1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợp

32 306 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 813 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợpSKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợpSKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợpSKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợpSKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợpSKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợpSKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợpSKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợpSKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợpSKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợp

Trang 1

1/29

PHẦN MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1/Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục

Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đặc biệt coi trọng vị trí con người, coi

con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển và: “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi, phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh, bền vững”(Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng khoá VIII)

Chính vì vậy, ngay từ bậc Tiểu học các nhà trường cần quan tâm đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, bước đầu rèn luyện kĩ năng tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh

Để đáp ứng nhu cầu giáo dục, các môn học ở Tiểu học dần chú trọng hình thành rèn luyện cho học sinh các kĩ năng học tập Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt chú trọng hình thành rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt để phục vụ cho hoạt động học tập và giao tiếp hàng ngày Quan điểm tích hợp là một trong các quan điểm biên soạn chương trình SGK Tiếng Việt mới nhằm phát huy tính tích cực của các em

Thông qua các hình thức luyện tập trong SGK Tiếng Việt 1 và hướng dẫn các hoạt động dạy, học trong SGV Tiếng Việt 1, cả hai loại sách này sẽ tạo điều kiện để giáo viên và học sinh thực hiện phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của học sinh; mỗi học sinh đều được hoạt động, đều được bộc lộ mình và được phát triển Đây là giải pháp tổng thể để thực hiện mục tiêu trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hoàn thiện nhân cách cho các em

Thực hiện quan điểm tích hợp, SGK Tiếng Việt 1 không dạy kiến thức lí thuyết như là cái có sẵn mà tổ chức hoạt động để học sinh nắm được kiến thức sơ giản và kĩ năng sử dụng tiếng việt tốt SGK cũng trú trọng tổ chức các hoạt động

tự nhiên, hoạt động ngoại khóa để rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh

Đặc biệt, các hình thức tổ chức hoạt động, trò chơi cho học sinh được hướng dẫn rất cẩn thận trong SGK Từ khi bộ SGK Tiếng Việt Tiểu học mới được đưa vào giảng dạy, phương pháp tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh bước đầu đã tạo ra những chuyển biến rất rõ rệt trong các nhà trường Tiểu học ở Việt Nam

2/Thực tiễn dạy Học vần ở địa phương

Trong thực tiễn, khi thực hiện SGK Tiếng Việt được biên soạn theo chương trình Tiểu học mới, giáo viên gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn Cụ thể là:

- Thuận lợi: Không chỉ dạy Tiếng Việt mà còn tích hợp các kiến thức, kĩ năng các môn học khác có ngữ liệu thích hợp với môn Tiếng Việt được coi là những tình huống để rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt Thông qua việc thảo luận nhóm về nội dung của bài học, học sinh được tăng thêm vốn từ, học được

Trang 2

2/29

nhiều cách quy tắc sử dụng tiếng Việt theo các phong cách chức năng đã được dùng để viết ra chúng, do đó có nhiều cơ hội để ứng xử bằng tiếng Việt thích hợp với những ngữ cảnh khác nhau

- Khó khăn: Quỹ thời gian hạn hẹp Với 35- 40 phút/tiết, giáo viên đã giải quyết xong phần kiến thức, kĩ năng của nội dung còn phải tăng thêm phần tích hợp, lồng ghép Thao tác của giáo viên còn lúng túng, chưa nhuần nhuyễn, thiếu

tự tin, còn gượng ép nên dẫn đến cách hướng dẫn học sinh hoạt động chưa tích cực

- Nhiều giáo viên còn sa đà vào nội dung giáo dục tích hợp nên ảnh hưởng đến thời gian giảng dạy

Việc thực hiện quan điểm đổi mới trong từng môn học, từng bài học cụ thể

là vấn đề cần được nghiên cứu và bàn bạc và làm sáng tỏ

Vì vậy tôi đã tập trung nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy

Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợp” để góp phần giáo dục toàn diện cho học

sinh

II MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ

1/Mục đích:

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề đổi mới phương pháp và trên thực tiễn

dạy học phân môn Học vần, xây dựng phương pháp dạy học tối ưu (cho cả người dạy và người học) nhằm mục đích nâng cao hiệu quả trong từng giờ học

Thiết kế một số bài dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợp giúp cho người giáo viên Tiểu học có một tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy

Định hướng cho người giáo viên Tiểu học thực hiện đổi mới ở các giờ học cụ thể

Hình thành và làm quen cho học sinh với cách thức tự học, tự lập, tự sáng tạo

2/Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu vấn đề đổi mới dạy học hiện nay trong trường Tiểu học

- Nghiên cứu thực tiễn dạy Học vần ở lớp 1

- Đề xuất phương án dạy học giờ Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợp

Nghiên cứu những vấn đề ngôn ngữ học, tâm lí giáo dục và các khoa học

có liên quan tới việc dạy học các bài Học vần lớp 1

2/Nhóm phương pháp thực tiễn:

Nghiên cứu nội dung chương trình SGK, SGV, sách tham khảo

Trực tiếp giảng dạy nhiều năm lớp 1 cũng như dự giờ phân môn Học vần lớp 1 của các bạn đồng nghiệp để tìm hiểu thực tế dạy học Học vần ở khối lớp này Khảo sát thực trạng dạy Học vần ở khối lớp 1

Trang 3

3/29

3/Nhúm phương phỏp bổ trợ

Thống kờ cỏc kết quả dạy học

Xử lớ và khỏi quỏt hoỏ cỏc kết quả thực nghiệm

IV đối t-ợng VÀ THỜI GIAN nghiên cứu:

