Từ thực tiễn cho thấy, vấn đề quản lý hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực h
Trang 1Nguyễn Anh Minh
QUẢN LÝ DI TÍCH LƯU NIỆM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Nguyễn Anh Minh
QUẢN LÝ DI TÍCH LƯU NIỆM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 9319042
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG VĂN BÀI
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án Tiến sĩ Quản lý di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí
Minh ở Việt Nam là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các trích dẫn, số liệu và
kết quả nêu trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Anh Minh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 3
DANH MỤC CÁC MÔ HÌNH, BẢNG TRONG LUẬN ÁN 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LƯU NIỆM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM 12
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 12
1.2 Khái niệm liên quan đến quản lý di tích lưu niệm 26
1.3 Khát quát về di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam 34
Tiểu kết 42
CHƯƠNG 2:LƯU NIỆM DANH NHÂN TRONG LỊCH SỬ VÀ MÔ HÌNH QUẢN LÝDI TÍCH LƯU NIỆM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM 44
2.1 Lưu niệm danh nhân trong lịch sử 44
2.2 Mô hình quản lý và cơ cấu tổ chức bộ máy di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam 54
Tiểu kết 68
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LƯU NIỆM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM 70
3.1 Nguồn lực quản lý di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam 70
3.2 Các hoạt động quản lý di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam 78
3.3 Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam 108
Tiểu kết 113
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI TÍCH LƯU NIỆM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM 115
4.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về lưu niệm danh nhân từ năm 1945 đến nay 115
4.2 Một số quan điểm nâng cao hiệu quả về quản lý di tích Lịch sử - Văn hóa 119
4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh 125
Tiểu kết 142
KẾT LUẬN 144
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
PHỤ LỤC 161
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1 ATK : An toàn khu
8 HĐH : Hiện đại hóa
9 ICOMOS : Hội đồng quốc tế về Di tích và Di chỉ
20 TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
21 UBND : Ủy ban nhân dân
22 VHTT : Văn hóa Thông tin
23 VHTTDL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 6DANH MỤC CÁC MÔ HÌNH, BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Sơ đồ 2.1: Mô hình quản lý khu di tích Kim Liên (Nghệ An) 58
Sơ đồ 2.2: Mô hình quản lý khu di tích ATK Định Hóa (Thái Nguyên) 61
Sơ đồ 2.3: Mô hình quản lý khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch 65
Bảng 3.2: Cơ cấu cán bộ các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh theo trình độ đào tạo 72 Bảng 3.3: Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp ở một số DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh 75 Bảng 3.4: Số lượng khách tham quan một số DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh 103
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và làm việc ở nhiều nơi, nhiều địa danh đã khắc ghi những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam Để ghi nhớ, tôn vinh và tri
ân công lao to lớn của Người, Đảng, Nhà nước, nhân dân rất quan tâm, trân trọng giữ gìn và phát huy giá trị các di tích có liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Người Theo số liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh, riêng ở trong nước đã thống kê được 858 di tích và địa điểm di tích liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh ở 32 tỉnh, thành phố, trong đó có 5 di tích được công nhận là di tích Quốc gia đặc biệt
Có thể khẳng định rằng trong những năm qua, các di tích lưu niệm Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tuyên truyền, giới thiệu thân thế sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh đối với nhân dân trong nước, kiều bào và bè bạn quốc tế Mỗi DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh là một “trường học” thực tiễn, sinh động, một trong những thiết chế văn hoá đặc thù, mang lại hiệu quả thiết thực trong các hoạt động văn hoá, xã hội, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục truyền thống yêu nước, đạo đức cách mạng, phong cách, lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam
Trên thực tế, mỗi DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh được vận hành bởi nhiều chủ
thể quản lý: Bộ VHTTDL, Cục DSVH, Bảo tàng Hồ Chí Minh Trung ương với tư cách là các cơ quan quản lý về chuyên ngành và hướng dẫn nghiệp vụ, bên cạnh đó
là sự quản lý của UBND, Sở VHTTDL các tỉnh, thành phố, nơi có DTLN Chủ tịch
Hồ Chí Minh Nhìn theo hệ thống, các di tích tuy có quy mô, xếp hạng đồng dạng, nhưng lại có sự phân cấp quản lý khác nhau: có di tích do Bộ VHTTDL trực tiếp quản lý, có di tích do UBND tỉnh trực tiếp quản lý; có di tích do Sở VHTTDL quản
lý và cũng có di tích do Quân đội quản lý… Thực tế cho thấy, việc tham gia của nhiều chủ thể quản lý, hay sự phân cấp quản lý các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh bên cạnh những mặt tích cực đối với cộng đồng và xã hội, còn không ít những hạn chế, bất cập nảy sinh do chưa có sự phân cấp hợp lý, sự phối hợp thống nhất, khoa học giữa các cơ quan hữu quan Những hạn chế đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến
Trang 8quá trình bảo tồn và phát huy giá trị của các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong những năm qua, nhiều DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang triển khai những
dự án lớn về bảo tồn, tôn tạo di tích Đó là mặt hoạt động cần thiết nhằm bảo tồn lâu dài các di tích về Bác Hồ Song thực tế, bên cạnh những di tích thực hiện hiệu quả
dự án bảo tồn, tôn tạo, còn có những di tích thực hiện chưa đúng các quy trình khoa học và nguyên tắc bảo tồn trong quá trình triển khai dự án Vì vậy, đã dẫn đến tình trạng có di tích trong quá trình trùng tu và tôn tạo, ít nhiều gây tổn hại tới các yếu tố nguyên gốc vốn có, ảnh hưởng tới công tác phát huy giá trị ở mỗi di tích Và thêm nữa, nguồn nhân lực tham gia quản lý trong từng không gian di tích cũng còn có sự
so lệch về trình độ, nhận thức và cách thức khai thác các giá trị di sản văn hóa phi vật thể từ những di tích này phục vụ/đáp ứng nhu cầu của các đối tượng du khách v.v Đây là một thực tế đã và đang diễn ra trong quá trình quản lý hoạt động của mỗi di tích nói riêng và cả hệ thống nói chung
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa xã hội nói chung, ngành Du lịch đã và đang phát triển mạnh mẽ, các di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh với ý nghĩa lịch sử, văn hoá, chính trị và tư tưởng sâu sắc đã trở thành những điểm đến có sức hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế Trước thực trạng
đó, không khó để nhận ra, ở một số địa phương, các BQL DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh ở những phạm vi và mức độ khác nhau bộc lộ không ít sự lúng túng trong các khâu bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di tích đáp ứng nhu cầu của người dân trong nước và nước ngoài Và do vậy, vấn đề đặt ra là cần phải nghiên cứu để có những cách thức quản lý các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách khoa học phù hợp với thực tiễn, đem lại hiệu quả cao nhất
Việc quản lý các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cả nước nhằm bảo tồn và phát huy hiệu quả giá trị các di tích là một vấn đề không đơn giản Bởi điều đó không chỉ liên quan đến vấn đề tổ chức bộ máy, phân cấp quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ, kinh phí hoạt động, mà còn liên quan đến những vấn đề khác như: cơ chế kiểm tra, chịu trách nhiệm, cách thức đầu tư ngân sách, cũng như cơ chế hợp tác để phát huy được sức mạnh tổng hợp của cộng đồng Đây là một vấn đề lớn đòi hỏi
Trang 9cần phải có sự quan tâm Đảng, Nhà nước, của Bộ, Ban, Ngành và chính quyền các cấp cùng cộng đồng sở tại nơi có DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh
Từ thực tiễn cho thấy, vấn đề quản lý hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện thắng lợi các Chỉ thị, Nghị quyết, Chính sách của Đảng và Nhà nước đã trở thành vấn đề cấp thiết, cả về mặt lý luận và thực tiễn
Xuất phát từ những lý do và nhu cầu thực tiễn đặt ra, tác giả lựa chọn đề tài
Quản lý di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam làm luận án tiến sĩ
chuyên ngành Quản lý văn hóa
2 Mục đích nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu tổng quát
Tìm hiểu, nghiên cứu nhận diện một cách toàn diện các mặt công tác quản lý tại các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh Trên cơ sở phân tích, nhận định, đánh giá về thực trạng hoạt động, cũng như mô hình quản lý hiện nay đối với các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản
lý cũng như công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của các di tích góp phần thực
hiện tốt nhiệm vụ giới thiệu, tuyên truyền, giáo dục về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp,
tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong các tầng lớp nhân dân, thực hiện thắng lợi các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về quản lý di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, và DTLN danh nhân
- Phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động quản lý và mô hình quản lý của các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh Xác định những điểm mạnh cần phát huy và những hạn chế cần được khắc phục kịp thời trong mô hình quản lý các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện nay
- Tiếp thu kinh nghiệm quản lý và khai thác các di tích lịch sử văn hóa nói chung và các DTLN danh nhân trong cả nước để chọn lọc và áp dụng vào thực tiễn
Trang 10trong nước, cả về mặt phương pháp, cơ chế, thiết chế quản lý cùng các biện pháp sử dụng nguồn nhân lực thực thi các nhiệm vụ chuyên môn đặt ra
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong quản lý hoạt động ở
các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Về mặt lý luận, luận án nghiên cứu cơ sở lý thuyết về DSVH, quản lý nhà nước về DSVH, DTLN danh nhân cùng những vấn đề lý luận liên quan đến công tác quản lý văn hóa
- Về mặt thực tiễn: Khảo sát, nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý của các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở đi sâu nghiên cứu, khảo sát một số Khu di tích tiêu biểu cụ thể là hoạt động quản lý của Khu di tích Kim Liên (Nghệ An), Khu di tích ATK Định Hóa (Thái Nguyên) và Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (Hà Nội)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt
Nam mà tiêu biểu là 3 Khu di tích là Khu di tích Kim Liên (Nghệ An), Khu di tích ATK Định Hóa (Thái Nguyên) và Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (Hà Nội) Đây là 3 khu di tích có mô hình quản lý tiêu biểu cho hệ thống các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu về hoạt động quản lý của các di tích DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 2001 đến nay (từ khi có Luật Di sản văn hóa được
Quốc hội thông qua)
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
Trên cơ sở tập hợp các dữ liệu (kế thừa từ các nguồn tài liệu thứ cấp và tư liệu khảo sát điền dã), tác giả sẽ áp dụng để phân tích các loại văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trong quá trình quản lý, phân tích các mô hình và sự phân cấp quản lý của các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, tác giả sử dụng
Trang 11phương pháp tổng hợp để đúc kết, đánh giá những thế mạnh và những mặt hạn chế trong hoạt động quản lý ở các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Phương pháp thống kê và so sánh
Đây là phương pháp tác giả sử dụng để thống kê các DTLN Hồ Chí Minh trong hệ thống, thống kê các mô hình quản lý và sự phân cấp quản lý về cơ cấu tổ chức bộ máy cán bộ của các di tích, kết quả của hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các DTLN Hồ Chí Minh
Trên cơ sở thống kê tác giả sẽ sử dụng phương pháp so sánh nhằm đối chiếu, đánh giá những kết quả đạt được và chưa đạt được giữa các DTLN Hồ Chí Minh, từ
đó làm cơ sở khoa học để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý tại các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm vào các nhóm đối tượng như: các nhà quản lý văn hoá, các nhà khoa học, những người làm việc trực tiếp tại các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm thu thập những thông tin, những ý kiến, quan điểm về
mô hình quản lý và sự phân cấp quản lý về cơ cấu tổ chức bộ máy cán bộ của các di tích, kết quả của hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study)
Chọn 3 trường hợp để nghiên cứu: Khu Di tích Kim Liên (Nghệ An), Khu Di tích ATK (Thái Nguyên), Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (Hà Nội) Sở dĩ NCS chọn ba trường hợp làm đại diện nghiên cứu sâu vì lý do xác định
vị trí vai trò của từng điểm di tích, nghiên cứu, tiếp cận sâu hơn để phân tích đánh giá một cách chính xác, cụ thể nhằm đưa ra những kết luận và những giải pháp khoa học phù hợp với thực tiễn quản lý các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Phương pháp khoa học quản lý
+ Phương pháp hệ thống: xem xét sự vật và xử lý đòi hỏi phải tính đến tất cả các yếu tố liên quan đến đối tượng nghiên cứu cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, tâm
lý, pháp lý, dân tộc, giới tính
Trang 12+ Phương pháp mô hình hóa: tái hiện hệ thống quản lý tại các DTLN Chủ tịch HCM bằng một mô hình
- Phương pháp tiếp cận liên ngành
Áp dụng phương pháp liên ngành: Lịch sử, văn hóa, khoa học quản lý, du lịch học, để đi sâu tiếp cận các mặt vấn đề nghiên cứu và nhận diện những giá trị lịch sử, văn hóa và công tác quản lý của các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Hoạt động quản lý khu di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh có đặc điểm khác biệt gì so với các khu di tích lưu niệm danh nhân ở Việt Nam và trên thế giới?
- Các mô hình quản lý di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện nay có ưu điểm và nhược điểm gì?
- Giải pháp gì có thể nâng cao hiệu quả quản lý tại các khu di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Khu Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh là loại hình di tích lưu niệm nhân vật lịch sử đặc biệt, có ý nghĩa to lớn về lịch sử, chính trị, xã hội đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam Bộ máy tổ chức và mô hình hoạt động ở các di tích này vừa có đặc điểm chung, vừa có đặc điểm riêng so với các khu di tích lưu niệm danh nhân khác Công tác quản lý di tích lưu niệm Chủ tịch HCM hiện nay chưa phù hợp với đặc điểm này Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực tiễn, cần có những giải pháp nâng cao chất lượng quản lý các di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Góp phần tổng hợp, hệ thống một số khái niệm liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra của đề tài, từ đó, góp phần bổ sung một số khía cạnh cho cơ sở lý luận về Di sản văn hoá; DTLN danh nhân nói chung và lưu niệm Hồ Chí Minh nói riêng; cũng như cho khoa học quản lý nhà nước trong lĩnh vực Di sản văn hoá
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bảo tồn và phát huy tác dụng của các DTLN về Chủ tịch Hồ chí Minh, phân tích những thuận lợi và
Trang 13khó khăn của mô hình quản lý hiện nay ở các di tích, từ đó đề xuất những giải pháp quản lý phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy hiệu quả các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LƯU NIỆM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu về quản lý di sản văn hóa
- Trên thế giới, quản lý di sản văn hóa là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả ở nhiều nước Các nhà nghiên cứu nước ngoài John Carman
và Marie Louise Stig Sorensen, trong cuốn Nghiên cứu di sản: Các phương pháp và các cách tiếp cận cho rằng: “sự phát triển thực hành di sản và quản lý di sản trong
thời gian cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX là các hoạt động công cộng đánh dấu một sự thay đổi khác biệt về tính chất của quan điểm về quá khứ” [125] Đó là ở giai đoạn này di sản trở thành mối quan tâm chung và sự quan tâm thể hiện các lợi ích và trách nhiệm của các xã hội dân sự Qua các nghiên cứu, chúng ta thấy chủ yếu hướng nội dung bàn tới hai vấn đề cơ bản đó là hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của di sản Theo Ashworth thì trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa tồn tại 3 quan điểm, đó là: bảo tồn nguyên gốc, bảo tồn có sự kế thừa và bảo tồn phát triển [119] Các nhà nghiên cứu theo các quan điểm này đều tranh luận, đưa ra các ưu điểm, hạn chế của mình Trong đó, quan điểm bảo tồn phát triển được nhiều học giả tán đồng Các học giả như G.J Ashworth và P.J Larkham coi việc khai thác các giá trị của di sản như một ngành công nghiệp do vậy việc quản lý cũng cần có những phương thức tương tự [119] Các nhà nghiên cứu của Viện Bảo tồn Getty (Los Angeles, Mỹ) như Randall Manson, Daniel Bluestone, David Throsby… thì quan tâm đến vấn đề kinh tế trong di sản văn hóa, coi di tích lịch sử là vốn quý của các thế hệ đi trước để lại nhưng ngày nay cần có sự khai thác hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế [127] Ngày nay, du lịch di sản là một trong những hình thức du lịch thu hút đông đảo nhất Giữa di sản văn hóa và du lịch tạo nên một mối quan hệ gắn bó Raymond A Rosenfel cho rằng di sản và du lịch văn hóa là công cụ để phát triển kinh tế [126] Bob McKercher khi nghiên cứu về vấn đề này đã cho rằng di sản văn hóa và du lịch văn hóa có sự ảnh hưởng qua lại, ông đưa ra bảy mối quan hệ khi nghiên cứu du lịch và quản lý di sản thông qua nghiên cứu trường hợp của Hồng
Trang 15Kông, bao gồm: từ chối, kỳ vọng ảo, song song tồn tại, xung đột, đồng quản lý, quan hệ đối tác, chồng chéo về mục đích [121, tr.543]
Tuy nhiên, trong mối quan hệ bảo tồn và phát huy, khai thác giá trị của di sản văn hóa thì nhiều học giả rất quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững Vấn đề tính xác thực, tính nguyên gốc của các di sản văn hóa vật thể nói chung, di tích lịch sử - văn hóa nói riêng vẫn phải được chú ý, việc khai thác giá trị di sản cần có giới hạn, tránh tình trạng khai thác quá mức dẫn tới những ảnh hưởng không tốt đến bản thân giá trị của các di sản đó Brian Garrod, Alan Fayall trong nghiên cứu về quản lý di sản văn hóa thừa nhận rằng phát triển khai thác du lịch tại các di sản văn hóa là điều cần thiết nhưng cần phát triển bền vững, cần có sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác, đặc biệt cần chú ý rằng nếu di sản không được bảo vệ, giữ gìn thì sẽ bị mất, không còn để lại cho thế hệ mai sau [122], hay Cosmescu thì cho rằng “Khi các nhà quản lý di sản văn hóa nghiên cứu, bàn thảo về bảo quản lâu dài hoặc lập kế hoạch bảo tồn, họ quan tâm nhiều đến việc duy trì nguồn tài nguyên ở một mức độ bền vững” [123]
