1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn

557 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 557
Dung lượng 3,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU Giáo dục thể chất (GDTC) là một bộ phận cơ bản trong hệ thống giáo dục của nhà trường xã hội chủ nghĩa. Muốn phát triển phong trào thể dục thể thao (TDTT), thì không thể thiếu được vai trò của GDTC trong nhà trường. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác TDTT nói chung và công tác GDTC trong nhà trường nói riêng.[30]. Tại hội nghị trực tuyến triển khai Nghị quyết 08 ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020”[13] và Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 28/04/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Phê duyệt đề án tổng thể phát triển thể lực và tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030”[45]. Theo đó, GDTC là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho mọi người thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục con người phát triển toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển tinh thần và thể chất cho học sinh, sinh viên. Không những thế, GDTC và thể thao trường học phải là nền tảng để phát triển thể thao thành tích cao. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự đổi mới căn bản, toàn diện về chương trình giáo dục là một trong những chủ trương đã đề ra. Chương trình đào tạo của các trường cũng sẽ được thiết kế theo những hướng khác nhau. Chương trình đào tạo sắp tới sẽ rất mềm dẻo phụ thuộc vào năng lực đội ngũ của từng trường, làm sao chất lượng đầu ra không thấp hơn ngưỡng quy định. Điều này sẽ khuyến khích các trường cạnh tranh nâng cao chất lượng đào tạo. Những trường có đội ngũ giáo viên giỏi sẽ thiết kế được chương trình hay, chất lượng đào tạo sẽ cao, tăng uy tín và tạo được sức hút đối với người học. Từ đây, chương trình đào tạo cần phải được tổ chức xây dựng (đối với chương trình mới) và điều chỉnh (đối với chương trình cũ) theo đúng hướng tiếp cận năng lực thực hiện mà bản chất là dạy gắn kết giữa lý luận và thực tiễn. Tiến tới, Bộ GD&ĐT sẽ không quy định chương trình khung như trước đây mà chỉ quy định thời gian đào tạo, khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp. Hệ thống giáo dục đại học thay đổi theo mục tiêu đào tạo để đáp ứng nhu cầu nhân lực đa dạng theo tinh thần của Nghị quyết số 29 NQ/TW khóa XI ngày 04/11/2013 về “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”[7]. Việc nắm vững các cơ sở lý luận để xây dựng chương trình là nhân tố quyết định việc xây dựng chương trình đào tạo khoa học và phù hợp với đặc điểm người học. Đại học Sài Gòn là cơ sở giáo dục Đại học công lập trực thuộc Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh, chịu sự quản lý Nhà Nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có chức năng đào tạo đa ngành, đa cấp, đa lĩnh vực, từ trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học. Hiện nay trường đang tổ chức đào tạo 30 chuyên ngành cấp độ Đại học, 24 chuyên ngành cấp độ cao đẳng, 4 chuyên ngành cấp độ trung cấp thuộc lĩnh vực: Kinh tế - kỹ thuật - văn hóa - xã hội - chính trị - nghệ thuật và sư phạm với số lượng hơn 10.000 sinh viên. Ngoài ra trường còn có các khoa đào tạo các môn chung. Trong đó nổi bật là khoa Giáo dục quốc phòng-An ninh và Giáo dục thể chất. Khoa GDQP-AN&GDTC hiện đang quản lý các công tác GDTC, QP-AN cho trường trong nhiều năm qua. Ngoài những thành tựu đã đạt được, còn đó những vấn đề khó khăn chưa giải quyết triệt để, đặc biệt là chương trình các môn thể thao tự chọn sau khi chuyển qua hình thức đào tạo tín chỉ theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 “V/v Ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”.[14] Chương trình GDTC các môn thể thao tự chọn của trường Đại học Sài Gòn sau năm năm triển khai theo hình thức đào tạo tín chỉ đã bộc lộ những bất cập và khó khăn. Trước tình hình đó, căn cứ theo Nghị định số 185/2007 ngày 25/12/2007 của Thủ tướng chính phủ, V/v qui định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, quy định mẫu về tổ chức và hoạt động của câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở [43], Quyết định 2653/QĐ/BGD-ĐT ngày 25/7/2014 về kế hoạch hành động của ngành giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 9/6/2014[19], Thông tư 07/2015/TT-BGDĐT ngày 16/04/2015, Ban hành qui định về kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học, và qui trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo [82]. Ban giám hiệu trường ĐHSG đã đồng ý phê duyệt, thông qua đề cương luận án tiến sĩ của NCS Trần Ngọc Cương với tên gọi: “Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình Câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn”. Đây chính là ý tưởng mà tôi chọn để nghiên cứu trong bậc học tiến sĩ của mình, nhằm nâng cao chất lượng công tác GDTC cho trường Đại học Sài Gòn.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-TRẦN NGỌC CƯƠNG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH CÁC

MÔN THỂ THAO TỰ CHỌN THEO MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ

TRONG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

TP.Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1.Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục - đào tạo và công tác Thể dục Thể thao trường học 5

1.2 Các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 11

1.2.1.Khái niệm Giáo dục thể chất 11

1.2.2.Khái niệm chương trình, đánh giá chương trình 13

1.2.2.1.Khái niệm chương trình 13

1.2.2.2.Những nguyên tắc xây dựng chương trình 16

1.2.2.3.Quy trình đánh giá chất lượng chương trình 18

1.2.2.4.Đánh giá chất lượng chương trình theo bộ tiêu chuẩn ASEAN University Netwok – Quality Assurance 25

1.2.2.5.Khái niệm về học phần, tín chỉ 26

1.2.3.Khái niệm về Câu lạc bộ thể thao 28

1.2.3.1.Khái niệm mô hình 28

1.2.3.2.Mô hình câu lạc bộ thể thao thao trường học 28

1.2.3.3.Khái niệm về Câu lạc bộ ở Việt Nam 31

1.3 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên 33

1.3.1 Đặc điểm sinh lý 33

1.3.2 Đặc điểm tâm lý 34

1.3.3.Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của sinh viên 36

1.4.Giới thiệu đôi nét về trường Đại học Sài Gòn 37

1.4.1.Quá trình hình thành và phát triển 37

1.4.2.Công tác giáo dục thể chất tại trường Đại học Sài Gòn 38

Trang 3

1.5.Các công trình nghiên cứu liên quan 39

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 45

2.1.Đối tượng nghiên cứu 45

2.1.1.Đối tượng nghiên cứu 45

2.1.2.Khách thể nghiên cứu 45

2.2.Phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1.Phương tổng hợp và phân tích tài liệu 45

2.2.2.Phương pháp quan sát sư phạm 46

2.2.3.Phương pháp phỏng vấn 46

2.2.3.1.Phương pháp phỏng vấn trực tiếp 46

2.2.3.2.Phương pháp phỏng vấn gián tiếp 47

2.2.4.Phương pháp kiểm tra sư phạm 47

2.2.4.1.Đánh giá thể lực chung 47

2.2.5.Phương pháp thực nghiệm sư phạm 49

2.2.6.Phương pháp phân tích SWOT 49

2.2.7.Phương pháp toán thống kê 50

2.3.Tổ chức nghiên cứu 52

2.3.1.Phạm vi nghiên cứu 52

2.3.2.Kế hoạch nghiên cứu 52

2.3.3.Địa điểm nghiên cứu 53

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 54

3.1.Đánh giá thực trạng chương trình các học phần thể thao tự chọn của sinh viên trường Đại học Sài Gòn 54

3.1.1.Đánh giá chung về chương trình giáo dục thể chất ở học phần thể thao tự chọn của sinh viên trường Đại học Sài Gòn 54

3.1.1.1.Thực trạng thực hiện chương trình 54

3.1.1.2.Kết quả học tập toàn khóa của sinh viên Đại học Sài Gòn giai đoạn 2010 2014 56

3.1.1.3.Đánh giá thực trạng thể lực của sinh viên trường Đại học Sài Gòn 56 3.1.2.Đánh giá thực trạng các điều kiện đảm bảo về chương trình giáo dục thể chất ở

Trang 4

học phần tự chọn của trường Đại học Sài Gòn 59

3.1.2.1.Công tác chỉ đạo và tổ chức quản lý 59

3.1.2.2.Chất lượng cán bộ giảng dạy 60

3.1.2.3.Cơ sở vật chất 62

3.1.2.4.Tài chính phục vụ chương trình 65

3.1.3.Đánh giá nhu cầu của sinh viên về chương trình giáo dục thể chất ở học phần tự chọn của trường đại học Sài Gòn 66

3.1.4.Đánh giá kết quả khảo sát của giảng viên, chuyên gia giáo dục thể chất về thực trạng chất lượng chương trình các môn thể thao tự chọn trường Đại học Sài Gòn 70

3.2.Xây dựng và ứng dụng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của trường Đại học Sài Gòn 74

3.2.1 Cơ sở pháp lý để thực hiện chương trình 74

3.2.1.1.Quán triệt mục tiêu 75

3.2.1.2.Đảm bảo tính khoa học 75

3.2.1.3.Lựa chọn nội dung giảng dạy 75

3.2.1.4.Sắp xếp nội dung chương trình 76

3.2.1.5.Đảm bảo tính thống nhất 76

3.2.1.6.Đảm bảo tính thực tiễn 76

3.2.1.7.Đảm bảo tính sư phạm 76

3.2.1.8.Đảm bảo tính cập nhật 77

3.2.1.9.Đảm bảo tính khả thi 77

3.2.2.Xây dựng mô hình câu lạc bộ thể dục thể thao nội khóa trong đào tạo tín chỉ trường Đại học Sài Gòn 78

3.2.2.1.Xác định các tiêu chí mô hình câu lạc bộ nội khóa trường Đại học Sài Gòn

78

3.2.2.2.Xây dựng nội dung cụ thể các tiêu chí mô hình câu lạc bộ thể dục thể thao nội khóa trường Đại học Sài Gòn 79

3.2.3.Phân tích SWOT về cơ sở thực tiễn khi thực hiện chương trình 81

3.2.4.Xác định mục tiêu để xây dựng nội dung chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ trường Đại học Sài Gòn 83

3.2.5.Nghiên cứu lựa chọn nội dung và xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình Câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ trường Đại học Sài Gòn 86

Trang 5

3.2.6.Những nội dung mới trong chương trình thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc

bộ so với chương trình cũ 100

3.2.7.Ứng dụng thực nghiệm chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình Câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ 102

3.3.Đánh giá hiệu quả ứng dụng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tín chỉ trường Đại học Sài Gòn 106

