu cầu của thị trường về hàng hoá và dịch vụ theo cả giá trị và hiện vật tức là cả giá trị sử dụng và giá trị hàng hoá mà thị trường cần
1.6.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.6.2.1 Hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu khả năng sinh lời
Khi đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, các nhà phân tích thường xem xét hai chỉ tiêu là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA – Return on Total Asset) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ (ROE – Return on Equity)
Về cơ bản, hai chỉ tiêu ROA và ROE càng cao càng tốt, tức là doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả cao
Công thức tính toán hai chỉ tiêu này như sau:
Lợi nhuận sau thuế ROA =
Tương tự, chỉ tiêu ROE cho biết số lợi nhuận được thu về cho các chủ sở hữu doanh nghiệp sau khi họ đầu tư một đồng vốn vào sản xuất kinh doanh
Vấn đề lưu ý khi tính toán hai chỉ tiêu này là có thể số liệu Tổng tài sản và Vốn chủ sở hữu tại thời điểm cuối kỳ không phải là con số đại diện nên nó không phản ánh
Trang 30đúng thực chất tình hình tài chính của doanh nghiệp trong cả một thời kỳ Vì vậy, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu Tổng tài sản bình quân và Vốn chủ sở hữu bình quân (nếu có thể) khi tính toán ROA và ROE:
Số trung bình = (số đầu kỳ + số cuối kỳ)/2
Bên cạnh đó, khi tính ROA người ta cũng có thể sử dụng chỉ tiêu EBIT (lợi nhuận trước thuế và lãi vay) hoặc Lợi nhuận sau thuế + Lãi vay_(1-t) để thay thế cho chỉ tiêu Lợi nhuận sau thuế (trong đó t là thuế xuất Thuế thu nhập doanh nghiệp)
EBIT ROA =
Tổng tài sản
× 100
hoặc
LNST + Lãi vay×(1-t) ROA =
Tổng tài sản
× 100
Theo quan điểm này, ROA là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của tổng tài sản trong khi nguồn hình thành tài sản bao gồm cả vốn chủ sở hữu và vốn vay Theo ý nghĩa này, các chi phí về vốn vay (chi phí lãi vay) và thuế thu nhập doanh nghiệp cũng phải được cộng vào để tính hiệu quả của doanh nghiệp chứ không chỉ bao gồm phần
mà chủ doanh nghiệp thu về
Hệ số sinh lợi trên doanh thu (ROS): Chỉ tiêu này cho biết, một đồng doanh thu
sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ ra mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận Đây là 2 yếu tố có quan hệ rất mật thiết với nhau: Doanh thu chỉ ra vai trò, vị thế trên thị trường, còn lợi nhuận chỉ ra chất lượng và hiệu quả cuối cùng của DN 2 yếu tố này thể hiện vai trò và vị thế của DN Doanh thu thuần, lợi nhuận sau thuế, tỷ suất sinh lợi trên doanh thu càng lớn thì DN lại càng có vai trò và vị thế cao trên thị trường
Hệ số ROS = Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu thuần
1.6.2.2 Hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu khả năng hoạt động
Các chỉ tiêu khả năng hoạt động là một trong những tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Các chỉ tiêu này thường được các nhà phân tích
sử dụng bao gồm:
Trang 31+ Vòng quay tổng tài sản (TAU):
Doanh thu thuần TAU =
Tổng tài sản bình quân
Vòng quay tài sản cho biết, bình quân một đồng tài sản doanh nghiệp sử dụng trong năm mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu thuần Các tỷ số vòng quay càng lớn và có xu hướng gia tăng sẽ cho biết doanh nghiệp sử dụng tài sản càng hiệu quả và ngược lại
+ Vòng quay các khoản phải thu (RP): Vòng quay các khoản phải thu phản
ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả quản trị các khoản phải thu của doanh nghiệp và được tính toán như sau:
Doanh thu thuần
RP =
Các khoản phải thu bình quân
Hệ số vòng quay các khoản phải thu thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị các khoản phải thu là tốt hay xấu qua từng năm Hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm
sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và
có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này, điều này đương nhiên sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giả sử 1 năm là 365 ngày thì Kỳ thu tiền bình quân được xác định như sau:
365 ACF =
Vòng quay các khoản phải thu
Chỉ số này cho biết số ngày trung bình mà một công ty cần có để thu hồi lại tiền bán hàng sau khi đã bán được hàng Nếu như kỳ chuyển đổi các khoản phải thu ở mức
Trang 32thấp thì có nghĩa là công ty chỉ cần ít ngày để thu hồi được tiền khách còn nợ Nếu tỷ lệ này cao thì có nghĩa là công ty chủ yếu là bán chịu cho khách hàng, thời gian nợ dài hơn
+ Vòng quay hàng tồn kho (IP): Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả
năng quản trị hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ Vòng quay hàng tồn kho được đo lường như sau:
Doanh thu thuần
IP =
Giá trị hàng tồn kho bình quân
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp Cần lưu ý, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao
là xấu Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng Giả
sử 1 năm là 365 ngày thì Kỳ lưu kho bình quân được xác định như sau:
Trang 331.6.2.3 Hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng chi phí
Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng chi phí là một trong những tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Các chỉ tiêu này thường được các nhà phân tích sử dụng bao gồm:
+ Hiệu suất sử dụng chi phí kinh doanh:
