sáng kiến kinh nghiệm mới nhất năm 2017 2018, sang kiến kinh nghiệm cực hay không cần chỉnh sửa, chỉ việc in.sáng kiến kinh nghiệm mới nhất năm 2017 2018, sang kiến kinh nghiệm cực hay không cần chỉnh sửa, chỉ việc insáng kiến kinh nghiệm mới nhất năm 2017 2018, sang kiến kinh nghiệm cực hay không cần chỉnh sửa, chỉ việc in.sáng kiến kinh nghiệm mới nhất năm 2017 2018, sang kiến kinh nghiệm cực hay không cần chỉnh sửa, chỉ việc insáng kiến kinh nghiệm mới nhất năm 2017 2018, sang kiến kinh nghiệm cực hay không cần chỉnh sửa, chỉ việc in.sáng kiến kinh nghiệm mới nhất năm 2017 2018, sang kiến kinh nghiệm cực hay không cần chỉnh sửa, chỉ việc in
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn đề tài:
Môn Toán lớp 5 là một bộ phận của chương trình toán ở bậc tiểu học.Chương trình tiếp tục thực hiện những yêu cầu đổi mới sâu hơn (so với giaiđoạn trước) về giáo dục dục phổ thông, nhằm đáp ứng những yêu cầu mới củagiáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay Một trong những nội dung cơ bảncủa chương trình dạy học môn Toán tiểu học nói chung, chương trình môn Toánlớp 5 nói riêng là giải toán có lời văn Mảng kiến thức giải toán có lời văn làmảng kiến thức quan trọng trong chương trình môn Toán lớp 5 vì đây là mảngkiến thức được ứng dụng nhiều trong thực tiễn, một mảng kiến thức tương đốikhó, trừu tượng và đa dạng tổng hợp nhiều mạch kiến thức khác nhau
Dạy - học về “giải toán có lời văn” không chỉ củng cố các kiến thức toán
học có liên quan mà còn giúp học sinh gắn lí thuyết với thực hành, gắn conngười với thực tế cuộc sống lao động và sản xuất Qua việc giải các bài toán có
lời văn, học sinh có hiểu biết thêm về thực tế cuộc sống ,vận dụng kiến thức vào
việc tính toán trong thực tế Đồng thời rèn luyện những phẩm chất không thể
thiếu của người lao động đối với học sinh Tiểu học Nhưng việc dạy - học “giải toán có lời văn” không phải là việc dễ đối với cả giáo viên và học sinh tiểu học,
mà cụ thể là giáo viên và học sinh lớp 5 Để tìm ra phương pháp dạy - học giảitoán sao cho đạt hiệu quả cao nhất là một việc làm khó.Vì vậy yêu cầu ngườigiáo viên phải xác định rõ yêu cầu về nội dung, mức độ cũng như phương phápdạy học từng nội dung Từ đó nhằm tạo ra một hệ thống phương pháp dạy họcphù hợp với đối tượng học sinh, đáp ứng được yêu cầu về đổi mới PPDH ở Tiểuhọc Để đạt các mục tiêu yêu cầu nêu trên đòi hỏi giáo viên phải tổ chức cáchoạt động học tập phù hợp, giúp học sinh nắm vững các khái niệm toán học cơbản, cấu trúc phép tính, các thuật ngữ toán, trình tự giải một bài toán; các bướcgiải toán; trú trọng rèn kĩ năng giải toán
Mặt khác, xuất phát từ việc giải toán trong các trường tiểu học nói chungđối với từng khối, lớp ở từng trường nói riêng còn gặp những khó khăn nhấtđịnh: Học sinh chưa nắm chắc các dạng toán, các kiến thức cơ bản cần ghi nhớ,còn mơ hồ trong quá trình giải toán, chưa tuân thủ theo một trình tự giải nhấtđịnh, nắm chưa vững các bước giải toán, tính sáng tạo, linh hoạt khi giải toáncòn hạn chế, trình bày bài giải chưa khoa học, Làm thế nào để giúp học sinhhọc nắm chắc cách giải các bài toán có lời văn? Đó là câu hỏi đặt ra cho không ítgiáo viên tiểu học Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu những thuận lợi và khókhăn trong quá trình giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh tôi mạnh
1
Trang 2dạn đưa ra một số cách thức: “Nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5”.
