1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giải pháp kiềm chế lạm phát ở việt nam hiện nay

12 237 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 70 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

II Nội dung: • Tìm hiểu chung về lạm phát: 1 Khái niệm về lạm phát: Lạm phát là sự tràn ngập trong lưu thông, là một dấu hiệu khối lượng giá trị quá thừa dẫn đến sự mất giá của tiền tệ và sự phân phối lại thu nhập quốc dân. Lạm phát có thể xảy ra trong nhiều trường hợp khác nhau. Có thể tiền tệ tăng ngược lại hàng hóa không tăng hay ít, có nhiều trường hợp tiền tệ tăng hàng hoá giảm và có trường hợp tiền tệ giảm ngược lại tốc độ giảm của hàng hoá cao hơn và các trường hợp trên sẽ dẫn đến hậu quả là tổng số tiền lưu thông vượt quá giá trị của hàng hoá trong lưu thông. Điều đó sẽ dẫn đến tất yếu tiền sẽ mất gía, sự mất giá của tiền tệ được biểu hiện thông qua giá cả của vàng và tỷ giá hối đoái. Đứng về mặt kinh tế mà xét thì lạm phát sẽ xảy ra khi khối lượng cung của tiền tệ trong lưu thông tăng nhanh hơn mức tăng của sản xuất. 2 Phân loại lạm phát: a)Lạm phát vừa phải: Hay còn gọi là lạm phát một con số có tỷ lệ lạm phát dưới 10% 1 năm. Trong điều kiện lạm phát vừa phải, giá cả tương đối không khác mức bình thường bao nhiêu, lãi xuất thực tế và lãi xuất danh nghĩa không khác nhau đáng kể, tiền giữ được phần lớn gía trị của nó từ năm này qua năm khác, những kế hoạch dự đoán tương đối ổn định không bị xáo trộn. b)Lạm phát phi mã: Là loại lạm phát khi giá cả tăng với tỷ lệ 2 và 3 con số như 20%, 100%, 300% 1 năm. Khi lạm phát phi mã kéo dài sẽ nảy sinh những biến dạng nghiêm trọng cho nền kinh tế. Đồng tiền mất giá nhanh chóng, nhân dân tránh giữ tiền mặt. Trong khi lãi xuất danh nghĩa rất cao thì lãi xuất thực tế xuống tới âm 50% và 100%. c)Siêu lạm phát: Xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao lạm phát phi mã. Lạm phát ở Đức năm 1992 – 1993 là hình ảnh siêu lạm phát trong lịch sử lạm phát thế giới, giá cả tăng từ 1 đến 10 triệu lần. Siêu lạm phát thường gây ra những hậu quả nghiêm trọng và sâu sắc, tuy nhiên chúng cũng ít khi xảy ra. d)Lạm phát ỳ: Ngoài 3 mức lạm phát chính: Lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát chúng ta còn có một loại lạm phát khác là lạm phát ỳ. Lạm phát ỳ là một khái niệm của các nhà kinh tế tư bản là lạm phát chỉ tăng với tỷ lệ không đổi hàng năm trong một thời gian dài, ở những nơi có lạm phát ỳ xảy ra, có nghĩa là ở nước đó có một sự cân bằng mong đợi, tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ được mong đợi và được đưa vào các hợp đồng, các thoả thuận không chính thức. Tỷ lệ lạm phát đó được ngân hàng trung ương, chính sách tài chính của nhà nước, giới tư bản và cả giới lao động thừa nhận và phê chuẩn nó. Đó là một sự lạm phát nằm trong kết cấu biểu hiện một sự cân bằng trung hoà và nó chỉ biến đổi khi có sự chấn động kinh tế xảy ra và tỷ lệ ỳ tăng hoặc giảm.