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng chi phí kinh doanh =
Chi phí kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí kinh doanh bỏ ra sẽ mang lại được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí kinh doanh càng tốt
+ Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí kinh doanh:
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí kinh doanh =
Chi phí kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí kinh doanh bỏ ra sẽ mang lại được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí kinh doanh càng tốt
1.6.2.4 Hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động
Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động là một trong những tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Các chỉ tiêu này thường được các nhà phân tích sử dụng bao gồm:
+ Năng suất lao động:
Doanh thu thuần Năng suất lao động =
Số lao động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết bình quân 1 lao động tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong năm Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng lao động càng tốt và ngược lại
Trang 34+ Sức sinh lời lao động:
Lợi nhuận sau thuế Sức sinh lời lao động =
Số lao động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết bình quân 1 lao động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế qua một năm Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng lao động càng tốt và ngược lại
1.6.2.5 Hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã hội
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã hội là một trong những tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Các chỉ tiêu này thường được các nhà phân tích sử dụng bao gồm:
+ Tỷ lệ nộp Ngân sách nhà nước trên doanh thu thuần:
Nộp ngân sách nhà nước Nộp NSNN trên doanh thu thuần =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết bình quân 1 doanh thu tạo ra sẽ đóng góp cho ngân sách Nhà nước bao nhiêu đồng qua một năm Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả kinh
tế xã hội càng tốt và ngược lại
+ Tỷ lệ nộp Ngân sách nhà nước trên tổng nguồn vốn:
Nộp ngân sách nhà nước Nộp NSNN trên tổng nguồn vốn =
Tổng nguồn vốn bình quân
Chỉ tiêu này cho biết bình quân 1 vốn sử dụng sẽ đóng góp cho ngân sách Nhà nước bao nhiêu đồng qua một năm Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả kinh tế xã hội càng tốt và ngược lại
1.7 Các phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sau khi xác định chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta thường dùng các phương pháp phân tích, so sánh để đánh giá hiệu quả, so sánh các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh kỳ phân tích với
Trang 35kỳ trước hay với kế hoạch của doanh nghiệp; hoặc so sánh với các chỉ tiêu của các doanh nghiệp khác trong ngành
Sau khi đã có được những đánh giá chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ta đi phân tích cụ thể từng yếu tố đầu vào ảnh hưởng tới quan hệ sản xuất kinh doanh như lao động, nguyên vật liệu, tài sản cố định…để từ đó tìm ra được những biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả trong doanh nghiệp
Trong toàn bộ quá trình phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh, cần đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế của các chỉ tiêu, các phương pháp tính các chỉ tiêu cũng như thống nhất đơn vị tính toán cả về khối lượng, thời gian, giá trị
1.7.2 Phương pháp phân tích tài chính Dupont
- Khái niệm, nguồn gốc và ứng dụng
+ Khái niệm
Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một công ty bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bảng cân đối kế toán Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định (Nguyễn Tấn Bình, 2008)
+ Các bước trong phương pháp Dupont
o Thu nhập số liệu kinh doanh (từ bộ phận tài chính)
Trang 36o Tính toán (sử dụng bảng tính)
o Đưa ra kết luận
o Nếu kết luận xem xét không chân thực, kiểm tra số liệu và tính toán lại
- Mô hình
+ Thu nhập trên tổng tài sản (ROA)
Từ mô hình phân tích tài chính Dupont ta thấy, số vòng quay tài sản càng cao, điều đó chứng tỏ rằng sức sản xuất tài sản của công ty ngày càng lớn Do vậy làm cho ROA càng lớn, để nâng cao số vòng quay của tài sản, một mặt phải tăng quy mô về doanh thu thuần, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm và hợp lý hơn cơ cấu của tổng tài sản Như vậy, doanh thu thần và tổng tài sản bình quân có mối quan hệ mật thiết với nhau (thông thường là mối quan hệ cùng chiều) Nghĩa là tổng tài sản tăng thì doanh thu thuần cũng tăng
Tỷ lệ lãi theo doanh thu phụ thuộc vào 2 nhân tố cơ bản là: lợi nhận thuần và doanh thu thuần, hai nhân tố này có mối quan hệ cùng chiều Nghĩa là doanh thu thuần tăng sẽ làm cho lợi nhận thuần tăng Do đó, để tăng doanh thu thần, ngoài việc phải giảm các khoản giảm trừ doanh thu, còn phải giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, Đồng thời thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm, để tăng giá bán góp phần làm tăng tổng mức lợi nhuận
Sức sinh lời trên đầu tư = Khả năng sinh lời trên DS x Hiệu suất của tài sản
Đo lường hiệu quả trong việc
sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu
Đo lường hiệu quả chung về
khả năng sinh lợi bằng tài sản
hiện có.