II Mục đích - Nhiệm vụ nghiên cứu:
1 Mục đích:
Từ những thực tế giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh, việcnghiên cứu một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 giải toán có lời văn nhằm mụcđích sau:
- Tìm và phân tích những ưu điểm và hạn chế trong quá trình dạy và học củagiáo viên và học sinh
- Nghiên cứu tìm ra biện pháp khắc phục những hạn chế trong giảng dạy, tổngkết kinh nghiệm nhằm hướng tới mục đích đưa ra một số bài học kinhnghiệm về nội dung, phương pháp dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5 màtôi đã thực hiện thành công, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy vàhọc môn toán lớp 5 bậc tiểu học
- Giúp học sinh có hứng thú hơn, tự tin hơn khi học giải toán có lời văn
- Phương pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh Nâng cao hiệu quả của việcdạy giải toán
- Học sinh biết vận dụng các hiểu biết và kĩ năng vào trong cuộc sống thực tếđồng thời góp phần hoàn thiện chúng
- Bồi dưỡng vun đắp tính ham hiểu biết khám phá, lòng kiên trì, góp phần hìnhthành nhân cách của con người Việt Nam trong thời đại mới
2 Nhiệm vụ:
- Sản phẩm của môn Toán là các bài toán được học sinh trình bày cách giải đồngthời vận dụng những kiến thức kĩ năng đã học vào thực tế cuộc sống một cáchsáng tạo Để đạt được điều đó học sinh phải có thêm nhiều kĩ năng khác ngoàicác kĩ năng nghe, nói, đọc, viết , kĩ năng phân tích tổng hợp, Đó là các kĩ năngphân tích đề, suy luận lo gíc
- Ở Tiểu học môn Toán góp phần rèn luyện tư duy lô gíc suy luận, từ khả năngtái hiện các dữ kiện đã thu thập được tới khả năng sắp xếp xâu chuỗi các dữ kiệnđể tìm ra cách giải hợp lí nhất, … và tư duy lôgíc của học sinh cũng được pháttriển
- Thông qua việc dạy toán các em thấy được cuộc sống xung quanh có nhiềuđiều thú vị hấp dẫn … Từ đây tâm hồn và nhân cách của các em hình thành vàphát triển Như vậy dạy giải toán có một ý nghĩa to lớn vì nó có cả các nhiệm vụgiáo dưỡng, giáo dục và phát triển Để đạt được mục đích đó, đề tài đặt ra chotôi giải quyết các nhiệm vụ:
Trang 3+ Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học Toán ở tiểu học (chương trìnhmới).
+ Điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học
+ Thực nghiệm dạy học tìm hiểu môn Toán lớp 5, dạy học sinh giải toán nóichung và giải toán có lời văn nói riêng Qua nghiên cứu thực tế giảng dạy tôithấy việc giải toán của học sinh còn rất nhiều hạn chế, nên bản thân cố gắng làm
sao đó được đóng góp ý kiến nhỏ của mình cùng với bạn đồng nghiệp tìm ra một
số biện pháp nhằm khắc phục khiếm khuyết trong dạy cho học sinh học kĩ năng
“giải toán có lời văn ”.
III Đối tượng nghiên cứu:
- Chương trình môn Toán lớp 5 do Bộ GD và ĐT ban hành
- Phương pháp dạy học, chuyên đề dạy học môn Toán bậc tiểu học nói chung vàmôn toán lớp 5 nói riêng
- Giáo viên và học sinh lớp 5 ( người dạy và người học) Đó là hai yếu tố gắnchặt và tác động lẫn nhau
IV Phương pháp nghiên cứu:
1 Để hoàn chỉnh đề tài này tôi đã nghiên cứu những tài liệu sau:
- SGV Toán 5, SGK Toán 5 của BGD
- Tạp chí Toán tuổi thơ do BGD phát hành
- Sách bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5
- Tài liệu bồi dưỡng chương trình và sách giáo khoa lớp 5 (mới)
- Các chuyên đề của Thành phố và Phòng giáo dục
2 Cách thức tiến hành
- Khảo sát tình hình thực tế
- Dự giờ thăm lớp
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp điều tra, đối chiếu
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của học sinh
- Phương pháp thực hành
- Học hỏi từ kinh nghiệm của đồng nghiệp, tham gia sinh hoạt chuyên môn, đọctạp chí, sách báo có liên quan, tổng kết kinh nghiệm day học của bản thân quanhiều năm công tác Qua đó tôi sẽ rút kinh nghiệm cho bản thân mình và rútkinh nghiệm cho tiết dạy Khắc phục những điểm chưa tốt trong dạy giải toánnói chung và dạy giải toán có lời văn nói riêng
V Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 9/2016 đến tháng 5/2017
3
Trang 4- Khảo sát, điều tra thực trạng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinhlớp 5.