* Đối tượng nghiờn cứu : 50 Học sinh lớp 1

* Thời gian nghiờn cứu: Bắt đầu từ thỏng 9/2016 - -> thỏng 4/2017

Trang 4

4/29

1.1/Đi học lớp 1 là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ

Từ đây hoạt động chủ đạo của trẻ, hoạt động vui chơi ở giai đoạn mẫu giáo

đã chuyển sang một loại hoạt động mới, hoạt động học tập với đầy đủ ý nghĩa của

từ này Các em sẽ trở thành những “cậu học sinh, những cô học sinh”

Vì vậy giáo viên cần phải nắm chắc đặc điểm này để giúp học sinh

“chuyển giai đoạn ”được tốt

1.2/Sự hình thành hoạt động có ý thức ở trẻ lớp 1

Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng về mặt sinh lí ở trẻ 6 - 7 tuổi, khối lượng

bộ não đã đạt tới 90% khối lượng bộ não người lớn Sự chín muồi về mặt sinh lí cùng với sự phát triển của những quá trình tâm lí (như cảm giác, tri giác, trí nhớ,

tư duy,…) đã tạo điều kiện để các em có thể thực hiện một hoạt động mới, hoạt động học tập Chơi là một hoạt động mang tính kế hoạch có mục đích đó là một hoạt động có ý thức

1.3/Đặc điểm của hoạt động tư duy ở trẻ lớp 1

Trên cơ sở ý thức đã hình thành khả năng tư duy tín hiệu ở trẻ cũng phát triển Chính khả năng tư duy bằng tín hiệu là cơ sở để các em lĩnh hội chữ viết, là những tín hiệu thay thế ngữ âm Ở độ tuổi 6 – 7 tuổi khả năng phân tích, tổng hợp

ở trẻ khá hoàn chỉnh, từ đó cho phép các em có khả năng tách từ thành tiếng, thành âm

1.4/Năng lực vận động của trẻ ở lứa tuổi lớp 1

Ở lứa tuổi 6 - 7 tuổi năng lực vận động của trẻ cũng đạt được những bước phát triển đáng kể Các em có thể chủ động điều khiển các hoạt động của cơ thể như tay, mắt, đầu cổ, có thể phối hợp nhiều động tác khác nhau Đây cũng là điều kiện cần thiết để các em có đủ điều kiện đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi cao hơn là: học viết - một hoạt động đòi hỏi phải chủ động trong các hoạt động của cánh tay, ngón tay, bàn tay trong sự phối hợp với mắt nhìn, tai nghe, tay viết

Bằng hình thức đàm thoại sinh động, bằng việc kể chuyện, ngâm thơ, quan sát vật thật… giáo viên sẽ tạo được những tình huống ngôn ngữ làm cho hoạt động đọc và viết có ý nghĩa, từ đó góp phần nâng cao khả năng tư duy, đạt được hiệu quả dạy học vần cao

Trang 5

5/29

2/Cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy học vần

2.1/Những đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt và dạy Tiếng Việt ở lớp 1

Đặc trưng loại hình của Tiếng Việt thể hiện ở chỗ Tiếng Việt là thứ ngôn ngữ đơn lập Đặc trưng này được thể hiện ở tất cả các ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp nhưng thể hiện rõ nhất là mặt ngữ âm

Xét từ góc độ ngữ âm Tiếng Việt là thứ ngôn ngữ có nhiều thanh điệu và độc lập mang nghĩa Vì thế trong chuỗi lời nói, ranh giới giữa các âm tiết được thể hiện rõ ràng, các âm tiết không bị nối dính vào nhau như trong các ngôn ngữ biến hình Đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy âm, dạy chữ

Về cấu tạo âm tiết Tiếng Việt là một tổ hợp âm thanh có tổ chức chặt chẽ Các yếu tố cấu tạo âm tiết kết hợp với nhau theo từng mức độ lỏng, chặt khác nhau Phụ âm đầu, vần và thanh kết hợp lỏng, còn các yếu tố của vần kết hợp với nhau khá chặt chẽ Vần có vai trò rất quan trọng trong Tiếng Việt Âm tiết có thể không có phụ âm đầu nhưng không thể thiếu phần vần Người Việt ưa thích nói vần và nhạy cảm với vần Điều này được thể hiện rõ trong vần thơ và cách nói lái của người Việt

2.2/Cơ chế của việc đọc, viết

Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ người ta nảy sinh ra một ý, rồi dùng ngôn ngữ để lồng ý đó và phát triển thành lời Khi tiếp nhận lời nói, người nghe lại rút

ở trong từ, trong câu nghe được ý của người nói để biết người ta muốn nói gì Để chuyển ý thành lời người ta phải sử dụng một mã chung của xã hội là ngôn ngữ (bao gồm các từ và những quy tắc ghép từ thành câu) lựa chọn sắp xếp các yếu tố của mã đó trở thành lời cụ thể Công việc vận dụng mã để lồng ý mà tạo lên lời như thế gọi là sự mã hoá Ngược lại khi chuyển lời thành ý từ những câu, nghe được, người nghe phải rút ra nội dung chứa đựng bên trong lời nói Công việc đó chính là sự giải mã

1- Quy trình viết :

ý  mã hoá 1  lời nói  mã hóa 2  văn bản viết

( mã 1) (văn bản nói) (mã hoá 2)

2.3/ Đặc điểm của chữ viết Tiếng Việt

Chữ viết Tiếng Việt là chữ ghi âm Nói chung đó là một hệ thống chữ viết tiến bộ Nguyên tắc cơ bản của kiểu chữ này là nguyên tắc ngữ âm học Về cơ bản, nguyên tắc đảm bảo sự tương ứng một - một giữa âm và chữ, tức là mỗi âm chỉ ghi bằng một chữ, mỗi chữ chỉ có một cách phát âm mà thôi Ngoài ra về mặt