3.3.1 Kết quả đánh giá thể lực của 2 nhóm nam và nữ đối chứng, thực nghiệm sau khi thực nghiệm chương trình 106

3.3.1.1.Môn bóng đá 106

3.3.1.2 Môn bóng chuyền 110

3.3.1.3.Môn bóng bàn 114

3.3.1.4.Môn bóng rổ 118

3.3.1.5.Môn cầu lông 122

3.3.2.Phân loại thể lực của nhóm thực nghiệm nam, nữ năm thứ 2 với tiêu chuẩn của Bộ giáo dục và đào tạo 127

3.3.3.Đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên sau thực nghiệm 137

3.3.4.Đánh giá mức độ hài lòng của giảng viên, chuyên gia giáo dục thể chất về chất lượng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của trường Đại học Sài Gòn 142

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC:

Phụ lục 1.Cơ sở pháp lý thực hiện chương trình

Phụ lục 2.Bộ tiêu chuẩn ASEAN University Netwok – Quality Assurance

Phụ lục 3.Mẫu phiếu phỏng vấn và khảo sát

Phụ lục 4.Kết quả phỏng vấn lựa chọn nội dung giảng dạy của các môn thể thao tự chọn Phụ lục 5.Chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ

Phụ lục 6.Bảng tổng kết thành tích thể lực trước và sau thực nghiệm

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 6

STT TÊN BẢNG Trang

Bảng 3.1 Cấu trúc và nội dung chương trình các học phần tự chọn trong

đào tạo tín chỉ của trường Đại học Sài Gòn Sau 54

Bảng 3.2 Kết quả học tập toàn khóa của sinh viên Đại học Sài Gòn giai

Bảng 3.3 Thực trạng thể lực Nam sinh viên năm thứ 2 theo tiêu chuẩn

phân loại của Bộ giáo dục và Đào tạo thời điểm năm 2015 Sau 56

Bảng 3.4 Thực trạng thể lực Nữ sinh viên năm thứ 2 theo tiêu chuẩn

phân loại của Bộ giáo dục và Đào tạo thời điểm năm 2015 Sau 57

Bảng 3.5 Đội ngũ giảng viên môn GDTC tại trường Đại học Sài Gòn

Bảng 3.7 Cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy các học phần tự chọn

trường Đại học Sài Gòn giai đoạn 2010 – 2014 Sau 64

Bảng 3.8 Diện tích tập luyện các học phần tự chọn của sinh viên Sau 64

Bảng 3.10 Thực trạng sử dụng tài chính phục vụ cho chương trình giai

Sau 70

Bảng 3.13 Xác định mục tiêu mô hình CLB TDTT nội khóa trường ĐH

Bảng 3.14 Tổng hợp nội dung cụ thể các tiêu chí xác định mô hình CLB

Bảng 3.15

Bảng tổng hợp phiếu khảo sát của giảng viên, chuyên gia, cán

bộ quản lí và cộng tác viên, điều phối viên về mục tiêu chươngtrình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trườngĐại học Sài Gòn

Sau 85

Bảng 3.16 Cấu trúc và nội dung chương trình các học phần thể thao tự

chọn theo mô hình Câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ trường Đại

Sau 87

Trang 7

học Sài Gòn

Bảng 3.17

Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn nội dung và cấu trúcchương trình bóng đá tự chọn theo mô hình CLB trong đào tạotín chỉ

Sau 87

Bảng 3.18 Khung chương trình giảng dạy môn bóng đá tự chọn đổi mới

cho sinh viên không chuyên trường Đại học Sài Gòn Sau 90

Bảng 3.22 Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nam ĐC và TN sau khi

Bảng 3.23 Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ ĐC và TN sau khi

Bảng 3.24 Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nam ĐC và TN sau khi

Bảng 3.25 Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ ĐC và TN sau khi

Bảng 3.26 Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nam ĐC và TN sau khi

Bảng 3.27 Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ ĐC và TN sau khi

Bảng 3.28 Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nam ĐC và TN sau khi

Bảng 3.29 Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ ĐC và TN sau khi

Bảng 3.30 Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nam ĐC và TN sau khi

Bảng 3.31 Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ ĐC và TN sau khi

Bảng 3.32

Phân loại thể lực của nhóm TN nam sinh viên năm 2 học phần

tự chọn bóng đá với tiêu chuẩn phân loại thể lực của Bộ giáodục và Đào tạo

Sau 127 Bảng 3.33 Phân loại thể lực của nhóm TN nữ sinh viên năm 2 học phần tự Sau 128

Trang 8

chọn bóng đá với tiêu chuẩn phân loại thể lực của Bộ giáo dục

và Đào tạo

Bảng 3.34

Phân loại thể lực của nhóm TN nam sinh viên năm 2 học phần

tự chọn bóng chuyền với tiêu chuẩn phân loại thể lực của Bộgiáo dục và Đào tạo

Sau 129

Bảng 3.35

Phân loại thể lực của nhóm TN nữ sinh viên năm 2 học phần tựchọn bóng chuyền với tiêu chuẩn phân loại thể lực của Bộ giáodục và Đào tạo

Sau 130

Bảng 3.36

Phân loại thể lực của nhóm TN nam sinh viên năm 2 học phần

tự chọn bóng bàn với tiêu chuẩn phân loại thể lực của Bộ giáodục và Đào tạo

Sau 132

Bảng 3.37

Phân loại thể lực của nhóm TN nữ sinh viên năm 2 học phần tựchọn bóng bàn với tiêu chuẩn phân loại thể lực của Bộ giáodục và Đào tạo

Sau 133

Bảng 3.38

Phân loại thể lực của nhóm TN nam sinh viên năm 2 học phần

tự chọn bóng rổ với tiêu chuẩn phân loại thể lực của Bộ giáodục và Đào tạo

Phân loại thể lực của nhóm TN nam sinh viên năm 2 học phần

tự chọn cầu lông với tiêu chuẩn phân loại thể lực của Bộ giáodục và Đào tạo

Sau 138

Bảng 3.43

Kết quả khảo sát của giảng viên, cán bộ, cộng tác viên, điềuphối viên, cố vấn học tập quản lý về thực trạng chương trìnhmới của trường Đại học Sài Gòn

Sau 142

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nam đối chứng

và thực nghiệm sau khi kết thúc học phần Bóng đá Sau 108

Biểu đồ 3.2 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ đối chứng

và thực nghiệm sau khi kết thúc học phần Bóng đá Sau 110

Biểu đồ 3.3

So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nam, nữ đốichứng và thực nghiệm sau khi kết thúc học phần Bóngchuyền

Sau 112

Biểu đồ 3.4 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ đối chứng

và thực nghiệm sau khi kết thúc học phần Bóng chuyền Sau 114

Biểu đồ 3.5 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nam đối chứng

và thực nghiệm sau khi kết thúc học phần Bóng bàn Sau 116

Trang 10

Biểu đồ 3.6 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ đối chứng

và thực nghiệm sau khi kết thúc học phần Bóng bàn Sau 118

Biểu đồ 3.7 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nam đối chứng

và thực nghiệm sau khi kết thúc học phần Bóng rổ Sau 120

Biểu đồ 3.8 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ đối chứng

và thực nghiệm sau khi kết thúc học phần Bóng rổ Sau 122

Biểu đồ 3.9 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nam đối chứng

và thực nghiệm sau khi kết thúc học phần Cầu lông Sau 124

Biểu đồ 3.10 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ đối chứng

và thực nghiệm sau khi kết thúc học phần Cầu lông Sau 126

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

Giáo dục thể chất (GDTC) là một bộ phận cơ bản trong hệ thống giáo dụccủa nhà trường xã hội chủ nghĩa Muốn phát triển phong trào thể dục thể thao(TDTT), thì không thể thiếu được vai trò của GDTC trong nhà trường Đảng

và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác TDTT nói chung và công tác GDTCtrong nhà trường nói riêng.[30]

Tại hội nghị trực tuyến triển khai Nghị quyết 08 ngày 01/12/2011 của Bộ

Chính trị “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020”[13] và Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 28/04/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Phê duyệt đề án tổng thể phát triển thể lực và tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030”[45] Theo đó, GDTC là môn học

chính khóa thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vậnđộng cơ bản cho mọi người thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phầnthực hiện mục tiêu giáo dục con người phát triển toàn diện, đáp ứng nhu cầu pháttriển tinh thần và thể chất cho học sinh, sinh viên Không những thế, GDTC vàthể thao trường học phải là nền tảng để phát triển thể thao thành tích cao

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự đổi mới căn bản, toàndiện về chương trình giáo dục là một trong những chủ trương đã đề ra Chươngtrình đào tạo của các trường cũng sẽ được thiết kế theo những hướng khác nhau.Chương trình đào tạo sắp tới sẽ rất mềm dẻo phụ thuộc vào năng lực đội ngũ củatừng trường, làm sao chất lượng đầu ra không thấp hơn ngưỡng quy định Điềunày sẽ khuyến khích các trường cạnh tranh nâng cao chất lượng đào tạo Nhữngtrường có đội ngũ giáo viên giỏi sẽ thiết kế được chương trình hay, chất lượngđào tạo sẽ cao, tăng uy tín và tạo được sức hút đối với người học Từ đây, chươngtrình đào tạo cần phải được tổ chức xây dựng (đối với chương trình mới) và điềuchỉnh (đối với chương trình cũ) theo đúng hướng tiếp cận năng lực thực hiện màbản chất là dạy gắn kết giữa lý luận và thực tiễn Tiến tới, Bộ GD&ĐT sẽ khôngquy định chương trình khung như trước đây mà chỉ quy định thời gian đào tạo,khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được saukhi tốt nghiệp Hệ thống giáo dục đại học thay đổi theo mục tiêu đào tạo để đápứng nhu cầu nhân lực đa dạng theo tinh thần của Nghị quyết số 29 NQ/TW khóa

Trang 12

XI ngày 04/11/2013 về “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”[7] Việc nắm vững các cơ sở lý luận để xây

dựng chương trình là nhân tố quyết định việc xây dựng chương trình đào tạokhoa học và phù hợp với đặc điểm người học

Đại học Sài Gòn là cơ sở giáo dục Đại học công lập trực thuộc Ủy BanNhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh, chịu sự quản lý Nhà Nước về giáo dục của

Bộ Giáo dục và Đào tạo, có chức năng đào tạo đa ngành, đa cấp, đa lĩnh vực, từtrình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học Hiện nay trường đang tổchức đào tạo 30 chuyên ngành cấp độ Đại học, 24 chuyên ngành cấp độ caođẳng, 4 chuyên ngành cấp độ trung cấp thuộc lĩnh vực: Kinh tế - kỹ thuật - vănhóa - xã hội - chính trị - nghệ thuật và sư phạm với số lượng hơn 10.000 sinhviên Ngoài ra trường còn có các khoa đào tạo các môn chung Trong đó nổi bật

là khoa Giáo dục quốc phòng-An ninh và Giáo dục thể chất

Khoa GDQP-AN&GDTC hiện đang quản lý các công tác GDTC, QP-ANcho trường trong nhiều năm qua Ngoài những thành tựu đã đạt được, còn đónhững vấn đề khó khăn chưa giải quyết triệt để, đặc biệt là chương trình các mônthể thao tự chọn sau khi chuyển qua hình thức đào tạo tín chỉ theo Quyết định số

