Tác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng SơnTác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng SơnTác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng SơnTác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng SơnTác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn
Trang 1DƯƠNG THÀNH QUẢNG
TÁC ĐỘNG CỦA QUÂN ĐỘI LÀM KINH TẾ ĐẾN THU NHẬP CỦA ĐỒNG BÀO KHU VỰC BIÊN GIỚI
Ở HAI TỈNH CAO BẰNG VÀ LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2DƯƠNG THÀNH QUẢNG
TÁC ĐỘNG CỦA QUÂN ĐỘI LÀM KINH TẾ ĐẾN THU NHẬP CỦA ĐỒNG BÀO KHU VỰC BIÊN GIỚI
Ở HAI TỈNH CAO BẰNG VÀ LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS DƯƠNG VĂN HIỂU
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được dùng để bảo vệ một học vị nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc./
Thái Nguyên, ngày tháng 3 năm 2014
Tác giả luận văn
Dương Thành Quảng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: "Tác động của Quân đội làm kinh tế
đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng
Sơn", tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân
và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân
và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào
-học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng
dẫn TS Dương Văn Hiểu
doanh - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày tháng 3 năm 2014
Tác giả luận văn
Dương Thành Quảng
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các biểu đồ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4 Bố cục của đề tài 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUÂN ĐỘI LÀM KINH TẾ ĐẾN THU NHẬP CỦA ĐỒNG BÀO KHU VỰC BIÊN GIỚI 5
1.1 Cơ sở lý luận về tác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng khu vực biên giới 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Quan điểm cơ bản về quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế ở nước ta 7
1.1.3 Vai trò của mối quan hệ quốc phòng với phát triển kinh tế 11
1.1.4 Nội dung nghiên cứu tác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới 12
1.1.5 Nhân tố tác động tới kinh tế kết hợp với quốc phòng 15
1.2 Cơ sở thực tiễn về tác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của người dân 19
Trang 61.2.1 Quốc phòng kết hợp với kinh tế của một số quốc gia 19
1.2.2 Quốc phòng kết hợp với kinh tế ở Việt Nam 21
1.2.3 Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về kinh tế kết hợp với quốc phòng - an ninh 26
1.3 Một số vấn đề lý luận thực tiễn kinh tế kết hợp với quốc phòng trong tình hình mới Sự hình thành, vai trò chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Đoàn kinh tế - quốc phòng 29
1.3.1 Một số vấn đề lý luận, thực tiễn kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trong tình hình mới 29
1.3.2 Sự hình thành, vai trò, chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các đoàn kinh tế - quốc phòng 30
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu nghiên cứu 36
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 38
2.2.3 Phương pháp phân tích 39
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 41
2.3.1 Yêu cầu của các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 41
2.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá thu nhập của hộ nông dân 41
2.3.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động sản xuất 41
2.3.4 Các chỉ tiêu phản ánh về hiệu quả/ 1 lao động 42
2.3.5 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất/ 1ha 43
2.3.6 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư (IC) 43
2.3.7 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của các hộ 43
Trang 7Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA QUÂN ĐỘI LÀM KINH TẾ ĐẾN THU
NHẬP CỦA ĐỒNG BÀO KHU VỰC BIÊN GIỚI Ở HAI TỈNH CAO
BẰNG VÀ LẠNG SƠN 44
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44
3.1.1 Đặc điểm địa bàn đoàn kinh tế quốc phòng 338 Quân khu 1 44
3.1.2 Đặc điểm địa bàn đoàn kinh tế quốc phòng 799 Quân khu 1 44
3.2 Tác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn 46
3.3 Đánh giá chung về tác động đến mối quan hệ của quân đội với sự phát triển kinh tế của đồng bào khu vực biên giới 69
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CỦA ĐỒNG BÀO KHU VỰC BIÊN GIỚI Ở HAI TỈNH CAO BẰNG VÀ LẠNG SƠN 74
4.1 Định hướng nâng cao thu nhập của đồng bào khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn 74
4.1.1 Xây dựng, phát triển các đoàn kinh tế - quốc phòng trước hết là trách nhiệm toàn thể của cả hệ thống chính trị và cộng đồng các dân tộc trên địa bàn trong đó quân đội là lực lượng nòng cốt 74
4.1.2 Quá trình xây dựng đoàn kinh tế - quốc phòng luôn luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu, dưới sự hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn cấp trên 76
4.1.3 Lấy nhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng - an ninh và hiệu quả kinh tế - xã hội trên địa bàn làm mục tiêu phấn đấu và thước đo đánh giá hiệu quả của đoàn kinh tế - quốc phòng 76
4.2 Giải pháp nâng cao thu nhập của đồng bào khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn 77
Trang 84.2.1 Quán triệt sâu sắc quan điểm xây dựng đoàn kinh tế - quốc phòng
theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc 77
4.2.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách đối với đoàn kinh tế -quốc phòng 80
4.2.3 Kiện toàn tổ chức, biên chế, trang bị kỹ thuật các Đoàn kinh tế -quốc phòng 85
4.2.4 Tiếp tục chăm lo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện trong các Đoàn kinh tế - quốc phòng 86
4.2.5 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với các đoàn kinh tế - quốc phòng 87
4.2.6 Khuyến khích các thành phần kinh tế tích cực tham gia vào việc xây dựng đoàn KT-QP QK1 88
4.2.7 Quy hoạch các đoàn kinh tế quốc phòng 88