Trang 1

II/ Nội dung:

Tìm hiểu chung về lạm phát:

1/ Khái niệm về lạm phát:

Lạm phát là sự tràn ngập trong lưu thông, là một dấu hiệu khối lượng giá trị quá thừa dẫn đến sự mất giá của tiền tệ và sự phân phối lại thu nhập quốc dân

Lạm phát có thể xảy ra trong nhiều trường hợp khác nhau Có thể tiền

tệ tăng ngược lại hàng hóa không tăng hay ít, có nhiều trường hợp tiền tệ tăng hàng hoá giảm và có trường hợp tiền tệ giảm ngược lại tốc độ giảm của hàng hoá cao hơn và các trường hợp trên sẽ dẫn đến hậu quả là tổng số tiền lưu thông vượt quá giá trị của hàng hoá trong lưu thông Điều đó sẽ dẫn đến tất yếu tiền sẽ mất gía, sự mất giá của tiền tệ được biểu hiện thông qua giá cả của vàng và tỷ giá hối đoái

Đứng về mặt kinh tế mà xét thì lạm phát sẽ xảy ra khi khối lượng cung của tiền tệ trong lưu thông tăng nhanh hơn mức tăng của sản xuất

2/ Phân loại lạm phát:

a)Lạm phát vừa phải: Hay còn gọi là lạm phát một con số có tỷ lệ lạm

phát dưới 10% / 1 năm Trong điều kiện lạm phát vừa phải, giá cả tương đối không khác mức bình thường bao nhiêu, lãi xuất thực tế và lãi xuất danh nghĩa không khác nhau đáng kể, tiền giữ được phần lớn gía trị của nó từ năm này qua năm khác, những kế hoạch dự đoán tương đối ổn định không bị xáo trộn

b)Lạm phát phi mã: Là loại lạm phát khi giá cả tăng với tỷ lệ 2 và 3

con số như 20%, 100%, 300% / 1 năm Khi lạm phát phi mã kéo dài sẽ nảy sinh những biến dạng nghiêm trọng cho nền kinh tế Đồng tiền mất giá

Trang 2

nhanh chóng, nhân dân tránh giữ tiền mặt Trong khi lãi xuất danh nghĩa rất cao thì lãi xuất thực tế xuống tới âm 50% và 100%

c)Siêu lạm phát: Xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao

lạm phát phi mã Lạm phát ở Đức năm 1992 – 1993 là hình ảnh siêu lạm phát trong lịch sử lạm phát thế giới, giá cả tăng từ 1 đến 10 triệu lần Siêu lạm phát thường gây ra những hậu quả nghiêm trọng và sâu sắc, tuy nhiên chúng cũng ít khi xảy ra

d)Lạm phát ỳ: Ngoài 3 mức lạm phát chính: Lạm phát vừa phải, lạm

phát phi mã và siêu lạm phát chúng ta còn có một loại lạm phát khác là lạm phát ỳ

Lạm phát ỳ là một khái niệm của các nhà kinh tế tư bản là lạm phát chỉ tăng với tỷ lệ không đổi hàng năm trong một thời gian dài, ở những nơi có lạm phát ỳ xảy ra, có nghĩa là ở nước đó có một sự cân bằng mong đợi, tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ được mong đợi và được đưa vào các hợp đồng, các thoả thuận không chính thức

Tỷ lệ lạm phát đó được ngân hàng trung ương, chính sách tài chính của nhà nước, giới tư bản và cả giới lao động thừa nhận và phê chuẩn nó Đó là một sự lạm phát nằm trong kết cấu biểu hiện một sự cân bằng trung hoà và

nó chỉ biến đổi khi có sự chấn động kinh tế xảy ra và tỷ lệ ỳ tăng hoặc giảm

3/ Nguyên nhân của lạm phát, điều kiện kinh tế hiện đại:

a)Lạm phát để bù đắp những thiếu hụt ngân sách:

Đây là nguyên nhân thông thường nhất do sự thiếu hụt ngân sách chỉ tiêu của nhà nước (y tế, giáo dục, quốc phòng…) và do nhu cầu khuếch trương nền kinh tế của nhà nước, của một quốc gia chủ trương phát hành thêm tiền vào lưu thông để bù đắp các chi phí nói trên đang đứng trước bờ vực của lạm phát quá độ, nguyên nhân của lạm phát ở đây được xác định là

