SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2SKKN Một số biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT TOÁN HÌNH HỌC LỚP 2
Môn : Toán Cấp học: Tiểu học
Năm học 2015 - 2016
MÃ SKKN
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, phong trào đổi mới phương pháp dạy học trong trường Tiểu học được quan tâm và đẩy mạnh không ngừng để ngay từ cấp Tiểu học, mỗi học sinh đều cần và có thể đạt được trình độ học vấn toàn diện Đồng thời việc đổi mới phương pháp dạy học giúp học sinh phát triển được khả năng nhận thức của mình trong các môn học, nhằm đáp ứng được mục tiêu chung của cấp học và phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước Đặc biệt ở năm học 2015-2016 là năm thứ hai thực hiện thông tư 30/2014/TT/BGD&ĐT
Bộ giáo dục chỉ đạo không đánh giá học sinh bằng điểm số Giáo viên không dùng điểm số đánh giá học sinh thường xuyên mà cuốn hút học sinh vào các hoạt động học tập thể hiện ngay trong các bài giảng trên lớp
Dạy toán ở Tiểu học vừa phải đảm bảo tính hệ thống chính xác của toán học vừa phải đảm bảo tính vừa sức của học sinh Kết hợp yêu cầu đó là một việc làm khó, đòi hỏi tính khoa học và nhận thức tốt về cả nội dung lẫn phương pháp Trong chương trình dạy toán 2 các yếu tố hình học được đề cập dưới những hình thức như: Nhận dạng và gọi đúng tên hình chữ nhật, đường thẳng, đường gấp khúc, biết tính độ dài đường gấp khúc, tính chu vi hình tam giác, hình tứ giác, biết thực hành vẽ hình
Một trong những nhiệm vụ cơ bản của dạy học các yếu tố hình học ở lớp 2
là cung cấp cho học sinh những biểu tượng hình học đơn giản, bước đầu làm quen với các thao tác lựa chọn, phân tích, tổng hợp hình, phát triển tư duy, trí tưởng tượng không gian.Tuy nhiên khả năng nhận thức của học sinh lớp 2 còn vụng khi vẽ hình, nhận diện hình gặp khó khăn, Việc dạy các yếu tố hình học lớp 2 như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh, phù hợp với yêu cầu đổi mới của phương pháp dạy học
Đó là nội dung tôi muốn đề cập tới: " Một số biện pháp giúp học sinh học tốt
toán hình học lớp 2." Tôi mong muốn những giờ học toán ( đặc biệt là toán
hình) vốn khô khan trở thành các giờ học khám phá điều mới lạ để thu hút các
em vào các hoạt động học tập
Trang 3II Mục đích của đề tài:
Nội dung về các yếu tố hình học và yêu cầu cơ bản về kiến thức, kỹ năng trong chương trình học toán lớp 2 rất quan trọng Đó là tiền đề, là nền móng cho học sinh học hình học các lớp sau này Hơn thế nữa việc học hình phát triển tư duy cho học sinh rất tốt Do đó tôi nghiên cứu một số biện pháp này với mục đích tìm hiểu nội dung kiến thức hình học trong chương trình toán học lớp 2 và
đề ra một số biện pháp hướng dẫn học sinh học tốt và ham thích học hình học
III Đối tượng nghiên cứu:
1 Nội dung chương trình toán hình lớp 2
2 Các biện pháp giúp học sinh học tốt toán hình lớp 2
IV Đối tượng khảo sát và thực nghiệm
- Học sinh lớp 2C
V Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện kinh nghiệm này tôi đã chọn phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Phương pháp dạy thực nghiệm
- Phương pháp trao đổi cùng đồng nghiệp
Trang 4B NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận
1.Chương trình toán ở bậc Tiểu học là nền móng cho việc học toán cho các bậc học sau này Điều đó đòi hỏi tất cả học sinh phải nắm chắc kiến thức các dạng toán theo chương trình
2.Toán hình là môn học đòi hỏi sự sáng tạo và tư duy,phát triển trí tưởng tượng cho học sinh Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải thường xuyên đổi mới phương pháp tạo hứng thú trong học tập cho các em Giáo viên cần nắm chắc nội dung kiến thức chương trình học, luôn tự học và học hỏi đồng nghiệp để có phương pháp dạy học tốt nhất
3.Việc học toán ở Tiểu học nói chung và toán hình nói riêng rèn cho học sinh phương pháp làm việc khoa học, đó là điều rất tốt, tạo tiền đề cho các em học tốt các môn học còn lại
4 Dạy toán là dạy cho học sinh sáng tạo, rèn luyện các kĩ năng và tính cần cù, cẩn thận
Về chương trình học: nội dung các bài học được sắp xếp từ dễ đến khó và
có tiết luyện tập để giáo viên có thời gian củng cố kiến thức cho học sinh
Nhà trường trang bị đầy đủ đồ dùng học tập, đặc biệt là những phương tiện dạy học hiện đại như: máy chiếu, máy tính Giáo viên được hỗ trợ trong các bài dạy, phụ huynh quan tâm chuẩn bị đủ đồ dùng học tập cho con Học sinh được chủ động nắm bắt kiến thức bài học
Trang 5- Trong lớp tôi đa số học sinh thông minh, tiếp thu bài nhanh, kiến thức tốt Bên cạnh đó cũng có một số học sinh nhận thức chậm, chưa chăm học, hổng kiến thức
- Đồ dùng dạy học, đồ dùng học tập về hình học được trang bị còn hạn chế, chưa có nhiều đồ dùng cỡ lớn cho học sinh quan sát
- Học sinh lớp 2 còn nhỏ, còn vụng về khi thao tác vẽ hình, đo độ dài, …
- Toán hình rất trừu tượng, đòi hỏi học sinh phải có khả năng quan sát, tưởng tượng tốt
* Trước thực trạng đó tôi đã nghiên cứu về nội dung, yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng học hình đối với học sinh lớp 2 để từ đó tôi đã đưa ra một số phương pháp giúp học sinh học tốt toán hình
III Nội dung chương trình hình học lớp 2
Nội dung dạy học các yếu tố hình học lớp 2 phong phú, đa dạng, được giới thiệu đầy đủ về:
- Đường thẳng, ba điểm thẳng hàng
- Giới thiệu một số đơn vị đo độ dài ( mm, cm, dm, m, km) và mối quan
hệ giữa một số đơn vị đo
- Đường gấp khúc
- Tính độ dài đường gấp khúc
- Giới thiệu hình tứ giác, hình chữ nhật Vẽ hình trên giấy ô vuông
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về chu vi của một số hình, cách tính chu vi hình tam giác, chu vi hình tứ giác
Cấu trúc, nội dung các yếu tố hình học trong sách giáo khoa toán 2, được sắp xếp đan xen với các mạch kiến thức khác, phù hợp sự phát triển theo từng giai đoạn của học sinh
IV Yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng đối với học sinh
- Học sinh biết nhận biết dạng và gọi đúng tên hình chữ nhật, hình tứ giác, đường thẳng, đường gấp khúc Đặc biệt lưu ý học sinh (nhận dạng hình “tổng thể”), chưa yêu cầu nhận ra hình chữ nhật cũng là hình tứ giác, hình vuông cũng
- Với những nội dung và yêu cầu như vậy, qua thực nghiệm giảng dạy tôi
đã đúc kết, tìm ra một số phương pháp giúp học sinh học tốt toán hình như sau
Trang 6V Phương pháp giúp học sinh học tốt toán hình học lớp 2
1.Phương pháp chung
