SKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên lớp 2 giúp học sinh tích cực luyện nóiSKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên lớp 2 giúp học sinh tích cực luyện nóiSKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên lớp 2 giúp học sinh tích cực luyện nóiSKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên lớp 2 giúp học sinh tích cực luyện nóiSKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên lớp 2 giúp học sinh tích cực luyện nóiSKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên lớp 2 giúp học sinh tích cực luyện nóiSKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên lớp 2 giúp học sinh tích cực luyện nóiSKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên lớp 2 giúp học sinh tích cực luyện nóiSKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên lớp 2 giúp học sinh tích cực luyện nói
Trang 10/24
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
- -
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MộT Số BIệN PHáP CHỉ đạO GIáO VIêN lớp 2 giúp học sinh tích cực luyện nói
Lĩnh vực: Quản lý Cấp học: Tiểu học
N ĂM HỌC: 2015 - 2016
Mó SKKN
Trang 2Tiếng Việt là công cụ tư duy và giao tiếp của người Việt Việc giao tiếp bằng Tiếng Việt được thực hiện thông qua hai dạng ngôn ngữ: lời nói và chữ viết Để có thể bày tỏ ý nghĩ, tình cảm của mình, người ta phải nói hoặc viết được tiếng Việt trong cả 2 dạng ngôn ngữ : lời nói và chữ viết Dạy sử dụng tiếng Việt là dạy cách dùng tiếng Việt trong cả 2 dạng ngôn ngữ đó dạy cả bốn
kỹ năng : nghe, nói, đọc, viết
Trong thực tế, nhiều giáo viên chỉ chú trọng rèn cho học sinh hai kỹ năng đọc và viết Tuy nhiên xét về mặt phát triển tâm lí của học sinh tiểu học, ngôn ngữ nói của các em chưa phải đã đạt đến mức hoàn thiện Đặc biệt đối với học sinh lớp 2, từ phát âm đến vốn từ, từ việc giao tiếp trong gia đình mở rộng ra đến giao tiếp ở nhà trường và xã hội cũng nhiều hạn chế Nhiều kỹ năng các em còn phải học, phải được rèn luyện thường xuyên, đặc biệt là kĩ năng nói
Để giúp giáo viên chủ động hơn trong các hoạt động dạy học ở trường
hướng tới việc rèn kĩ năng nói cho học sinh tôi xin đưa ra "Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên lớp 2 giúp học sinh tích cực luyện nói"
II Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng rèn kĩ năng nói của giáo viên lớp 2 cho học sinh để
từ đó đề ra biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học theo hướng phát huy năng lực của học sinh
III Đối tượng nghiên cứu:
Giáo viên và học sinh trường tiểu học ……… quận ………
IV Phạm vi, kế hoạch nghiên cứu :
- Địa điểm nghiên cứu: Trường tiểu học … , quận………
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016
Trang 32/24
V Phương pháp nghiên cứu :
- Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến dạy Tiếng Việt
- Nghiên cứu SGK và SGV để tìm hiểu nội dung phương pháp dạy các phân môn của môn Tiếng Việt và trên cơ sở đó đưa ra một số hình thức dạy học phù hợp
- Phương pháp quan sát: thông qua dự giờ
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp đàm thoại
+ Trao đổi với giáo viên về khó khăn, thuận lợi khi dạy tập làm văn
+ Trao đổi với học sinh về những vướng mắc của các em trong khi học tập làm văn nói chung
Trang 43/24
NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
* Cơ sở Triết học Mác - Lê nin là cơ sở phương pháp luận của phương