Trang 3

do cầu hàng hoá vượt quá khả năng cung cấp Hàng hoá bị săn đuổi bởi lực lượng chi tiêu quá lớn và bản chất của nó là chi tiêu quá nhiều trong khi lực lượng cung hàng hoá bị hạn chế

b)Lạm phát do nguyên nhân cho phí: Trong điều kiện hiện nay, xu

hướng tăng các loại hàng hoá và tiền lương công nhân luôn luôn được diễn

ra trước khi nền kinh tế đạt được một khối lượng công ăn việc làm ổn định Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy giá cả tăng lên ngay cả khi các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ, lạm phát vẫn xảy ra

Lạm phát như vậy có nguyên nhân là do sức đẩy của chi phí sản xuất, tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy rằng nếu tốc độ tăng tiền lương nhanh hơn tốc độ tăng năng xuất lao động sẽ đẩy chi phí sản xuất tăng lên có nghĩa

là chi phí tiền công trong một đơn vị sản phẩm tăng lên đã đẩy giá cả tăng lên Thực chất ở các nền kinh tế tư bản khi các cuộc đấu tranh của công đoàn nhằm đạt được một thoả thuận về mức lương mới, thì các nhà tư bản lại tìm cách lấy lại khoản mà họ đã mất đi do tăng tiền lương cho công nhân bằng cách nâng gía bán hàng hoá lên

4/ Tác động của lạm phát:

Do có 3 mức lạm phát khác nhau, nên tác động của mỗi loại với nền kinh tế cũng khác nhau Loại lạm phát vừa phải, lạm phát một con số không

có tác động lớn đến nền kinh tế Lạm phát phi mã và siêu lạm phát tác động lớn đến nền kinh tế ở hai mặt sau đây:

a)Phân phối lại thu nhập và của cải giữa các giai cấp:

Tác động này phát sinh từ những sự khác nhau trong những loại tài sản

và nợ nần của nhân dân Những người sống bằng tiền lương thì tiền lương thực tế giảm nghiêm trọng Những người có tài sản cố định có giá trị cao và những người mắc nợ ngân hàng với lãi xuất cố định thì tự nhiên được hưởng

Trang 4

lợi Những người cho vay hoặc có tài sản bằng những đồ cầm cố hoặc trái phiếu dài hạn đều ở trong tình thế bất lợi, những người đi vay và đi cầm cố, trước đây nhận tiền có giá trị bây giờ tiền mất giá đều phải trả nợ và lấy tài sản để cầm cố

Trong thời kỳ lạm phát phi mã để giảm bớt các tác động phân phối lại của lạm phát đối với đông đảo quần chúng, các chính phủ thực hiện các chính sách bằng thả nổi tiền lương, thả nổi lãi xuất, bù giá vào lương, tăng thêm trợ cấp theo chỉ số giá tiêu dùng

b)Tác động của lạm phát đến giá cả, sản lượng và công ăn việc làm:

Khi có lạm phát xảy ra nói chung nó có tác động làm tăng trưởng nền kinh tế và tạo công ăn việc làm, đó là đối với nền kinh tế tư bản Còn đối với nền kinh tế bao cấp thì sao? Đó là điều hoàn toàn ngược lại, vì việc sản xuất nhiều hay ít là do nhà nước quyết định, chỉ tiêu giá cả do nhà nước ấn định, nên sự thúc đẩy gia tăng sản xuất của lạm phát là không có Nhìn chung ở giai đoạn hiện nay, mọi người đều có chỗ làm cả nhưng không đủ việc để làm, đây là một dạng thất nghiệp trá hình

Lạm phát kéo dài làm cho tiền lương cung ứng tăng liên tục, tổng cung tiền tệ tăng nhanh hơn tổng cầu tiền tệ, tiền lương danh nghĩa tăng, lãi xuất danh nghĩa tăng, giá trị của tiền liên tục bị giảm, giá cả mọi thứ hàng hoá tăng lên với mức độ không bằng nhau, tăng nhanh nhất là giá cả của những mặt hàng thiết yếu cho tiêu dùng và sản xuất rôi đến các mặt hàng khác Khi hàng hoá khan hiếm, nạn đầu cơ càng tăng mạnh làm cho giá cả càng hỗn loạn Chính phủ rất khó kiểm soát các hoạt động kinh tế ngầm Những người bị lạm phát làm thiệt hại nhiều nhất là những người hưởng lương hưu, hưởng bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, lạm phát cao kéo dài làm hàng loạt doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản và sản xuất cầm chừng, một số