- Tìm hiểu và đề ra những biện pháp khắc phục và áp dụng vào thực tế giảngdạy
- Cuối học kì II năm học 2016 - 2017, tổng kết đánh giá và rút kinh nghiệm
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lí luận và thực tiễn:
1 Thế nào là “kĩ năng giải toán”?
- Giải toán là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được từ quá trínhhọc tập để giải một bài toán cụ thể
- “Kĩ năng giải toán” là vận dụng kiến thức toán thu nhận được vào giải toán,luyện cho được và ở mức thuần thục.Vậy dạy giải toán là gắn lí thuyết với thựchành là hai quá trình có quan hệ mật thiết với nhau
Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy mônToán ở bậc Tiểu học Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ vớinội dung của số học và số học tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bảnvà các yếu tố đại số , hình học có trong chương trình Vì vậy, việc giải toán cólời văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các điểm sau:
Các khái niệm và các quy tắc giải toán trong sách giáo khoa, nói chung đềuđược giảng dạy thông qua việc giải toán Việc giải toán giúp học sinh củng cốvận dụng các kiến thức, rèn luyện các kĩ năng tính toán Đồng thời qua việc giảitoán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện ra những ưu điểm hoặcthiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng và tư duy để giúp các em phát huy vàkhắc phục
Việc kết hợp lí thuyết với thực hành, kết hợp giảng dạy với đời sống đượcthực hiện thông qua việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với cuộcsống một cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kĩ năngthực hành cần thiết trong đời sống hằng ngày giúp các em biết vận dụng những
kĩ năng đó trong cuộc sống
Việc giải toán góp phần quan trọng vào rèn luyện cho học sinh năng lực tưduy và những đức tính tốt của con người lao động mới Hoạt động trí tuệ cótrong trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý chí vượt khó khăn,đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có hiệu quả, có kế hoạch, thói quen xem xét
có căn cứ, có thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, có óc độc lập,suy nghĩ sáng tạo, tự tìm ra những lời giải mới hay và ngắn gọn
2 Mục tiêu dạy học giải toán có lời văn lớp 5:
Trang 5* Về kiến thức và kĩ năng: Học sinh biết giải, trình bày bài giải các bài toán cóđến 4 bước tính.