Trang 6

6/29

chữ viết, các âm Tiếng Việt đều rời, có cấu tạo đơn giản nên việc đánh vần không phức tạp lắm

Dạy học vần, dạy viết (nhất là những tiết đầu) có một số khó khăn nhất định do nguyên nhân sau:

- Cấu tạo của hệ thống chữ Tiếng Việt còn tồn tại một số bất hợp lí như

một âm ghi bằng nhiều con chữ (âm /k/ ghi bằng ba con chữ c, k, q…) hoặc một chữ dùng để ghi nhiều âm (chữ ghi âm /z/ trong từ gì và già) Tình hình đó, lúc đầu dễ làm cho các em lẫn lộn khi viết, Ví dụ: gì đọc thành ghì , kẻ đọc thành cẻ

- Chữ viết theo hệ thống ngữ âm chuẩn nhưng cách đọc của học sinh lại thể hiện ngữ âm của phương ngôn (nơi các em sinh sống)

+Học sinh của một số tỉnh ở miền Bắc thường không phát ngôn đánh vần được các âm quặt lưỡi Ví dụ: phụ âm đầu /n/với /l/; phụ âm đầu /x/với /s/; phụ

âm cuối /n/ với /t/

+HS người miền Trung, miền Nam thì không phân biệt được chính xác thanh hỏi, ngã, Ví dụ: kể với kễ; nghỉ với nghĩ; …

Loại lỗi trên khó khắc phục hơn với cách phát âm toàn dân để trên cơ sở đó dạy phát âm chuẩn Tuy nhiên chữ viết Tiếng Việt có cấu tạo đơn giản và tiếng Việt có tính thống nhất cao nên việc dạy với học sinh lớp 1 ở Việt Nam có thể giải quyết trọn vẹn trong vòng hai, ba tháng

II/CƠ SỞ THỰC TIỄN

1/Mục tiêu của việc dạy Học vần

- Học vần là môn học khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và giao tiếp Đó là chữ viết Tầm quan trọng của học vần chịu sự quy định bởi tầm quan trọng của chữ viết trong hệ thống ngôn ngữ Nếu chữ viết được coi là phương tiện ưu thế nhất trong giao tiếp thì học vần

có một vị trí quan trọng không thiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học

- Cùng với tập viết, học vần có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em cái chìa khoá để vận dụng chữ viết khi học tập Khi biết đọc, biết viết các em có điều kiện nghe lời thầy giảng trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo…từ đó có điều kiện để học tốt các môn học khác có trong chương trình

Chúng ta đều nhận thức sâu sắc rằng, môn Tiếng Việt ở Tiểu học rèn luyện cho HS cả 4 kĩ năng nghe, nói đọc, viết, song mục tiêu của việc dạy và học Tiếng Việt ở lớp 1 là đem lại cho các em kĩ năng đọc đúng,viết đúng Quá trình đọc và viết đều thông qua chữ Chữ viết của tiếng việt là ghi âm (về cơ bản đọc thế nào viết thế ấy) Muốn nắm được kĩ năng đọc, viết các em phải đồng thời nắm được

cả hai

2/Cấu tạo một bài dạy

Ở loại bài dạy kiến thức mới, cách trình bày trên trang sách nói chung phù hợp với trình tự các bước lên lớp thông thường trong hai tiết dạy Cụ thể như sau:

Trang 7

7/29

2.1.Bài dạy phần “chữ cái và âm”

- Tên bài (trình bày bằng chữ in thường)

- Tranh, từ khoá (nội dung tranh gắn liền với nghĩa của từ khoá nhằm gợi

- Từ ngữ (hoặc câu) ứng dụng để luyện đọc

- Chữ ghi tiếng (viết thường trên dòng kẻ) cần luyện viết ứng dụng (thường

là tiếng mới hoặc từ có tiếng mới học)

- Tiếng ghép bởi các âm đã học và từ ngữ ứng dụng cần luyện đọc thêm ở lớp và ở nhà (còn gọi là phần ôn luyện cuối bài) Phần này thiết kế theo nguyên tắc: Bài học về nguyên âm sẽ ghép với phụ âm đã học và bài học về phụ âm sẽ ghép với các nguyên âm đã học để tạo thành tiếng, giúp trẻ “quen mắt” đọc nhanh Các từ láy, từ ghép hay cụm từ ở dòng dưới có tác dụng cho trẻ tập đọc thêm đồng thời mở rộng vốn từ ở trẻ

2.2.Bài dạy ở phần vần

- Tên bài (chữ in thường)

- Tranh, từ khoá (gồm tiếng đã được học và tiếng mới)

- Tiếng khoá (mang vần mới)

- Vần mới (trình bày bằng chữ in) chữ viết thường được trình bày kết hợp bên phải sách cùng ghi chữ tiếng mới)

- Từ ứng dụng để luyện đọc

- Chữ ghi vần- tiếng (viết thường trên dòng kẻ) cần luyện viết ứng dụng

- Tranh, câu (hoặc bài) ứng dụng để luyện đọc ở lớp, ở nhà

Số lượng từ ngữ ứng dụng được ứng dụng ở mỗi bài với mức độ vừa phải Tối thiểu: 3 từ ngữ ở bài học 1 vần, 4 từ ngữ ở bài học 2 vần, nhiều nhất là 6 từ ngữ ở bài học 3 vần Nội dung các từ ngữ ứng dụng có sự chọn lọc và gợi mở liên tưởng ở các cặp: Vầng trăng/ lăng Bác/ vâng lời/ chị ngã em nâng/ lúa chiêm/ cái liềm … đôi khi có kết quả phân biệt vấn đề lẫn lộn hoặc chính tả như: hoa đào, dẻo tay, múa xoè, xương sườn, giọt sương … song điều quan trọng nhất là nội dung các từ ngữ, câu ứng dụng để luyện đọc vừa hướng vào các chủ đề cần thiết (nhà trường, gia đình, cuộc sống, thiên nhiên và xã hội gần gũi với trẻ …) vừa đáp ứng yêu cầu khắc sâu vần đã học, ôn luyện vần cũ đọc (tăng cường số lần lặp lại) Vì vậy bên cạnh những câu, bài có tính “văn chương”