4.3 Kiến nghị 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 92
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân hộ điều tra từ đến năm 2010 (tiêu chí cũ) 37Bảng 2.2 Phân hộ điều tra từ 2011 - 2012 (theo tiêu chí mới) 37Bảng 3.1 Nguồn lực chủ yếu của các hộ nông dân trước và sau khi có
Đoàn kinh tế quốc phòng QK1 49Bảng 3.2 Kết quả xây dựng đường giao thông nông thôn liên xã, liên
thôn bản 51Bảng 3.3 Kết quả xây dựng công trình thuỷ lợi cải tạo đồng ruộng 54Bảng 3.4 Kết quả xây dựng bản biên giới 55Bảng 3.5 Kết quả tổ chức lớp tập huấn, cung cấp dịch vụ đầu vào hỗ trợ
sản xuất 57Bảng 3.6 Tài sản chủ yếu của các hộ nông dân trước và sau khi có Đoàn
kinh tế quốc phòng QK1 58Bảng 3.7 Biến động thu nhập và chi phí sản xuất nông nghiệp bình quân
của hộ nông dân do tác động của Đoàn KTQP 60Bảng 3.8 Tác động của Đoàn KTQP đến hoạt động phi nông nghiệp 61Bảng 3.9 Đánh giá hiệu quả SXKD của hộ trước và sau khi có Đoàn KTQP 63Bảng 3.10 Mô tả tên biến sử dụng trong mô hình trong mô hình hàm CD 65Bảng 3.11 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập hỗn hợp của các
hộ nông dân trước khi có Đoàn KTQP 67Bảng 3.12 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ nông
dân sau khi có Đoàn KTQP 68
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒBiểu đồ 3.1 Sự thay đổi về giá trị SX giai đoạn từ năm 2002 - 2012 46 Biểu đồ 3.2 Biến động cơ cấu kinh tế giai đoạn từ năm 2002 - 2012 47
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh nghiệm hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam là luôn ý thức sự gắn kết giữa xây dựng kinh tế, phát triển đất nước với củng cố quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc Quân đội tham gia làm kinh tế không phải bây giờ mới có mà từ xa xưa các triều đại phong kiến Việt Nam
đã chủ trương đưa quân đội đi khai khẩn đất hoang, xây dựng đồn điền ở những vị trí xung yếu để xây dựng tiềm lực, chuẩn bị và sẵn sàng cho chiến tranh Điều đó cho thấy kết hợp kinh tế với quốc phòng là vấn đề rất quan trọng trong tất cả các giai đoạn lịch sử
Ngày nay yêu cầu đặt ra đối với nền kinh tế Việt Nam là phát triển nhanh, bền vững đi đôi với tăng cường, củng cố sức mạnh quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng, nội lực vừa tận dụng nguồn lực từ bên ngoài Kết hợp kinh tế với quốc phòng là một yêu cầu tất yếu, khách quan, là chiến lược trong xu thế hiện nay Từ đó, kết hợp kinh tế với quốc phòng đặt ra những yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ mới Xuất phát từ thực tiễn lịch sử của cách mạng Việt Nam, nội dung đó được kế thừa và phát triển trong Nghị quyết tất cả các kỳ Đại hội đại biểu Đảng ta, khẳng định: “Tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là một nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược của Quân đội ta” Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân Đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố Tiếp tục phát triển đoàn đoàn kinh tế - quốc phòng (KT- QP), xây dựng các đoàn kinh tế quốc phòng với mục tiêu tăng cường quốc phòng - an ninh là chủ yếu, tập trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược và những khu vựcnhạy cảm trên biên giới đất liền, biển đảo”
Trang 13Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội càng rõ nét: “Sự
ổn định và phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn” (Tr 82)
Thực hiện các Nghị Quyết trên, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 277/QĐ - TTg ngày 31/3/2000 phê duyệt “Đề án tổng thể quân đội tham gia
xây dựng phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng
xa gắn với xây dựng các đoàn quốc phòng - an ninh trên địa bàn chiến lược,
biên giới, ven biển“ Trên cơ sở bố trí lại dân cư, hình thành các cụm làng, xã biên giới, tạo vành đai biên giới trong thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; ngăn chặn sự xâm nhập của bọn phản động qua biên giới truyền đạo trái phép; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, xây dựng chính trị cơ sở trên địa bàn; góp phần giúp dân xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống bộ đội
Đứng trên địa bàn biên giới chiến lược phía Đông Bắc, các đoàn kinh tế quốc phòng của Quân khu 1 đã và đang được đầu tư xây dựng để góp phần giữ gìn năng lực quốc phòng, thực hiện chức năng của một đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất; đóng góp của quân đội đối với chương trình phát triển nông thôn mới nói riêng và công cuộc xây dựng đất nước nói chung Là một vấn đề khá phức tạp và mới mẻ, đến nay chưa có công trình nghiên cứu đánh giá, xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò nòng cốt, tác động của đoàn KT - QP QK1 thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn biên giới Từ nghiên cứu đó làm cơ
Trang 14sở hoạch định đầu tư và xây dựng mới các đoàn KT - QP có điều kiện tương
tự Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Tác động của quân đội làm k inh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng
và Lạng Sơn” là hết sức cần thiết, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tác động của Quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn Đề xuất giải pháp nâng cao thu nhập của đồng bào dân tộc ít người khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
a, Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tác động của Quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khuvực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn
b, Đối tượng thu thập tài liệu
-Đoàn KT- QP 338 (Lạng Sơn) và Đoàn KT- QP 799 (Cao Bằng)
-Phòng Thống kê Huyện Bảo Lâm; Huyện Bảo Lạc (Tỉnh Cao Bằng)
-Phòng Thống kê Huyện Cao Lộc; Huyện Đình Lập (Tỉnh Lạng Sơn)
Trang 15-Hộ đồng bào người khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn.