Thu nhập
trên đầu tư =
Lợi nhuận ròng sau thuế
Tổng tài sản
Đo lường khả năng sinh lợi trên doanh thu
Lợi nhuận ròng biên
Lợi nhuận ròng sau thuế
Doanh thu thuần
Trang 37Hình 1.1 Mô hình Dupont tính ROA + Thu nhập trên vốn chủ (ROE)
ROE là thông số dùng để đo lường hiệu suất chung của công ty , cho biết hiệu quả của công ty trong việc tạo ra thu nhập cho các cổ đông của họ
ROE xem xét lợi nhuận ròng trên mỗi đồng tiền của vốn chủ sở hữu mang đi đầu tư, nói cách khác đó là phần trăm lợi nhuận thu được của chủ sở hữu trên vốn đầu
tư của mình
Tỷ suất lợi nhuận theo tài sản
Tỷ lệ lãi theo doanh thu
Tổng tài sản
Doanh thu thuần
Doanh thu thuần
Lợi nhuận
thuần
Tổng chi phí
Doanh thu
thuần
Tổng TS dài hạn
Tổng TS ngắn hạn
Vốn bằng tiền, phải thu
Vốn vật tư hàng hóa
Chi phí sản xuất
Chi phí ngoài sản
xuất
Tỷ lệ lãi theo tài sản
Trang 38Từ công thức trên ta thấy có 3 chỉ số để quản lí ROE
Tỷ suất sinh lời của DT(P): lãi ròng thu được trên mỗi đồng doanh thu hay còn gọi là tỷ suất lợi nhuận ròng
Vòng quay tài sản(A): doanh thu tạo được từ mỗi đồng tài sản
Đòn bẫy tài chính(T): lượng VCSH được sử dụng để tài trợ (tài chính) cho tài sản ở công ty Ngoài ra còn một số trường hợp ngoại lệ là bất cứ hoạt động nào mà nhà quản trị làm để nâng cao hệ số này đều làm tăng ROE
- Ưu nhược điểm của mô hình
+ Ưu điểm
Tính đơn giản Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp cho mọi người kiến thức căn bản giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của công ty
Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách đãi ngộ đối với nhân viên
Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài bước cải tổ nhằm chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng Đôi khi điều cần làm trước tiên là nên nhìn vào thưc trạng của công ty Thay vì tìm cách thôn tính công ty khác nhằm tăng thêm doanh thu và hưởng lợi thế nhờ quy mô, để bù đắp khả năng sinh lợi yếu kém
+ Nhược điểm:
Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy
Không bao gồm chi phí vốn
Mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết và số liệu đầu vào
- Ứng dụng
Các ứng dụng của mô hình Dupont:
Mô hình có thể được sử dụng bởi bộ phận thu mua và bộ phận bán hàng để khảo sát hoặc giải thích kết quả của ROE, ROA,…
So sánh với những hãng khác cùng ngành kinh doanh
Phân tích những thay đổi thường xuyên theo thời gian
Cung cấp những kiến thức căn bản nhằm tác động đến kết quả kinh doanh của công ty
Cho thấy sự tác động của việc chuyên nghiệp hóa chức năng mua hàng (Dương Hữu Hạnh, 2009)
Trang 391.7.3 Phương pháp phân tích phi tài chính
Trong điều kiện nguồn lực ngày càng khan hiếm, sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt đòi hỏi các DN phải đánh giá đúng đắn HQKD của mỗi bộ phận trong
DN cũng như toàn DN để có các quyết định đúng đắn Thời gian gần đây, quan điểm
về đánh giá HQKD trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể Trước đây người ta chỉ chú ý đến HQKD ngắn hạn thì gần đây các DN chú ý nhiều hơn đến đánh giá HQKD dài hạn Về các chỉ tiêu đánh giá HQKD cũng có nhiều thay đổi, nếu như trước đây người ta thường chỉ chú ý sử dụng chỉ tiêu tài chính để đánh giá HQKD là chủ yếu, thì hiện nay các chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN không chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu tài chính mà đã bao gồm cả các chỉ tiêu phi tài chính Hạn chế của hệ thống chỉ tiêu tài chính là không gắn với chiến lược, do vậy không giúp cho các DN đánh giá khả năng thực hiện thành công chiến lược Trong môi trường cạnh tranh, chiến lược kinh doanh