- Các bước giải toán:
+ Đọc đề toán
+ Tóm tắt đề toán
+ Phân tích đề toán để tìm cách giải
+ Trình bày cách giải bài toán và thử lại kết quả
+ Khai thác và mở rộng bài toán
3 Nội dung dạy giải bài toán có lời văn ở lớp 5
Chương trình sách giáo khoa lớp 5 hiện nay có
- Các bài toán liên quan đến tỉ số (ôn tập đầu năm)
- Các bài toán liên quan đến quan hệ tỉ lệ ( bổ sung ở phần ôn tập đầu năm)
- Các bài toán về tỉ số phần trăm
- Các bài toán về chuyển động đều
- Các bài toán có nội dung hình học
Trong môn Toán 5, nội dung dạy giải toán có lời văn được sắp xếp đan xenphù hợp với Tiếp tục như lớp 1,2,3 nội dung dạy học “Giải toán có lời văn ở lớp5” được xây dựng theo định hướng chủ yếu giúp học sinh rèn luyện phươngpháp giải toán (phân tích đề toán, tìm cách giải quyết và trình bày bài giải) giúphọc sinh khả năng diễn đạt (nói và viết) khi muốn nêu “tình huống” trong bàitoán, trình bày được “cách giải” bài toán, biết viết “câu lời giải” và “phép tínhgiải”…
Các bài toán có lời văn ở lớp 5 có xu hướng giảm tính “phức tạp” và “độkhó” quá mức đối với học sinh
4 Phân loại các dạng toán có lời văn trong chương trình môn toán lớp 5
Ở lớp 5 có thể chia các bài toán hợp thành hai nhóm chính sau:
- Nhóm 1 : gồm các bài toán hợp mà quá trình giải không theo một phương pháp thống nhất cho các bài toán đó
- Nhóm 2 : Gồm các bài toán điển hình, các bài toán mà quá trình giải cóphương pháp riêng, có công thức cho từng dạng bài toán như :
- Các bài toán có liên quan đến việc “Rút về đơn vị” dạng a : b x c
- Các bài toán có liên quan đến việc rút về đơn vị dạng a : (b : c)
- Các bài toán về “ trung bình cộng của nhiều số”
- Bài toán về “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của chúng”
- Bài toán về “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của chúng
- Bài toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng”
5
Trang 6- Các bài toán về “tỉ số phần trăm”
- Các bài toán về “ chuyển động động đều”
- Các bài toán có nội dung hình học kết hợp với các tình huống đơn giản trongthực tế về :
+Tính chu vi, diện tích, thể tích…
+Tính sản lượng, năng suất…
+Tính tiền vốn, tiền lãi …
5 Các phương pháp dạy học giải toán
a/ Phương pháp trực quan:
b/Phương pháp gợi mở - vấn đáp:
c/ Phương pháp thực hành và luyện tập:
d/ Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng:
e/ Phương pháp giảng giải-minh hoạ:
II Thực trạng.
Việc dạy học giải toán có lời văn nói chung không phải là việc dễ đối vớicả giáo viên và học sinh tiểu học cụ thể là giáo viên và học sinh lớp 5 Qua thựctế giảng dạy đại trà và bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi thấy trong quá trình dạycủa giáo viên và học của học sinh còn hay mắc phải một số tồn tại cơ bản sauđây:
1)Về phía giáo viên.
- Nhiều giáo viên chưa nghiên cứu kĩ mục tiêu của bài dạy, từng dạng toánnhững yêu cầu về kiến thức kĩ năng sau khi học xong dạng toán này thườngdựa dẫm ỷ lại vào sách giáo khoa và sách hướng dẫn, truyền đạt kiến thức chohọc sinh một cách máy móc nên học sinh cũng tiếp thu chưa đầy đủ hiểu lơ
mơ dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn khi tìm cách giải và hay nhầm lẫn khigiải toán
- Việc mở rộng và nâng cao kiến thức cho học sinh là rất cần thiết xong phảitrên cơ sở học sinh đã nắm chắc các kiến thức cơ bản trong sách giáo khoanhưng thực tế nhiều giáo viên chưa thực sự coi trọng Trong giảng dạy giáoviên còn lúng túng hoặc chưa coi trọng việc phân loại kiến thức và trình độhoc sinh Do đó học sinh chưa phát huy hết khả năng trong học tập