43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 “V/v Ban hành Quy chế đào tạo đại học

và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”.[14]

Chương trình GDTC các môn thể thao tự chọn của trường Đại học SàiGòn sau năm năm triển khai theo hình thức đào tạo tín chỉ đã bộc lộ những bấtcập và khó khăn Trước tình hình đó, căn cứ theo Nghị định số 185/2007 ngày

25/12/2007 của Thủ tướng chính phủ, V/v qui định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, quy định mẫu về tổ chức và hoạt động của câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở [43], Quyết định 2653/QĐ/BGD-ĐT ngày 25/7/2014 về kế hoạch hành động của ngành giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 9/6/2014[19], Thông tư 07/2015/TT-BGDĐT ngày 16/04/2015, Ban hành qui định về kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình

độ đào tạo của giáo dục đại học, và qui trình xây dựng, thẩm định, ban hành

Trang 13

chương trình đào tạo [82] Ban giám hiệu trường ĐHSG đã đồng ý phê duyệt,

thông qua đề cương luận án tiến sĩ của NCS Trần Ngọc Cương với tên gọi:

“Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình Câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn”.

Đây chính là ý tưởng mà tôi chọn để nghiên cứu trong bậc học tiến sĩ củamình, nhằm nâng cao chất lượng công tác GDTC cho trường Đại học Sài Gòn

Mục đích nghiên cứu.

Xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình Câu lạc bộtrong đào tạo tín chỉ để nâng cao chất lượng giáo dục thể chất của sinh viêntrường Đại học Sài Gòn

Mục tiêu nghiên cứu.

Mục tiêu 1 Đánh giá chương trình môn thể thao tự chọn của sinh viên trường Đại học Sài Gòn

- Đánh giá chung về chương trình các môn thể thao tự chọn của trườngĐại học Sài Gòn

- Đánh giá các điều kiện đảm bảo về chương trình GDTC các môn thểthao tự chọn của trường Đại học Sài Gòn

- Đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên về chương trình các môn thểthao tự chọn của trường Đại học Sài Gòn

- Đánh giá kết quả khảo sát của giảng viên và cán bộ quản lý về thực trạngchương trình các môn thể thao tự chọn trường Đại học Sài Gòn

Mục tiêu 2 Xây dựng và ứng dụng chương trình GDTC các học phần

tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ.

- Cơ sở pháp lý để thực hiện chương trình GDTC các học phần tự chọntheo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của trường Đại học Sài Gòn

- Xây dựng mô hình câu lạc bộ (CLB) TDTT nội khóa trong đào tạo tínchỉ trường Đại học Sài Gòn

- Cơ sở thực tiễn khi thực hiện chương trình mới

- Xác định mục tiêu để xây dựng nội dung chương trình các môn thể thao

tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của trường Đại học SàiGòn

- Nghiên cứu lựa chọn nội dung và xây dựng chương trình các môn thểthao tự chọn theo mô hình CLB trong đào tạo tín chỉ của trường Đại học Sài Gòn

- Những nội dung mới trong chương trình các môn thể thao tự chọn theo

mô hình CLB so với chương trình cũ

- Tổ chức ứng dụng thực nghiệm chương trình các môn thể thao tự chọn

Trang 14

theo mô hình CLB trong đào tạo tín chỉ

Mục tiêu 3 Đánh giá hiệu quả chương trình chương trình GDTC các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ Trường Đại học Sài Gòn.

- Đánh giá sự tăng trưởng về thể lực của 2 nhóm đối chứng và thực

nghiệm trước và sau khi thực nghiệm chương trình

- Phân loại thể lực của nhóm ĐC và TN năm thứ 2 với tiêu chuẩn của BộGD&ĐT

- Đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên sau thực nghiệm

- Đánh giá mức độ hài lòng của cán bộ, giảng viên, chuyên gia GDTC chấtlượng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đàotạo tín chỉ của Trường Đại học Sài Gòn

Giả thiết khoa học của luận án.

Từ những nguyên nhân hạn chế và khó khăn về thực trạng chương trìnhcác môn thể thao tự chọn của sinh viên trường Đại học Sài Gòn Giả thiết màluận án đưa ra là xây dựng một chương trình mới và nếu ứng dụng đạt hiệu quảcao sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập môn GDTC cho sinh viên Trên cơ

sở đó, luận án nghiên cứu xây dựng một chương trình các môn thể thao tự chọntheo mô hình CLB thể thao cho sinh viên trường Đại học Sài Gòn

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục - đào tạo và công tác TDTT trường học.

Giáo dục đào tạo là một vấn đề quan trọng trong đời sống xã hội, là biểuhiện trình độ phát triển của mỗi Quốc gia Đảng và Nhà nước ta đã xác địnhGD&ĐT là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cách mạng Việt Nam

Nghị quyết Đại hội Đảng khóa IX (2001) cũng nêu rõ: “Tiếp tục nâng cao

Trang 15

chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa xã hội, xã hội hóa”.[2]

Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về đổi mới căn bản toàn diện

giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2010 với mục tiêu“Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả

và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình

độ tiên tiến trên thế giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ”.[42]

Đến Đại hội Đảng khóa X (2006), Đảng tiếp tục khẳng định “Đường lối phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, quán triệt quan điểm coi giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu”.[4]

Đại hội Đảng khóa XI (2011) của Đảng xác định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý GD, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng GD, ĐT, coi trọng GD đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp ”.[5]

Nghị quyết số 29-NQ/TW khóa XI ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản,toàn diện GD và ĐT đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị

trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, với quan điểm chỉ đạo: “Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện, đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở GD và ĐT và việc tham gia của gia đình, cộng đồng xã hội và bản thân người học, đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.”.[7]

Trang 16

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII ( 2016 ) Đảng Cộng sản Việt Nam

khẳng định:“GD là quốc sách hàng đầu Phát triển GD và ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình GD chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Phát triển GD và ĐT phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; với tiến

bộ khoa học-công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động”.[8]

Luận án tiếp thu những quan điểm của Đảng, Nhà nước về GD và ĐT, đó

là sự đổi mới toàn diện về con người với những tri thức, năng lực và phẩm chấtđạo đức, chính sách phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, ứng dụngkhoa học công nghệ với thực tiễn xã hội, rèn luyện sức khỏe để xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Những quan điểm trên làm cơ sở cho việc nghiên cứu xây dựngchương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình Câu lạc bộ trong đào tạo tínchỉ của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn

Đường lối quan điểm của Đảng về công tác TDTT, được hình thành ngay

từ những năm đầu của cách mạng nước ta, đã từng bước được bổ sung, hoànchỉnh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng và luôn luôn

là kim chỉ nam cho sự phát triển của nền TDTT nước nhà

Chỉ thị 17- CT/TW ngày 23/10/2002 về phát triển TDTT đến năm 2010,

Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ đạo: “Đẩy mạnh hoạt động TDTT trong trường học TDTT trường học là bộ phận quan trọng của phong trào TD, TT, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên, cần được quan tâm đầu tư đúng mức”.[3]

Nghị quyết TW8 ngày 01/12/2011 về tăng cường sự lãnh đạo mạnh mẽcủa Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 đã nhấn mạnh:

“Phát triển TD, TT là một yêu cầu khách quan của xã hội, nhằm góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực, giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan hệ

Trang 17

hữu nghị và hợp tác quốc tế, đồng thời, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi người dân Các cấp ủy đảng có trách nhiệm thường xuyên lãnh đạo công tác TD, TT, bảo đảm cho sự nghiệp TD,

TT ngày càng phát triển”.[6]

Chủ trương xã hội hóa các hoạt động của chính phủ thông qua Nghị quyết

số 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2005 về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt

động giáo dục, y tế, văn hóa và TDTT với quan điểm “Thực hiện xã hội hoá nhằm hai mục tiêu lớn: thứ nhất là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, TDTT; thứ hai là tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được thụ hưởng thành quả giáo dục, y tế, văn hoá, TDTT ở mức độ ngày càng cao” [41]

Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 641/QĐ-TTg ngày 28/04/2011, V/v phêduyệt đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-

2030 với nhiệm vụ: “Nâng cao chất lượng giờ học thể dục chính khóa; tổ chức các hoạt động TDTT ngoại khóa, hướng dẫn học sinh tự luyện tập TDTT để tăng cường thể lực, cải thiện chiều cao thân thể”.[45]

Thông tư số 07/2015/TT-BGD&ĐT ngày 16/04/2015, Ban hành qui định

về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được saukhi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học và quy trình xâydựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ

Tại Thông tư này, “Bộ cũng qui định rõ về khối lượng kiến thức tối thiểu đối với các trình độ đào tạo, cụ thể, trình độ đào tạo đại học là 120 tín chỉ Trong đó, một tín chỉ tương ứng với 15 giờ học lý thuyết và 30 giờ tự học hoặc 30 giờ thực hành, thí nghiệm, thảo luận và 15 tự học Đồng thời, người học sau khi tốt nghiệp chương trình đào tạo đại học phải có kiến thức lý thuyết chuyên sâu trong lĩnh vực đào tạo”[82]

Thông tư số 25/2015/TT-BGDĐT ngày 14/10/2015, Qui định về chươngtrình môn học GDTC thuộc các chương trình đào tạo trình độ đại học, cụ thể nhưsau:

Trang 18

+ “Về mục tiêu chương trình là nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen tập luyện thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, hoàn thiện nhân cách, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”.