pháp dạy học Tiếng Việt, nó quyết định phương hướng chung của phương pháp dạy học Tiếng Việt
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đặc trưng của loài người Không có ngôn ngữ, xã hội không thể tồn tại Nếu ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, trao đổi tư tưởng, tình cảm thì nghiên cứu nó phải nghiên cứu hệ thống hoạt động chức năng Mục đích nghiên cứu ngôn ngữ trong nhà trường phải là để cho học sinh có thể sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện sắc bén để giao tiếp, vì vậy phát triển lời nói là nhiệm vụ quan trọng nhất của việc dạy học tiếng trong nhà trường Tất cả các giờ dạy hay các hoạt động tổ chức trong trường học đều phải
đi theo khuynh hướng này
Ngôn ngữ luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy, ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức lôgic, lí tính Tư duy của con người không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ Vì vậy phương pháp dạy học cần dựa vào sự phát triển tương hỗ giữa lời nói và tư duy
* Cơ sở ngôn ngữ học :
Ngôn ngữ học nói chung, Tiếng Việt nói riêng có mối quan hệ mật thiết với phương pháp dạy học Tiếng Việt Ngôn ngữ Tiếng Việt tạo nên nền tảng của môn học Tiếng Việt Phương pháp dạy học Tiếng Việt phải phát hiện được những quy luật riêng, đặc thù của dạy học tiếng Việt Chính khoa học ngôn ngữ quy định đặc thù này Những hiểu biết về bản chất của ngôn ngữ, của Tiếng Việt
có vai trò quan trọng trong việc định ra các nguyên tắc, nội dung và phương pháp dạy học Tiếng Việt Các bộ phận của ngôn ngữ học (bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách) có vai trò quan trọng trong việc xác định nội dung
và phương pháp dạy học
Tóm lại, ngôn ngữ học nói chung, Việt ngữ học nói riêng quy định cả nội dung dạy học, trình tự sắp xếp nội dung môn học và cả phương pháp làm việc của thầy và trò trong giờ tiếng Việt
* Cơ sở giáo dục học :
Phương pháp dạy học Tiếng Việt có một số nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học Phương pháp dạy học Tiếng Việt có đặc trưng riêng của mình Nó gắn liền lí thuyết với thực hành Trong đó nhiệm vụ phát triển lời nó
Trang 54/24
quy định việc xây dựng chương trình tiếng Việt mà tất cả các phân môn đều hướng tới mục đích phát triển bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Thực hiện nguyên tắc trực quan trong giờ tiếng Việt không chỉ là sử dụng sơ đồ, biểu bảng, dùng chữ viết sẵn, phim ảnh mà còn là "trực quan lời nói", bao gồm từ việc quan sát ngôn ngữ sống động đến việc dựa vào nội dung bài trong khi nghiên cứu về ngữ âm, từ vựng, chính tả, Tài liệu trực quan cơ bản trong giờ học tiếng Việt
là tiếng Việt văn hoá, tiếng Việt trong những mẫu tốt nhất của nó như: văn học dân gian, tác phẩm văn học Việt Nam cổ điển, những bài văn, bài thơ của những tác giả hiện đại, ưu tú
* Cơ sở tâm lí học và tâm lí ngữ học
Quan hệ của phương pháp dạy học tiếng Việt và tâm lí học, đặc biệt là tâm lí học lứa tuổi rất chặt chẽ Không có những hiểu biết về quá trình tâm lí ở con người nói chung và ở trẻ em lứa tuổi tiểu học nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển lời nói cho học sinh Phương pháp dạy học tiếng Việt vận dụng rất nhiều kết quả của tâm lí học Đó là quy luật hình thành kĩ năng, kỹ xảo Thầy giáo cần biết, sản phẩm của lời nói được hình thành như thế nào, quá trình đọc được thiết lập từ những yếu tố nào, khái niệm ngữ pháp được hình thành ở trẻ ra sao, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy, kĩ năng nói viết được hình thành như thế nào Những nghiên cứu tâm lí học cho phép xác định mức