- Bài ôn các âm- chữ ghi âm đã học: có dạng ghép tiếng luyện đọc, thay đổi thanh để tạo tiếng mới theo “bảng mẫu” (Các bài 6, 11, 16, 21, 27, 31, 37, 43) có dạng thực hành luyện đọc các từ láy có “khuôn vần” là nguyên âm đã học (bài 39)

Trang 8

8/29

- Bài ôn vần đã học: có dạng ôn các vần đã học (theo nhóm) có bộ phận giống nhau (bài 51, 59, 67, 75…), có dạng hệ thống hoá các nhóm vần đã học, ghép tiếng luyện đọc qua bài đọc ngắn (bài 90, 97, 103)

Dạy ôn theo cách trên, giáo viên có thể sử dụng các loại đồ dùng dạy học (bảng hệ thống vần, hộp quay vần ghép tiếng) làm cho lớp thêm sinh động

III/TÌM HIỂU QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP TRONG CHƯƠNG TRÌNH VÀ SGK TIẾNG VIỆT

1/Chương trình Tiểu học - môn Tiếng Việt, mục Những định hướng của chương trình đã nêu vấn đề về: “VẬN DUNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẦN LỚP 1 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP” như sau:

- “Chương trình này có mục tiêu phức hợp: vừa hình thành kĩ năng vừa cung cấp tri thức Trong các tri thức cung cấp cho học sinh, ngoài những tri thức tiếng Việt còn có các tri thức về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

-Việc hình thành các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt muốn có hiệu quả cao phải được thực hiện không chỉ ở các bài học Tiếng Việt mà còn ở các bài học thuộc những môn học khác Tương ứng với hai sự kết hợp trên là hai dạng tích hợp trong dạy Tiếng Việt."

- Tích hợp trong môn Tiếng Việt: các bài đọc đều chú ý rèn luyện bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết, kết hợp dạy thực hành các kĩ năng trên với dạy Từ ngữ (T) ở lớp 1

- Tích hợp nội dung các môn học khác vào môn Tiếng Việt: những bài học của các môn học khác có ngữ liệu thích hợp với việc dạy tiếng Việt được coi là những tình huống để rèn luyện những kĩ năng sử dụng Tiếng Việt Thông qua các bài học, thông qua việc thảo luận trong nhóm hoặc trong lớp về nội dung của các bài học ấy, học sinh được tăng thêm vốn từ, học được nhiều cách diễn đạt bằng Tiếng Việt và qui tắc sử dụng Tiếng Việt theo các phong cách chức năng đã được dùng để viết ra chúng, do đó có nhiều cơ hội để ứng xử bằng Tiếng Việt thích hợp với các ngữ cảnh khác nhau

2/Tài liệu Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 1 (do Nguyễn Minh Thuyết chủ biên,

Nhà xuất bản Giáo dục mục 10 trang 26)

2.1/Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học hay

trong một bài tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan tới nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học Có thể thực hiện tích hợp theo chiều ngang và tích hợp theo chiều dọc

2.2/Tích hợp theo chiều ngang: Là tích hợp kiến thức tiếng Việt với các mảng

kiến thức về văn học, tự nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy

Chẳng hạn hướng tích hợp này được SGK Tiếng Việt Lớp 1 thể hiện thông

qua hệ thống chủ điểm: Nhà trường - Gia đình - Thiên nhiên đất nước

SGK đã hướng dẫn các lĩnh vực đời sống Qua đó tăng cường vốn từ, khả năng diễn đạt về mọi lĩnh vực Nhà trường - Gia đình - Xã hội giúp các em hiểu được thế giới xung quanh soi vào thế giới tâm hồn mình Đây chính là giải pháp

để thực hiện mục tiêu “cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng

Trang 9

9/29

Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài.” Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập viết,) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước

2.3/Tích hợp theo chiều dọc:

Nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng với những kiến thức và

kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc) Cụ thể là: kiến thức và kĩ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới, nhưng cao hơn và sâu hơn Đây là giải pháp củng cố và dần dần nâng cao kiến thức, kĩ năng của HS, để các kiến thức và kĩ năng thực sự là của mỗi người học, góp phần hình thành ở các em những phẩm chất mới của nhân cách Điều này ở phân môn Tập đọc thể hiện rất

2.3.1/Về kiến thức: Ở lớp 1, toàn bộ các bài học đều được xây dựng theo

chủ điểm Nhà trường, Gia đình, Thiên nhiên - Đất nước

- Ở lớp 1, thời gian dành cho mỗi đơn vị học là một tuần; các chủ điểm lần lượt trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy trôn ốc; cứ ba tuần lại lặp lại một lần, mỗi lần trở lại là một lần khai thác sâu hơn

Như: Chủ điểm 1: Nhà trường, đây là chủ điểm đầu tiên sau khi các em học hết phần vần Các em được luyện tập tổng hợp Bài Tập đọc đầu tiên của chủ

điểm đầu tiên này là bài Trường em, các em được luyện đọc được ôn tập củng

cố các vần đơn giản: ai, ay, và tìm hiểu nội dung bài cũng khá đơn giản bằng

cách: Nói tiếp: Trường học là ngôi nhà thứ hai của em, vì … Phần Luyện nói (N)

ở nội dung rất gần gũi: M: Bạn học lớp nào? …

Nhưng đến chủ điểm 10: cũng là chủ điểm Nhà trường, các bài đọc dài

hơn, nội dung tìm hiểu cũng đòi hỏi tư duy nhiều hơn Như bài Cây bàng, vần cần được ôn tập củng cố là những vần khó hơn, vần: oang, oac Trong phần

Luyện nói (N): Kể tên những cây được trồng ở sân trường em Tuy là nội dung

rất gần gũi nhưng đòi hỏi các em phải có sự tìm tòi, hiểu biết

Trang 10

10/29

CHƯƠNG II:

DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP TRONG MÔN TIẾNG VIỆT

1/THẾ NÀO LÀ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP?