+ “Khối lượng kiến thức của chương trình môn học Giáo dục thể chất mà người học cần tích lũy tối thiểu là 3 (ba) tín chỉ Cơ sở giáo dục đại học quy định

cụ thể khối lượng kiến thức môn học này phù hợp với yêu cầu của từng ngành đào tạo”

+ “Tổ chức xây dựng chương trình là Giám đốc đại học, học viện; Hiệu trưởng trường đại học (sau đây gọi chung là Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học) quyết định số lượng thành viên tham gia và ra quyết định thành lập tổ soạn thảo chương trình môn học Giáo dục thể chất (sau đây gọi là Tổ soạn thảo)”.[83]

Thông tư 04/2016/ TT-BGDĐT ngày 14/03/2016, ban hành qui định vềtiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ đại học đượcthể hiện như sau:

+ Tiêu chuẩn 1: “Mục tiêu của chương trình đào tạo được xác định rõ ràng, phù hợp với sứ mạng và tầm nhìn của cơ sở giáo dục đại học, phù hợp với mục tiêu của giáo dục đại học quy định tại Luật giáo dục đại học”

+ Tiêu chuẩn 2: “Bản mô tả chương trình đào tạo đầy đủ thông tin và cập nhật, Đề cương các học phần đầy đủ thông tin và cập nhật, Bản mô tả chương trình đào tạo và đề cương các học phần được công bố công khai và các bên liên quan dễ dàng tiếp cận”

+ Tiêu chuẩn 3: “Cấu trúc và nội dung chương trình dạy học được thiết kế dựa trên chuẩn đầu ra Đóng góp của mỗi học phần trong việc đạt được chuẩn đầu ra là rõ ràng Chương trình dạy học có cấu trúc, trình tự logic; nội dung cập nhật và có tính tích hợp.”

+ Tiêu chuẩn 4: “Phương pháp tiếp cận trong dạy và học với triết lý giáo dục hoặc mục tiêu giáo dục được tuyên bố rõ ràng và được phổ biến tới các bên liên quan Các hoạt động dạy và học được thiết kế phù hợp để đạt được chuẩn

Trang 19

Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1076/QĐ-TTg ngày 17/06/2016 vềphê duyệt Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học giai

đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025 với nhiệm vụ “Thực hiện tốt giáo dục thể chất theo chương trình nội khóa, phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của học sinh, sinh viên và góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của học sinh, sinh viên Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục hiện có, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học, củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và TD, TT trường học”.[49]

Hoạt động đổi mới trong giáo dục đại học hiện nay.

Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/06/2012 về chiến lược phát triển GD

2011-2020 yêu cầu nhiệm vụ: “Đổi mới cơ bản và toàn diện GD đại học, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển các

Trang 20

chương trình giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và định hướng nghề nghiệp - ứng dụng Bảo đảm sự liên thông giữa các chương trình trong toàn hệ thống Xây dựng và hoàn thiện các giải pháp bảo đảm chất lượng và hệ thống kiểm định giáo dục đại học.Xây dựng một vài trường đại học đẳng cấp quốc tế.

Mở rộng quy mô đào tạo, xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý GD đại học đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến, bảo đảm tỷ lệ sinh viên/giảng viên của hệ thống GD đại học không quá 20 Đến năm 2010 có ít nhất 40% giảng viên đạt trình độ thạc sỹ và 25% đạt trình độ tiến sỹ, đến năm 2020

có ít nhất 60% giảng viên đạt trình độ thạc sỹ và 35% đạt trình độ tiến sỹ ”.[46]

Nâng cao rõ rệt quy mô và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệtrong các cơ sở GD đại học Các trường đại học lớn phải là các trung tâm nghiêncứu khoa học mạnh của cả nước Hoàn thiện chính sách phát triển GD đại họctheo hướng bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở GD đại học,

sự quản lý của Nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với GD đạihọc.[46]

Đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo:

Cơ cấu lại khung chương trình, bảo đảm sự liên thông của các cấp học;giải quyết tốt mối quan hệ về khối lượng kiến thức và thời lượng học tập giữa cácmôn giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp, nâng cao hiệu quả đào tạocủa từng môn học Đổi mới nội dung đào tạo, gắn kết chặt chẽ với thực tiễnnghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nghề nghiệp trong xã hội, phục vụyêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng lĩnh vực, tiếp cận trình độtiên tiến của thế giới Phát triển tiềm năng nghiên cứu sáng tạo, kỹ năng nghềnghiệp, năng lực hoạt động trong cộng đồng và khả năng lập nghiệp của người học

Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học,phát huy tính chủ động của người học, sử dụng công nghệ thông tin và truyềnthông trong hoạt động dạy và học Khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở vànguồn tư liệu trên mạng Internet Lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trìnhtiên tiến của các nước

Đổi mới cơ chế giao chỉ tiêu tuyển sinh theo hướng gắn với điều kiện bảo

Trang 21

đảm chất lượng đào tạo, yêu cầu sử dụng nhân lực, nhu cầu học tập của nhân dân

và tăng quyền tự chủ của các cơ sở GD đại học

Cải tiến tuyển sinh theo hướng áp dụng công nghệ đo lường giáo dục hiệnđại Mở rộng nguồn tuyển, tạo thêm cơ hội học tập cho các đối tượng khó khăn,bảo đảm công bằng xã hội trong tuyển sinh

Chấn chỉnh công tác tổ chức đào tạo, đổi mới nội dung, phương pháp đàotạo để nâng cao chất lượng đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ.[46]

Dựa trên những quan điểm của Đảng, Nhà nước về TDTT trường học vànhững hoạt động đổi mới của giáo dục hiện nay, luận án tiến hành triển khai thựchiện các công việc liên quan, cụ thể như: rà soát lại chương trình cũ, xin ý kiếnBan giám hiệu thành lập ban xây dựng và thẩm định chương trình mới, chuẩn bịnhân sự, cơ sở vật chất, đưa chương trình vào thực nghiệm

1.2.Các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

1.2.1.Khái niệm về Giáo dục thể chất

Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn “Giáo dục thể chất (GDTC) là một

bộ phận của GD nói chung cũng như các ngành GD khác, GDTC bao gồm những nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng thông qua trình sư phạm hoặc dưới hình thức tự giáo dục”.[30]

Theo Novicov A.D, Matveep L.P “Giáo dục thể chất là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dưỡng nhất định, mà đặc điểm của quá trình này có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm, có vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động tương ứng với các nguyên tắc sư phạm”.[64]

Trong GDTC có hai bộ phận đặc thù cơ bản là giảng dạy các động tác (cáchành vi vận động) và GD các tố chất thể lực (các năng lực thể chất) Nói cáchkhác đặc điểm giáo dục thể chất là giảng dạy kỹ thuật động tác và bồi dưỡng thểlực cho người học, đồng thời thông qua lượng vận động của các bài tập mà kíchthích điều chỉnh sự phát triển các đặc tính tự nhiên của cơ thể: Sức mạnh, sứcbền Nhờ các bài tập thể dục ta có thể thay đổi được hình thái chức năng, tạo ranhững biến đổi thích nghi ngày càng tăng lên của cơ thể như: hoàn thiện các chứcnăng điều chỉnh của hệ thần kinh, làm tăng trưởng cơ bắp, tăng thêm khả năng

Trang 22

chức phận của hệ tim mạch.[59],[30]

Theo Quyết định số 904/QĐ-BGDĐT ngày 14/02/2004 về hướng dẫn thực

hiện chương trình GDTC trong các trường ĐH, CĐ có qui định: “GDTC nội khóa là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho mọi người thông qua các bài tập và trò chơi vận động đáp ứng nhu cầu phát triển tinh thần và thể chất cho học sinh, sinh viên, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục con người phát triển toàn diện, không những thế, GDTC và thể thao trường học phải là nền tảng để phát triển thể thao thành tích cao”.[11]

Quyết định số 72/2008/QĐ-BGDĐT về việc ban hành qui định tổ chức

hoạt động TDTT ngoại khóa cho học sinh, sinh viên qui định: “GDTC ngoại khóa là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khóa phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao GDTC ngoại khóa tạo sự chuyển biến rõ rệt về thể thao trường học góp phần nâng cao thể trạng và tầm vóc người Việt Nam, giáo dục con người phát triển toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển tinh thần của học sinh, sinh viên - lực lượng tham gia vào quá trình lao động, xây dựng bảo vệ Tổ quốc sau này”.[16]

Xây dựng mới chương trình các môn thể thao tự chọn phải được tuân thủtheo đúng các chức năng, nhiệm vụ, vai trò của GDTC, các văn bản của BộGD&ĐT nhằm đáp ứng nhu cầu TDTT cho sinh viên, giáo dục con người pháttriển toàn diện, nâng cao chất lượng đào tạo

1.2.2.Khái niệm về chương trình, đánh giá chương trình.

1.2.2.1.Khái niệm chương trình.

Theo từ điển Giáo dục học-NXB Từ điển bách khoa 2001 Khái niệm

chương trình đào tạo được hiểu là:“Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở GD và ĐT”.[50]

Trang 23

Chương trình khung là khung qui định cứng về chương trình đào tạo theoQuyết định số 15/2004/QĐ-BGDĐT, trong đó có số đơn vị học trình (ĐVHT)cần được đào tạo, danh sách ở một số môn học chung cho tất cả các trường cóđào tạo ngành đó Chương trình khung do Bộ GD-ĐT ban hành không phải làmột chương trình đào tạo hoàn chỉnh mà chỉ là phần nội dung cứng.[10]

Chương trình đào tạo hiện nay theo thông tư 08/2011/TT-BGDĐT ngày17/2/2011 của Bộ Giáo dục Đào tạo qui định gồm 9 phần: 1/mục tiêu đào tạo,2/Thời gian đào tạo, 3/Khối lượng kiến thức toàn khóa, 4/Đối tượng tuyển sinh,5/Quy trình đào tạo, 6/Thang điểm, 7/Nội dung chương trình, 8/ Kế hoạch giảngdạy, 9/Hướng dẫn thực hiện chương trình.[17]

Cấu trúc chương trình các học phần thể thao tự chọn GDTC là một vănbản dựa vào kế hoạch giảng dạy chung của trường để qui định nội dung dạy học

và chỉ đạo dạy học Chương trình chỉ rõ phương pháp dạy học, qui định mật độ,phạm vi và hệ thống nội dung dạy học, cũng như yêu cầu cơ bản đối với dạy học

Nó là chỗ dựa để biên soạn giáo trình các học phần thể thao tự chọn và giáo viêntiến hành giảng dạy, là căn cứ để quản lý công tác dạy học Chương trình và giáotrình các học phần tự chọn GDTC do Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định và banhành [9]

Kết cấu chương trình các học phần thể thao tự chọn GDTC nói chung baogồm 3 phần cơ bản:

a.Thuyết minh chương trình gồm các phần sau:

Mục tiêu và nhiệm vụ giảng dạy các học phần thể thao tự chọn

Nguyên tắc xây dựng chương trình

Phân phối thời gian của các nội dung dạy học

Yêu cầu cơ bản của công tác giảng dạy các học phần thể thao tự chọn

b.Chương trình chi tiết:

Đây là phần chính của chương trình, có hình thức diễn đạt ngắn gọn, rõràng, qui định nội dung chương trình và qui mô của chương trình đó Cách thứcdiễn đạt có 3 loại:

Phân phối nội dung theo năm học

Phân phối theo hệ thống nội dung

Phân phối nội dung áp dụng ở cả hai cách trên

c.Nội dung và tiêu chuẩn thi, kiểm tra kết thúc.