độ vừa sức của tài liệu học tập
II CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1 Thuận lợi:
- Nội dung dạy học của SGK Tiếng Việt Tiểu học thể hiện quan điểm dạy
giao tiếp, theo hướng tích hợp nội dung và kĩ năng Chương trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 đã có nhiều phân môn chú trọng rèn kĩ năng nói cho học sinh Trong các phân môn như Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn đã xuất hiện nhiều dạng bài như tập gọi điện thoại, nói lời cảm ơn, xin lỗi, đáp lời khẳng định, phủ định, chia vui, nói lời chúc mừng, .Các dạng bài tập này tạo ra nhiều cơ hội cho học sinh luyện nói và rèn kĩ năng ngôn ngữ
- Chương trình Tiếng Việt ở các lớp sau có sự lặp lại và nâng cao các kĩ năng giao tiếp thể hiện tính hệ thống trong nội dung học tập, giúp học sinh nâng cao kĩ năng nói của bản thân qua từng năm học
- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, động viên giáo viên dạy học theo hướng phát huy tính tích cực cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện, hướng tới phát triển năng lực ở các em Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và chú ý phát triển chất lượng đội ngũ
Trang 65/24
- Nhiều giáo viên tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm, ham học hỏi
2 Khó khăn:
a Về phía giáo viên:
- Một số giáo viên chưa chủ động trong việc xác định trọng tâm của giờ học cũng như những kĩ năng còn yếu của học sinh đặc biệt là kĩ năng nói
- Nhiều giáo viên chưa có biện pháp khuyến khích học sinh luyện nói hiệu quả hoặc việc kiểm soát kết quả luyện nói của học sinh chưa được triệt để nên hoạt động luyện nói còn mang tính hình thức
- Một số giáo viên còn xem nhẹ hoạt động nói của học sinh trước lớp Đối với một số môn học chỉ chú trọng đến kĩ năng làm toán, đọc, viết, … Trong giờ học chưa chú trọng đến rèn kĩ năng nói cho học sinh Chính vì vậy số lượng học sinh tham gia nói không được nhiều mà chỉ tập trung ở một vài em
- Một số giáo viên chưa tập trung tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý, môi trường sống của học sinh, chưa thật sự thông cảm với những khó khăn mà học sinh gặp phải nên khi tiến hành hỏi đáp chỉ yêu cầu những học sinh nói hay hoặc hay nói trả lời Giáo viên không quan tâm đến những học sinh ít nói, nghèo nàn về ngôn ngữ, vì sợ gọi những em này trả lời sẽ làm mất nhiều thời gian Vô tình giáo viên làm cho những học sinh rụt rè ngày càng nhút nhát hơn
b Về phía học sinh và phụ huynh:
- Nhiều em còn hạn chế về vốn sống, vốn hiểu biết và kinh nghiệm giao tiếp Kĩ năng nói của các em còn kém so với đọc, viết Các em chưa ý thức được vai trò, mục tiêu của phát triển kĩ năng nói nên chưa chủ động, thiếu tự giác trong luyện tập
- Nhiều em chưa chú ý lắng nghe một cách tích cực, khi trả lời thường không đúng mục đích hoặc chưa hết ý Một số trường hợp chỉ trả lời “có” hoặc “không” , còn ỷ lại nói theo bạn, chưa chịu khó tự tìm ra câu trả lời cho mình
- Do học sinh lớp 2 còn nhỏ, nhiều em hiếu động, dễ nhớ nhưng lại mau quên nên việc ghi nhớ lời thầy cô dạy là chưa vững chắc Số học sinh trong các lớp đông nên việc tổ chức các hình thức luyện nói còn gặp nhiều khó khăn