Trang 5

bộ phận công nhân viên chức mất việc làm, làm cho đạo quân thất nghiệp tăng lên

Tuy nhiên cần chú ý là tuỳ thuộc vào mức độ lạm phát và thiệt hại của lạm phát là như thế nào, lạm phát thấp vừa phải chỉ gây tác động vừa phải, lạm phát cao sẽ gây tác hại lớn hơn Về khía cạnh chính trị, lạm phát làm nhân dân phẫn nộ, xung đột giai cấp xảy ra ở các nước tu bản, ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân sẽ phản ứng cho việc phân phối không công bằng,

bộ phận sản xuất luôn luôn được tăng thu nhập, trong khi bộ phận hành chính sự nghiệp bị sụt giảm

c)Các tác động của lạm phát:

- Lạm phát cân bằng có dự tính trước, đây là một loại lạm phát vừa cân bằng vừa có dự tính trước, không ảnh hưởng đến sản lượng thực tế, hiệu quả của phân phối thu nhập

- Lạm phát không cân bằng:

Thực tế là lạm phát thường đẩy cho các phí tăng lên, đẩy thuế tăng lên,

có nghĩa là nó ảnh hưởng đến thu nhập và sản lượng

Khi lạm phát phát triển giá cả sẽ không chính xác, quá trình mua bán sẽ trở nên hỗn loạn Điều đó sẽ ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân

Như vậy tác hại của lạm phát có thể tóm lược qua một số điểm sau: + Nếu lạm phát là cân bằng và dự đoán trước được thì nó sẽ không gây

ra tác hại gì cả

+ Nếu lạm phát là cân bằng ngược lại không dự đoán trước được thì nó

sẽ không gây ra tác hại đối với phân phối và thu nhập quốc dân, nhưng gây

ra thiệt hại về hậu quả kinh tế

+ Nếu lạm phát là không cân bằng và không dự đoán trước được thì nó

sẽ gây ra thiệt hại về hậu quả của nền kinh tế và phân phối lại thu nhập quốc dân

Trang 6

Dù muốn hay không nhà nước đều không dung túng cho tỷ lệ lạm phát cao, và một điều quan trọng mà chúng ta cần hiểu là: về cơ bản lạm phát kích kinh tế

Liên hệ thực tế ở Việt Nam

1/ Lạm phát ở Việt Nam:

Trong vài năm qua nền kinh tế Việt Nam có những nét khởi sắc như: Tốc độ phát triển kinh tế từ 4,8% năm 1999 lên đến 7,34% năm 2003, nhưng phân tích kỹ hơn ta thấy những đám mây mù dương như đang kéo lại phía chân trời xa

Sau cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á năm 1997, Việt Nam chủ trương chính sách kích cầu, nhằm giảm bớt ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và bù lại mức giảm đầu tư trực tiếp của người nước ngoài Ta thấy mức tăng đầu tư nhanh chóng đưa lên từ tỷ lệ 27,6% GDP năm 1999 lên tới 35% GDP năm 2003 Đây cũng là tỷ lệ đầu tư kỷ lục trên thế giới, thế nhưng

do hiệu quả sản xuất thấp vì chính sách đầu tư vẫn tập trung vào khu vực nhà nước, tốc độ phát triển cũng chỉ đạt 7,3% đầu tư cao nhưng khoảng 60% tức

là khoảng 7,5 tỷ USD vẫn là đầu tư của nhà nước trong đó nguồn vốn đầu tư

là từ ngân sách (gần 40%), vay nước ngoài (30%), phần còn lại là vốn doanh nghiệp Tỷ lệ đầu tư nước ngoài giảm nhưng có một điểm sáng là tỷ lệ đầu tư tăng từ 24% năm 1999 lên 26,7% năm 2003 Tỷ lệ đầu tư của nhà nước tiếp tục cao, tổng số tiền đầu tư lớn do đó tham nhũng bành trướng ở mức độ gần như không thê kiểm soát nổi là điều dễ hiểu Nếu như tỷ lệ tham nhũng tiền đầu tư của nhà nước lên đến 20 – 30%, như đã dự kiến trong kỳ họp quốc hội vừa qua thì số tiền tham nhũng có thể lên tới 1,5 – 2,25 tỷ USD / năm