- Ở trong nước, việc nghiên cứu về công tác quản lý di sản văn hóa dường như mới chỉ được tiến hành sau những năm đổi mới trở lại đây Đặc biệt là trong những năm qua có nhiều công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí, sách chuyên ngành đề cập tới lĩnh vực quản lý di sản văn hóa (trong đó nhiều phần đề cập tới quản lý di tích lịch sử - văn hóa) Trong bối cảnh của đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước dành nhiều sự quan tâm tới các di sản văn hóa với nhiều chính sách nhằm bảo vệ, lưu giữ và phát huy các giá trị của chúng Theo xu hướng đó, các nghiên cứu của các tác giả trong nước đều tập trung xoay quanh các vấn đề về lý luận, kinh nghiệm thực tiễn của hoạt động quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa, từ đó đề ra các giải pháp, kiến nghị cho từng trường hợp cụ thể để từ
đó có thể khai thác, phát huy phục vụ cho cộng đồng xã hội Các bài viết theo nội dung này chiếm số lượng khá lớn
Năm 1996, trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, tác giả Hoàng Vinh với bài viết
“Chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc” đã đưa ra kiến nghị phân
chính sách thành 3 cấp độ khác nhau: chính sách khái quát (đường lối của Đảng),
Trang 16những chính sách và thể chế thực hành, những việc cần ưu tiên trước mắt trong tiến trình thực hiện chính sách [116] Tác giả Lưu Trần Tiêu, trong bài “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam”, đã đưa ra quan điểm hoạt động bảo tồn di tích thể hiện ở 3 mặt cụ thể là: bảo vệ di tích về mặt pháp lý và khoa học, bảo vệ di tích về mặt vật chất kỹ thuật, cuối cùng là sử dụng di tích phục vụ nhu cầu hiện tại của xã hội [107] Trong bài “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa”, tác giả Đặng Văn Bài đã đưa ra 4 vấn đề lớn của công tác quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa đó là quản lý nhà nước bằng văn bản pháp qui; phân cấp quản lý di tích, hệ thống tổ chức ngành bảo tồn - bảo tàng và đầu tư ngân sách [2, tr.11-13]
Nội dung chiếm số lượng nhiều bài viết nhất là câu chuyện bàn về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Đây là những vấn đề quan trọng trong hoạt động quản lý di sản văn hóa Tác giả Hà Văn Tấn nhận xét “Các di tích lịch sử - văn hóa đang trong tình trạng SOS khẩn cấp Nếu chúng ta không có những chính sách bảo tồn thì ngay cả các di tích quý giá ấy cũng sẽ bị mất đi, mà một dân tộc đánh mất đi di tích lịch sử văn hóa là một dân tộc đánh mất trí nhớ…” [99, tr.44-54]
Trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa vật thể, nhiều nghiên cứu thống nhất quan điểm cho rằng cần bảo tồn ở dạng nguyên gốc, giữ được tính xác thực của di tích lịch sử - văn hóa Trong bài “Tu bổ, tôn tạo di tích, lý luận và thực tiễn”, tác giả Nguyễn Quốc Hùng [63], Tác giả Nguyễn Hữu Toàn [110, tr.69-76] hay tác giả Lưu Trần Tiêu khẳng định: “yêu cầu tối thượng của công tác bảo tồn gìn giữ tối đa các yếu tố cấu thành di tích” [108, tr.3-7]
Bên cạnh hoạt động bảo tồn di sản văn hóa thì nhiều bài viết hướng tới việc phát huy giá trị di sản văn hóa, đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước đang phát triển mạnh mẽ thì vấn đề bảo tồn - phát triển là hai mệnh đề được đặt ra mà nhiều nhà quản lý tốn nhiều thời gian quan tâm, nghiên cứu tìm hướng giải quyết cho phù hợp Bảo tồn và phát huy luôn gắn liền với nhau như một cặp phạm trù, nếu các giá trị của di tích không được khai thác sử dụng phục vụ cộng đồng xã hội thì trải qua thời gian nó sẽ làm di sản mờ dần, chìm vào quên lãng Do đó, bảo tồn là căn bản, làm
cơ sở sáng tạo, phục vụ phát huy và ngược lại phát huy giúp cho bảo tồn di sản văn
Trang 17hóa được tốt hơn, tỏa sáng hơn Di sản văn hóa chỉ được chọn lọc, kế thừa và bảo vệ khi nó thực sự có ích cho con người hiện tại và cần thiết cho các thế hệ tương lai
Trong bài viết “Vai trò của di tích lịch sử văn hóa trong phát triển kinh tế xã hội” [85, tr.91- 96], tác giả Từ Mạnh Lương phân tích vai trò cụ thể của các di tích đối với phát triển kinh tế và đối với sự phát triển của xã hội, cho rằng di tích là nguồn lực để phát triển kinh tế, các di tích “là tài sản văn hóa của mỗi quốc gia, là nguồn lực để phát triển” Điều này cũng đồng quan điểm với tác giả Nguyễn Thế Hùng khi ông cho rằng “di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh
tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển” [65, tr.27-28] Các tác giả
Lê Hồng Lý, Dương Văn Sáu, Đặng Hoài Thu trong cuốn Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch cho rằng phát triển du lịch là một trong những biện pháp cơ
bản, hữu hiệu giúp cho quá trình quản lý di sản đạt hiệu quả cao Các tác giả này còn nhấn mạnh: “Biến di sản thành hàng hóa thông qua hoạt động du lịch là một quan điểm đúng trong giai đoạn xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay” [86, tr.59]
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều lấy di tích làm hạt nhân để xây dựng chiến lược phát triển du lịch văn hóa Trước đây, thông qua các chức năng sử dụng của di sản/di tích để phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng cư dân tại địa phương có di tích là chủ yếu Nguồn thu qua khai thác di tích hầu như không có Trong giai đoạn hiện nay, các di tích không chỉ có chức năng sử dụng vốn có của nó mà còn thông qua các giá trị chứa đựng trong mỗi di tích để thu hút khách tham quan trong và ngoài nước Việc tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo từ các di sản văn hóa được cho là một phương thức khai thác có hiệu quả và thu hút được công chúng Trong bài “Di sản văn hóa - nhân tố quan trọng góp phần bảo vệ, xây dựng phát triển đất nước”, tác giả Phạm Quang Nghị cho rằng:
Di sản văn hóa đang đứng trước những thử thách khốc liệt của cơ chế thị trường Những giá trị bền vững của di sản văn hóa chỉ thực sự hấp dẫn và trở thành những sản phẩm văn hóa độc đáo, có ý nghĩa tiềm năng du lịch
Trang 18nếu chúng ta biết phát huy những giá trị đích thực, những thế mạnh mà không bị lôi cuốn vào xu thế thương mại hóa tầm thường [89, tr.5] Tác giả Trương Quốc Bình trong bài viết “Đổi mới hoạt động bảo vệ và phát
huy giá trị kho tàng di sản văn hóa” đăng trên Tạp chí Cộng sản cũng cùng quan
điểm như trên [20]
Bên cạnh những bài viết nghiên cứu trên đây, chủ yếu được đăng tải trên các
tạp chí chuyên ngành như Di sản văn hóa, Nghiên cứu văn hóa, Văn hóa Nghệ thuật Vấn đề quản lý, bảo tồn - phát huy di sản văn hóa còn được đề cập trong
một số cuốn sách, một số hội thảo khoa học và các tập giáo trình giảng dạy
Năm 2003, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng
của Quốc hội đã tổ chức hội thảo Vấn đề bảo vệ và phát huy di sản văn hóa với sự nghiệp đổi mới đất nước [111] Đầu năm 2010, Viện Bảo tồn di tích đã tổ chức hội thảo Tính liên ngành trong bảo tồn di tích [112] tại Hà Nội
Trong cuốn Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020, xu hướng
và giải pháp do Phạm Duy Đức chủ biên [49], có đề cập đến thực trạng xây dựng và
phát triển văn hóa Việt Nam trong 25 năm đổi mới (1986 - 2010) trong các thực trạng khác nhau của nền văn hóa Việt Nam, các tác giả có nêu ra thực trạng của việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Công trình nghiên cứu Chương trình
Khoa học cấp nhà nước KX.09 Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội do tác giả Nguyễn Chí Bền chủ biên [16], đã cho chúng ta
thấy được những vấn đề về lý luận bảo tồn di sản văn hóa vật thể cũng như thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội
Tuyển tập Một con đường tiếp cận di sản văn hóa do Cục Di sản Văn hóa tập hợp,
biên soạn và xuất bản từ năm 2005 đến năm 2012 gồm 6 tập, mỗi tập là tuyển tập
các bài viết của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu đăng trên Tạp chí Di sản văn hóa
Đây là những công trình nghiên cứu từ nhiều góc độ tiếp cận, mang tính lý luận, những đề tài khoa học, những trao đổi kinh nghiệm thực tiễn rất có giá trị đối với sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc
Như vậy, vấn đề quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam cho đến nay đã được quan tâm và nghiên cứu một cách đa diện, có hệ thống ở những cấp độ, phạm vi và
Trang 19mức độ khác nhau và thực tế đã đạt được những thành tựu khoa học nhất định, nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đề cập tới trên cả phương diện lý luận cũng như các hoạt động thực tiễn Các quan điểm về quản lý di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử - văn hóa nói riêng đều tập trung đề cập nhiều đến vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa trong quá trình phát triển hiện nay Điều đó đã thể hiện ở sự chuyển biến trong nhận thức của các nhà quản lý văn hóa nói riêng và các bộ máy quản lý di tích ở hầu khắp các địa phương trên cả nước nói chung Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu, các quan điểm này khi áp dụng vào các trường hợp cụ thể cần hết sức linh hoạt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế
1.1.2 Các nghiên cứu về quản lý di tích lưu niệm danh nhân
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ, lưu giữ và phát huy giá trị các DTLN danh nhân, điều đó đã góp phần nâng cao nhận thức của xã hội đối với việc nhìn nhận, đánh giá vai trò của DTLN danh nhân trong cộng đồng Vì vậy, trong những năm qua có các công trình nghiên cứu, hội thảo, bài viết đề cập tới lĩnh vực quản lý DTLN danh nhân nói chung và danh nhân cách mạng nói riêng