- Một số phụ huynh chưa dành nhiều thời gian ngồi học, trò chuyện hoặc dành thời gian cho các con đi chơi, thăm hỏi họ hàng, bạn bè tạo điều kiện để các em giao tiếp với mọi người
III CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Chỉ đạo giáo viên nắm bắt thực tế khả năng nói của học sinh:
Ngay từ đầu năm nhận lớp, giáo viên cần trao đổi với giáo viên lớp dưới
và nghiên cứu kĩ sổ theo dõi chất lượng giáo dục năm trước để nắm bắt đặc điểm
Trang 76/24
từng học sinh Trong thời gian đầu, giáo viên cần quan sát kĩ học sinh thông qua lời phát biểu trong giờ học, qua lời nói của các em với mọi người xung quanh mọi lúc, mọi nơi Giáo viên cũng cần tạo cho mình thói quen ghi chép những điều quan sát được, tổng hợp để dễ dàng phân loại khả năng giao tiếp của từng học sinh trong lớp Giáo viên có thể phân loại khả năng nói của học sinh theo các nhóm sau:
- Nhóm học sinh có lời nói lưu loát, rõ ràng, mạch lạc, biết thể hiện cảm xúc trong giao tiếp
- Nhóm học sinh nói tương đối lưu loát, rõ ràng nhưng chưa biết thể hiện cảm xúc trong giao tiếp
- Nhóm học sinh còn rụt rè, ngại giao tiếp, không thể hiện được biểu cảm trong giao tiếp
Nắm bắt được khả năng nói của học sinh giai đoạn đầu năm học là điều
vô cùng quan trọng, quyết định cho việc lựa chọn những biện pháp, hình thức phù hợp trong quá trình rèn luyện học sinh
2 Chỉ đạo giáo viên chú trọng rèn kĩ năng nói qua các phân môn của môn Tiếng Việt
Học sinh lớp 2 được học các môn: Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên
và Xã hội, Thể dục, Nghệ thuật Trong đó môn học giúp học sinh có nhiều cơ hội rèn kĩ năng nói nhất là môn Tiếng Việt Môn học này cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt, những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người và văn hóa Việt từ đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và quan trọng hơn cả là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp
Môn Tiếng Việt lớp 2 có rất nhiều phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính
tả, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn Mỗi phân môn đều có mục tiêu rèn
kĩ năng đặc trưng riêng Vì vậy trong quá trình lên lớp giáo viên cần nghiên cứu
kĩ từng phân môn, từng dạng bài hay từng bài dạy cụ thể để xác định mục tiêu luyện nói cần đạt cho học sinh phù hợp
2.1 Luyện phát âm cho học sinh qua các tiết tập đọc
Một trong những yêu cầu quan trọng của nói chuẩn là phải “tròn vành, rõ tiếng” Một người cho dù nội dung nói hay đến đâu mà nói ngọng cũng khiến người nghe cảm thấy khó chịu, mất cảm tình
Tập đọc là phân môn có nhiều điều kiện thời gian để giáo viên rèn kĩ năng phát âm cho học sinh Vì vậy giáo viên cần nắm chắc những học sinh phát âm
Trang 87/24
lệch chuẩn, phân loại những học sinh có cùng lỗi phát âm về vần, âm, thanh dấu
để có kế hoạch rèn phù hợp Đối với những học sinh này, giáo viên cần phát âm chuẩn để làm mẫu cho các em, yêu cầu các em quan sát khẩu hình khi giáo viên hoặc bạn làm mẫu, giáo viên cần hướng dẫn cách phát âm cụ thể và tạo điều kiện để các em thực hành theo Trong các tiết học giáo viên cần tìm cơ hội để uốn nắn các em thường xuyên (khi trong bài học có các tiếng chứa âm, vần, thanh các em dễ đọc sai; khi các em trả lời câu hỏi hay phát biểu trước lớp, ) Giáo viên cũng có thể khuyến khích học sinh tập đặt câu với từ có tiếng chứa