Các yếu tố hình học trong SGK toán lớp 2 đã bám sát trình độ chuẩn (thể hiện các yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng mà học sinh cần đạt được, phù hợp với mức độ ở lớp 2 như nhận dạng hình tổng thể, các bài thực hành, luyện tập đơn giản, bài tập xếp, ghép hình, dễ thực hiện…) Với hệ thống các bài tập
đa dạng đã gây hứng thú học tập của học sinh
Ở lớp 2, chưa yêu cầu học sinh nắm được các khái niệm hình học dựa trên các đặc điểm quan hệ các yếu tố của hình (chẳng hạn chưa yêu cầu học sinh biết hình chữ nhật là hình tứ giác có 4 góc vuông, hoặc có 2 cạnh đối diện bằng nhau) chỉ yêu cầu học sinh nhận biết được hình ở dạng tổng thể, phân biệt được hình này với hình khác và gọi đúng tên hình của nó Bước đầu vẽ được hình đó bằng cách nối các điểm hoặc vẽ dựa trên các đường kẻ ô vuông (giấy kẻ ô ly,…)
Một cách khác nữa, khi dạy thì giáo viên cần lưu ý cho học sinh có thói
quen đặt câu hỏi “tại sao” và tự suy nghĩ để trả lời các câu hỏi đó Trong nhiều tình huống giáo viên còn có thể đặt ra câu hỏi “Tại sao làm như vậy? Có cách nào khác không? Có cách nào hay hơn không?” Các câu hỏi của giáo viên như “tại sao”, “vì sao” đã thôi thúc học sinh phải suy nghĩ tìm tòi giải thích Đó
là chỗ dựa để đưa ra cách làm hoặc cách giải thích sự lựa chọn trong vốn kiến thức đã học để trả lời
Khi dạy các yếu tố hình học cho học sinh lớp 2, việc tập cho học sinh có thói quen đặt ra câu hỏi “tại sao” và tìm cách giải thích làm cho vấn đề được sáng tỏ là nhiệm vụ của người giáo viên Từ thói quen trong suy nghĩ ta hình thành và rèn luyện thói quen đó trong diễn đạt, trong trình bày
Ví dụ: Bài chu vi hình tam giác
Từ đồ dùng dạy học và hệ thống câu hỏi gợi ý, giáo viên giúp học sinh về:
+ Tổng độ dài các cạnh của hình tam giác là chu vi của hình tam giác đó ( độ dài các cạnh của hình tam giác phải cùng đơn vị đo)
A
B
4cm 4cm
Trang 7Dựa vào hình vẽ trên học sinh có thể tính chu vi hình tam giác bằng các cách: 4 + 4 + 4 = 12 (cm)
Hoặc : 4 x 3 = 12 (cm)
Cho học sinh so sánh các kết quả khẳng định là làm đúng
Lúc đó giáo viên hỏi:
+Tại sao con lại lấy 4 x 3 để tính chu vi hình tam giác?
(vì 3 cạnh hình tam giác có số đo bằng nhau = 4 cm)
- So sánh 2 cách làm trên con thấy cách nào làm nhanh hơn?
+(cách 2)Việc dạy gợi mở, chú trọng phát huy năng lực ở học sinh đem lại hiệu quả không nhỏ cho tiết học
2 Phương pháp cụ thể đối với từng dạng bài như sau:
2.1 Với dạng bài “nhận biết hình”:
a Về “đoạn thẳng, đường thẳng”
Vấn đề “đoạn thẳng, đường thẳng” được giới thiệu ở Tiểu học có thể có nhiều cách khác nhau Trong sách toán 2, khái niệm “đường thẳng” được giới thiệu bắt đầu từ “đoạn thẳng” (đã được học ở lớp 1) như sau:
- Cho điểm A và điểm B, lấy thước và bút nối hai điểm đó ta được đoạn thẳng AB
- Kéo dài đoạn thẳng AB về hai phía, ta được đường thẳng AB
- Lưu ý: Khái niệm đường thẳng không định nghĩa được, học sinh làm
quen với “biểu tượng” về đường thẳng thông qua hoạt động thực hành: Vẽ đường thẳng qua 2 điểm, vẽ đường thẳng qua 1 điểm
b Nhận biết giao điểm của hai đoạn thẳng:
Trang 8Hoặc giáo viên hỏi: Có cách nào khác không? Học sinh suy nghĩ trả lời:
“Hai đoạn thẳng AB và CD cắt nhau tại điểm O” Hoặc “O là điểm cắt nhau của đoạn thẳng AB và CD”
- Giáo viên hỏi thêm học sinh ba điểm nào không thẳng hàng?