Năm 1996, Cục Bảo tồn Bảo tàng và Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp tổ
chức hội thảo khoa học - thực tiễn về vấn đề Các hình thức lưu niệm danh nhân cách mạng với những nội dung rất phong phú đã đề cập như: Về ý nghĩa của vấn đề
lưu niệm danh nhân cách mạng; về khái niệm danh nhân cách mạng và tiêu chí của danh nhân cách mạng; về những hình thức lưu niệm danh nhân cách mạng hiện nay;
về các ý kiến về quản lý Nhà nước xung quanh việc lưu niệm danh nhân cách mạng Đặc biệt về nội dung quản lý Nhà nước đối với các DTLN danh nhân cách mạng, các ý kiến tập trung vào một số vấn đề như: tập hợp đội ngũ chuyên gia giỏi để nghiên cứu có quy hoạch xây dựng hình thức lưu niệm thích hợp, có cơ chế đầu tư kinh phí hợp lý, có kế hoạch tuyên truyền sâu rộng có các hình thức lưu niệm phải được thống nhất quản lý của nhà nước v.v [42]
Về công tác bảo tồn và phát huy giá trị DTLN danh nhân, tác giả Nguyễn Quốc Hùng trong bài: “Mối quan hệ giữa bảo tồn, tôn tạo, phát huy các DTLN danh nhân và các di tích lịch sử - văn hóa” cho rằng:
Trang 20Do đặc điểm của loại hình DTLN danh nhân nhằm tôn vinh sự nghiệp, công lao của danh nhân nên so với các loại hình di tích khác việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích này cũng có những đặc thù Nếu như các di tích kiến trúc nghệ thuật giới thiệu tài năng sáng tạo nghệ thuật của nhân dân qua di tích, thì di tích lưu niệm danh nhân lại hướng trọng tâm vào các di tích gốc liên quan đến danh nhân được lưu giữ để tưởng niệm Việc phát huy tác dụng mỗi loại hình di tích rõ ràng có những mục tiêu khác nhau [42, tr.125]
Trong bài viết “DTLN danh nhân cách mạng - suy nghĩ và đề xuất”, tác giả Trần Viết Hoàn đã đưa ra những đề xuất như: Việc quản lý các di tích danh nhân cách mạng: Cục Bảo tồn Bảo tàng (nay là Cục DSVH) thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, cần có một di tích đầu hệ để vừa có kinh nghiệm hoạt động về di tích giúp Cục triển khai những công việc chuyên môn, và giúp các di tích khác thực hiện
về bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng [42, tr.107]
Trong bài viết: “Di tích danh nhân cách mạng Việt Nam trong tài sản văn hóa dân tộc”, tác giả Nguyễn Thị Tình đã đề xuất một số kiến nghị:
Ở quê hương các danh nhân cách mạng nên dựng tượng các danh nhân
đó, song không nên xây bảo tàng, mà nên giữ lại di tích ghi dấu hoạt động của danh nhân đó hoặc làm nhà tưởng niệm để địa phương tổ chức những hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân nhất là đối với thế hệ trẻ [42, tr.265]
Tác giả cũng kiến nghị Bộ VHTT (nay là Bộ VHTTDL) và Nhà nước thành lập Hội đồng danh nhân quốc gia để sắp xếp, hệ thống danh mục danh nhân cách mạng và xác định các hình thức lưu niệm đối với việc bảo vệ di sản văn hóa này
Đồng với quan điểm này, tác giả Đàm Thụ trong bài viết “Các hình thức quản lý và lưu niệm đối với các danh nhân cách mạng” đã đề xuất một số giải pháp như: Đề nghị Nhà nước cho phép Bộ VHTT (nay là Bộ VHTTDL) có một số biên chế giao cho Cục Bảo tồn - Bảo tàng thành lập một bộ phận chuyên môn, chuyên trách theo dõi quản lý, thực hiện các công tác nghiệp vụ về bảo tồn di sản thuộc loại hình lưu niệm danh nhân nói chung trong đó có danh nhân cách mạng Xây dựng cơ
Trang 21chế tài chính cho việc bảo tồn và phát huy các di tích lưu niệm danh nhân, đồng thời
tổ chức tốt công tác chuyên môn nghiệp vụ như Nghiên cứu khoa học, sưu tầm kiểm
kê, bảo quản, trưng bày và công tác tuyên truyền,v.v [42, tr.227]
Năm 2012, luận án tiến sĩ Văn hóa học của Nguyễn Tiến Thư với đề tài
Danh nhân và những hình thức tôn vinh danh nhân trong lịch sử xã hội truyền thống Việt Nam [106] đã đi sâu và làm rõ những vấn đề về lý luận về danh nhân và
tôn vinh danh nhân trong lịch sử xã hội truyền thống nước ta, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa danh nhân trong giai đoạn hiện nay
Như vậy, những nghiên cứu về bảo tồn và phát huy các DTLN danh nhân nói chung và danh nhân cách mạng nói riêng, cũng đã được đề cập đến qua những cuộc hội thảo, các công trình nghiên cứu, bài viết v.v nhưng nhìn chung các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở xác định khái niệm danh nhân và đưa ra tiêu chí để xác định danh nhân, đồng thời đề xuất những giải pháp để bảo tồn và phát huy di tích lưu niệm danh nhân và kiến nghị các cơ quan thẩm quyền tạo ra những cơ chế, chính sách phù hợp để bảo tồn và phát huy các di tích danh nhân và danh nhân cách mạng trong đời sống xã hội
1.1.3 Các nghiên cứu về quản lý di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tìm hiểu và nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam được rất nhiều người quan tâm, đã có hàng trăm đầu sách, những công trình nghiên cứu đã xuất bản với những chủ đề khác nhau như: Tiểu sử sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh về các lĩnh vực: chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao, kinh tế, tư tưởng, đạo đức, v.v Việc tìm hiểu, nghiên cứu về công tác quản lý và hoạt động bảo tồn và phát huy tác dụng các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ta trong thời gian gần đây được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và được đề cập qua các cuốn sách, các cuộc hội thảo và các công trình nghiên cứu
Năm 1997, Bảo tàng Hồ Chí Minh giới thiệu cuốn sách Bảo tàng và di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam [12] Cuốn sách đã giới thiệu sơ lược
bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội và 12 chi nhánh bảo tàng và DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh ở cả nước Cuốn sách cũng thống kê 37 DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
Trang 22được Nhà nước công nhận di tích lịch sử - văn hóa trong tổng số 663 di tích và các điểm DTLN về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở 32 tỉnh và thành phố Năm 2009, Bảo tàng
Hồ Chí Minh tiếp tục bổ sung tư liệu và xuất bản cuốn sách Di tích và các điểm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam [13], do tác giả Chu Đức Tính là chủ biên
Cuốn sách đã nghiên cứu và thống kê được 885 di tích và địa điểm di tích liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh ở 32 tỉnh, thành phố Đây là công trình đã tập hợp và thống kê tương đối đầy đủ về các di tích và điểm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam với những thông tin sơ lược về vị trí, địa điểm, không gian, thời gian và sự kiện Tuy vậy, cuốn sách này chỉ dừng lại ở việc thống kê chứ chưa giới thiệu được nội dung của quá trình lịch sử hình thành và phát triển của các di tích và điểm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
Năm 2000, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch tổ chức Hội
thảo khoa học với chủ đề: Giữ gìn và phát huy những di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh góp phần xây dựng con người mới Việt Nam [68] Hội thảo đã thu hút đông
đảo các nhà nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cán bộ quản lý, các cán bộ nghiên cứu, cán bộ nghiệp vụ của Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ của Đảng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch tham gia Các tham luận của hội thảo đều tập trung phân tích đánh giá vị trí, tầm quan trọng của các di sản Hồ Chí Minh với việc giáo dục bồi dưỡng con người mới trong sự nghiệp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa về trí tuệ, đạo đức, về phong cách, lối sống v.v
Năm 2004, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch tổ chức Hội
thảo khoa học với chủ đề Di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới [75] Hội thảo đã thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu,
các nhà quản lý, cán bộ nghiệp vụ tại các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh ở các địa phương trong cả nước tham gia v.v Tại hội thảo, các tham luận của các đại biểu không chỉ dừng lại ở việc đánh giá vị trí, vai trò và những giá trị lịch sử văn hóa của các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, đời sống văn hóa - tâm linh người Việt Nam, trong việc giáo dục nhân cách lối sống cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ, mà còn tiếp cận DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh ở
Trang 23nhiều góc độ khác nhau về công tác bảo tồn, tôn tạo, công tác phát huy các giá trị, giáo dục truyền thống cách mạng, tư tưởng, đạo đức, góp phần vào sự nghiệp xây dựng con người mới và phát triển nền văn hóa ở nước ta
Năm 2013, Bảo tàng Hồ Chí Minh triển khai đề tài khoa học cấp cơ sở
Nghiên cứu, thống kê, xác minh bổ sung, xây dựng hồ sơ bước đầu các di tích, điểm
di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong nước do tác giả Nguyễn Đình Dĩnh làm Chủ
nhiệm [13] Đây là đề tài đã tiến hành nghiên cứu xác minh và thống kê tương đối đầy đủ về các di tích, các điểm di tích và các công trình tưởng niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong nước Từ đó tiến hành sưu tầm bổ sung tư liệu, hoàn chỉnh hồ sơ cho từng di tích, địa điểm di tích
Bên cạnh đó có nhiều bài viết nghiên cứu về hệ thống DTLN Chủ tịch Hồ
Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau Năm 2007, trên Tạp chí Di sản văn hóa tác
giả Đặng Văn Bài với bài viết “Vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị của các DTLN
danh nhân” [5, tr.12] nêu những nguyên tắc bảo tàng học, đặt ra yêu cầu bảo vệ và