-Cán bộ một số xã biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn
Bao gồm phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; chia thành
4 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của Quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới
-Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Tác động của quân đôi làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn
- Chương 4: Định hướng và giải pháp nâng cao thu nhập của đồng bào khuvực biên giới ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA
QUÂN ĐỘI LÀM KINH TẾ ĐẾN THU NHẬP
CỦA ĐỒNG BÀO KHU VỰC BIÊN GIỚI
1.1.Cơ sở lý luận về tác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng khu vực biên giới
1.1.1.Một số khái niệm
Hoạt động kinh tế của Quân đội là thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất” Hiện nay, Quân đội đang tham gia xây dựng kinh tế dưới
3 phương thức, đó là: Doanh nghiệp; Hoạt động sản xuất của bộ đội thường trực (bộ đội tăng gia sản xuất lương thực thực phẩm cải thiện đời sống, các viện nghiên cứu, các học viện nghiên cứu phục vụ kinh tế xã hội); Các Đoàn Kinh tế quốc phòng vận động quần chúng, giúp dân xoá đói, giảm nghèo ở các xã địa bàn đặc biệt khó khăn Sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với
quốc phòng là một trong những chức năng, nhiệm vụ chiến lược, lâu dài
của Quân đội ta Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, ngày 25-9-2012, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghịquyết số 520-NQ/QUTW về “Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh
tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020” Toàn quân cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết này, tiếp tục phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ trên
mặt trận lao động sản xuất
Trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ khi có Nghị quyết số NQ/ĐUQSTW, ngày 25-4-2002 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về “Nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội
71-trong thời kỳ mới - tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
doanh nghiệp quân đội”, nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với
Trang 17quốc phòng của Quân đội được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, tổ chức ngày càng khoa học, hoạt động đúng định hướng, đạt hiệu quả thiết thực, toàn diện Nổi bật là, Quân đội đã phát huy tốt vai trò là lực lượng xung kích, nòng cốt trong tham gia xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo Trong đó, trọng tâm là việc triển khai xây dựng các đoàn kinh tế - quốc phòng, hình thành thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng an ninh Các Đoàn đã và đang phát huy hiệu quả to lớn cả về kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh, được Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương và nhân dân đánh giá cao, thực sự trở thành nhân tố không thể thiếu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường quốc phòng an ninh của đất nước.
Như vậy theo tôi quân đội làm kinh tế là các hoạt động của quân đội trên địa bàn đóng quân trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra sản phẩm, nâng cao năng suất lao động góp phần tích cực phát triển kinh tế xã hội.
Đồng bào dân tộc ít người là cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử, tạo lập quốc gia, trên cơ sở cộng đồng bền vững về kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ, đặc điểm tâm lý, ý thức xã hội và tên gọi của các đồng bào dân tộc Khu vực biên giới hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn bao gồm các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Sán Chỉ, Lô Lô, Hoa cùng chung sống, hình thành các điểm dân cư giáp biên, các bản giáp biên Thu nhập bình quân của đồng bào dân tộc ít người khu vực biên giới thấp; mạng lưới giao thông chậm phát triển, đời sống của đồng bào dân tộc gặp nhiều khó khăn, hoạt động giao lưu và trao đổi hàng hóa trong khu vực biên giới gặp nhiều khó khăn bởi địa hình phân cắt giữa các bản, các xóm làng, các xã ít có hoạt động
Trang 18thông thương và có quan hệ trao đổi, buôn bán hàng hóa, các hộ gia đình chủ yếu sản xuất manh mún, tự cung tự cấp phục vụ nhu cầu sinh hoạt là thiết yếu.