Trang 7

Trong đầu tư chính sách của nhà nước vẫn là tập trung sản xuất phát triển thay thế nhập khẩu, kể cả việc đưa tới việc bảo vệ thị trường cho đầu tư nước ngoài thay vì tập trung phát triển sản xuất nhằm xuất khẩu do chính sách trên, thiếu hụt cán cân xuất nhập khẩu ngày càng tăng từ 0% GDP năm

1999 lên 13,5% GDP năm 2003

Mức thiếu hụt cán cân xuất nhập khẩu năm 2003 là 5,1 tỷ USD Mức thiếu hụt này chưa tạo nên khủng hoảng cán cân thanh toán vì hiện nay thiếu hụt được bù đắp bằng 2,5 tỷ do lao động Việt Nam ở nước ngoài và Việt Kiều gửi về, khoảng một tỷ đầu tư trực tiếp của nước ngoài và phần còn lại

là đi vay mượn nước ngoài Nhưng tình hình phát triển kích cầu hệ thống quốc doanh thiếu hiệu quả này không thể tiếp tục trong tương lai xa và đó là tương lai rất gần

Chính sách kích cầu, đi liền với đòi hỏi ngân hàng tăng tín dụng đã đưa lạm phát đến mức báo động, cả năm 2003 lạm phát là 3%, chỉ trong 6 tháng lạm phát đã lên đến 7,2%

Bước sang 2005, trên cơ sở chỉ tiêu mức lạm phát, Quốc hội đã thông qua không quá 6,5%, bộ Thương Mại dự kiến mức lạm phát quý I là 3,5% nhưng mới qua hai tháng đầu năm, mức lạm phát đã là 3,6%, con số này cảnh báo lạm phát còn đang đe doạ Trước tình hình giá cả đang chuyển động theo lương gia tăng để hình thành mặt bằng gía mới thì mức lạm phát quý I và cho cả năm 2004 khó lòng dưới 10% Việc tăng lương nhằm tăng hiệu quả của lao động sẽ không bắt kịp lạm phát Sẽ vượt mức dự kiến và mức lạm phát cả năm là 6,5% cũng rất khó thành hiện thực

2/ Biện pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam

a)Lành mạnh hoá ngân sách nhà nước và đổi mới chính sách thuế

Trang 8

Đối với Việt Nam, trước hết là hạn chế thậm hụt ngân sách nhà nước đã đợc đặt lên hàng đầu trong những nỗ lực của chính phủ nhằm từng bước thực thi 1 cách có hiệu qủa chính sách ổn định kinh tế vĩ mô chống lạm phát Hiện nay tình trạng trốn thuế là rất phổ biến, các công cụ kiểm soát tài chính còn đang yếu kém nên luật thuế không được thực hiện đầy đủ, việc nộp thuế phần lớn còn thông qua đàm phán thuế

b)Tăng cường sử dụng chính sách tiền tệ

Chính sách chống lạm phát diễn ra đồng thời với quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, trong đó có vấn đề đổi mới căn bản chính sách tài chính quốc gia Vì vậy tác động của chính sách tài chính đối với việc chống lạm phát không đơn thuần là giảm bội chi ngân sách mà trên thực tế các chính sách vẫn còn tồn tại lớn đáng lo ngại nhất là chưa thiết lập được cơ chế kiểm soát tài chính và thực hiện kỷ luật tài chính trong nền kinh tế

c)Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát

Tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát tiền tệ là hai chỉ tiêu kinh tế quan trọng Sự chuyển động của hai chỉ tiêu này ảnh hưởng rất nhanh đến sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội Vì vậy, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát là nhiệm vụ của các ngành, các cấp dưới sự chỉ đạo của chính phủ Riêng ngành ngân hàng vẫn được coi là ngành mũi nhọn đột phá trong sự nghiệp đổi mới và là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ thì thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và kiềm chế lạm phát là rất nặng nề