phát huy các DTLN danh nhân Tác giả đã lấy trường hợp Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch để nghiên cứu, phân tích và đưa ra những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị của Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch - một DTLN danh nhân đặc biệt
Đánh giá về vai trò các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Xuân Thông, trong bài viết “Vai trò các di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp phát triển nền văn hóa ở nước ta” khẳng định:
Các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh có một lợi thế rất lớn trong việc góp phần tuyên truyền, giáo dục và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay Điều đó thể hiện trước hết ở chỗ thông qua các
tư liệu, hiện vật của Chủ tịch Hồ Chí Minh được giới thiệu, trưng bày ở các di tích này, các thế hệ người Việt Nam sẽ hiểu hơn cuộc đời sự nghiệp, công lao cách mạng vĩ đại của Bác Hồ kính yêu - một nhà văn hóa kiệt xuất Người kết tinh trong đó những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Bằng những hiện vật sinh động, những câu chuyện kể cụ thể, các
Trang 24di tích của người sẽ mang lại những bài học sâu sắc, có ý nghĩa nhân văn
to lớn, cho người nghe, người xem [75, tr.125]
Cũng chủ đề này, tác giả Đặng Hòa, trong bài viết: “Các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, đời sống văn hóa - tâm linh người Việt Nam”, đưa ra những nhận xét và đánh giá:
Trong đời sống chính trị, đời sống văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam hiện nay, các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh là một điểm tựa Điểm tựa cho cả cộng đồng (Chính quyền, nhà nước và nhân dân) Trong những ngày lễ tết, những ngày hội, những hội nghị lớn, các cơ quan, cá nhân đến di tích dâng hương tưởng niệm và tham quan Khi phát động phong trào thi đua, hoặc một phong trào hoạt động xã hội nào đó mọi người lại đến đây để bày tỏ quyết tâm, để động viên thực hiện [75, tr.136]
Tác giả Chu Đức Tính trong bài “Việc giáo dục nhân cách Hồ Chí Minh ở các di tích của Người”, đã đánh giá vai trò của các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc tuyên truyền giáo dục về nhân cách Hồ Chí Minh nhất là vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, học tập tư
tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh [75, tr.192]
Trong bài viết: “Giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng thông qua các hoạt động trưng bày và tuyên truyền trong các di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh” tác giả Ngô Thị Mùi đã đánh giá rất cao vai trò của DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh:
DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có lợi thế hết sức cơ bản là được phân bổ ở hầu khắp các miền đất nước, rất gần gũi với dân, hoạt động bằng phương pháp trực quan sinh động thông qua các di tích - nơi lưu giữ các tài liệu hiện vật có liên quan đến cuộc đời hoạt động cách mạng của Người [75]
Về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả Phạm Mai Hùng trong bài viết “Bảo vệ và phát huy giá trị của các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh” đã đánh giá một thực tế đang tồn tại trong công tác bảo tồn ở các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Trang 25Việc bảo vệ cũng như phát huy giá trị các DTLN về Bác còn nhiều yếu kém cần phải được khắc phục Chúng ta chưa có một quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị DTLN về Người Nhiều di tích đã được công nhận, được gắn bia biển nhưng không được chăm sóc đầy đủ, lại thiếu các hình thức tuyên truyền nên còn trống vắng [74, tr.177]
Về công tác phát huy tác dụng các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh tác giả Ngô Kim Uyên trong bài viết “Một vài suy nghĩ từ việc đa dạng hóa hình thức hoạt động
tại các di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh” [73, tr.165], đã khẳng định các DTLN Chủ
tịch Hồ Chí Minh là một trong những điểm đến hấp dẫn thu hút đông đảo đồng bào trong nước và bạn bè quốc tế đến tham quan, do vậy các di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng chủ động đa dạng hóa các hình thức hoạt động Tác giả cũng đã nêu lên 9 hình thức hoạt động tuyên truyền và phát huy tác dụng tại các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong bài viết “Phát huy vai trò giáo dục của các di tích về chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới hiện nay” [74, tr.84], tác giả Phạm Mai Hùng cho rằng: Với các di tích đã được phục hồi, cần thổi vào đó sức sống thường nhật của Bác tạo cho người xem cảm nhận Bác vẫn đang ở đây Mặt khác cần suy nghĩ tìm tòi những giải pháp trưng bày thích hợp, hiệu quả để giới thiệu di sản của Bác
Năm 2005, trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Viện nghiên cứu phát triển Du
lịch với bài viết “Các di tích và bảo tàng Hồ Chí Minh trong phát triển du lịch” đã
đề cập:
Những di tích như: Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Bảo tàng
Hồ Chí Minh ở Hà Nội, nhà lưu niệm ở Vạn Phúc, Hà Đông, nơi Bác Hồ viết lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Khu di tích Kim Liên - Nam Đàn, quê hương của Người, hang Pác Bó ở Cao Bằng, Cụm di tích ở Huế, Bến cảng Nhà Rồng ở thành phố Hồ Chí Minh, từ lâu đã trở thành những điểm quan trọng không thể thiếu được trên bản đồ du lịch Việt Nam, hàng năm thu hút một lượng khách du lịch không nhỏ [115, tr.62-63]
Trang 26Bài viết cũng đề cập đến những định hướng và giải pháp phát huy thế mạnh của hệ thống các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh để trở thành một yếu tố động lực phát triển du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Về công tác quản lý hoạt động của hệ thống DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả Trương Quốc Bình trong bài viết “Đổi mới công tác quản lý và hoạt động của hệ thống di tích và bảo tàng lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh” [75, tr.156], đã đề xuất một số các giải pháp trong việc quản lý như: kiện toàn tổ chức hoạt động của
hệ thống bảo tàng và di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh như: chuyển các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh về Sở VHTT (nay là Sở VHTTDL) các tỉnh, thành phố và chuyển các nội dung trưng bày của các đơn vị đang được coi là chi nhánh của Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện có tại Bình Thuận; Thừa Thiên Huế, thành phố Hồ Chí Minh về các bảo tàng tỉnh, thành phố sở tại
Bên cạnh những công trình nghiên cứu chung về hệ thống các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn có những đầu sách nghiên cứu về từng di tích cụ thể trong hệ
thống tiêu biểu như: Nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch 1954-1969 của Khu di tích Phủ Chủ tịch [73], Chuyện kể từ nơi ở và làm việc của Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch của Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch [76], Bác Hồ với thủ đô Hà Nội, Thủ đô Hà Nội với Bác Hồ của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội (2013), Di tích lịch sử - Lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất Tuyên Quang của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tuyên Quang (2012), Khu di tích Lịch sử Tân Trào của Ngô Quân Lập [81], Bác Hồ ở Tân Trào của Ngô Quân Lập [80], Kể chuyện Bác Hồ ở Tuyên Quang của Ngô Quân Lập (2012), Sơn Dương một vùng quê cách mạng của Trung tâm văn hóa thông tin - Thể thao huyện Sơn Dương (2009), DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quê hương của Khu di tích Kim Liên (2000), Bác Hồ với quê hương Nghệ An, Quê hương Nghệ An với Bác Hồ, của Tỉnh ủy Nghệ An (1990), Những người thân trong gia đình Bác Hồ của Khu di tích Kim Liên [78], Bác Hồ với Thái Nguyên, Thái Nguyên với Bác Hồ của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2007), Bác Hồ ở ATK của Đồng Khắc Thọ [103], ATK dấu ấn lịch sử của Đồng Khắc Thọ [104], Bác Hồ với Cao Bằng (từ Pác Bó - Cao Bằng) của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Cao Bằng (1985),
Trang 27Bác Hồ với Cao Bằng (từ Pác Bó - Cao Bằng), Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, Bác
Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng (1941-1945) của Ban tuyên giáo Tỉnh
ủy Cao Bằng (1995) Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên chỉ dừng lại ở nội dung giới thiệu một cách khái quát nội dung lịch sử các di tích, hoặc sưu tầm, tuyển chọn và biên tập những câu chuyện kể về Bác Hồ trong không gian của các Khu di tích như Khu di tích Kim Liên (Nghệ An); Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (Hà Nội); Khu di tích Pác Bó (Cao Bằng); Khu di tích ATK Định Hoá (Thái Nguyên); Khu di tích Tân Trào (Tuyên Quang)
Năm 1994, NCS Trần Viết Hoàn bảo vệ thành công luận án PTS chuyên
ngành Mỹ học với đề tài Di sản văn hoá Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho quần chúng (thông qua việc phát huy tác dụng các di sản tại khu di tích Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch) [58] Trong luận án này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu
Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch là đối tượng thẩm mỹ, cũng như khai thác nội dung về những giá trị của di tích đối với việc giáo dục nét đẹp đạo đức Hồ Chí Minh cho mọi người thông qua việc phát huy tác dụng của các di sản trong khu
di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch Ở cấp độ thạc sỹ, có một số luận văn tốt