âm, vần, thanh dễ lẫn, tổ chức trò chơi luyện phát âm vào những thời điểm thích hợp hoặc khuyến khích học sinh sưu tầm, ghi chép và học thuộc các bài thơ, đoạn thơ, câu thơ có âm, vần, thanh dễ lẫn
Một số câu thơ có các tiếng có âm đầu hoặc vần dễ lẫn:
Vịt đưa sách ngược
Ngỗng cứ tưởng xuôi
c Phân biệt r/d/gi:
Cánh diều no gió Nhạc trời réo vang Tiếng diều xanh lúa
Uốn cong tre làng
Một trong những thành công của việc luyện phát âm cho học sinh là giáo viên cần kiên trì, tạo không khí lớp học thân thiện, tạo cho học sinh trong lớp sự cảm thông đối với những bạn có lỗi về phát âm để các bạn mạnh dạn, tự tin sửa lỗi
2.2 Mở rộng vốn từ qua các tiết Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện
Các phân môn tập đọc, luyện từ và câu, kể chuyện thường được dạy theo chủ đề vì thế qua các câu chuyện, các bài văn, thơ, giáo viên cần mở mang thêm
về vốn từ theo chủ đề cho học sinh Việc tìm hiểu nội dung bài, phát hiện ra ý nghĩa giáo dục sẽ giúp các em nói đúng trọng tâm, không lạc đề Việc phát hiện
ra bố cục của bài đọc, của câu chuyện giúp các em biết nói, biết kể các câu văn liền mạch, tạo thành bài nói có bố cục rõ ràng Phần nêu cảm nghĩ đối với nội dung bài hoặc nhân vật trong bài cũng giúp học sinh có cơ hội luyện nói tốt
Trang 98/24
Bên cạnh đó trong tiết luyện từ và câu các em còn được cung cấp vốn từ thuộc nhiều chủ đề rất phong phú, được học cách sử dụng từ qua nhiều dạng bài tập như: đặt câu với từ đã cho, sắp xếp các từ đã cho để tạo thành câu, chọn từ trong ngoặc điền vào chỗ trống, qua đó giáo viên rèn học sinh nói đủ ý, sử dụng dấu câu đúng ngữ pháp và phù hợp với nội dung góp phần không nhỏ giúp các em biểu lộ được cảm xúc khi nói (đối với câu có sử dụng dấu chấm than, dấu hỏi chấm, )
* Ví dụ: Bài tập 2 - tuần 8 - trang 69 - Tiếng Việt 2 - tập 1
Trả lời câu hỏi
a Cô giáo (thầy giáo) lớp 1 của em tên là gì ?
b Tình cảm của cô (thầy) đối với học sinh như thế nào ?
c Em nhớ nhất điều gì ở cô (thầy) ?
Trước khi làm bài tập này, học sinh đã được học nhiều bài tập đọc nói về thầy cô giáo Qua các bài tập đọc đó các em phần nào cảm nhận được sự yêu thương, dịu dàng, quan tâm, lo lắng… của thầy cô giáo đối với học sinh Qua tiết luyện từ và câu trong tuần các em được tiếp cận với các câu văn nói về tình cảm giữa thầy cô giáo và học sinh như:
- Cô giáo chúng em rất yêu thương, quý mến học sinh
- Chúng em luôn kính trọng, biết ơn các thầy giáo, cô giáo
Từ những kiến thức được cung cấp trên đã giúp các em rất nhiều trong quá trình luyện nói Các em không chỉ đơn thuần trả lời câu hỏi mà còn diễn đạt thành nhiều câu văn hay có hình ảnh
Một số bài văn nói của học sinh :
Cô Hằng là cô giáo dạy em năm lớp 1 Cô rất yêu thương và luôn chăm lo cho chúng em Em nhớ nhất bàn tay dịu dàng của cô uốn nắn cho em từng nét chữ Năm nay đã lên lớp 2, cô Hằng không còn dạy em nữa nhưng em luôn nhớ mãi về cô
(Bài viết của Quỳnh Anh - 2 A)
Cô giáo lớp 1 của em tên là Thanh Thuỷ Cô rất yêu thương học sinh Có lần
em quên vở tập viết ở nhà nhưng cô không mắng phạt mà chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng
Em rất kính trọng và biết ơn cô Em hứa sẽ học thật giỏi để cô vui lòng
(Bài viết của Nguyễn Hương Dịu Ngân - 2A)
Trang 10có nhiều cơ hội để luyện nói Mỗi dạng bài tập đều hướng đến mục đích chung