Một mặt chỉ tiêu GDP đòi hỏi được cung ứng thêm vốn để các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ hiện đại, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn lao động nhằm tăng năng suất lao động tạo ra nhiều của cải vật chất tốt, rẻ cho xã hội Mặt khác, chỉ tiêu CPI lại yêu cầu kiểm soát chặt chẽ chất lượng tiền đưa ra lưu thông Để giải quyết mâu thuẫn nhất thời này, ngân hàng không thể thiếu mặt nào mà phải vận dụng tài năng, trí tuệ, năng

Trang 9

lực điều hành và tinh thần trách nhiệm để vừa phục vụ và thúc đẩy nền kinh

tế tăng trưởng sát với chỉ tiêu kinh tế Quốc hội thông qua

d)Biện pháp giá cả

Sự thay đổi giá cả thể hiện qua chỉ số của giá là thước đo quan trọng về mức độ lạm phát Tuy nhiên, việc sử dụng chính sách giá cả nhằm chống vấn

đề lạm phát lại là vấn đề khác và trên thực tế nhiều nước đã thực hiện với những mức độ khác nhau Như ở Việt Nam đã thực hiện một cách cương quyết giải pháp xoá bao cấp quá già Trên thực tế đã có tác dụng tích cực làm lành mạnh hóa thu chi ngân sách

Cơ chế thu phụ, lập quỹ bình ổn định giá cả được chính phủ cho phép thực hiện giữa năm 1993 Việc khai thác hiệu quả cơ chế này sẽ góp phần vào việc bình ổn định giá cả thị trường, kiềm chế lạm phát, góp phần chống lạm phát

Ngoài ra em xin được phép kiến nghị một số giải pháp

Thị trường nước ta đang còn yếu kém

Gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế vẫn đè nặng lên vai các ngân hàng Các ngân hàng cần ra sức huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết, hợp lý của các doanh nghiệp Kết quả khơi tăng nguồn vốn lưu động sẽ tiết giảm được lượng tiền phát hành thêm vào lưu thông

Điều hành bằng cách sáng tạo và linh hoạt các công cụ

Nghiệp vụ thị trương mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi mất, tỷ giá trên cơ sở theo dõi sự biến động lãi suất của cục dự trữ liên bang và tỷ lệ giá USD với các đồng tiền mạnh khác, giảm thiêu sự phụ thuộc của VNĐ vào USD

Trang 10

Giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng đi đôi với nâng cao tín dụng

Trên cơ sở làm tốt công tác thẩm định trước khả năng cho vay Tập trung vốn cho vay các dự án công nghệ cao, cho công nghệ chế biến nông, lâm, hải sản, hàng thủ công mỹ nghệ Tiếp cận làm tư vấn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc cấm sử dụng vốn tín dụng

Tiếp tục thực hiện đề án cơ cấu lại hệ thống ngân hàng

Tích cực triển khai hệ thống hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán để tăng và nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng Việt Nam trong cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Mở rộng cho vay xuất khẩu lao động để khơi tăng nguồn kiều hối

Thực hiện đầy đủ và minh bạch các quy định về tài chính, tiền tệ theo thông lệ quốc tế Đặc biệt cần tuân thủ hệ số an toàn vốn (CRA) và tiêu chuẩn nợ quá hạn theo quy định 127 của thống đốc ngân hàng nhà nước mới ban hành

Nâng cấp và kiên toàn hệ thống giáo dục đào tạo

Nghiên cứu khoa học trong ngành để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hệ thống ngân hàng Việt Nam, đáp ứng nhu cầu của kỷ nguyên kinh tế tri thức và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế

Ngày đăng: 20/04/2018, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w