Quân đội làm kinh tế trên địa bàn quân khu 1 ở khu vực biên giới hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn chủ yếu thông qua các đoàn kinh tế đón quân tại đây, triển khai nhiệm vụ chiến lược trong công cuộc bảo vệ độc lập chủ quyền trọn vẹn lãnh thổ, xây dựng thế trận lòng dân, tô thắm niềm tin của nhân dân khu vực biên giới vào cuộc cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong thời đại mới, củng cố niềm tin vào Đảng, vào hình ảnh các chiến sỹ bộ đội “Cụ Hồ” Tác động quân đội làm kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng đường giao nông nội trong vùng, các bản biển giới, xây dựng công trình thủy lợi cải tạo đồng ruộng; mở các lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm; ghóp phần tích cực nhằm nâng cao thu nhập của đồng bào dân tộc vùng biên giới
1.1.2 Quan điểm cơ bản về quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế ở nước ta
Đường lối và chính sách phát triển kinh tế phải quán triệt đường lối chính trị, quan điểm về nhiệm vụ quốc phòng toàn dân của Đảng, thực hiện nhiệm vụ giữ vững trật tự, ổn định, hòa bình về chính trị, kinh tế xã hội, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, củng cố quốc phòng - an ninh, nâng cao khả năng tự bảo vệ của địa phương và nhanh chóng góp thành sức mạnh tổng hợp của dân tộc tiến hành chiến tranh nhân dân Xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng quốc phòng đủ sức bảo vệ chế độ, độc lập dân tộc, giữ gìn hòa bình, an ninh tốt nhất để đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở nền tảng kinh tế phát triển của quốc gia và ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ vào xây dựng, củng cố lực lượng quốc phòng, sức mạnh quân sự, mặt khác sử dụng hợp lý và hiệu quả các lực lượng vũ trang làm kinh tế Từ
đó, tạo ra một cơ cấu hợp lý, cân đối trong tổng thể quy hoạch, kế hoạch của
Trang 19quốc gia Bởi vậy, kinh tế phải gắn liền với xã hội, quốc phòng gắn kết với an ninh, kinh tế - xã hội kết hợp với quốc phòng - an ninh trong một tổng thể thống nhất bằng các mối quan hệ biện chứng đã nêu trên.
Trên cơ sở các yêu cầu cơ bản trên, chúng ta cần có quan điểm rõ ràng, thấu đáo về kinh tế kết hợp với quốc phòng - an ninh trong giai đoạn hiện nay
Đó là, mối tương tác giữa tăng trưởng, lợi ích kinh tế đối với xã hội, với việc bảo đảm tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh trong từng thời
kỳ - là quan điểm có tính chiến lược Tăng trưởng kinh tế theo hướng gìn giữ, củng cố độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết lợi ích kinh
tế làm động lực, phát triển kinh tế làm nền tảng, điều kiện thiết yếu là bảo đảm quốc phòng - an ninh
Kinh tế kết hợp với quốc phòng - an ninh vận dụng linh hoạt và rất cụ thể trong từng địa phương, ngành, lĩnh vực để cải thiện đời sống nhân dân, có tích lũy, mở rộng quan hệ với bên ngoài, bảo đảm tốt quốc phòng - an ninh theo hướng phát triển bền vững với vai trò Nhà nước quản lý, điều hành cao nhất, đủ quyền lực và năng lực thực hiện bằng các công cụ điều hành vĩ mô: pháp luật, kế hoạch, tài chính, tiền tệ, văn hóa, quỹ dự trữ hướng mọi công dân vào mục tiêu đã định là phát triển kinh tế, củng cố tăng cường tiềm lực cho quốc phòng
Vấn đề nhu cầu chi tiêu cho quốc phòng rất lớn, bởi vậy cách kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh để mỗi bước phát triển kinh tế đều mang lại hai tác dụng dân sinh và quốc phòng; mỗi ngành, lĩnh vực kinh tế thực sự trở thành một ngành, một lĩnh vực của quốc gia phục vụ mọi nhu cầu của xã hội Hiện nay nhu cầu về đời sống, vật chất kỹ thuật cho lực lượng vũ trang còn nhiều khó khăn khi mà khả năng bảo đảm của nền kinh tế còn hạn hẹp, yêu cầu chúng ta cần phải đổi mới, phấn đấu sử dụng khoa học, hợp lý, tiết kiệm nhất về nhân lực, vật lực, các hoạt động quốc phòng - an ninh có chi
Trang 20phí ít nhất so với yêu cầu cao về chất lượng để khai thác lợi thế của nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thông qua quan hệ hàng hóa tiền tệ
Kinh tế kết hợp với quốc phòng an ninh là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, cả hệ thống chính trị Lực lượng quân đội là lực lượng nòng cốt vừabảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ sự ổn định chính trị - xã hội, đập tan và làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, vừa thực hiện nhiệm vụ tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược lâu dài của quân đội
Chính từ sự kết hợp, yêu cầu quốc phòng - an ninh trong từng lĩnh vực, từng ngành, từng cơ sở phải rất linh hoạt và cụ thể, phải từ yêu cầu cụ thể về quốc phòng, an ninh đặt cho từng lĩnh vực hoạt động ở từng nơi để chọn cách thực hiện kết hợp tốt nhất nhu cầu cải thiện đời sống nhân dân; tích lũy để phát triển, mở rộng quan hệ và bảo đảm quốc phòng, an ninh Yêu cầu của quốc phòng, an ninh trở thành phương hướng phát triển có tính tất yếu của từng hoạt động kinh tế - xã hội Xét về cơ bản mang tính chất lâu dài, phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở nền tảng bảo đảm quốc phòng - an ninh, phải đặt phát triển kinh tế vì lợi ích cải thiện đời sống nhân dân, phát huy thuận lợi đối với quốc phòng - an ninh trong vị trí ưu tiên, quốc phòng - an ninh dựa vào điều kiện và khả năng kinh tế - xã hội Qua đó, mối quan hệ kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh trở thành tất yếu có tính quy luật, là truyền thống trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta
Cũng cần nhận thức một cách đầy đủ và toàn diện hơn về kinh tế - xã hội kết hợp với quốc phòng - an ninh là một phạm trù có tính lịch sử, là một quá trình, luôn được bổ sung, đổi mới và phát triển cho phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể thông qua hoạt động thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh có vị trí quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát
Trang 21triển, là một bộ phận hữu cơ, đồng thời trực tiếp tham gia thực hiện các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để vận dụng quy luật kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh có hiệu quả cao nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng và sức mạnh quân sự Bản thân quy luật kết hợp là hết sức khách quan,
nó phản ánh tính năng động chủ quan của con người, của xã hội do nắm bắt được mối quan hệ biện chứng khách quan giữa kinh tế với xã hội, kinh tế với quốc phòng, kinh tế với an ninh, kinh tế với chiến tranh, quốc phòng với an ninh, xây dựng với bảo vệ, về độc lập tự chủ, chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc, về hợp tác quốc tế
Vậy quy luật kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh có cơ chế vận động nào khi chúng ta ứng dụng, việc tìm ra cơ chế vận động thông qua thử nghiệm thành công sẽ trở thành phổ biến gọi đó là cơ chế vận dụng quy luật Nó được thể hiện việc tăng cường tiềm lực và sức mạnh quốc phòng, phải coi kết hợp là giải pháp chiến lược quan trọng, là khâu đột phá khi vận dụng quy luật kết hợp, coi tự bảo vệ và được bảo vệ trong thế trận chung của toàn quốc, là nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị Trong đó lực lượng quân sự, quốc phòng có vai trò nòng cốt, kết hợp toàn diện nhưng phải tập trung vào một số trọng điểm về xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, thực hiện di dân và bố trí lại dân cư, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng Nhiệm vụ quân sự - quốc phòng - an ninh gắn kết với xây dựng kinh tế - xã hội địa phương phải thực sự chủ động phối hợp, nêu cao vai trò của chủ thể kết hợp là quốc phòng - an ninh về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương thức, phương pháp kết hợp cụ thể phù hợp với quy hoạch, kế hoạch chung về củng cố tăng cường sức mạnh quốc phòng
- an ninh, xây dựng phát triển kinh tế của địa phương và mang tính đặc thù từng địa bàn
Trang 22Các chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng các Đoàn KT - QP thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI; được cụ thể hóa Quyết định số 227/QĐ-TTg ngày 31/3/2000 phê duyệt Dự án tổng thể Quân đội tham gia xây dựng PT KT
- XH; Nghị quyết số 150/ĐUQSTW của Đảng uỷ Quân sự Trung ương; Nghịquyết số 71/ĐUQSTW ngày 25/4/2002 của Đảng uỷ Quân sự Trung ương về nhiệm vụ sản xuất xây dựng và làm kinh tế của quân đội trong thời kỳ đổi mới; Chỉ thị số 24/2004 CT - BQP về việc đẩy mạnh và nâng cao chất lượng quản lý, xây dựng các Đoàn KT - QP trong tình hình mới
1.1.3.Vai trò của mối quan hệ quốc phòng với phát triển kinh tế
Quân đội nhiệm vụ chính là bảo về Tổ Quốc nhưng muốn bảo vệ Tổ Quốc tốt thì phải quốc gia phải có tiềm lực kinh tế vững mạnh; đồng thời nền kinh tế muốn phát triển tốt thì quốc gia phải có nền quốc phòng vững mạnh
Sức mạnh kinh tế với sức mạnh quân sự kết hợp với nhau được hiểu, nhận thức, vận dụng khác nhau tuỳ thuộc mục tiêu, mục đích của chế độ xã hội từng quốc gia Như vậy, kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh là hoạt động chủ động của một quốc gia trên cơ sở nhận thức và vận dụng quy luật của hai lĩnh vực kinh tế và quân sự, nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng trong quá trình phát triển kinh tế, đồng thời ngăn chặn, hạn chế các tác động tiêu cực của chiến tranh, quốc phòng đối với sự phát triển kinh tế
Thực chất mối quan hệ kết hợp kinh tế với quốc phòng là mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ hai nhiệm vụ xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng đều phát triển cân đối, nhịp nhàng, hợp lý, trong một thể thống nhất, cái này là điều kiện, là tiền đề cho sự tồn tại của cái kia, phục vụ lẫn nhau Khi nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, toàn diện là điều kiện xây dựng nền quốc phòng mạnh và ngược lại một nền quốc phòng mạnh tạo môi trường, điều kiện phát triển, bảo
Trang 23vệ tốt thành quả của nền kinh tế Trong xây dựng kinh tế cần tìm ra hướng đi, biện pháp, hình thức tổ chức hợp lý, hợp quy luật để thúc đẩy củng cố quốc phòng, đồng thời xây dựng quốc phòng lựa chọn phương hướng, biện pháp phù hợp với khả năng kinh tế, tác dụng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng; từ đó tạo
ra sức mạnh tổng hợp của quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu vốn có của xã hội, nhu cầu chuẩn bị cho chiến tranh vệ quốc của mọi quốc gia có chủ quyền
Kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh gồm nhiều nội dung,
đa dạng có thể kết hợp
1.1.4. Nội dung nghiên cứu tác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của đồng bào khu vực biên giới
1.1.4.1.Tác động của quân dội làm kinh tế đến phát triển kinh tế xã hội
Sự kết hợp trong xây dựng cơ cấu kinh tế
Kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh gồm nhiều nội dung
có thể kết hợp; nội dung chủ yếu, cơ bản là kết hợp xây dựng cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu đầu tư và cơ cấu ngành
Trong cơ cấu thành phần kinh tế, sự kết hợp nhằm làm cho cơ cấu kinh
tế thị trường nhiều thành phần phát triển theo định hướng XHCN, trong đó kinh tế Nhà nước nắm vai trò chủ đạo Khuyến khích các thành phần kinh tế, chủ sở hữu phát triển tạo môi trường tự do lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, hoạt động theo luật định Phát huy được tính tích cực, chủ động, tự chủ, hạn chế mặt tiêu cực của mỗi thành phần kinh
tế, thông qua đó phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn những thủ đoạn, cản trở làm ảnh hưởng tới phát triển kinh tế - xã hội Hiệu quả và tác động của quá trình chuyển dịch là hình thành các thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố; đồng thời nảy sinh các tiêu cực, tệ nạn xã hội, sự phân hóa giàu nghèo, sự tích tụ ruộng đất bất hợp lý cần phải ngăn chặn và phòng chống kịp thời Chính vì nhiều thành
Trang 24phần kinh tế dẫn tới đa dạng các loại hình sản xuất kinh doanh cũng đều động viên, khuyến khích tham gia xây dựng tiềm lực quốc phòng - an ninh.