là rèn kĩ năng nói cho học sinh Tuy nhiên người giáo viên cần có cái nhìn khái quát hơn có nghĩa là nắm chắc các dạng bài để tìm con đường ngắn nhất đạt được mục đích đó Cụ thể với từng dạng bài, giáo viên cần lưu ý sau:
a Dạng bài tập hội thoại:
Một trong những thành công của chương trình sách giáo khoa hiện nay là không quá thiên về cung cấp tri thức mà chú ý đến nhiều dạng bài tập rèn kĩ năng cho học sinh đặc biệt kĩ năng sử dụng ngôn ngữ như các dạng bài tập:
- Tự giới thiệu, chào hỏi
- Nói lời cảm ơn, xin lỗi, mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị, chia buồn, an ủi, chia vui, khen ngợi, ngạc nhiên, thích thú
- Đáp lời cảm ơn, xin lỗi, khẳng định, phủ định, chia vui, khen ngợi, từ chối, an ủi
Các dạng bài tập hội thoại thường đưa ra dưới dạng tình huống giao tiếp
Để giúp học sinh xử lí tốt các tình huống giao tiếp, trước hết giáo viên cần nắm vững các thành tố hợp thành tình huống giao tiếp như: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, đích giao tiếp và ngôn ngữ giao tiếp Các loại bài tập tình huống giao tiếp kết hợp dùng chữ và hình để diễn tả tình huống giao tiếp Vì vậy để giúp học sinh luyện nói tốt, giáo viên nên tiến hành như sau:
Sưu tầm , khai thác tranh ảnh có hiệu quả:
Tranh, ảnh được xem như là một đồ dùng dạy học hiệu quả nhất đối với dạng bài tập hội thoại Vì qua tranh ảnh học sinh sẽ hình dung ra tình huống giao tiếp một cách nhanh nhất Chính vì vậy giáo viên cần sưu tầm tranh ảnh và cần khai thác triệt để nội dung tranh Khi sử dụng tranh cần đưa ra đúng lúc, phù hợp với tiến trình nhận thức của các em Có những tranh kết hợp với chữ giúp các em nhận ra nghi thức lời nói Đối với các bài tập này giáo viên chỉ cần yêu cầu học sinh sắm vai để nhắc lại lời nhân vật trong tranh Có những tranh chỉ diễn tả lời nhân vật trong tranh Có những tranh chỉ diễn tả tình huống giao tiếp, giáo viên cần dùng hệ thống câu hỏi giúp các em nắm được nội dung tranh
Trang 1110/24
* Ví dụ 1 : Bài tập 2 - Tuần 2 - trang 20- Sách Tiếng Việt lớp 2 tập 1
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh, tự trả lời câu hỏi:
- Tranh vẽ những ai?
- Bóng Nhựa, Bút Thép chào Mít và tự giới thiệu về họ như thế nào?
- Mít chào Bóng Nhựa, Bút Thép và tự giới thiệu về mình như thế nào?
- Ba bạn chào hỏi nhau với thái độ thế nào?
- Bút Thép và Bóng Nhựa tự giới thiệu những gì về họ?
- Mít tự giới thiệu những gì về mình?
Sau khi giúp học sinh nắm được nội dung tranh và yêu cầu của bài tập, giáo viên cho học sinh sắm vai Bút Thép, Bóng Nhựa và Mít để nhắc lại lời các bạn trong tranh Lưu ý học sinh có thể thay đổi giọng nói của từng nhân vật và ghi nhớ để thực hành cách chào hỏi, tự giới thiệu
* Ví dụ 2 : Bài tập 1 - Tuần 4 - Trang 38 - Sách Tiếng Việt Lớp 2 tập 1
Nói lời cảm ơn trong từng trường hợp cụ thể
Sau khi đưa tranh giáo viên yêu cầu học sinh quan sát để nêu lại nội dung từng tranh Qua các bức tranh giáo viên giúp học sinh trả lời các câu hỏi:
- Ai cần phải nói lời cảm ơn?
- Em cần nói lời cảm ơn với ai?
- Vì sao cần nói lời cảm ơn?
Các câu trả lời trên giúp các em bước đầu nhận biết các nhân vật giao tiếp (em
và bạn, em và cô giáo, em và em bé), để từ đó đưa ra những lời cảm ơn cho phù
hợp, thể hiện thái độ lịch sự hay lễ phép của mình đối với đối tượng giao tiếp
Trang 12Ví dụ: Lời cảm ơn em nhỏ :
+ Cảm ơn em + Cảm ơn em nhé !