Để hiểu thế nào là dạy học theo quan điểm tích hợp trong môn Tiếng Việt, chúng ta cùng xem lại nội dung một số bài học trong SGK và việc tổ chức hoạt động học tập trên lớp cho các bài học đó

1/Giáo án thực nghiệm (minh họa ở trang 21của sáng kiến):

- Bài 76 oc, ac SGK Tiếng Việt 1 tập một trang 154

- Bài 78: uc, ưc SGK Tiếng Việt 1 tập một trang 158

II/QUY TRÌNH LÊN LỚP (ở dạng bài cơ bản)

1.Dạy bài âm - chữ ghi âm (học vần) mới

Trong hai tiết lên lớp cho một bài dạy, ngoài những công việc thông lệ như: ổn định tổ chức, nhắc nhở, tuyên dương, dặn dò … có 2 bước lên lớp cơ bản, cần được GV vận dụng linh hoạt, sáng tạo: kiểm tra bài cũ; dạy bài mới (thường phân bố như sau: tiết 1: giới thiệu bài (1); Dạy âm - chữ ghi âm (vần mới) (2); tiết 2: luyện tập (3); hướng dẫn học sinh học ở nhà (4)

1.1.Kiểm tra bài cũ

- Thời gian từ 3 - 5 phút (tuỳ bài dạy)

- Nội dung kiểm tra

+Đọc chữ ghi âm (vần) - tiếng mới (hoặc tiếng mới từ khoá), từ ứng dụng (2 - 3 từ) các bài kế trước đó Có thể kiểm tra thêm phần luyện đọc ở nhà hoặc một vài âm (vần hoặc tiếng) đã học có xuất hiện trong bài sắp dạy

+Viết: chữ ghi âm (vần) - chữ ghi tiếng mới- từ khoá của bài kế trước đó Tuỳ điều kiện có thể viết nâng cao 1 - 2 từ ứng dụng

- Biện pháp tiến hành: Kiểm tra đọc trước đối với từng học sinh (đọc trên bảng lớp, bảng con viết sẵn, bìa ghi chữ, đọc trong SGK), kiểm tra viết sau đối với cả lớp (viết bảng con hoặc kết hợp viết cả lớp đối với 2 - 3 học sinh) Nói chung giáo viên cần có nhiều biện pháp sáng tạo để đạt hiệu quả cao nhất có số học sinh được kiểm tra bài cũ)

1.2.Dạy bài mới

a)Giới thiệu bài: (1 - 2 phút) có thể gợi từ khoá và chú giải thêm về nghĩa,

nếu cần qua tranh ảnh hay vật thật) rồi nêu tên bài mới, song cũng có thể nêu ngay tên bài mới rồi gợi mở từ khoá rồi ghi lên bảng và dạy (ở bài dạy có nhiều

âm - vần)

b)Dạy âm- chữ ghi âm hoặc vần:

- Phân tích từ khoá, từ khoá để rút ra âm - chữ ghi âm hoặc vần mới, giúp

HS nhận dạng (phân tích) chữ ghi âm (vần) mới, tập phát âm (đánh vần) mới học

- Tổng hợp âm - vần trở lại tiếng khoá giúp HS biết đánh vần và đọc tiếng khoá, từ đó giúp HS có thể đọc trơn các từ khoá Tiến hành song, cho vài HS đọc

“tổng hợp” (âm, vần - tiếng, từ)

Trang 11

11/29

- Củng cố âm - vần mới bằng hình thức nhận dạng, tái hiện chữ ghi âm (vần) viết thường trên bảng con (có thể kết hợp cho 2 - 3 học sinh ghi trên bảng lớp hoặc cho học sinh sử dụng vở tập tô) Để thực hiện tốt khâu này giáo viên cần lưu ý viết mẫu (để học sinh tri giác “bắt trước”), hướng dẫn đôi điều cần thiết về quy trình viết chữ, hình dáng chữ viết và cách viết các con chữ gần nhau

Tuỳ bài dạy cụ thể, giáo viên có thể cho học sinh tập viết ngay cả chữ ghi tiếng mới, hoặc chuyển khâu này xuống ở khâu viết chữ ghi tiếng (mục III: Luyện tập - tiết 2)

- Dạy bài: âm- chữ ghi âm; giáo viên cần lưu ý:

+Khi rút ra chữ ghi âm (viết bằng chữ in thường), giáo viên có thể giới thiệu ngay cả chữ viết thường trên dòng kẻ (như cách trình bày ở SGK) để học sinh nhận dạng và so sánh Khi hướng dẫn học sinh viết bảng con giáo viên dùng

“que chỉ bảng” (hoặc thước) tô lại chữ đã viết để học sinh quan sát quy trình, nhận biết hình dáng chữ