Cơ cấu đầu tư theo ngành, lĩnh vực kinh tế đều ảnh hưởng tới quốc phòng -an ninh trực tiếp hoặc sự kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh được gắn kết ngay trong việc xác định cơ cấu đầu tư hợp lý đối với ngành, vùng, lĩnh vực kinh tế có lợi thế so sánh, tập trung vào các vùng trọng điểm về kinh tế - xã hội và nhạy cảm về quốc phòng - an ninh trên cơ sở mối quan hệ hữu cơ vừa bảo đảm cho kinh tế - xã hội phát triển, vừa phục vụ cho nhu cầu quốc phòng - an ninh Từ đó, bảo đảm lợi ích phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tiết kiệm được ngân sách đối với một số nội dung bảo đảm cho quốc phòng - an ninh, nội dung kết hợp tùy theo tính chất, yêu cầu, khả năng
cụ thể để đạt mục tiêu kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh
Trong đó có nhiều lĩnh vực cần thiết và có thể kết hợp Kết hợp kinh tế
-xã hội với quốc phòng - an ninh trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ là xây dựng phát triển nền tài chính quốc gia trên cơ sở kiện toàn hệ thống tổ chức và đổi mới chính sách, đồng thời duy trì một cơ chế quản lý chặt chẽ bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ của quốc gia đứng vững trước mọi tình huống biến động phức tạp Nội dung này thể hiện trước hết là sự gắn kết giữa bố trí cơ cấu đầu
tư với duy trì các biện pháp điều tiết, giám sát tài chính thông qua các chế độ
kế toán, kiểm toán, thuế, Đồng thời phải đề cao cảnh giác, thận trọng trong thực thi các chính sách, kịp thời ngăn chặn các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch phá hoại tài chính, tiền tệ Sử dụng các biện pháp tổng hợp, các hoạt động kết hợp liên ngành chống buôn lậu, tham nhũng Thực hiện nghiêm chế độ thẩm định và phê duyệt chặt chẽ các dự án đầu tư, nhất là có vốn đầu tư nước ngoài
Sự kết hợp trong xây dựng vùng kinh tế
Trang 25Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cùng với đặc điểm, tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ, điều kiện, khả năng từng địa bàn hình thành các vùng kinh tế, từ đó xác định vùng kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế biển và ven biển, vùng kinh tế cửa khẩu, vùng kinh tế đặc biệt Mỗi vùng kinh
tế có những nội dung kết hợp khác nhau Ở đây, đi sâu phân tích vùng kinh tế đặc biệt, đó là những địa bàn chiến lược trọng yếu của quốc gia, là căn cứ hậu
phương chiến lược, an toàn đoàn trong chiến tranh, các vùng biên giới đất liền, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn Các vùng này đòi hỏi xây dựng phát triển mạnh về kinh tế - xã hội, thật sự vững chắc về quốc phòng - an ninh, đặc biệt là tiến hành điều chỉnh dân cư, tập trung xây dựng các đoàn kinh tế quốc phòng gắn với các tổ chức hành chính, khu vực phòng thủ địa phương tạo thế đứng chân tại chỗ vững chắc, lập thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, chú ý kết hợp hoạt động của các đơn vị, tổ chức kinh tế với các biện pháp xây dựng cơ sở chính trị địa bàn, bảo vệ an ninh kinh tế, chống buôn lậu và vượt biên trái phép; phòng chống các hoạt động truyền đạo trái pháp luật, âm mưu tạo biên giới mềm của các thế lực thù địch; phát huy khả năng tự bảo vệ, ngoài ra có thể chi viện nguồn lực cho các vùng khác
1.1.4.2. Tác động của quân dội làm kinh tế đến nguồn lực sản xuất chủ yếu của hộ nông dân
Tốc độ tăng trưởng và phát triển nông nghiệp trước hết phụ thuộc vào
số lượng và chất lượng các yếu tố nguồn lực được huy động vào sản xuất nông nghiệp Khi xem xét tác động của quân đội đến từng yếu tố nguồn lực,
xu hướng vận động về số lượng và chất lượng của từng yếu tố nguồn lực theo các chiều hướng khác nhau Nhưng khi sử dụng cần kết hợp các yếu tố nguồn lực một cách hài hoà, hợp lý Điều đó có nghĩa là tuỳ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp mà quyết định
Trang 26những tỷ lệ về số lượng và chất lượng của mỗi yếu tố nguồn lực được huy động vào sản xuất.