+ Anh (chị) cảm ơn em + Chị cảm ơn Em ngoan quá!
- Sau khi học sinh đã nắm chắc yêu cầu của bài tập, giáo viên tiến hành cho các em luyện nói Động viên, khuyến khích học sinh nói bằng nhiều cách khác nhau Chú ý cho học sinh khi nói lời an ủi với người trên, cần tỏ thái độ ân cần nhưng lễ phép (thể hiện qua giọng nói và cách xưng hô)
b Kể ngắn về bản thân, gia đình, lớp học, bạn bè (chị, em), cô giáo, con vật, cây cối, Bác Hồ
Đây là dạng bài tập mà khả năng nói của các em thể hiện rõ nhất Chính vì vậy nhiều em đã bộc lộ điểm yếu của mình như : diễn đạt kém, dùng từ sai, bài nói rời rạc, lạc chủ đề Một trong những nguyên nhân còn làm cho học sinh thiếu tập trung
và lớp học buồn tẻ là do việc đặt câu hỏi của giáo viên Hệ thống câu hỏi nghèo nàn, vụn vặt, mờ nhạt không đúng trọng tâm làm tăng tính thụ động của học sinh không phù hợp với đổi mới trong dạy học Trong giờ tập làm văn luyện nói nếu giáo viên biết đặt câu hỏi có hiệu quả chắc chắn học sinh sẽ tích cực hơn nhiều Vì vậy giáo
viên cần chuẩn bị tốt hệ thống câu hỏi gợi mở giúp học sinh vận dụng vốn từ, vốn
hiểu biết về chủ đề để tích cực luyện nói và nói đạt hiệu quả
Việc chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp với nội dung bài học đòi hỏi giáo viên phải bỏ nhiều công sức Trước khi biên soạn hệ thống câu hỏi, giáo viên phải đặt mình là học sinh để dự kiến trước những câu trả lời Từ đó lựa chọn câu hỏi cho phù hợp với đa số học sinh trong lớp Để phát huy hết khả năng của các
em trong lớp, giáo viên nên dành riêng cho từng đối tượng học sinh những câu hỏi phù hợp
* Ví dụ : Bài tập 3 - tuần 25 - trang 67 - Tiếng Việt 2 - tập 2
Quan sát tranh và trả lời câu hỏi:
Trang 1312/24
Câu hỏi trong SGK Dự kiến câu trả lời của học sinh
a Tranh vẽ cảnh gì? + Tranh vẽ mấy chiếc thuyền
+ Tranh vẽ cảnh ông mặt trời và những đám mây + Tranh vẽ những chú chim hải âu đang chao lượn
b Sóng biển như thế nào? + Sóng biển nhấp nhô.(Sóng biển màu trắng)
c Trên mặt biển có những gì? + Trên mặt biển có những con thuyền
d Trên bầu trời có những gì? + Trên bầu trời có ông mặt trời, những đám
mây và rất nhiều chim
Bài tập đưa ra một bức tranh và 4 câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời Nếu giáo viên chỉ bám vào 4 câu hỏi đó để yêu cầu học sinh trả lời thì các em sẽ khó khăn trong khâu luyện nói Các câu trả lời đúng nhưng chưa có hình ảnh
Với các câu hỏi trên, đa số các em chỉ có thể trả lời bằng cách liệt kê những
gì các em nhìn thấy trong tranh Vì vậy giáo viên cần gợi ý và đưa thêm một số câu hỏi phụ để kích thích trí tưởng tượng, sự hứng thú của các em
Gợi ý của giáo viên Câu trả lời của học sinh sau khi được
giáo viên gợi ý
a
- Con chú ý quan sát và giới thiệu
quang cảnh chung của bức tranh
+ Tranh vẽ cảnh gì? Vào lúc nào?
- Hãy giới thiệu vẻ đẹp của cảnh biển
buổi sáng và cảm nghĩ của em về
cảnh biển
+ Tranh vẽ cảnh biển buổi sáng
+ Tranh vẽ cảnh biển buổi sáng thật đẹp! + Cảnh biển buổi sáng mới đẹp làm sao!