là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của DN, giúp DN đạt được thành công trên thương trường Để giúp DN thực hiện thành công chiến lược, hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN phải gắn với chiến lược của DN và phải đo lường được hiệu quả chiến lược Quan điểm này đã nhận được sự đồng tình của nhiều học giả Sau năm 1980, nhiều mô hình đánh giá HQKD được đề xuất Tiêu biểu trong các mô hình này là mô hình ma trận đánh giá HQKD của Keegan, Eiler và Jones từ 1989 (Neely, 2007: 145);
mô hình Kim tự tháp SMART của Lynch và Cross (1991); mô hình kết quả và yếu tố quyết định (Result and Determinants Framework) của Fitzgerald và cộng sự (1991),
mô hình câu hỏi đánh giá HQKD (Performance Measurement Questionnaire) của Dixon và cộng sự (1990), Mô hình Lăng kính hiệu suất của Neely (2001), v.v Nổi bật hơn cả trong các mô hình trên là mô hình Thẻ điểm cân bằng (Balance Scorecard) đánh giá HQKD dưới nhiều khía cạnh khác nhau do Kaplan và Norton đề xuất vào đầu những năm 1990 (Bourne, 2008)
Trong nghiên cứu này, các chỉ tiêu đo lường hiệu quả phi tài chính được thực hiện thông qua đo lường hiệu quả kinh doanh cảm nhận
Đo lường hiệu quả kinh doanh cảm nhận: Kết quả kinh doanh có thể được mô
tả trong mối quan hệ với các đo lường khách quan như doanh thu, lợi nhuận, các biện pháp marketing hoặc bằng các đo lường chủ quan như sự hài lòng của khách hàng Kết quả kinh doanh là những nỗ lực của một công ty để bán hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra
Trang 40thị trường Bên cạnh các chỉ tiêu đo lường khách quan, có nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau được sử dụng để đánh giá cảm nhận các kết quả kinh doanh phụ thuộc vào các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá (kinh tế, hành vi, tình huống, chiến lược hoặc đánh giá tổng thể), khung tham chiếu (đối thủ cạnh tranh tuyệt đối hay tương đối), thời gian định hướng (tĩnh hoặc động) (Carneiro 2006) Bản chất của kết quả kinh doanh cũng thay đổi theo đơn vị phân tích và ra quyết định (công ty, một đơn vị kinh doanh chiến lược, một hoặc tất cả các công việc kinh doanh xuất khẩu), các phương thức đánh giá, cấu trúc chỉ số (một hoặc nhiều tiêu chí) (Carneiro, 2007) Tuy nhiên, một định nghĩa khái niệm của kết quả kinh doanh nên bao gồm ý nghĩa của hai thành phần này: kết quả kinh doanh và hoạt động kinh doanh (Shoham, 1998) Nghiên cứu này xác định kết quả kinh doanh bao gồm đánh giá tổng thể khách quan và chủ quan của
một công ty về sự thành công kinh doanh trên thương trường (Carneiro, 2007)
Thang đo hiệu quả kinh doanh cảm nhận của Zou et al (1998) Zou, S., Taylor, C.R and Osland, G.E (1998), “The EXPERF scale: a cross-national generalized
export performance measure,” Journal of International Marketing, Vol 6 No 3, pp
37-58, gồm 3 nhóm tiêu chí lớn: tài chính (đạt lợi nhuận, qui mô lớn, tăng trưởng cao), chiến lược (cạnh tranh toàn cầu, có chiến lược, đạt thị phần lớn), hài lòng (đạt hiệu suất, rất thành công, đạt mong đợi)
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn đã trình bày một số lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động của công ty, bản chất của hiệu quả hoạt động Ngoài ra, chương còn trình bày về các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động tại công ty: phương pháp tài chính, phi tài chính, định lượng, hệ thống quản lý chiến lược