nghiệp chuyên ngành Văn hóa học đã nghiên cứu, tìm hiểu về các DTLN Chủ tịch
Hồ Chí Minh như: Giá trị văn hoá của các hình thức tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại cụm di tích lịch sử văn hoá Ba Đình - Hà Nội của Nguyễn Thu Hà [54]; Giá trị Lịch sử - văn hóa Khu di tích Dục Thanh - Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Bình Thuận của Nguyễn Thanh Minh [88]; Bảo tồn không gian văn hóa Quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh của Hồ Thị Quỳnh Thoa [102]; Quản lý nguồn nhân lực tại bảo tàng và DTLN về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội, Mai Lệ Huyền [67], Bảo tồn
và phát huy giá trị di tích An toàn khu Định Hóa, Thái Nguyên, Lý Thị Chiên [35]
Nhìn chung, những nghiên cứu về DTLN Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận Các nhà nghiên cứu, các học giả, các công trình nghiên cứu nêu trên đều tiếp cận các DTLN Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau như: thống kê, sử học và văn hóa học, hoặc chỉ dừng lại ở việc giới thiệu về lịch sử hình thành, vai trò, vị trí, giá trị lịch sử văn hóa, nêu lên thực trạng, cũng như đề xuất, kiến nghị các giải pháp bảo tồn và phát huy các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 28Những vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý cũng đã được bàn tới và nghiên cứu ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu một cách tổng hợp, toàn diện về hoạt động quản lý các DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ta, từ đó
đề xuất những giải pháp khoa học nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các DTLN Chủ
tịch Hồ Chí Minh góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục tư tưởng,
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong các tầng lớp nhân dân vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ Đây cũng chính là nội dung mà luận án sẽ tập trung giải quyết
1.2 Khái niệm liên quan đến quản lý di tích lưu niệm
1.2.1 Di sản văn hóa
Di sản văn hoá là bộ phận quan trọng của nền văn hoá Thuật ngữ “Di sản
văn hoá” là từ Hán Việt: Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại Sản là tài sản,
là những gì quý giá, có giá trị “Di sản văn hoá” theo nghĩa Hán Việt có nghĩa là
những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại
và tương lai Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Di sản là cái của thời trước để lại”
[114, tr.254]
Khái niệm Di sản văn hóa trong tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có một
quá trình hình thành khá lâu dài Điều mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ này lại được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 Di sản lúc đó được hiểu như “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc
gia” [53, tr.90- 92]
Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa:
“Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai” [98]
Như vậy, Di sản văn hóa được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ
trước để lại cho thế hệ sau Khái niệm di sản là một khái niệm tiến triển, vận động thay đổi theo thời gian Ngày nay khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tài sản từ quá khứ nữa Bởi lẽ không phải bất cứ cái gì của quá khứ cũng được coi là di sản Di sản là sản phẩm của quá khứ nhưng đó là quá khứ đã được lựa
Trang 29chọn theo nhu cầu của xã hội hiện đại Di sản là sự lựa chọn từ quá khứ lịch sử những ký ức, báu vật của cộng đồng, thể hiện nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện đại
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã xác định rõ: Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể [42]
Luật Di sản văn hoá 2009 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
xác định: “di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [84]
- Di sản văn hóa vật thể: được hiểu là những sản phẩm văn hóa có thể “sờ
thấy được” Di sản văn hóa vật thể luôn chịu sự thách thức của quy luật, bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau Di sản văn hóa vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc Hiện nay, vấn đề bảo tồn những Di sản văn hóa vật thể lâu đời đòi hỏi công nghệ kỹ thuật
cao mới có thể phục nguyên lại như cũ Luật Di sản văn hoá 2009 của Việt Nam quy định Di sản văn hoá vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá,
khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [84]
- Di sản văn hóa phi vật thể: là dạng thức tồn tại của văn hóa không phải chủ
yếu dưới dạng vật thể có hình khối trong không gian và thời gian, mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thể hiện ra
Từ đó người ta có thể nhận biết được sự tồn tại của “văn hóa phi vật thể” Đặc trưng
rõ nhất của “văn hóa phi vật thể” là nó luôn tiềm ẩn trong tâm thức của một cộng đồng xã hội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động của con người
Trang 30Luật Di sản văn hoá 2009 quy định di sản văn hóa phi vật thể như sau: Di sản văn hoá phi vật thể: Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học,
được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân ca, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức
về y dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [84]
1.2.2 Danh nhân
Danh nhân là người có danh tiếng, được nhiều người biết đến Danh tiếng ở đây được hiểu là người có phẩm chất cao quý cả về tài năng và đức độ, được đa số các thành viên trong cộng đồng ngưỡng mộ Đó là những con người mà hoạt động
cá nhân của họ luôn phù hợp với lợi ích của cộng đồng, để lại dấu ấn sáng tạo cá nhân không phai mờ trong ký ức xã hội
Danh nhân là người hoạt động xuất sắc trong các lĩnh vực đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, là người nổi tiếng có tầm ảnh hưởng lớn trong xã hội, đặc biệt là tư tưởng mang tính nhân văn cao cả Danh nhân là người để lại tấm gương sáng về đạo đức và tinh thần tận tụy cống hiến cho cộng đồng và đất nước, là người được cộng đồng thừa nhận và tự nguyện vinh danh qua nhiều đời Di sản văn hóa của một danh nhân để lại cho đời sau là tư tưởng nhân văn và tấm gương sáng về tư tưởng, đạo đức Với Chủ tịch Hồ Chí Minh thì tư tưởng không có
gì quý hơn độc lập, tự do là DSVH quý giá nhất Nó không chỉ có ảnh hưởng đối với nhân dân Việt Nam mà còn mang tính phổ quát toàn nhân loại
1.2.3 Di tích lưu niệm danh nhân
Lưu niệm danh nhân là một hình thức ghi nhớ, tưởng niệm, tôn vinh các danh nhân trong lịch sử, có những đóng góp to lớn, xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, xã hội v.v… góp phần thúc đẩy
sự phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử, có đạo đức trong sáng, được nhân dân suy tôn thành biểu tượng, treo gương cho hậu thế noi theo
Trang 31Khái niệm “di tích lưu niệm” (DTLN) cũng nằm trong khái niệm chung về
di tích lịch sử - văn hoá DTLN là một bộ phận của di tích lịch sử - văn hóa Theo cách hiểu thông thường thì “lưu niệm” có nghĩa là “giữ lại làm kỷ niệm”, suy rộng
ra, chúng ta có thể nói rằng: DTLN là các di tích được giữ lại để làm kỷ niệm, để tưởng nhớ về một sự kiện hoặc một nhân vật nhất định Các di tích này có thể là động sản, có thể là bất động sản thuộc các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch
sử, có thể mang ý nghĩa quốc tế, ý nghĩa quốc gia, ý nghĩa một khu vực, một vùng hay một địa phương nhất định DTLN được chia thành DTLN danh nhân/nhân vật lịch sử và DTLN sự kiện [42, tr.294] Từ những nhận xét trên có thể rút ra một khái niệm tổng quát: DTLN danh nhân là công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu các sự kiện lịch sử và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó gắn với các nhà hoạt động chính trị, quân sự, văn hóa, nghệ thuật, khoa học có ảnh hưởng đối với tiến trình lịch sử nhằm lưu giữ những sự kiện hoặc công trạng của những nhà hoạt động xuất sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong Điều 2 - mục 3, nghị định 288 - HĐBT ngày 31/12/1985 quy định rất
rõ những đối tượng được coi là di tích lịch sử - lưu niệm danh nhân là: những di tích
có liên quan đến cuộc đời hoạt động và sáng tạo của các anh hùng dân tộc, các nhà hoạt động chính trị, các nhà hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật lỗi lạc Thông
tư số 206-VH/TT ngày 22/07/1986 còn giải thích rõ hơn định nghĩa ở điều 1 của Pháp lệnh: DTLN danh nhân là những đối tượng liên quan đến cuộc đời của những nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, những anh hùng dân tộc, nhà hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật lỗi lạc như: đồ dùng cá nhân, những di tích thể hiện hoàn cảnh lịch sử mà những nhân vật đó đã sống, làm việc và các tác phẩm chính trị, triết học, văn hoá, khoa học, quân sự, văn học, nghệ thuật thể hiện tài năng và sự nghiệp của nhân vật đó
Mỗi DTLN danh nhân bao giờ cũng cần có những tiêu chí sau:
+ Thực sự gắn bó và có ý nghĩa với bản thân danh nhân
+ Có vai trò và ý nghĩa đối với lịch sử và xã hội
+ Có giá trị giáo dục, giá trị văn hoá
Trang 32+ Có khả năng bảo tồn, bảo quản và giữ gìn lâu dài Đối với di tích lưu niệm danh nhân cách mạng thì phải là đối tượng gắn với cuộc đời và sự nghiệp của những nhà hoạt động chính trị lỗi lạc của Đảng và Nhà nước ta Các di tích đó phải là những vật chứng về tầm tư duy chiến lược, tư tưởng, tài năng và những giai đoạn lịch sử vẻ vang, sự kiện lịch sử quan trọng nhất trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của nhân vật đó Các di tích đó phải thể hiện được cả “đức độ” và “tài năng” của nhân vật lịch sử [42, tr.16]