- Giáo viên chưa thật triệt để trong việc đổi mới PPDH, học sinh chưa thựcsự chủ động tìm đến kiến thức, chủ yếu giáo viên còn cung cấp kiến thức mộtcách áp đặt, không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh và họcsinh chỉ biết làm theo những gì đã học được nên giải toán một cách rập khuônmáy móc chưa thể hiện tính sáng tạo trong giải toán
- Khi dạy mỗi dạng bài nâng cao chúng ta còn chưa tuân thủ nguyên tắc từ bài
Trang 7dễ đến bài khó, từ bài đơn giản đến bài phức tạp nên học sinh tiếp thu và ghinhớ kiến thức chưa có hệ thống
2)Về phía học sinh:
Đây là một phần kiến thức khá khó đối với học sinh đặc biệt là nhóm họcsinh yếu và trung bình, khả năng tư duy của nhóm những học sinh này chưa tốt ,khi làm bài tập nhiều em không nhận dạng được bài toán dẫn đến giải sai Nhiều
em còn phạm phải những sai lầm đáng tiếc trong việc tiếp thu kiến thức cơ bảndẫn đến việc nhầm lẫn khi tìm cách giải.Vì đây là một mảng kiến thức tổnghợp tương đối khó và phức tạp đòi hỏi học sinh phải có vốn kiến thức cơ bảnvững chắc, biết sử dụng linh hoạt và sáng tạo các kiến thức đó nên trong quátrình tiếp thu các em còn hay mắc phải một số trở ngại sau đây:
- Việc nắm bắt các kiến thức cơ bản về từng dạng bài của các em còn chưasâu Đôi khi còn hay lẫn lộn một cách đáng tiếc Chưa phân biệt được mốiliên quan và sự khác nhau cơ bản giữa một số dạng bài, trong quá trình thựchiện phép tính còn hay ngộ nhận
- Các dạng toán nâng cao đa phần khó nên việc hướng dẫn học sinh tóm tắt vàtìm cách giải thực sự là thách thức đối với giáo viên Nếu không có những giảipháp hữu hiệu dễ dẫn đến bế tắc đối với giáo viên và chán nản đối với nhiều họcsinh Việc vận dụng các kiến thức cơ bản vào thực hành còn gặp nhiều hạnchế, các em hay bắt chước các bài thầy cô giáo hướng dẫn mẫu để thực hiệnyêu cầu của bài sau nên dẫn đến nhiều sai lầm cơ bản
Để thấy rõ tình hình thực trạng của việc dạy và học giải toán có lời văncũng như những sai lầm mà học sinh thường mắc phải, tôi đã tiến hành khảo sáttrên hai lớp 5 Tôi chọn một lớp 5 là lớp tiến hành dạy thực nghiệm, lớp còn lạilà lớp đối chứng
Đề kiểm tra có nội dung như sau:
Bài 1: Một khối kim loại có thể tích 3,2 cm3 cân nặng 22,4 g Hỏi một khối kimloại cùng chất có thể tích là 4,5 cm3 cân nặng bao nhiêu gam?
Bài 2: Quãng đường AB dài 180 km Cùng một lúc một ôtô đi từ A đến B vớivận tốc 54 km/h và một xe máy đi từ B đến A với vận tốc 36 km/h Hỏi sau baulâu ôtô gặp xe máy ?
Bài 3: 10 người làm xong một công việc phải hết 7 ngày Nay muốn làm xongcông việc đó trong 5 ngày thì cần bao nhiêu người ? (Mức làm của mỗi ngườinhư nhau)
Bài 4: Tìm diện tích hình chữ nhật Biết rằng nếu chiều dài tăng 20% và chiềurộng giảm 20% số đo thì diện tích bị giảm 30 m2
V i ới đề bài trên tôi thu được kết quả như sau: đề bài trên tôi thu được kết quả như sau: ài trên tôi thu được kết quả như sau: b i trên tôi thu được kết quả như sau:c k t qu nh sau:ết quả như sau: ả như sau: ư
7
Trang 8III Những vấn đề cần giải quyết.
Từ thực tế trên tôi nhận thấy vấn đề cần giải quyết là giáo viên phải tìm cáchkhắc phục yếu kém cho học sinh, kiên trì rèn kĩ năng cho các em từ đơn giảnđến phức tạp Chú trọng thực hiện một số yêu cầu cơ bản sau:
+ Rèn kĩ năng nhận dạng đối với từng dạng toán cho học sinh.
+ Giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về các dạng toán đã được học, hệ thống các kiến thức cần ghi nhớ.
+ Giúp các em vận dụng các kiến thức cơ bản để giải tốt các bài dạng bài.
1 Hệ thống và củng cố cho học sinh các kiến thức cần nhớ về một số dạng toán có lời văn đã được học :
a - Tìm số trung bình cộng: Số TBC = Tổng các số hạng : số các số hạng.
b - Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số:
Số bé = (Tổng – hiệu ): 2
Số lớn = tổng –số bé
Hoặc số lớn = (tổng + hiệu) : 2
Số bé = tổng – số lớn
c - Tìm hai số biết tổng và tỉ số của hai số:
Tìm số bé = ( Tổng : Tổng số phần bằng nhau) x phần chỉ số bé
Tìm số lớn = ( Tổng : Tổng số phần bằng nhau) x phần chỉ số lớn
d - Tìm hai số biết hiệu và tỉ số của hai số:
Tìm số bé = ( Hiệu : Hiệu số phần bằng nhau) x phần chỉ số bé
Tìm số lớn = ( Hiệu : Hiệu số phần bằng nhau) x phần chỉ số lớn
e - Bài toán liên quan đến tỉ lệ:
+ Giải bằng phương pháp rút về đơn vị
+ Giải bằng phương pháp dùng tỉ số
Trang 9g - Giải bài toán về tỉ số phần trăm:
- Củng cố ba bài toán về tỉ số phần trăm
h - Giải các bài toán về chuyển động đều.
v = s : t (trong đó v là vận tốc , s là quãng đường, t là thời gian.)
s = v x t (trong đó v là vận tốc , s là quãng đường, t là thời gian.)
t = s : v (trong đó v là vận tốc , s là quãng đường, t là thời gian.)
(Trong đó: Các đại lượng phải cùng sử dụng trong một hệ thống đơn vị đo)
i - Giải bài toán có nội dung hình học:
- Hình chữ nhật:
P = (a + b ) x 2; S = a x b
Trong đó : P là chu vi, S là diện tích
a là chiều dài, b là chiều rộng
- Hình vuông:
P = a x 4; S = a x a
Trong đó : P là chu vi, S là diện tích
a là độ dài cạnh hình vuông
- Hình tam giác:
Trong đó : C là chu vi, S là diện tích,
R là bán kính, d là đường kính
- Hình hộp chữ nhật:
Sx
2
a
Trang 10Sxq = a x 4
Stp = a x 6
V = a x a x a
2 Hướng dẫn cụ thể với các dạng toán cơ bản thường gặp như sau:
Dạng 1: Các bài toán về trung bình cộng:
Ví dụ: Trong 2 ngày Lan đọc xong một quyển truyện Ngày thứ nhất Lan đọcđược 20 trang, ngày thứ 2 đọc được 40 trang Hỏi trung bình mỗi ngày Lan đọcđược bao nhiêu trang sách?
Lời giải
Ta có sơ đồ sau:
Số trang sách Lan đọc được trong hai ngày là:
20 + 40 = 60 (trang)Trung bình mỗi ngày Lan đọc được là:
60 : 2 = 30 (trang) Đáp số :30 trang
Bài 2
Một gia đình gồm 3 người (bố, mẹ ,một con ).Bình quân thu nhập hàng thánglà 800 000 đồng mỗi người Nếu gia đình đó có thêm một con nữa mà tổng thunhập của gia đình không đổi thì bình quân thu nhập hàng tháng của mỗi người bịgiảm đi bao nhiêu?
Tóm tắt phân tích đề :
Số thu nhập bình quân giảm ? (200 000)
Số thu nhập mỗi người lúc đầu - số thu nhập Tổng số thu nhập chia cho sốngười mỗi người lúc sau
(800 000 – 600 000) (2400 000 : 4)
Bình quân thu nhập lúc đầu nhân với số người lúc đầu , số người lúc đầu thêm 1 (800 000 x 3) (3 +1)
Sau đó lật ngược lại lập phép tính từ dưới lên ta sẽ tìm ra lời giải cho cách 1:
Khi có thêm một con nữa gia đình có số người là:
3+1 = 4 (người)Tổng số thu nhập lúc đầu là:
800 000 x 3 = 2400000(đồng)
trang
Trang 11Bình quân thu nhập lúc có thêm em bé là:
2400000 : 4 = 600 000 (đồng)Bình quân thu nhập đã giảm đi là:
800 000 - 600 000 = 200 000(đồng)
Đáp số : 200 000 đồngCách 2 : ( Dựa theo phép tính với phân số)
Số người lúc sau có là 3 + 1 = 4 (người)Tỉ số người lúc đầu so với lúc sau là:
3: 4 =Bình quân thu nhập lúc sau của mỗi người:
800 000 x = 600 000 (đồng/người)Bình quân thu nhập của mỗi người lúc sau giảm là :
800 000 – 600 000 = 200 000 (đồng) Đáp số : 200 000 ( đồng) Với dạng toán trung bình cộng học sinh cần đọc kĩ đầu bài, phân tích, tómtắt đề bài xem đã cho biết những gì, hỏi phải tìm những gì , cái cho biết và cáihỏi phải tìm có mối liên hệ như thế nào? từ đó dựa vào mối liên hệ đó để tìm racách giải phù hợp khoa học và nhanh nhất
Dạng 2 : Ôn và giải toán tìm 2 số khi biết tổng( hiệu) và tỉ số của 2 số :
Ví dụ: Một vườn hoa hình chữ nhật có chu vi là 120 m Chiều rộng bằngchiều dài Người ta sử dụng diện tích vườn hoa để làm lối đi Hỏi diện tích lối
đi là bao nhiêu mét vuông?