1.1.4.3. Tác động của quân dội làm kinh tế đến xây dựng cơ sở hạ tầng phục
vụ phát triển triển kinh tế
Xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế khu vực biên giới hai tỉnh Cao Bằng và Lạng sơn có vai trò thiết yếu, quyết định đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội thông qua các hoạt động:
-Xây dựng đường giao thông nông thôn liên xã, liên thôn bản
-Xây dựng công trình thủy lợi cải tạo đồng ruộng
- Xây dựng bản biên giới, cụ thể là tổ chức di dãn dân và ổn định tổ chức hoạt động sản xuất định canh định cư tại các điểm giáp ranh biên giới
Xây dựng cơ sở hạ tầng tạo sức bật đồng bộ để đẩy mạnh hoạt động sản xuất và giao thương giữa các thôn, bản trong vùng thuận lợi; thúc đẩy phát triển kinh tế
1.1.4.4.Quân đội tổ chức tập huấn, chuyển giao khoa học công nghệ về khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; cung cấp dịch vụ đầu vào hỗ trợ sản xuất
Hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp trên địa bàn biên giới góp phần tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ về năng suất, chất lượng sản phẩm nông - lâm -ngư nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn
1.1.5.Nhân tố tác động tới kinh tế kết hợp với quốc phòng
1.1.5.1.Nhân tố tác động trước hết là sự phát triển kinh tế
Trình độ kinh tế phát triển có ảnh hưởng quyết định tới quy mô, thời gian và cường độ của chiến tranh Trình độ phát triển kinh tế càng cao, lực lượng vũ trang được trang bị, cung cấp nhiều vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật với chất lượng cao hơn, chất lượng quân số nâng cao, sử dụng vũ khí khí tài ngày
Trang 27càng thành thạo Khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khoa học công nghệ ngày càng cao có tác động lớn đến sản xuất xã hội, tốc độ phát triển sản xuất tăng làm cho sản phẩm xã hội dồi dào, công lao động trong mỗi sản phẩm xã hội giảm, nguồn nhân lực chất lượng cao được tăng lên là điều kiện thuận lợi huy động sức người, của cải, vật chất cho quốc phòng.
Vấn đề bảo đảm kinh tế cho lực lượng vũ trang nói chung, quốc phòng nói riêng tiến hành hiện đại hoá đã đặt ra nhu cầu rất lớn nhiều mặt về huấn luyện, vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện, nhiên liệu, đạn dược càng tăng lên về số lượng, chủng loại và chất lượng cao hiện đại, tiên tiến, các mặt hàng quân sự phát triển hàng triệu loại Vũ khí hiện đại càng phức tạp, rất nhanh bị lạc hậu vô hình cần được trang bị lại… Tất cả, đòi hỏi những khoản đầu tư rất lớn về tiền bạc của ngân sách dành cho quốc phòng Từ sự đáp các nhu cầu tiêu dùng quốc phòng như trên làm cho cơ cấu tổ chức biến đổi, quy mô sản xuất tăng lên, xu hướng tiêu dùng càng lớn hơn, nó cũng làm cản trở phát triển sản xuất xã hội nếu sự kết hợp kinh tế với quốc phòng không hợp lý, nguồn lực của đất nước huy động quá mức Tuy nhiên, tính chất của quan hệ
sản xuất có ý nghĩa quan trọng rất lớn, bởi phương thức kết hợp Hay nói khác
là khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, cách mạng khoa học công nghệ càng có tác động rất lớn đến sản xuất xã hội, làm cho tốc độ phát triển sản xuất tăng nhanh chóng làm tiền đề nâng cao chất lượng nhân lực và của cải cung cấp cho quân đội Đồng thời nhu cầu hiện đại hóa các lực lượng
vũ trang trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ đặt ra vấn đề bức xúc việc bảo đảm của nền kinh tế cho quốc phòng
1.1.5.2 Nhân tố tác động từ bối cảnh quốc tế
Ngày nay bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc, phức tạp có cả những thuận lợi, khó khăn Xu thế nổi bật trong quan hệ quốc tế là hòa bình,
ổn định, hợp tác để phát triển của các dân tộc, quốc gia trên thế giới Các quốc
Trang 28gia dành sự ưu tiên cho chiến lược phát triển kinh tế, tham gia càng nhiều, chặt chẽ hơn liên kết kinh tế quốc tế, liên kết kinh tế khu vực và đồng thời liên kết các lĩnh vực khác Như vậy, tạo cho chúng ta môi trường tương đối ổn định đối với việc xây dựng đất nước Tuy nhiên, những thách thức không hề nhỏ, đó là: Chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ đã làm cho cục diện thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc, âm mưu phá hoại đến cùng đối với chủ nghĩa xã hội của các thế lực đế quốc liên tục, không dừng bước bằng nhiều thủ đoạn, hình thức khác nhau Các cuộc chạy đua vũ trang không hề chấm dứt, có xu thế tăng lên, nó chứa đựng nguy cơ bùng nổ các cuộc chiến tranh cục bộ và xung đột vũ trang Đối với Việt Nam hiện nay không tham gia vào bất kỳ khối quân sự nào trên thế giới, không hề có sự đỡ đầu quân sự, nền quốc phòng của ta được xây dựng, củng cố hoàn toàn trên cơ sở tự lực, tự cường Khi kinh tế còn kém phát triển, thu nhập quốc dân thấp so với thế giới thì vấn đề đầu tư cho nhu cầu quốc phòng có nhiều hạn chế Chúng ta hội nhập ngày càng sâu, nhiều lĩnh vực khác nhau trong khu vực và quốc tế sẽ xuất hiện càng nhiều vấn đề phức tạp về quản lý, bảo vệ: lao động, chủ quyền và quyền lợi quốc gia cũng như giá trị nền văn hóa dân tộc, tài nguyên, môi trường…