Theo khái niệm trên, nước ta có rất nhiều DTLN liên quan đến các danh nhân, anh hùng dân tộc như: Khu DTLN Nguyễn Du ở làng Tiên Điền (Hà Tĩnh), Khu DTLN Nguyễn Trãi - Côn Sơn (Hải Dương), Khu DTLN Trần Phú (Hà Tĩnh), Khu DTLN Chủ tịch Tôn Đức Thắng (An Giang), tiêu biểu nhất là các DTLN gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong quá trình nghiên cứu các DTLN cần chú ý phân biệt giữa hai khái
niệm: DTLN và các Công trình tưởng niệm Công trình tưởng niệm: đó là các công
trình xây dựng được người đời sau xây dựng lên để tôn thờ (tưởng nhớ công lao) những người có công với dân, với nước Tuy nhiên, trên thực tế, không phải các công trình tưởng niệm đều xây dựng lên để tưởng nhớ công lao của các nhân thần
mà còn có những công trình tưởng niệm các nhiên thần phi thực tế, những công trình đó không những thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta mà còn trở thành những công trình kiến trúc đơn lẻ hoặc những quần thể các công trình kiến trúc có giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử Những di tích thuộc loại này như: đền Gióng - Sóc Sơn (Hà Nội), đền Kiếp Bạc
(Hải Dương), v.v
1.2.4 Quản lý
Quản lý là một hoạt động tất yếu khi có nhiều người làm việc với nhau để thực hiện một công việc chung hoặc nhằm một mục tiêu chung Như vậy hoạt động quản lý ra đời ngay khi xã hội loài người xuất hiện
Khái niệm quản lý cơ bản đã được phát hiện cách đây hơn 7000 năm Các tư tưởng quản lý sơ khai xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy Lạp của Xôcrat, Platon, Arixtốt , thời cổ Trung Hoa của Quản Trọng, Khổng Tử
Trang 33Quản lý nhìn chung là “sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể
lên khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước” [47, tr.14]
Quản lý nhà nước là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội
và đối ngoại của nhà nước [60, tr.12]
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội Quản lý nhà nước bao gồm hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và
tư pháp Phương tiện quản lý nhà nước chủ yếu là luật pháp Thông qua pháp luật nhà nước trao quyền cho các tổ chức, hoặc cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước
1.2.5 Quản lý di sản
Ngay từ khi xuất hiện, khái niệm “quản lý di sản” được diễn đạt theo nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí đã có nhiều quan điểm, nhận thức về quản lý di sản được đưa ra Ashworth đã tổng kết từ thực tế bảo tồn di sản từ nhiều nước trên thế giới thành 3 quan điểm và tương ứng với nó là 3 mô hình bảo tồn di sản: quan điểm bảo tồn nguyên gốc, quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa và quan điểm quản lý di sản (bảo tồn - phát triển) [98, tr.42-53]
Hướng theo quan niệm và nhận thức đã nêu trên đây, di sản được coi như sản phẩm của các quá trình văn hóa, như cách thức lựa chọn và sử dụng quá khứ của ngày hôm nay, cho hôm nay và ngày mai Quan điểm mới về di sản có thể dẫn đến các quyết định thực tế và lô gích hơn cho quá trình quản lý di sản Hiểu một cách biện chứng và mang tính lịch sử là, vấn đề xã hội cần hướng tới mục tiêu làm sao để
sử dụng di sản văn hóa cho phù hợp, đem lại những lợi ích lớn nhất cho xã hội - chứ không còn là gò bó đi theo quan điểm này hay quan điểm khác về bảo tồn Trong trường hợp cần thiết (với quan điểm mới) người ta vẫn có thể quyết định bảo tồn yếu tố nào đó của quá khứ - nhưng bảo tồn không phải để bảo tồn, gìn giữ một cách cứng nhắc, thuần túy, mà bảo tồn hiểu theo nghĩa rộng, đó là cách tốt nhất để gìn
Trang 34giữ và phát huy các giá trị di sản Có thể hiểu một cách tổng quát, bảo tồn DSVH là
hệ thống các giải pháp nhằm giữ gìn, duy trì các giá trị văn hóa, làm cho DSVH thực sự có ích và cần thiết cho cả hôm nay và mai sau Và đương nhiên, bên cạnh các hình thức hoạt động bảo tồn, vẫn còn có thể có nhiều cách khác giúp các nhà quản lý văn hóa và cộng đồng phát huy giá trị di sản Đây chính là một trong những
cơ sở lý luận cần thiết cho việc nghiên cứu quá trình quản lý di sản văn hóa trong xã hội hiện nay [68]
Trên thực tế cho thấy, cả bảo tồn nguyên vẹn lẫn bảo tồn trên cơ sở kế thừa, hay bảo tồn và phát triển đều có những ưu điểm và hạn chế riêng của nó Nếu như quan điểm bảo tồn nguyên vẹn gặp khó khăn trong việc xác định đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phái sinh và giữ gìn nguyên gốc là giữ gìn những yếu tố nào; thì quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa gặp phải khó khăn trong khâu xác định yếu tố nào thực sự là giá trị cần phải kế thừa và phát huy, yếu tố nào không còn phù hợp, cần phải loại bỏ; cũng cần phải khuyến cáo rằng sự loại bỏ ấy có thể
sẽ đánh mất những giá trị văn hóa mà chúng ta chưa hiểu biết một cách sâu sắc và thấu đáo; thì quan điểm bảo tồn và phát triển luôn bị mâu thuẫn giữa nguyên tắc bảo tồn và nhu cầu của xu thế phát triển Vì vậy để giải quyết bài toán giữa bảo tồn và phát triển, đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng nghỉ và khả năng linh hoạt trong việc vận dụng các nguyên tắc khoa học để lựa chọn phương án xử lý thích hợp cho từng
di tích cụ thể Mục tiêu đặt ra là phải gắn di tích với đời sống đương đại, làm cho cá giá trị di tích thực sự trở thành nền tảng tinh thần và động lực phát triển kinh tế - xã hội
Tóm lại là bảo tồn di sản văn hóa cần phải đi kèm với khai thác, phát huy giá trị của nó trong đời sống Mặt khác, việc bảo tồn cần phải quan tâm đến những đặc điểm xã hội trong từng thời điểm cụ thể, tức là phải lựa chọn để bảo tồn những gì phù hợp với thời đại Chỉ có như vậy, hoạt động bảo tồn mới có ý nghĩa và có tính khả thi mà không trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội Từ những trình bày về các quan điểm lý thuyết trên đây, luận án sẽ xem xét việc quản lý di sản văn hóa (DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh) theo quan điểm quản lý di sản (bảo tồn - phát triển) được đề xuất bởi Ashworth (nghĩa là làm sao để di sản sống và phát huy được
Trang 35các giá trị của nó trong đời sống văn hóa - xã hội đương đại, cần thiết cho cuộc sống hôm nay và ngày mai) và được phát triển bởi Laurajane Smith - coi quá trình quản
lý di sản văn hóa là quá trình tham gia văn hóa và xã hội, quá trình sáng tạo văn hóa của các chủ thể của ngày hôm nay
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà nước lên các đối tượng trong các hoạt động xã hội liên quan đến lĩnh vực di sản văn hóa dân tộc như: sử dụng, bảo tồn, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa đó Quản lý nhà nước về di sản văn hóa dân tộc bao gồm cả việc xây dựng, ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện các luật đó và giám sát, chấn chỉnh các hành vi vi phạm luật liên quan đến di sản văn hóa dân tộc
Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, tổ chức hay cá nhân được pháp luật quy định giao nhiệm vụ quản lý di sản cụ thể:
Quốc hội: Thực hiện việc xây dựng pháp luật về di sản văn hóa dân tộc; Chính phủ và bộ máy hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ, bảo tồn, sử dụng, trao truyền di sản văn hóa dân tộc; các cá nhân trong bộ máy hành chính được giao việc cụ thể;
Tòa án chịu trách nhiệm xử lý các vi phạm pháp luật trong các hoạt động liên quan đến di sản văn hóa dân tộc
Khách thể trong quản lý nhà nước về di sản văn hóa là các quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình bảo vệ, bảo tồn, sử dụng và trao đổi các di sản văn hóa dân tộc
Đối tượng quản lý là di sản văn hóa/ di tích lịch sử và văn hóa, những cá nhân, tập thể tham gia vào các hoạt động liên quan đến di sản văn hóa dân tộc
Phương tiện quản lý chủ yếu là Luật Di sản văn hóa và các bộ luật, đạo luật
khác có liên quan, các pháp lệnh, văn bản, quy phạm pháp luật liên quan đến di sản văn hóa dân tộc
Tóm lại quản lý nhà nước về DSVH là sự kết nối và khai thác tối đa nguồn lực của các bên (đối tác) hữu quan phục vụ mục tiêu giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá
trị làm cho DSVH thực sự trở thành một động lực cho phát triển bền vững
Trang 361.3 Khát quát về di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam
1.3.1 Khái niệm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bộ phận của DTLN danh nhân nói riêng
và di tích LSVH nói chung DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm các di tích bất động sản như: toà nhà, căn phòng, công trình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sống, làm việc, học tập hoặc tới thăm cùng với nó là các di tích động sản như; di vật, tài liệu, hiện vật và các di sản phi vật thể gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng tồn tại trong một tổng thể Trên thực tế, chúng ta còn bắt gặp một số khái niệm khác liên quan đến DTLN Hồ Chí Minh như: Hệ thống DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh; Khu DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Hệ thống DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh: Hệ thống là một tập hợp của các sự
vật được sắp xếp theo một sự liên hệ chặt chẽ nào đó hoặc theo một phương pháp riêng biệt thường sử dụng tính khoa học và tính logic
Theo Từ điển tiếng Việt (2003): “Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị
cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất” [114, tr.132]
Từ những khái niệm hệ thống trên đây có thể hiểu hệ thống DTLN về Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tập hợp các (thể vật chất) công trình, địa điểm có liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh (có thể ở địa điểm cách xa nhau, không cùng thời gian)