+Trong SGK ngoài tranh minh hoạ có từ khoá sau bài mới thường có thêm phần tranh gợi từ với 3 cách trình bày tranh không có từ ngữ kèm theo, tranh có

từ ngữ kèm theo nhưng in bằng hai thứ chữ (to - nhỏ), tranh có từ ngữ kèm theo

in chữ to học sinh có thể đọc được Tuỳ bài dạy cụ thể giáo viên có thể dạy tiết 1 (sau khi tổng hợp xong từ khoá) hoặc ở tiết 2 (phần luyện tập trên bảng lớp) Cách dạy như sau: tranh không có từ ngữ kèm theo, giáo viên dùng tranh để gợi ý dẫn học sinh nêu tiếng (từ) trong đó có âm mới học (giáo viên có thể viết vào cho

HS kết hợp nhận dạng chữ ghi âm sau đó cần xoá ngay vì học sinh chưa đánh vần chưa đọc được Tranh có từ ngữ kèm theo: giáo viên dùng tranh để gợi tiếng, từ cần thiết cho học sinh phát âm, sau đó ghi bảng (chữ in cỡ to ở SGK) cho học sinh nhận dạng chữ ghi âm mới học và đánh vần, đọc tiếng (từ) do giáo viên ghi

- Dạy bài vần: giáo viên lưu ý dạy 3 vần và so sánh phân biệt ở tiết 1 (chuyển yêu cầu viết vần mới sang tiết 2) hoặc dạy 2 vần và so sánh phân biệt, tập viết bảng con ở tiết 1, vần thứ 3 dạy ở tiết 2 Những vần này thường có điểm giống hoặc gần gũi với nhau (ví dụ on, ôn, ơn), giáo viên chỉ cần dạy kĩ vần đầu các vần sau có thể lướt nhanh và chú ý gợi dẫn học sinh tự so sánh cấu tạo các vần rồi đánh vần - đọc vần

Sau đó giáo viên mới đọc mẫu, kết hợp giải nghĩa từ cần thiết Cuối cùng cho vài học sinh đọc lại toàn bộ bài Nếu có điều kiện giáo viên có thể chọn thêm

Trang 12

12/29

từ ngữ ứng dụng mở rộng, chép bảng con cho học sinh luyện đọc theo cách trên Nội dung “luyện đọc bài trong SGK” tương tự như đã ghi ở bảng lớp Giáo viên hướng dẫn cho học sinh đọc theo thứ tự từ trên xuống gồm: tên bài (âm - vần mới) - phần học âm chữ ghi âm, vần mới (chú ý đọc theo cách tổng hợp từ dưới lên: âm, vần - tiếng khoá - từ khoá) - tiếng và từ ứng dụng (hoặc câu ngắn ở bài

âm - chữ ghi âm) và có thể thêm cả chữ ghi ở mục luyện viết Sau đó giáo viên kết hợp hướng dẫn học sinh phần: luyện đọc ở lớp và ở nhà theo cách: chép cả ở trên bảng lớp hoặc chọn một số tiếng, từ cần luyện đọc - hướng dẫn học sinh nhận biết âm - vần, đánh vần tiếng, đọc tiếng, đọc từ… sau đó học sinh đọc lần lượt ở SGK

2 Dạy bài ôn tập “âm- chữ ghi âm” đã học

- Bài ôn tập được trình bày ở SGK theo bảng mẫu nếu giáo viên chuẩn bị trước (kẻ sẵn các ô trong bảng hoặc điền sẵn như SGK trên bảng phụ trên giấy bìa khổ to) thì giờ lên lớp sẽ nhẹ nhàng thoải mái

Hai bước lên lớp cơ bản được tiến hành như sau:

a)Kiểm tra bài cũ (thời gian khoảng 5 phút):

- Nội dung cần kiểm tra: đọc - viết chữ ghi âm và tiếng có âm đã học ở bài

kế trước, cho vài em đọc lại phần luyện đọc ở nhà trong SGK

b)Bài ôn:

Sau khi giới thiệu bài (nội dung ôn tập - tên bài ghi bảng giáo viên hướng dẫn HS tiến trình “ôn các câu chữ” ghi âm đã học (từ 5 - 10 phút) Ở khâu này cần làm các việc sau:

- Học sinh nêu, giáo viên ghi bảng (trình bày theo dòng như ở SGK) Hướng dẫn học sinh nhận biết nhanh và phát âm đúng những âm đã học, kết hợp

so sánh, phân biệt thêm về các chữ ghi âm cần củng cố, khắc sâu kĩ hơn

- Khâu trọng tâm của bài ôn là: ghép tiếng và luyện đọc theo bảng (thời gian 12 - 15 phút ở tiết 2) Các việc cần tiến hành như:

+Giáo viên ghi lần lượt từng ô để hướng dẫn học sinh ghép tiếng (ô ghi phụ âm đầu + ô ghi các nguyên âm đã học )

+Hướng dẫn học sinh ghép tiếng và đọc (lần lượt ghép phụ âm đầu với từng nguyên âm để tạo thành tiếng), giáo viên ghi vào ô tiếng ghép được, ghép xong toàn bộ giáo viên chỉ bảng cho học sinh nhận biết và đọc nhanh tiếng ghép được Cuối cùng cho học sinh khá, giỏi đọc tiếng mới

- Khâu luyện viết (chữ ghi âm đã học, tiếng ghép bởi các âm đã học) theo nội dung SGK

c)Dạy bài ôn tập nhóm vần đã học:

Trang 13

13/29

GV có thể phân bố hai tiết dạy như sau:

- Tiết 1: Kiểm tra bài cũ - bài ôn (giới thiệu bài ôn các vần đã học theo nhóm), gồm các việc: Lập cột vần đã học, luyện đánh vần, đọc vần đã học, lập sơ