Trang 24

Phần này qui định biện pháp kiểm tra, nội dung kiểm tra và tiêu chuẩnđánh giá giờ học

d.Nguyên tắc biên soạn.

Nguyên tắc biên soạn chương trình cần đảm bảo các điều kiện sau:

Kết hợp giữa tăng cường thể chất và phát triển toàn diện

Xây dựng quan niệm về giá trị giảng dạy GDTC hiện đại như giá trị sinhhọc, giá trị tâm lý học, giáo dục học, xã hội học và mỹ học

Phát triển toàn diện thể chất, sinh lý và tâm đức cho sinh viên

Quán triệt trong các giai đoạn giảng dạy, đặc biệt là khi xác định nhiệm vụgiảng dạy, lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy

Kết hợp giữa vai trò của giảng viên và tính tích cực tự giác của sinh viên.Xây dựng sự hứng thú và động cơ học tập GDTC đúng đắn cho sinh viên

để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ và yêu cầu của chương trình đề ra

Trình độ đội ngũ cán bộ giảng dạy phải đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ

và yêu cầu của chương trình đề ra

Dựa vào nguồn kinh phí, cơ sở hạ tầng và trang thiết bị tập luyện hiện có

e.Đề cương chi tiết phải được thể hiện cụ thể rõ ràng về thời lượng, nội

dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng học phần, từng giai đoạncủa quá trình giảng dạy

f.Giáo án giảng dạy phải theo đúng trình tự và nội dung mà đề cương chi

tiết đã xây dựng Giáo án giảng dạy phải thể hiện được khối lượng vận động,quãng nghỉ và phương pháp giảng dạy hợp lý

g.Đề cương chi tiết học phần là giới thiệu khái quát về học phần có trong

chương trình đào tạo, liệt kê các chủ đề.chương, mục được cung cấp trong họcphần và sắp xếp theo trình tự logic để việc giảng dạy và học tập đạt hiệu quả caonhất Học phần được chia làm 2 loại: Học phần bắt buộc ( phần cứng ) được BộGD&ĐT, trường hoặc khoa chuyên ngành xác định là không thể bỏ qua để có đủkiến thức làm nền tảng cho việc tích lũy những kiến thức chuyên ngành thiết kế ởtrình độ theo yêu cầu Đề cương chi tiết học phần gồm: tên học phần, số ĐVHT,

bộ môn phụ trách, mô tả học phần, mục tiêu học phần, nội dung học phần, tài liệutham khảo, phương pháp đánh giá.[9]

Theo Wentling ( 1993 ): “Chương trình đào tạo (Program of Training) làmột bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo ( khoá đào tạo ) cho biếttoàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở người học sau

Trang 25

khoá đào tạo, phác thảo ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, cácphương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và tất cảnhững cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ.”[78]

Theo Tyler (1949) cho rằng :” Chương trình đào tạo về cấu trúc phải có 4phần cơ bản:

Mục tiêu đào tạo

Nội dung đào tạo

Phương pháp hay quy trình đào tạo

Cách đánh giá kết quả đào tạo.[75]

Văn bản chương trình giáo dục phổ thông của Hàn quốc (The SchoolCurriculum of the Republic of Korea bao gồm 4 thành phần cơ bản sau:

Định hướng thiết kế chương trình

Mục tiêu giáo dục của các bậc, cấp học phổ thông

Các môn, phần học và phân phối thời gian nội dung, kế hoạch dạy học Chỉ dẫn về tổ chức thực hiện và đánh giá chương trình

Trên cơ sở chương trình giáo dục chung (hoặc chương trình khung) đượcquy định bởi các cơ quan quản lý giáo dục các cơ sở giáo dục tổ chức xây dựngcác chương trình chi tiết hay còn gọi là chương trình đào tạo Chương trình đàotạo (Curriculum) là bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy trong một khoá đàotạo phản ánh cụ thể mục tiêu, nội dung, cấu trúc, trình tự cách thức tổ chức thựchiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động giảng dạy cho toàn khoá đào tạo và chotừng môn học, phần học, chương, mục và bài giảng Chương trình đào tạo do các

cơ sở đào tạo xây dựng trên cơ sở chương trình đào tạo đã được các cấp có thẩmquyền phê duyệt Như vậy chương trình đào tạo hay chương trình giảng dạykhông chỉ phản ánh nội dung đào tạo mà là một văn bản hay bản thiết kế thể hiệntổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổchức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo.[76]

1.2.2.2.Những nguyên tắc xây dựng chương trình.

Dựa vào nguồn tài liệu xây dựng chương trình khung cho các ngành đàotạo Đại học và Cao đẳng của BGDĐT (2003) [9], Chương trình khung giáo dục

Trang 26

Nguyên tắc xây dựng chương trình được coi là bắt buộc để xác định tínhpháp lý của quá trình xây dựng chương trình, nguyên tắc có tác dụng định hướngđảm bảo cho việc thiết kế chương trình mang tính khoa học, thực tiễn Trong xâydựng và thiết kế chương trình có 2 loại nguyên tắc đó là nguyên tắc cơ bản vànguyên tắc đặc thù.

- Nguyên tắc cơ bản: Là nguyên tắc mang tính pháp lý và phổ cập mà bất

kì chương trình nào cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt

- Nguyên tắc đặc thù: Là nguyên tắc được cấu trúc nhằm định hướng cụ

thể cho mỗi loại chuyên ngành đào tạo khác nhau

Những nguyên tắc đặc thù theo nghề nghiệp đều mang những nét đặctrưng cơ bản của 5 nguyên tắc sau:

+ Quán triệt mục tiêu.

Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức,

kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghềnghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiệncho người lao động có khả năng tìm việc làm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

xã hội, củng cố quốc phòng an ninh

+ Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học.

Tính khoa học của thiết kế và xây dựng chương trình môn học GDTCđược thể hiện ở 2 mặt

• Lựa chọn nội dung chương trình cần cập nhật những tiến bộ của khoa học côngnghệ, phù hợp với điều kiện thực tiễn của trường, nội dung phù hợp với tính chất

và đặc điểm của sinh viên, giải quyết được hai vấn đề cơ bản của GDTC là trang

bị cho sinh viên thể lực chung và thể lực chuyên môn đáp ứng nhu cầu học tập vàlao động

Trang 27

• Sắp xếp nội dung chương trình

Nội dung chương trình được sắp xếp phải đảm bảo tính kế thừa, nội dungsau phải kế thừa được kết quả của nội dung trước, tận dụng tối đa sự chuyển kỹxảo các hoạt động vận động trên nền tảng đã có với các môn thể thao đặc biệt làcác môn có tính kế thừa sự chuyển kỹ xảo tốt Lựa chọn nội dung môn họcGDTC phải đảm bảo đồng bộ giữa phát triển thể lực chung và thể lực chuyênmôn Ứng dụng có hiệu quả các phương pháp giảng dạy tích cực, các nguyên tắc

cơ bản của GDTC

+ Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất.

• Tính thống nhất giữa mục tiêu và nội dung, phương pháp giáo dục cho sinh viên,

sự thống nhất giữa mục tiêu của chương trình môn học và mục tiêu đào tạo phảiphù hợp Chương trình phải phù hợp với thực tiễn của hệ thống trường đại học,phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, xu thế phát triển của khoa họccông nghệ của nền sản xuất hiện đại Chương trình còn xuất phát từ trình độ vàthể lực của người học và những điều kiện đảm bảo thực thi của chương trình

+ Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn.

• Phải căn cứ vào thực tiễn và hoàn cảnh cụ thể Tính thực tiễn của chương trìnhcũng cần đặt trong sự tương quan giữa trình độ giáo dục của Việt Nam với khuvực và trên thế giới với những điều kiện đảm bảo như đội ngũ giảng viên, cơ sởvật chất, chủ trương cho việc thực thi chương trình

• Tính thực tiễn của chương trình còn thể hiện ở việc yêu cầu người học khi kếtthúc chương trình phải có khả năng phân tích được các bài tập, tự tập luyện nângcao thể chất, có khả năng tổ chức và điều khiển các hoạt động tự kiểm tra đánhgiá sức khỏe và biết giữ vệ sinh tập luyện, giữ gìn sức khỏe

+ Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm.

Xây dựng chương trình các môn học nói chung và chương trình GDTCnói riêng bao gồm 4 yếu tố cơ bản:

Lựa chọn nội dung chương trình

Cấu trúc nội dung chương trình

Phương pháp giảng dạy

Quá trình kiểm tra đánh giá

Tóm lại, chương trình mới phải được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơbản và nguyên tắc đặc thù như: Quán triệt mục tiêu, đảm bảo tính khoa học, tính

Trang 28

thống nhất, tính thực tiễn, tính sư phạm

1.2.2.3.Quy trình đánh giá chất lượng chương trình.

Theo tài liệu của United Nation Educational Scientific and CulturalOrganization (UNESCO), đánh giá chương trình đào tạo (CTĐT) là quá trìnhphân tích tổng thể có hệ thống, có phê phán để đi đến nhận xét về chất lượng củaCTĐT [77]

Theo tác giả Nguyễn Kim Dung ( 2006 ), đánh giá CTĐT lá quá trình xemxét toàn bộ các nhân tố của chương trình để kiểm tra chương trình có đạt được tất

cả những mục tiêu theo các phương pháp đã đề ra hay không.[24]

Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 1/11/2007, về việc ban hànhquy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học có khái niệmnhư sau: Đánh giá chương trình đào tạo là một hoạt động quan trọng và thườngxuyên trong các trường đại học Ở nhiều nước, đánh giá chương trình là mộtphần không thể thiếu trong quá trình kiểm định nhà trường và kiểm định chươngtrình đào tạo Hầu hết các chương trình đào tạo đều được kiểm định để đảm bảorằng nhà trường đã đào tạo nguồn nhân lực có các kiến thức, kỹ năng và phẩmchất đạo đức đáp ứng chuẩn nghề nghiệp do các Hiệp hội kiểm định nghề nghiệp

đề ra và đáp ứng các yêu cầu của các ngành nghề trong xã hội Trong quá trìnhkiểm định chương trình thì các hoạt động và tiến trình đánh giá chương trìnhđóng vai trò quan trọng cung cấp các bằng chứng cần thiết cho việc kiểm định.[13]

Đánh giá chương trình là sự thu thập cẩn thận các thông tin về mộtchương trình hoặc một vài khía cạnh của một chương trình để ra các quyết định

cần thiết đối với chương trình.[68]

Tương đương với các nguyên tắc chỉ dẫn đánh giá trên, Peter F.Oliva(1997) Bộ phân đánh giá và đổi mới chương trình của trường đại học Austin đưa

ra chín bước cần thực hiện khi đánh giá chương trình sau đây:[70]

Bước 1.Mô tả chương trình.