+ Những con thuyền buồm màu sắc sặc
sỡ đang ra khơi đánh cá (hoặc đang chở cá về bờ, …)
d.- Ông mặt trời có màu sắc thế nào?
- Những đám mây ra sao?
- Chim gì thường bay trên mặt biển?
- Ông mặt trời đỏ hồng đang từ từ nhô lên
- Những đám mây trôi lững lờ
- Mấy chú chim hải âu đang chao lượn trên mặt biển
Trang 1413/24
Từ hệ thống câu hỏi phụ trên đây, nhiều học sinh đã được phát huy năng lực nói của mình Các em được nói, được tự chữa cho nhau và được giáo viên chữa về lỗi dùng từ, cách diễn đạt, làm hoàn thiện hơn bài nói của mình Vì vậy giáo viên cần lựa chọn hệ thống câu hỏi không những gợi được kiến thức phù hợp mà còn phát triển được khả năng ngôn ngữ ở các em Không nên sử dụng nhiều câu hỏi mà câu trả lời là “Có” hoặc “Không” vì nếu sử dụng nhiều câu hỏi dạng này sẽ làm hạn chế tư duy ngôn ngữ của học sinh
c Quan sát tranh và trả lời câu hỏi
Tranh ảnh gồm hình chụp hay tranh vẽ đều được thể hiện trên một mặt phẳng, nó chỉ giúp ta quan sát một chiều nên mang tính chất thống kê sự vật nhiều hơn Vì vậy, khi hướng dẫn học sinh quan sát giáo viên lưu ý các em quan sát kĩ theo trình tự: quan sát từ gần đến xa, từ bao quát đến chi tiết Nếu tranh ảnh diễn tả một hành động, chuyển động nào đó thì phải tưởng tượng xem trong thực tế nó đang diễn ra như thế nào Việc ứng dụng CNTT hiện nay cũng rất cần thiết Giáo viên có thể sưu tầm những đoạn clip ngắn, hoặc ghi hình các đoạn hội thoại với nhiều đối tượng tham gia, chỉnh sửa cho phù hợp với thời lượng
sử dụng trong một tiết để minh họa nội dung bài học Điều này giúp cho tiết học trở nên sinh động, gần với thực tế hơn
Một điều rất quan trọng nữa là giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát có mục đích có nghĩa là hướng việc quan sát vào nội dung các câu hỏi Chính vì vậy việc gợi mở khi học sinh quan sát cũng rất cần thiết Nếu chỉ dừng lại ở trả lời được các câu hỏi thôi chưa đủ giáo viên cần hướng dẫn các em nói được những câu văn hay, có hình ảnh Vì vậy hệ thống câu hỏi cần trọng tâm, không lan man
Tranh ảnh có thể được sử dụng trong tất cả các bước của quá trình dạy học Tùy theo mục đích sử dụng mà giáo viên chuẩn bị các tranh ảnh với kích thước khác nhau Nếu dạy học toàn lớp yêu cầu tranh ảnh phải được phóng to, đậm màu để học sinh dễ quan sát Nếu dùng để thảo luận nhóm thì dùng tranh
vừa, còn học cá nhân thì có thể dùng tranh ảnh nhỏ hơn
d Nghe kể chuyện - trả lời câu hỏi
Khác với dạng bài trên, để trả lời được hệ thống câu hỏi học sinh cần phải nghe, hiểu nội dung một câu chuyện Vậy việc nắm nội dung truyện là mục tiêu ban đầu làm tiền đề cho hoạt động luyện nói của học sinh Những câu chuyện ở dạng bài tập này thường không dài nhưng để giúp học sinh ghi nhớ nhanh, giáo viên cần kể thật hấp dẫn, chú ý kể đủ các nội dung, chi tiết chính Kể chuyện kết hợp cử chỉ, điệu bộ phù hợp cũng làm tăng khả năng ghi nhớ nhanh và nhớ lâu của học sinh Với dạng bài này giáo viên cũng nên phát huy những học sinh có