Phân tích :
Tính diện tích lối đi :
Diện tích mảnh vườn x
Chiều dài x chiều rộng
120 : 2 = 60 (m)Chiều dài của thửa ruộng là:
60 : (5 + 7 ) x 7 = 35 (m)
11
4 3
4 3
25 1
25 1
Trang 12Chiều dài của thửa ruộng là :
60 - 35 = 25 (m)Diện tích của thửa ruộng là:
35 x 25 = 875 ( m2 )Diện tích lối đi là:
875 x = 35 (m2 ) Đáp số : a - Chiều rộng : 25 m
Dạng 3: Bài toán liên quan đến tỉ lệ
Dạng toán này học sinh có hai phương pháp giải :
+ Phương pháp rút về đơn vị
+ Phương pháp dùng tỉ số
Ví dụ :
Bài 1: Để hút hết nước ở một cái hồ, phải dùng 3 máy bơm làm việc liên tục
trong 4 giờ Vì muốn công việc hoàn thành sớm hơn người ta dùng 6 máy bơmnước như thế Hỏi sau mấy giờ sẽ hút hết nước ở hồ?
Phân tích :
Trong bài này ta thấy có 3 đại lượng: Nước ở hồ là đại lượng không đổi
Số máy bơm và thời gian là hai đại lượng biến thiên theo tỉ lệ nghịch ?
Ta thấy :
3 máy bơm : 4 giờ
1 máy bơm : ? giờ
6 máy bơm : ? giờ
Cách 2 : 6 máy bơm so với 3 máy bơm lớn gấp:
6 : 3 = 2 (lần)
25 1
Trang 13Thời gian để 6 máy bơm hút cạn nước hồ là :
4 : 2 = 2 (giờ)
Đáp số : 2 giờ
Dạng bài tập này học sinh khó khăn không biết cần tìm rút đơn vị của đạilượng nào hay tìm tỉ số của hai giá trị nào? Bởi vậy giáo viên cần định hướngcho học sinh cách tìm đại lượng rút ra đơn vị hay tìm tỉ số của hai giá trị
Bài : Mua 5m vải hết 80 000 đồng.Hỏi mua 7m vải cùng loại hết bao nhiêu tiền?Phân tích và tóm tắt :
Bài này có 2 đại lượng:
Số m vải mua và số tiền mua vải là hai đại lượng biến thiên theo tương quan tỉ lệthuận
Ta thấy 5 m vải : 80 000đồng
16 000 x 7 = 112 000 (đồng ) Đáp số : 112 000 đồng
Bài 2: Một ô tô cứ đi 100 km thì tiêu thụ hết 12 l xăng Nếu ô tô đó đã đi quãng
đường 50 km thì tiêu thụ hết bao nhiêu lít xăng?
Phân tích và tóm tắt tìm cách giải:
Bài này có 2 đại lượng quãng đường đi và số xăng tiêu thụ để đi hết quãngđường đó là hai đại lượng có quan hệ tương quan tỉ lệ thuận với nhau
Cứ 12lít xăng đi được 100 km
1 l xăng đi được ? km
? l xăng: 50 km
Nếu học sinh chưa học về số thập phân thì không thể giải bài toán này bằngphương pháp rút về đơn vị vì khi chia sẽ ra số thập phân, nên chỉ có thể giảibằng phương pháp dùng tỉ số:So sánh xem quãng đường giảm đi bao nhiêu lầnthì số xăng tiêu thụ cũng sẽ giảm đi bấy nhiêu lần