Mô tả sứ mạng và các mục tiêu của các hoạt động giảng dạy, các đổi mới

mà chương trình giảng dạy sẽ được đánh giá hoặc đo lường Các mô tả này cungcấp tư liệu tham khảo cho việc đưa ra các quyết định đánh giá sau đó Các mô tảnày bao gồm: Tuyên ngôn về nhu cầu, Hiệu quả giảng dạy mong muốn, Các hoạtđộng giảng dạy, Các nguồn lực sẵn có, Các giai đoạn phát triển chương trình,

Trang 29

Điều kiện giảng dạy

Bước 2.Xác định nhu cầu của những người liên quan.

Nhu cầu của những người liên quan phản ánh những câu hỏi trọng tâm của

họ về hoạt động, việc đổi mới chương trình giảng dạy Xác định được các nhucầu của những người liên quan giúp cho các kết quả đánh giá được sử dụng tốtnhất

Bước 3.Xác định mục đích đánh giá.

Đưa ra một mục đích rõ ràng sẽ tránh được việc đưa ra các quyết địnhnóng vội về cách thực hiện việc đánh giá Ba mục đích phổ biến cho việc đolường và đánh giá chương trình giảng dạy là: Đánh giá bản chất, thay đổi việcthực hành, đo lường hiệu quả

Bước 4.Xác định các dự định sử dụng kết quả đánh giá.

Các dự định sử dụng kết quả đánh giá là các cách cụ thể để ứng dụng kếtquả đánh giá Các dự định sử dụng kết quả đánh giá nên được lên kế hoạch, ưutiên và gắn kết với các vấn đề nghiên cứu trọng tâm Các vấn đề trọng tâm lànhững khía cạnh cụ thể của hoạt động, các đổi mới sẽ được xem xét trongchương trình giảng dạy

Bước 5.Thiết kế một kế hoạch đánh giá.

Một kế hoạch đánh giá là bản mô tả cụ thể quá trình đánh giá sẽ được thựchiện như thế nào bao gồm: mục đích, mục tiêu đánh giá, các nguồn lực sẵn sàngcho việc thực hiện, cần thu thập những thông tin nào, các phương pháp đánh giánào được sử dụng, mô tả vai trò, trách nhiệm của những người tài trợ và ngườiđánh giá, dự kiến khoảng thời gian hoàn thành nhiệm vụ

Bước 6.Thu thập dữ liệu.

Các nhà đánh giá cố gắng thu thập dữ liệu (thông tin) và chuyển chúngthành một bức tranh toàn diện về hoạt động giảng dạy, sự đổi mới chương trìnhmột cách đáng tin cậy cho những người sử dụng chúng Các khía cạnh sau đâycủa việc thu thập dữ liệu là hết sức quan trọng: Các chỉ số cụ thể mô tả, Nguồn

dữ liệu bao gồm các tài liệu (Các bài soạn, giáo trình, sổ sách hành chính, thờigian họp, mẫu đăng ký, báo cáo nội bộ, sổ sách ghi dữ liệu, các trang Web, ảnh,băng hình, băng âm thanh) Phương pháp đánh giá, Chất lượng dữ liệu, Số lượng

dữ liệu, Sự nhạy cảm đối với đặc điểm văn hóa

Bước 7.Phân tích dữ liệu.

Phân tích dữ liệu liên quan đến việc tổ chức, phân loại, liên hệ, so sánh,

Trang 30

trình diễn thông tin.Trong suốt giai đoạn phân tích dữ liệu cần xác định được cácloại dữ liệu, tách biệt những phát hiện quan trọng (phân tích) hoặc kết hợp cácnguồn thông tin để có thể hiểu một cách khái quát hơn (sự tổng hợp)

Bước 8.Kết luận và kiến nghị.

Kết luận có giá trị nhất khi chúng liên hệ với những bằng chứng được thuthập, những nhận xét đối chiếu với chuẩn mà những người liên quan đã đồng ý

và thiết lập trước đó Kết luận phải dựa trên nền tảng của những bằng chứng baogồm các yếu tố dưới đây: sự chuẩn hóa, sự giải thích, đánh giá, kiến nghị

Bước 9.Phổ biến các kết quả.

Phổ biến các kết quả là một quá trình trao đổi thông tin thu thập được vàchương trình thông qua đo lường hoặc đánh giá với những đối tượng thích hợptrong một thời gian nhất định, công bằng và theo một kiểu nhất quán Việc báocáo các phát hiện tạm thời đôi khi hữu ích đối với các nhà giáo hoặc các cán bộnghiên cứu để đưa ra các đánh giá chương trình và giảng dạy tức thời

- Theo tác giả Carter Mc Namara, (1998) cho rằng khi thiết kế một đánhgiá chương trình, hãy xem xét các câu hỏi chính sau: [65]

1.Đánh giá nhằm mục đích gì? Bạn mong muốn đưa ra quyết định gì từkết quả của đánh giá?

2.Ai là người cần nghe các thông tin về kết quả của đánh giá?

3.Loại thông tin nào cần để đưa ra các quyết định nhằm cung cấp thêmkiến thức cho các khách hàng đang dùng chương trình, điểm mạnh điểm yếu củachương trình, lợi ích đối với các khách hàng hoặc chương trình đã thất bại nhưthế nào và tại sao?

4.Thông tin nên được thu thập từ những nguồn nào?

5.Làm thế nào để các thông tin đó có thể được thu thập theo cách hợp lý,

ví dụ bảng câu hỏi, phỏng vấn, tài liệu kiểm tra, quan sát các hoạt động giảngdạy

6.Khi nào thì thông tin cần được thu thập? (khi nào thì buộc phải có?)7.Nguồn lực nào cần có sẵn để thu thập các thông tin?

- Theo Carter Mc Namara (1998) và Peter F.OLiva (1997) có một số loạihình đánh giá chương trình sau đây:[70],[65]

+ Đánh giá dựa vào các mục tiêu:

Đánh giá dựa vào mục tiêu là đánh giá việc chương trình đáp ứng nhữngmục tiêu và mục đích đã được xác định trước như thế nào Các câu hỏi đặt ra khithiết kế một đánh giá chương trình theo loại hình này là:

Trang 31

4.Giáo viên, cán bộ viên chức đã có các nguồn lực tương xứng (tiền bạc, trang thiết bị, phương tiện, trình độ đào tạo ) để tiếp cận mục tiêu chưa?5.Các ưu tiên nên có sự thay đổi như thế nào để tập trung nhiều hơn vàoviệc tiếp cận các mục tiêu? (phụ thuộc vào hoàn cảnh, câu hỏi này có lẽ cần đượcxem xét kỹ bởi quyết định của ban quản lý chương trình, hơn là một câu hỏi đánhgiá)

6.Khoảng thời gian nên được thay đổi như thế nào?

7.Các mục tiêu nên được thay đổi như thế nào? (cẩn thận khi đưa ra sựthay đổi này - cần hiểu được tại sao các nỗ lực không mang lại sự đạt được mụctiêu trước khi thay đổi mục tiêu?) Các mục tiêu nào nên được thêm vào? Và mụctiêu nào nên được thay đổi và tại sao?

8.Các mục tiêu nên được thiết kế như thế nào trong tương lai ?

+ Đánh giá dựa vào kết quả:

Đánh giá chương trình tập trung vào kết quả ngày càng trở nên quantrọng Một đánh giá dựa trên kết quả tạo điều kiện cho việc trả lời câu hỏi liệu tổchức nhà trường có đang thực sự thực hiện chương trình phù hợp nhằm mang lạinhững kết quả mong muốn không Kết quả là lợi ích đối với sinh viên thường thểhiện ở việc các em được nâng cao kiến thức, nhận thức, thái độ hoặc kỹ năng

Các bước phổ biến để thực hiện một đánh giá dựa vào kết quả gồm có:1.Xác định kết quả chính cần kiểm tra hoặc xác minh đối với chương trìnhthông qua đánh giá Để làm điều đó các nhà đánh giá cần xem xét mục đích tổngthể của nhà trường và việc chương trình giúp thực hiện mục đích đó như thế nào?

Xác định hoạt động đánh giá chính sẽ thực hiện và lí do tại sao phải thựchiện hoạt động đó và cái gì cần đạt?

2.Lựa chọn các kết quả cần xem xét, chọn các kết quả ưu tiên cần đạt, nếuthời gian và nguồn lực hạn chế

3.Đối với mỗi kết quả, ghi rõ những gì đo lường quan sát được hoặc cácchỉ số Đây là bước làm sáng tỏ và quan trọng nhất trong đánh giá dựa vào kếtquả Tuy nhiên đây cũng là bước có nhiều nhầm lẫn và thách thức nhất nếu đánhgiá xuất phát từ một khái niệm mơ hồ

Trang 32

4.Nhận ra thông tin gì là cần thiết để diễn tả những chỉ số này Nếuchương trình mới, thì cần đánh giá để chứng minh rằng chương trình được thựchiện theo kế hoạch đã lập ban đầu

5.Thông tin đó có thể được thu thập một cách hiệu quả và thực tiễn vớicác

phương pháp phù hợp: xem xét các tài liệu liên quan đến chương trình,quan sát các quá trình thực hiện chương trình, các bảng hỏi và phỏng vấn cácsinh viên, khách hàng về lợi ích mà họ nhận được từ chương trình, nghiên cứutình huống về thành công và thất bại của chương trình

6.Phân tích và báo cáo các kết quả

+ Đánh giá quá trình: Đánh giá quá trình thực hiện chương trình bao

gồm sự thu thập một cách có hệ thống các dữ liệu, sử dụng các phương phápphân tích phù hợp để đưa ra các kết luận và khuyến nghị về các hoạt động giảngdạy, các sáng kiến và chương trình (Peter F.OLiva, 1997).[70]

Các câu hỏi khi thiết kế một đánh giá để hiểu hoặc kiểm tra chặt chẽ cácquá trình thực hiện chương trình là:

1.Dựa vào đâu mà sinh viên cho rằng kiến thức, môn học hay dịch vụchương trình đó là cần thiết?

2.Khách hàng có yêu cầu gì trong việc phân phối chương trình hoặc cácdịch vụ thực hiện chương trình?

3.Sinh viên tiếp cận chương trình như thế nào?

4.Yêu cầu của sinh viên và các khách hàng khác đối với chương trình làgì?

5.Các khách hàng và sinh viên suy nghĩ gì về điểm mạnh, điểm yếu củaChương trình?