- Học sinh nêu ý kiến cá nhân
Chốt nội dung: ba điểm thẳng hàng là ba điểm cùng nằm trên một
đường thẳng Ngoài ra để khắc sâu kiến thức giáo viên hướng dẫn học sinh để các em nhận biết về 3 điểm không thẳng hàng
d Nhận biết hình chữ nhật, hình tứ giác
Ở lớp 2, chưa yêu cầu học sinh nắm được khái niệm, định nghĩa hình học dựa trên các đặc điểm (chẳng hạn, chưa yêu cầu học sinh biết hình chữ nhật là tứ giác có 4 góc vuông, hoặc có 2 cạnh đối diện bằng nhau và có góc vuông), chỉ yêu cầu học sinh phân biệt được hình ở dạng tổng thể, phân biệt được hình này với hình khác và gọi đúng tên hình của nó Bước đầu vẽ được hình đó bằng cách nối các điểm hoặc vẽ dựa trên các đường kẻ ô vuông (giấy kẻ ô ly)…
Ví dụ: dạy bài “Hình chữ nhật” theo yêu cầu trên, có thể như sau:
- Giới thiệu hình chữ nhật (học sinh được quan sát vật thật có dạng hình chữ nhật, là các miếng bìa hoặc nhựa trong hộp đồ dùng học tập, để nhận biết dạng tổng thể “đây là hình chữ nhật”)
Trang 9- Hình có 4 cạnh: hai cạnh dài bằng nhau, hai cạnh ngắn bằng nhau
- Vẽ và ghi tên hình chữ nhật (nối 4 điểm trên giấy kẻ ô vuông để được hình chữ nhật, chẳng hạn hình chữ nhật ABCD, hình chữ nhật MNPQ)
A B
D C
Q P
- Nhận biết được hình chữ nhật trong tập hợp một số hình (có cả hình không phải là hình chữ nhật), chẳng hạn:
Tô màu (hoặc đánh dấu x ) vào hình chữ nhật có trong mỗi hình sau:
- Thực hành củng cố nhận biết hình chữ nhật:
Ví dụ: Bài 1 trang 85:
Mỗi hình dưới đây là hình gì?
a)
d)
b)
e)
c)
g)
Trang 10e Nhận biết đường gấp khúc:
- Nhận biết từng bước:
+ Giáo viên giới thiệu đường gấp khúc gồm 2 đoạn thẳng
+ Giáo viên giới thiệu đường gấp khúc
Độ dài đường gấp khúc ABCD là tổng
độ dài các đoạn thẳng của đường gấp
Giáo viên giới thiệu:
Đây là đường gấp khúc ABCD (chỉ vào hình vẽ) Học sinh lần lượt nhắc lại: “Đường gấp khúc ABCD”
Giáo viên hỏi: Đường gấp khúc này gồm mấy đoạn? Học sinh nêu: Gồm 3 đoạn thẳng AB, BC, CD (B là điểm chung của hai đoạn thẳng AB và BC, C là điểm chung của hai đoạn thẳng BC và CD)
Học sinh được thực hành tiếp bài tập 3 (trang 104)
Ghi tên các đường gấp khúc có trong hình vẽ sau, biết:
Trang 11Yêu cầu cầu sinh ghi tên, đọc tên đường gấp khúc
Giáo viên cho học sinh dùng bút chì màu và phân biệt các đường gấp khúc
có đoạn thẳng chung:
a Đường gấp khúc gồm 3 đoạn thẳng là: ABCD
b Đường gấp khúc gồm 2 đoạn thẳng là: ABC và BCD
2 Về “Vẽ hình”
Ỏ lớp 1,2,3 học sinh được làm quen với hoạt động vẽ hình đơn giản theo các hình thức sau:
a Vẽ hình không yêu cầu có số đo các kích thước
Vẽ hình trên giấy ô vuông
Trang 12c Vẽ đường thẳng
Ví dụ: Bài 4 trang 74
Vẽ đường thẳng
a) Đi qua hai điểm M, N b) Đi qua điểm O
c) Đi qua hai trong ba điểm A, B, C
Sau khi giáo viên đã dạy bài đường thẳng và cách vẽ là cho học sinh làm một loạt bài thực hành
* a Vẽ đường thẳng đi qua 2 điểm MN
Học sinh : Khi vẽ đoạn thẳng ta chỉ cần nối điểm M với điểm N, còn khi vẽ đường thẳng ta phải kéo dài về phía hai đầu của điểm M và điểm N
* b Vẽ đường thẳng đi qua điểm O
Giáo viên cho học sinh nêu cách vẽ: Đặt thước sao cho mép thước đi qua điểm O sau đó kẻ 1 đường thẳng đi qua điểm O
Học sinh tự vẽ
Hỏi học sinh vẽ được bao nhiêu đường thẳng đi qua điểm O?