đồ vần theo nhóm nhỏ, luyện đọc tiếng, từ ứng dụng

- Tiết 2: Luyện viết các vần theo nhóm vào bảng con

+Luyện đọc câu, bài ứng dụng + hướng dẫn học sinh học ở nhà Khi luyện viết giáo viên lưu ý: lần viết thứ nhất cần đọc vần trong từng nhóm nhỏ cho học sinh ghi trên một bảng con để so sánh, đọc phân biệt khi viết xong (ví dụ: an, ăn, ân/ on, ôn, ơn/ en, ên, in, un) sau đó giáo viên đọc lại - 3 vần bất kì không theo thứ tự để học sinh tập tái hiện ghi nhanh vào bảng mỗi lượt

Để luyện đọc chắc chắn câu, bài ứng dụng, giáo viên nên chép trên bảng hoặc chuẩn bị trước ở bảng phụ và thực hiện theo trình tự: cho học sinh đọc vần trong tiếng- đọc tiếng rời nếu có Sau khi hướng dẫn học sinh đọc khá chắc chắn trên bảng, giáo viên mới đọc mẫu

3 Một số điểm cần lưu ý khi dạy - học theo sách Tiếng Việt lớp 1

a)Việc sử dụng những thuật ngữ và diễn đạt một số nội dung cần dạy trên lớp:

- Các nguyên âm - phụ âm đều gọi là âm, nguyên âm đôi gọi là âm đôi Khi phân tích cấu tạo của vần, tiếng, giáo viên dùng các cụm từ: âm đứng trước (đứng đầu) âm đứng giữa và âm đứng cuối

- Giáo viên dùng tên âm để dạy trẻ lớp 1 (chữ yêu cầu phân biệt tên âm- tên

chữ cái) ví dụ âm kh “chữ khờ” được ghi bằng con chữ ca và hờ…) Một số âm

có cách ghi được đọc như: c (đọc cờ), k (đọc ca), q (đọc cu); d (đọc dờ), s (đọc sờ), x (đọc xờ), …

Chấp nhận tên một số thuật ngữ cần giảng như:

+Từ khoá, tiếng khoá hay tiếng mới, từ ngữ ứng dụng, câu ứng dụng … có thể gọi: từ, tiếng, câu

- Thống nhất các thuật ngữ thường dùng như:

+Đọc âm, ví dụ: l (lờ)

+Đánh vần “oan” (o – a - nờ - oan)

+Đọc vần “oan” (oan)

+Đánh vần tiếng “loan” (lờ - oan - loan)

+Đọc tiếng (đọc trơn) “loan” (loan)

b)Về trường hợp đặc biệt:

- Khi dạy các nguyên âm đôi (iê, ươ, uô) ghi ở dạng chữ ia, ưa, ua, bài 29,

30 giáo viên hướng dẫn học sinh như sau: i – a - ia (đọc ia), u – a - ua (ua), ư – a

- ưa (ưa)

- Khi gặp các chữ viết có “q” giáo viên cần lưu ý:

+Ở hầu hết các trường hợp đều đánh vần với tổ hợp âm qu (quờ), quan- (quờ, an) quan ; quanh – (quờ - anh) quanh

+Ở các trường hợp đặc biệt: quốc, quyển, quyết, quỳnh, … vẫn hướng

dẫn cách đánh vần như trên: ví dụ: quờ - uốc- quốc - sắc - quốc Sau đó cho học

Trang 14

14/29

sinh viết chính tả để ghi nhớ “máy móc” cách viết quốc, quyển… chỉ có một

chữ u…

4/Một số nguyên tắc và phương pháp dạy học vần

Từ những cơ sở khoa học việc xác định nội dung và phương pháp dạy học vần ở phần II có thể rút ra một số nguyên tắc và phương pháp dạy học vần như sau:

4.1/Nguyên tắc học vần:

4.1.1.Cần nắm vững những đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh lớp 1

Khả năng tập trung chú ý của các em chưa cao, tư duy phát triển chưa ổn định Vì thế trong giờ học vần cần phải thay đổi linh hoạt kiểu loại hoạt động trí tuệ hoặc xen kẽ những khoảng thời gian giải lao vài ba phút cho các em chơi các trò chơi như: đọc thơ, quan sát tranh, sử dụng hộp chữ rời… Cách dạy này thoả mãn yêu cầu “học mà chơi, chơi mà học” duy trì hứng thú ở trẻ (trong 60 phút học vần)

4.1.2.Coi trọng nguyên tắc “học sinh là chủ thể của hoạt động” Theo

nguyên tắc này nên cho học sinh luyện tập nhiều trong khi học: đọc, viết, ghép vần (sử dụng xen kẽ vở bài tập Tiếng Việt 1)

4.1.3.Giáo viên cũng cần lưu ý đúng mức đến tính vừa sức trong dạy vần tránh nhồi nhét, quá tải Có một thực tế là khi bước vào lớp 1 trẻ em không

đồng đều về trình độ Có em đã biết đọc ít, nhiều Có em đã biết nhận diện một số chữ, ngược lại có em chưa biết gì … Về tính cách có em bạo dạn, có em nhút nhát … do đó giáo viên phải tìm hiểu thực trạng của lớp ngay từ đầu để có thể chia thành các nhóm và từ đó có cách dạy cho phù hợp với từng nhóm nhằm có kết quả cao ngay từ đầu

4.1.4.Trong việc dạy vần, phải tạo mục đích, động cơ cho trẻ Bài dạy

phải quán triệt tinh thần “Trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” nhằm phát huy tính tích cực của trẻ Ngoài ra không được quên yêu cầu giáo dục trong dạy học vần Giáo viên khéo léo vận dụng những tư liệu mà SGK cung cấp (hoặc tranh, ảnh …) để giúp các em có được vốn hiểu biết ban đầu về quê hương, đất nước, con người, xã hội … Nếu dạy vần chỉ đạt tới kĩ thuật viết đơn thuần thì kết quả sẽ rất đơn điệu