và giữa chúng có mối liên quan chặt chẽ với nhau và bổ sung cho nhau như là những bằng chứng xác thực về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, quá trình sắp xếp hệ thống các di tích nói chung và hệ thống DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng phải có phương pháp tiếp cận đặc thù, phương pháp của chuyên ngành bảo tồn, bảo tàng, nhưng phải luôn đảm bảo tính khoa học và logic Có hai cách tiếp cận để sắp xếp hệ thống:
- Một là: các DTLN được hệ thống hoá theo sự hình thành trong các thời kỳ lịch sử có sự kế tiếp nhau
- Hai là: theo hệ thống phân loại
+ DTLN tiểu sử sinh hoạt đời sống
+ DTLN sự kiện lịch sử
Trang 37Đối với hệ thống DTLN về Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách tiếp cận để sắp xếp
hệ thống một cách khoa học nhất là các DTLN được hệ thống hoá theo sự hình thành theo thời gian của lịch sử, theo tiểu sử cuộc đời sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ khi Bác sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và đến khi trút hơi thở cuối cùng
- Khu DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh: Trên thực tế, chúng ta thường hay gặp
một số thuật ngữ như: tổng thể di tích, quần thể di tích, hay khu di tích Các thuật ngữ này đều có nhiều nét tương đồng, đó là: nhiều điểm di tích có liên quan với nhau, không tách rời nhau, sự liên quan này xuất phát từ nội dung cơ bản mà các di tích đơn lẻ cùng phản ánh
Khái niệm khu DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đây dùng để chỉ một quần thể trong đó có nhiều điểm di tích liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, các điểm di tích này có nội dung và ý nghĩa riêng, song chúng không tách rời nhau mà kết hợp hài hoà với nhau trong một tổng thể nhất định, cùng phản ánh cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một giai đoạn lịch sử Ví dụ: khu di tích Kim Liên (Nghệ An), khu di tích Pác Bó (Cao Bằng), khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (Hà Nội)… Bên cạnh đó phải đặc biệt quan tâm tới các di tích động sản, tác phẩm, văn bản thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh qua các giai đoạn lịch sử như: Tuyên ngôn độc lập (Di tích 48 Hàng Ngang), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (Vạn Phúc), Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước và Di chúc thiêng liêng của Bác (Khu Di tích Phủ Chủ tịch).v.v
1.3.2 Quá trình hình thành của hệ thống Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống
và làm việc ở nhiều nơi trên đất nước ta Từ Kim Liên (Nghệ An); Huế; Phan Thiết (Bình Thuận); cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) cho tới Pác Bó (Cao Bằng); Tân Trào (Tuyên Quang); ATK Thái Nguyên và cuối cùng là Phủ Chủ tịch (Hà Nội) Mỗi địa danh đều khắc ghi những đóng góp vô cùng to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam Sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, để tỏ lòng biết
ơn và ghi nhớ công lao to lớn của Người và thể theo nguyện vọng của toàn Đảng,
Trang 38toàn quân, toàn dân ta muốn được lưu giữ những DTLN và kỷ vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho các thế hệ mai sau, Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam đã quyết định xây dựng Bảo tàng về Người, giữ gìn, bảo tồn và phát huy các DTLN về Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngày 25/11/1970, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 206- NQ/TW về việc thành lập Ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh và đã cho phép khôi phục các khu DTLN về Người
Trong các năm 1970 -1971, Ban phụ trách các DTLN về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thành lập và tiến hành mở cửa đón khách tham quan các di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Tân Trào và Pác Bó, khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch Đồng thời một số DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh dần dần được khôi phục và mở cửa đón khách thăm quan như: Di tích nhà 48 Hàng Ngang - Hà Nội, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập; di tích nhà ông Nguyễn Văn Dương ở làng Vạn Phúc - Hà Đông - Hà Tây (Hà Nội ngày nay), nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và cũng là nơi Người và Thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động toàn quốc kháng chiến
Sau ngày miền Nam giải phóng năm 1975, ở các tỉnh phía Nam, công việc sưu tầm, phát hiện các di tích liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ngành Văn hoá Thông tin, các cấp uỷ chính quyền và nhân dân địa phương đặc biệt quan tâm chú ý Chỉ trong 5 năm từ 1975 đến 1980, nhiều DTLN về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khôi phục và phát huy giá trị như: Di tích nhà ông Nguyễn Sĩ Độ ở làng Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi cụ Nguyễn Sinh Sắc ở và dạy học trong những năm 1890-1900; Khu di tích trường Dục Thanh, thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, nơi thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học từ tháng 9 năm 1910 đến tháng 2 năm 1911; Bến cảng Nhà Rồng (thành phố Hồ Chí Minh), nơi anh Văn Ba xuống tàu phụ bếp trên chiếc tàu Amiral Latouche - Treville ra đi tìm đường cứu nước Cho tới cuối những năm 70, mối quan hệ của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh với các DTLN về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước vẫn chưa có một cơ chế tổ chức phù hợp
Trang 39Ngày 12/9/1977 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 04/NQ-TW về việc thành lập Bảo tàng Hồ Chí Minh Sau đó, ngày 15/10/1979, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 375/CP về chức năng, nhiệm vụ
và tổ chức của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh Tại điểm 4, điều 2 đã ghi rõ: “Quy hoạch hệ thống các chi nhánh của Viện Bảo tàng và các nơi lưu niệm của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, chỉ đạo và hướng dẫn về xây dựng và về nghiệp vụ bảo tàng cho các nơi đó ” [836]
Trên cơ sở đó, năm 1982, Bộ VHTT đã quyết định chuyển giao đợt đầu 8 DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Viện bảo tàng Hồ Chí Minh quản lý và chỉ đạo nghiệp vụ Đây là cơ sở đầu tiên đánh dấu sự ra đời của hệ thống DTLN Hồ Chí Minh, đó là:
1 Khu di tích Kim Liên - tỉnh Nghệ An
2 Khu di tích Pác Bó - tỉnh Cao Bằng
3 Di tích 48 Hàng Ngang - Hà Nội
4 Di tích Vạn Phúc - thị xã Hà Đông - Hà Tây (nay là Hà Nội)
5 Di tích Dương Nỗ - tỉnh Bình Trị Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên Huế)
6 Di tích Dục Thanh - tỉnh Thuận Hải (nay là tỉnh Bình Thuận)
7 Khu lưu niệm Nhà Rồng - Thành phố Hồ Chí Minh
8 Khu mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - tỉnh Đồng Tháp
Trong số này có hai khu di tích được công nhận là di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, đó là: Khu di tích Pác Bó (Cao Bằng) và Kim Liên (Nghệ An) Thời gian này, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch là Ban di tích thuộc Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh Lúc bấy giờ, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh chưa được xây dựng nên Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch là trụ sở chính của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh
Đầu năm 1983, tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội nghị lần thứ nhất cấp lãnh đạo các bảo tàng
và di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn quốc Hội nghị đã đánh dấu và đặt nền móng cho sự phát triển lớn mạnh không ngừng của hệ thống bảo tàng và di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này
Trang 40Từ 8 đơn vị ban đầu, đến nay hệ thống bảo tàng và DTLN Hồ Chí Minh đã
có 15 đơn vị, với một Bảo tàng đầu hệ hiện ở thủ đô Hà Nội và 14 đơn vị Chi nhánh
1 Khu di tích Kim Liên (Nghệ An)
2 Khu di tích Pác Bó (Cao Bằng)
3 Khu di tích Tân Trào (Tuyên Quang)
4 Di tích nhà số 48 phố Hàng Ngang (Hà Nội)
5 Di tích Vạn Phúc - Hà Đông (Hà Nội)
6 Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Thừa Thiên Huế
7 Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum
8 Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Bình Thuận
9 Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Quân Khu 5
10 Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
11 Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Đồng bằng sông Cửu Long
12 Khu tưởng niệm Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (Đồng Tháp)
13 Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nghĩa Lộ (Yên Bái)
14 BQL Quảng trường và tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tp Vinh, (Nghệ An)
Hệ thống các Bảo tàng và DTLN Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện nay đang lưu giữ hàng trăm ngàn tài liệu hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh Những DTLN về Người trải dài trong cả nước đã và đang được giữ gìn, tôn tạo và trở thành những địa chỉ thân quen của đồng bào đồng chí Trong suốt những năm qua, hệ thống Bảo tàng và Di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng lớn mạnh về mọi mặt Các đơn vị trong hệ thống ngày càng làm tốt chức năng nghiên cứu, tuyên truyền tư tưởng, đạo đức, tác phong và cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới đông đảo quần chúng nhân dân và khách quốc tế Mỗi bảo tàng, di tích đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa, chính trị của địa phương, góp phần thiết thực trong các hoạt động văn hóa, kinh tế, chính trị của địa phương nói riêng
và cả nước nói chung