vẽ được nhiều đường thẳng qua O
Trang 13Giáo viên kết luận : Qua 1 điểm có “rất nhiều ” đường thẳng
* c Vẽ đường thẳng đi qua 2 trong 3 điểm A, B, C
- Giúp học sinh nắm được yêu cầu
+ Chọn 2 trong 3 điểm để vẽ
Học sinh : Thực hiện thao tác nối
Giáo viên yêu cầu kể tên đường thẳng có trong hình
Học sinh : Đường thẳng AB, BC, CA
Giáo viên hỏi : Mỗi đường thẳng đi qua mấy điểm ? (đi qua 2 điểm) Giáo viên cho học sinh thực hành vẽ đường thẳng
Học sinh nêu cách vẽ: Kéo dài đoạn thẳng về 2 phía để có các đường thẳng Giáo viên hỏi : Ta có mấy đường thẳng? Đó là những đường thẳng nào? Học sinh : Ta có 3 đường thẳng đó là: đường thẳng AB,
đường thẳng BC, đường thẳng CA
d Vẽ thêm đường thẳng để được hình mới:
* Giáo viên: Kẻ thêm nghĩa là vẽ thêm 1 đoạn nữa vào trong hình:
a: Giáo viên vẽ hình lên bảng và cho học sinh đặt tên cho hình:
Giáo viên hỏi : Con vẽ thế nào?
Học sinh : Con nối B với D
Giáo viên chốt lại cách nối thêm: đỉnh -> đỉnh
Trang 14b Học sinh phải được hướng dẫn và được luyện tập kỹ năng về hình, dựng hình theo quy trình hợp lý thể hiện được những đặc điểm của hình phải vẽ
c Hình vẽ phải rõ ràng, chuẩn xác về hình dạng và đặc điểm, các nét vẽ phải mảnh, không nhoè, không tẩy xoá
Trang 15- Yêu cầu của bài “xếp, ghép hình” ở lớp 2 là: Từ 4 hình tam giác đã cho, học sinh xếp, ghép được thành hình mới theo yêu cầu đề bài (chẳng hạn ở ví dụ trên là xếp thành “hình mũi tên”
- Cách thực hiện:
Mỗi học sinh cần có một bộ hình tam giác để xếp hình (bộ xếp hình này có trong hộp đồ dùng học toán lớp 2, hoặc học sinh có thể tự làm bằng cách từ một hình vuông cắt theo 2 đường chéo để được 4 hình tam giác)
Học sinh lựa chọn vị trí thích hợp để xếp, ghép 4 hình tam giác thành hình mới (chẳng hạn như hình mũi tên)
Giáo viên hướng dẫn học sinh:
+ Quan sát hình mẫu:
Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát tổng thể quan sát bộ phận nhỏ hơn .Gồm 1 hình tam giác và 1 hình vuông
.Hình tam giác lớn gồm 2 hình tam giác nhỏ
.Hình vuông cũng gồm 2 hình tam giác nhỏ
.Cách xếp các hình tam giác nhỏ tạo thành hình vuông hay hình tam giác lớn.=> Xếp hình vuông với hình tam giác để tạo thành hình yêu cầu
- Lưu ý: Loại toán, “xếp, ghép hình” chỉ có ý nghĩa khi mỗi học sinh phải
được tự xếp, ghép hình (các em có thể xếp, ghép nhanh chậm khác nhau), nhưng kết quả đạt được là “sản phẩm” do mỗi em được “tự thiết kế và thi công” và do
đó sẽ gây hứng thú học tập cho mỗi em)