4.2/Phương pháp dạy học vần:

4.2.1/Phương pháp trình bày trực quan :

Phương pháp này đòi hỏi học sinh phải được quan sát vật thật, tranh ảnh tự nhiên hoặc việc làm mẫu của giáo viên

- Cách dạy: hướng dẫn học sinh xem tranh, ảnh, vật thật hay mô hình gắn với nội dung, từ khoá, từ ngữ ứng dụng Cho các em nghe giọng đọc, nhìn khuôn miệng của giáo viên khi phát âm, đánh vần mẫu

- Tác dụng: Phương pháp này được sử dụng nhiều trong bước giới thiệu bài mới, bước luyện tập, giúp các em tiếp thu kiến thức mới nhanh hơn, củng cố

âm, vần mới sâu sắc hơn Giáo viên tiết kiệm được lời giảng mà giờ dạy vẫn sinh động

Trang 15

15/29

+Cách dạy:

Phương pháp này áp dụng khi giảng bài mới (ở tiết 1) Cho học sinh phân tích từ - tiếng - âm (vần), khi các em đã nắm được âm (vần) mới thì tổng hợp trở lại và đọc trơn (đọc xuôi và đọc ngược )

Ví dụ: Dạy bài ươc, ươt

- Từ khoá là rước đèn, cầu trượt

- Tách tiếng rước, trượt Hỏi tiếng mới trong hai từ trên Sau khi học sinh phát hiện được, lấy bìa che các tiếng đã biết (đèn, cầu) chỉ để lại hai tiếng mới

- Tách vần: ươc, ươt

+Che phụ âm đầu (r, tr) tách vần ươc, ươt dùng sơ đồ gạch ngang ươ - c,

ươ - t (vần ươc, ươt do các âm ươ, ươ ghép với c và t, âm c, t đứng cuối vần)

- Sau đó tổng hợp lại: âm đến vần (ư – ơ - c đến ươc)

Vần đến tiếng (rờ - ươc – rươc – sắc - rước)

Tiếng đến từ (rước đèn )

Cuối cùng cho học sinh đọc trơn vần, tiếng và từ

+Tác dụng: Học sinh nắm chắc được bài học, tiếp thu kiến thức có hệ thống một cách chủ động

- Hỏi để tự tìm từ khoá, tiếng khoá mới trong bài mới

- Hỏi để phân tích từ, tiếng và tổng hợp từ

+Tác dụng:

- Giúp học sinh tham gia vào việc tìm hiểu bài mới một cách tự giác, tích cực, chủ động Nhờ đó các em chóng nhớ bài, hào hứng học tập, lớp học luôn sinh động

- Giáo viên nắm được trình độ học sinh, từ đó phân loại học sinh và có phương pháp phù hợp với từng đối tượng

4.2.4/Phương pháp luyện tập thực hành:

Giờ học vần không có tiết lí thuyết vì vậy phương pháp này cần được quán triệt một cách triệt để Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh tập vận dụng tri thức đã học rèn kĩ năng, kĩ xảo và củng cố kiến thức

Trang 16

16/29

- Phát triển được những đặc trưng tâm lí lứa tuổi, nhất là phát triển óc quan sát, tư duy phân tích …

4.2.5/Phương pháp vui - học sử dụng trò chơi học tập:

Đó là một dạng hoạt động học tập được tiến hành thông qua các trò chơi (chơi là phương tiện, học là mục đích) Thực chất trò chơi ở đây là trò chơi có mục đích

+Cách dạy:

- Trò chơi có thể tiến hành sau khi học sinh học bài mới (kết hợp luyện tập) hoặc sau phần luyện tập Tuỳ theo bài dạy và mục đích “chơi” giáo viên sử dụng linh hoạt các trò chơi

- Trò chơi có thể bằng vật chất (trực quan), học sinh sử dụng thao tác tay chân, bằng biểu tượng, bằng lời…Chẳng hạn: Chơi đố chữ, thi tìm âm - vần vừa học (chỉ đúng - nhanh), thi ghép vần, hái hoa dân chủ, bốc thăm…

+Tác dụng:

Giờ học sinh động, duy trì được hứng thú cho trẻ Các em được học tập một cách chủ động tích cực

III/XÁC ĐỊNH NHỮNG VẤN ĐỀ TÍCH HỢP Ở SGK VÀ SGV TIẾNG VIỆT LỚP 1

Minh họa cho nội dung này là: vấn đề tích hợp trong SGK và SGV Tiếng Việt lớp 1 tập hai

1/Đặc điểm chung:

- SGK Tiếng Việt 1 được xây dựng theo hệ thống chủ điểm (gồm 3 chủ điểm, thể hiện những vấn đề trong đời sống thực của trẻ), chủ điểm được nhắc lại sau 3 tuần và phát triển rộng hơn

- Mỗi bài học, các phân môn Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Kể chuyện được tích hợp quanh một chủ điểm Mỗi loại bài thường phối hợp dạy cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết nhưng trong từng bài đều có kĩ năng chính (thể hiện ở tên bài) Các kĩ năng khác được vận dụng phối hợp

Ví dụ: Trong một bài nếu luyện đọc là trung tâm thì việc luyện nói, nghe,

viết được giáo viên tổ chức phối hợp nhằm giúp cho việc đọc được tốt hơn, cũng

có khi nhằm ôn luyện thêm cho các kĩ năng nói, nghe, viết,…

2/.Cụ thể ở các bài, sự phối hợp kiến thức và kĩ năng có thể như sau:

- Tập đọc: Luyện đọc là kĩ năng trung tâm (luyện đọc thành tiếng và đọc hiểu), có kết hợp ôn luyện âm vần, nghe nói, vốn từ,…

Ngày đăng: 20/04/2018, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w