6.Sinh viên và khách hàng có gợi ý gì nhằm cải thiện chương trình?

7.Dựa vào đâu mà sinh viên quyết định rằng chương trình hoặc một sốkhía cạnh nào đó của chương trình là không cần thiết nữa?

+ Đánh giá tổng thể quá trình giảng dạy: là kiểm tra toàn diện một

chương trình giảng dạy bao gồm điều kiện thực hiện chương trình, nhu cầu kháchhàng, quá trình, và kết quả giảng dạy Đánh giá tổng kết được thực hiện ở giaiđoạn cuối của một chương trình giảng dạy hoặc một chu kỳ thực hiện chươngtrình nhằm cung cấp thông tin cho những người ra quyết định đánh giá giá trị củachương trình từ đó có thể đưa ra quyết định tiếp tục sử dụng, chấm dứt, mở rộng

Trang 33

hay chấp nhận chương trình Thông tin thu thập trong đánh giá quá trình có thểđược sử dụng trong đánh giá tổng kết (Peter F.OLiva, 1997).[70]

+ Đánh giá một khía cạnh của quá trình giảng dạy: là kiểm tra một

cách hệ thống một khía cạnh đặc thù của hoạt động giảng dạy (ví dụ: Phươngpháp truyền tải nội dung, phương pháp kiểm tra, cải tiến công nghệ) để xác địnhhiệu quả của nó và làm thế nào để cải thiện khía cạnh đó

Đánh giá chương trình cần có các phương pháp phù hợp Carter McNamara đã đưa ra một số gợi ý về việc lựa chọn, sử dụng phương pháp đánh giánhư sau:

+ Lựa chọn, sử dụng phương pháp đánh giá (Carter McNamara, 1998).[65]

Mục tiêu của việc lựa chọn các phương pháp đánh giá là nhằm thu đượcthông tin hữu ích, thực tế, hiệu quả và ít tốn kém nhất cho những người ra quyếtđịnh chủ chốt Cân nhắc các câu hỏi dưới đây khi lựa chọn phương pháp đánhgiá

1.Những thông tin nào cần cho việc ra quyết định hiện thời về một chươngtrình ?

2.Đối với loại thông tin này, có thể thu thập và phân tích bao nhiêu với chiphí thấp và có giá trị thực tế nhất, ví dụ sử dụng bảng hỏi, điều tra hay bảng liệt

kê ?

3.Tính chính xác của thông tin ra sao ?

4.Các phương pháp sử dụng có thu được tất cả những thông tin cần thiếtkhông ?

5.Cần sử dụng thêm các phương pháp nào để thu thập thêm được nhữngthông tin cần thiết ?

6.Những thông tin thu được có đáng tin cậy cho các nhà ra quyết định, nhàtài trợ hoặc các nhà quản lý cấp cao ?

7.Các phương pháp có phù hợp với đối tượng điều tra không ? Họ có điềnđầy đủ các thông tin một cách cẩn thận trong bảng hỏi, có khớp với phỏng vấn vàlàm việc theo nhóm không ?

8.Hiện tại, ai có thể thực hiện các phương pháp hay cần được đào tạo ?9.Thông tin có thể được phân tích như thế nào ?

Lý tưởng nhất là người đánh giá sử dụng phối hợp các phương pháp, ví dụnhư một bảng an két để thu thập nhanh chóng một khối lượng lớn thông tin từ

Trang 34

nhiều người, sau đó phỏng vấn để thu được các thông tin sâu sắc hơn từ một sốngười nhất định đã trả lời an két Nghiên cứu tình huống có thể được sử dụng tiếptheo để phân tích sâu hơn những trường hợp riêng, đáng chú ý thí dụ nhữngngười đã được hưởng lợi hoặc không từ chương trình hoặc những người từ bỏchương trình

1.2.2.4.Đánh giá chương trình theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA.[18]

Với mục đích phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục đại học trongkhu vực ASEAN, năm 1995, Mạng lưới các trường đại học khu vực Đông Nam

Á đã được thành lập Tính đến nay, đã có 27 trường đại học đến từ 10 quốc giatrong khu vực trở thành thành viên của tổ chức này Nhằm đẩy mạnh công tácđảm bảo chất lượng bên trong các trường ĐH trong khu vực, AUN-QA đã đưa rasáng kiến đánh giá chất lượng giáo dục đại học theo những tiêu chuẩn đảm bảochất lượng chung của khu vực ASEAN (ASEAN University Network-QualityAssurance, viết tắt là AUN-QA) Đây cũng là cách mà mạng lưới các trường đạihọc ASEAN nâng cao sự tin tưởng lẫn nhau về chất lượng đào tạo giữa cáctrường trong khu vực cũng như với các trường đại học đối tác trên thế giới, từngbước góp phần thúc đẩy sự công nhận thành quả học tập và phát triển hợp tácgiữa các trường đại học trong khu vực Đông Nam Á

Chuẩn kiểm định chất lượng AUN-QA đang là cái đích mà nhiều trường

ĐH tại Việt Nam và trong khu vực Đông Nam Á hướng tới Mục tiêu của cáctrường ĐH không chỉ là thu hút học viên mà còn khẳng định chất lượng đào tạo

và dần tiến tới là việc xây dựng văn hóa chất lượng của một trường ĐH

Bộ 15 tiêu chuẩn của AUN-QA (Phụ lục 2)

Tiêu chuẩn 1 Kết quả học tập mong đợi

Tiêu chuẩn 2 Chương trình chi tiết

Tiêu chuẩn 3 Nội dung và cấu trúc chương trình

Tiêu chuẩn 4 Chiến lược giảng dạy và học tập

Tiêu chuẩn 5 Đánh giá sinh viên

Tiêu chuẩn 6 Chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy

Tiêu chuẩn 7 Chất lượng cán bộ hỗ trợ

Tiêu chuẩn 8 Chất lượng sinh viên

Tiêu chuẩn 9 Hỗ trợ và tư vấn sinh viên

Tiêu chuẩn 10 Trang thiết bị và cơ sở hạ tầng

Trang 35

Tiêu chuẩn 11 Đảm bảo chất lượng quá trình giảng dạy và học tập

Tiêu chuẩn 12 Hoạt động phát triển đội ngũ cán bộ

Tiêu chuẩn 13 Lấy ý kiến phản hồi của các bên liên quan

Tiêu chuẩn 14 Đầu ra

Tiêu chuẩn 15.Sự hài lòng của các bên liên quan

Luận án sử dụng các tiêu chuẩn 1, 2, 3, 5, 8, 11, 13, 15 của bộ tiêu chuẩnAUN-QA, từ đó lựa chọn ra các tiêu chí phù hợp với đặc thù thể thao để kiểmđịnh và đánh giá chất lượng chương trình

1.2.2.5.Khái niệm về học phần, tín chỉ.[14]

Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007, “về việc ban hành Qui chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” Các khái niệm được hiểu như sau:

Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinhviên tích luỹ trong quá trình học tập Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ.Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết

kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dướidạng tổ hợp từ nhiều môn học Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã sốriêng do trường quy định Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần

Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín

chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm

hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tậplớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp

Trang 36

Việc triển khai CTĐT theo học chế tín chỉ là để tạo điều kiện thuận lợinhiều cho người học, tạo nhiều cơ hội học tập cho các đối tượng học khác nhaulàm cho người học chủ động hơn trong hoạt động học tập Có thể khẳng địnhphương thức đào tạo theo tín chỉ là học chế mềm dẻo hướng về sinh viên, tăngcường tính chủ động, khả năng, động cơ tự học, tự nghiên cứu của SV [14]

1.2.3.Khái niệm về Câu lạc bộ thể thao.

1.2.3.1.Khái niệm mô hình

Mô hình là sự mẫu mực, là tiêu chuẩn, cơ cấu tái tạo, mô phỏng, cấu tạo,chức năng, hành động của một cơ cấu khác nào đó khi thử nghiệm, ví dụ như:Hình ảnh, sự tương tự, lược đồ của một mảng nào đó của hiện thực, của kháchthể văn hóa, của nhận thức, của nguyên mẫu, sự lý giải

Xét từ góc độ nhận thức mô hình là cái thay thế cho nguyên mẫu trongnhận thức, thực tiễn

Xét góc độ logic học: Mô hình là cái hiển thị khách thể có quan hệ đồnghình hay đẳng cấu của nó, hoặc có cái quan hệ chung hơn như quan hệ ngangnhau, là hệ thống các yếu tố vật chất hoặc trong tư duy

Hệ thống mô hình được xây dựng gần giống với đối tượng nghiên cứu.Trên cơ sở tái hiện lại những mối liên hệ cơ cấu - chức năng, mối liên hệnhân quả của các yếu tố trong đối tượng

Đặc tính quan trọng của mô hình là sự tương ứng của nó với nguyên bản,

mô hình thay thế đối tượng và bản thân nó lại trở thành đối tượng để nghiên cứu,chính mô hình là phương tiện để thu nhận thông tin mới

Mô hình là sự tái hiện đối tượng nghiên cứu dưới dạng trực quan Tri thức

Trang 37

1.2.3.2.Mô hình câu lạc bộ thể thao thao trường học

Có thể nói giới trẻ hiện nay ngày càng ít tham gia các hoạt động TDTTcũng như xem nhẹ tầm quan trọng của GDTC trong Nhà trường.Sự đi xuống về ýthức này là điều đáng báo động cho một thế hệ trẻ - nguồn nhân lực chủ đạo củađất nước sau này.Vì vậy vấn đề xã hội hóa TDTT hiện đang là vấn đề được nhiềutrường lựa chọn để nâng cao tầm quan trọng của GDTC Tuy nhiên để quá trình

xã hội hóa được phát triển mạnh mẽ, có hai yếu tố quan trọng cần được nhắc đến

là sự tham gia một cách chủ động của người tập và loại hình thể thao nào phùhợp cho từng đối tượng cũng như lịch sử, văn hóa, chính trị ở từng khu vực điểnhình Để minh họa cho vấn đề này, Coakley (2007),( 2009) đã phát triển hai môhình câu lạc bộ TDTT với hai tính chất đặc thù khác biệt, đó là mô hình theo

“ham muốn và tập luyện” và “quyền lực và hướng tới đối tượng người sử dụng”

Mô hình đầu tiên nhấn mạnh đến các yếu tố như sự ham thích khi tham gia tậpluyện, ý kiến cá nhân, có sức khỏe tốt, có các mối quan hệ xã hội và các yếu tốmôi trường tập luyện Ngược lại, mô hình thứ hai đề cao các vấn đề như có cáctiêu chuẩn cao hơn đối thủ cạnh tranh, thôi thúc người tập đạt thành công cao,mạo hiểm với sức khỏe nhằm nâng cao các tố chất thể lực cho người tập như sứcmạnh, sức bền, tốc độ[66],[67]

Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là cả hai mô hình đều có nhữngthành công nhất định trong thực tiễn (Coakley, 2009), tuy nhiên mỗi mô hình thểhiện sự tương phản về tư tưởng và phát triển thành công ở từng “khu vực” khácnhau trong xã hội (Rinehart, 2005) đã nghiên cứu và cho rằng mô hình thứ haivốn đề cao sự phát triển các tố chất vận động thường phù hợp cho đối tượng namvận động viên nhiều hơn và nhược điểm cũng xuất phát từ chính điểm mạnh của

mô hình là rất nhiều đối tượng cả nam và nữ không có thời gian, sự kiên nhẫn

Trang 38

cũng như cơ hội để tham gia.[66]

Nhược điểm của mô hình hai cũng được (Garrett, 2004) thể hiện đó cũngchính là thực trạng trong việc giảng dạy GDTC trường học các cấp Điều này thểhiện rất rõ trong việc giảng dạy GDTC trong trường học ở Việt Nam, vốn đặtnặng việc vấn đề phát triển các tố chất vận động Do đó việc phát triển mô hìnhcâu lạc bộ trong trường học (vốn rất thịnh hành ở Mỹ và Châu Âu) theo mô hìnhđầu tiên hiện đang được nhiều nước Châu Á áp dụng như Thái Lan, Malaysia,Singapore.[69]

Trong mô hình thứ nhất này, sinh viên khi tham gia CLB thể thao nào đócũng được coi như hoàn thành các khóa học ở các học phần GDTC Câu hỏi đặt

ra là liệu cách đánh giá trong các học phần GDTC hiện nay được “chuyển thể”sang mô hình câu lạc bộ trường học có thành công hay thất bại? Sapon-Shevin(2010) đã chỉ rõ mô hình đã “nắm bắt” được mối quan tâm và trình độ của ngườitham gia, từ đó tạo ra nhiều “cơ hội” cho các đối tượng ham muốn tham gia do cócùng giới tính, tín ngưỡng, ngôn ngữ “vận động”, khả năng đồng đều, xu hướnggiới tính và hoàn cảnh gia đình.[73]

Hơn thế nữa, Rebecca (2011) phân tích được 3 tiêu chí từ các số liệuthống kê (đó là: cảm giác vui vẻ, cảm hứng tự tin và khả năng kết nối) trong môhình này khác biệt so với cách thức giảng dạy GDTC truyền thống (đó là kiểmtra và điểm số) Chẳng hạn như yếu tố vui vẻ và tận hưởng không khí trong lành

đã giúp cho người tập hoàn thành bài tập chạy 1 dặm trong thời gian cho phép tốthơn so với giảng dạy GDTC trong lớp học để lấy thành tích rồi qui ra điểm số.Ngoài ra, kết quả của đề tài cũng chỉ ra một khác biệt rõ ràng về nhận thức từphía sinh viên, đó là việc mô tả lớp học rất vui vẻ, sôi động, tự tin và khác biệthoàn toàn với những kinh nghiệm có được từ các lớp học GDTC truyền thống làsinh viên phải lựa chọn các môn có sẵn, tập luyện theo bài một cách khiên cưỡng

và trách nhiệm hoàn thành môn học đó Một chỉ số chỉ có trong mô hình CLB đóchính là yếu tố sự tương tác (hoạt động nhóm, trao đổi thẳng thắn giữa sinh viên

và giáo viên, và các kinh nghiệm thực tế) và lôi kéo được nhiều đối tượng tậpluyện tham gia là nữ.[72]

Trang 39

Whitehead (2010) đã chỉ rõ, cơ hội phải sẵn sàng cho cả nam giới và nữgiới (đối tượng vốn rất “sợ” các học phần GDTC truyền thống) Để mô hìnhthành công còn phải đòi hỏi giáo viên giảng dạy GDTC phải giàu kinh nghiệm,ngoài ra phải nắm bắt được sự khác biệt ở từng sinh viên về trình độ, giới tính,giai cấp, dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, khuynh hướng giới tính [79].

1.2.3.3.Khái niệm về Câu lạc bộ ở Việt Nam.

- Căn cứ nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25/12/2007 của Chính phủ

qui định chức năng nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch,quy định mẫu về tổ chức và hoạt động của CLB TDTT cơ sở.[43]

- CLB thể thao sinh viên được hiểu như là nơi tập hợp những sinh viên cócùng sở thích,cùng nhu cầu và đam mê về TDTT

- CLB thể thao sinh viên vừa là một loại hình tổ chức,vừa là một phươngthức hoạt động của Hội Sinh viên, nhằm giải quyết những vấn đề rèn luyện thânthể, phát triển những kĩ năng vận động, sức khoẻ, giải trí, thư giãn, thi đấu, giaolưu học hỏi, đáp ứng những nhu cầu chính đáng của sinh viên

- CLB thể thao phải có địa điểm tập luyện, có qui chế, điều lệ riêng dànhcho sinh viên

- Cơ cấu tổ chức của CLB thể thao gồm: Ban chủ nhiệm, ban chức năng

Trang 40

- CLB thể thao cơ sở là tổ chức tự nguyện, được thành lập tại các cơ quan,

tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang, trường học, doanh nghiệp, các cơ sở sản xuấtkinh doanh, dịch vụ (sau đây gọi chung là cơ quan)

- CLB thể thao cơ sở chịu sự quản lý nhà nước về thể dục, thể thao của Uỷban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);

- CLB thể thao cơ sở được đề nghị làm con dấu để giao dịch và mở tàikhoản tại ngân hàng theo quy định của pháp luật

- Chức năng của CLB thể thao là tuyên truyền, vận động những người cócùng sở thích để tự nguyện tổ chức, phổ biến, hướng dẫn hoạt động thể dục, thểthao nhằm thoả mãn nhu cầu rèn luyện thân thể, vui chơi giải trí, nâng cao sứckhoẻ, cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần và nâng cao thành tích thể thao chongười tập

- Nhiệm vụ của câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở:

+ Vận động những người có cùng sở thích, tự nguyện tham gia hoạt độngthể dục, thể thao

+ Tổ chức thường xuyên tập luyện TDTT nhằm nâng cao sức khỏe,thể lực

và tầm vóc, tăng cường sự hợp tác, giao lưu, nâng cao sự hiểu biết về thể dục, thểthao cho người tập

+ Tổ chức, tham gia các giải thể thao quần chúng, các hoạt động văn hoá,thể thao ở địa phương, đơn vị

+ Tuyên truyền, giáo dục, vận động để hội viên chấp hành pháp luật, chủtrương, chính sách của Đảng, Nhà nước

+ Quản lý và phát triển hội viên

+ Tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn tài trợ của các tổ chức, cánhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật

+ Xây dựng quy chế hoạt động, trình cấp ra quyết định thành lập phêduyệt và tổ chức thực hiện

Phương thức hoạt động của Câu lạc bộ:

- Công nhận và giải thể CLB TDTT cơ sở

- Công nhận câu lạc bộ TDTT cơ sở

- Tổ chức của câu lạc bộ TDTT cơ sở

- Hoạt động của CLB TDTT cơ sở

Ngày đăng: 20/04/2018, 15:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1.Cấu trúc và nội dung chương trình các môn thể thao tự chọn trong - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.1. Cấu trúc và nội dung chương trình các môn thể thao tự chọn trong (Trang 61)
Bảng 3.2.Kết quả học tập toàn khóa của sinh viên Đại học Sài Gòn Năm học - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.2. Kết quả học tập toàn khóa của sinh viên Đại học Sài Gòn Năm học (Trang 62)
Bảng 3.4.Thực trạng thể lực Nữ sinh viên năm thứ 2 theo tiêu chuẩn phân loại của Bộ Giáo dục và Đào tạo thời điểm năm 2015 [23] - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.4. Thực trạng thể lực Nữ sinh viên năm thứ 2 theo tiêu chuẩn phân loại của Bộ Giáo dục và Đào tạo thời điểm năm 2015 [23] (Trang 64)
Bảng 3.6.Tỷ lệ sinh viên/giảng viên. - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.6. Tỷ lệ sinh viên/giảng viên (Trang 68)
Bảng 3.7.Cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy các học phần tự chọn trường Đại học Sài Gòn giai đoạn 2010 – 2014. - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.7. Cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy các học phần tự chọn trường Đại học Sài Gòn giai đoạn 2010 – 2014 (Trang 70)
Bảng 3.9.Tài liệu giảng dạy các học phần tự chọn - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.9. Tài liệu giảng dạy các học phần tự chọn (Trang 71)
Bảng 3.13.Xác định tiêu chí mô hình CLB TDTT nội khóa - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.13. Xác định tiêu chí mô hình CLB TDTT nội khóa (Trang 94)
Hình thành cho sinh viên thói quen tập luyện suốt đời 68 97.14 2 2.86 Phát triển thể chất toàn diện cho sinh viên 69 98.57 1 1.43 - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Hình th ành cho sinh viên thói quen tập luyện suốt đời 68 97.14 2 2.86 Phát triển thể chất toàn diện cho sinh viên 69 98.57 1 1.43 (Trang 97)
Bảng 3.16.Cấu trúc và nội dung chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình Câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ trường Đại học Sài Gòn. - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.16. Cấu trúc và nội dung chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình Câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ trường Đại học Sài Gòn (Trang 108)
Bảng 3.17.Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn nội dung và cấu trúc chương trình môn bóng đá tự chọn - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.17. Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn nội dung và cấu trúc chương trình môn bóng đá tự chọn (Trang 109)
Bảng 3.18.Chương trình giảng dạy môn bóng đá tự chọn đổi mới cho sinh viên không chuyên trường Đại học Sài Gòn. - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.18. Chương trình giảng dạy môn bóng đá tự chọn đổi mới cho sinh viên không chuyên trường Đại học Sài Gòn (Trang 114)
Bảng 3.19.Học phần bóng đá cơ bản - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.19. Học phần bóng đá cơ bản (Trang 118)
Bảng 3.20.Học phần bóng đá nâng cao 1 - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.20. Học phần bóng đá nâng cao 1 (Trang 121)
Bảng 3.21.Học phần bóng đá nâng cao 2 - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.21. Học phần bóng đá nâng cao 2 (Trang 123)
Bảng 3.23.Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ ĐC và TN sau khi học môn tự chọn bóng đá ( n = 64, t 0.05=  1.990 ) - Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.23. Nhịp độ tăng trưởng thể lực của nhóm nữ ĐC và TN sau khi học môn tự chọn bóng đá ( n = 64, t 0.05= 1.990 ) (Trang 140)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w