1.1.5.3.Nhân tố tác động từ chế độ xã hội
Chế độ xã hội quy định mục tiêu, phương thức, phương thức kết hợp kinh tế với quốc phòng đồng thời nó quy định mục tiêu, tính chất, bản chất chiến tranh, ảnh hưởng trực tiếp tới xây dựng tiềm lực quân sự và nghệ thuật chiến tranh Tất cả các cuộc chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ tổ quốc đều huy động được sức mạnh nội lực của toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, chính chế độ xã hội tạo ra tiềm lực tinh thần to lớn trong nhân dân Bảo vệ tổ quốc đồng nghĩa với bảo
vệ chế độ, bảo vệ quyền lợi của toàn dân trong hiện tại và tương lai, đã tạo nên một yếu tố sức mạnh quốc phòng hết sức quan trọng Đối với Việt Nam
Trang 29trải qua các cuộc chiến tranh giải phóng và vệ quốc đã huy động được sức mạnh toàn dân, tạo ra sự đoàn kết toàn dân, phát huy được chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mỗi người dân trở thành chiến sỹ quyết tâm bảo vệ tổ quốc thân yêu của chính họ, thể hiện rõ bản chất tươi đẹp của chế độ xã hội - xã hội chủ nghĩa.
1.1.5.4.Nhân tố tác động từ các học thuyết quân sự
Chế độ xã hội có ảnh hưởng sâu sắc tới việc kết hợp kinh tế quốc phòng;
sự đồng nhất chế độ xã hội không hẳn đã đồng nhất về phương thức, nội dung kết hợp Sự kết hợp chịu sự tác động rất lớn của truyền thống, kinh nghiệm, đường lối chính trị được thể hiện bằng học thuyết quân sự của quốc gia ấy trên góc độ lịch sử, địa chính trị trong quan hệ quốc tế Việt Nam là quốc gia từ khi khai thiên lập quốc đều phải đương đầu với các thế lực ngoại xâm hùng mạnh hơn rất nhiều lần về vũ khí, trang bị và số quân Kết hợp yếu tố trên với yếu tố thiên nhiên, văn hóa, con người…đã hình thành học thuyết quân sự riêng có của Việt Nam, là sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa kinh tế với quốc phòng, coi trọng phát triển kinh tế là cơ sở cho sự ổn định chính trị, sự thống nhất của mọi tầng lớp, giai cấp, dân tộc sẵn sàng đối phó với các âm mưu xâm lược của kẻ thù Từ đó, yêu cầu về kết hợp kinh tế quốc phòng giai đoạn hiện nay hết sức
cụ thể: coi trọng giáo dục quốc phòng toàn dân, sự nghiệp quốc phòng là sự nghiệp của toàn dân, khuyến khích mọi người tham gia xây dựng; tăng cường khối đoàn kết cộng đồng các dân tộc, ngăn ngừa âm mưu chia rẽ kích động của
kẻ địch; chăm lo phát triển mọi mặt vùng khó khăn, có chính sách đối với dân tộc thiểu số, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp; tập trung nâng cao chất lượng quân nhân; tiết kiệm chi phí quân sự, tập trung phát triển kinh tế; có cơ cấu kinh tế hợp lý vùng miền; tận dụng lợi thế về địa hình, đất đai… để tạo tiềm lực quốc phòng mạnh có chi phí thấp nhất
Trang 301.2. Cơ sở thực tiễn về tác động của quân đội làm kinh tế đến thu nhập của người dân
1.2.1.Quốc phòng kết hợp với kinh tế của một số quốc gia
Trong thời đại ngày nay khái niệm quốc phòng đã đổi mới, mở rộng, có tính tổng hợp cao hơn Sức mạnh quốc phòng bao gồm nhiều yếu tố: quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, nội lực, ngoại lực, có tính thời đại, tính quốc tế…
Lịch sử nhân loại cho thấy khi mà chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa dân tộc cực đoan phản động luôn đe dọa cuộc sống an lành của nhiều quốc gia dân tộc, thường xuyên gây ra mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc, tranh giành, tranh chấp đất đai, vùng biển, vùng trời, tạo ra những cuộc chiến tranh cục bộ, làm bùng lên các cuộc xung đột vũ trang; không một quốc gia dân tộc nào không có sự chăm lo xây dựng nền quốc phòng của chính mình, với một số đặc điểm chung là đẩy mạnh phát triển kinh tế, lấy an ninh kinh tế làm trọng tâm trọng điểm, kết hợp hài hòa các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội, sức mạnh quốc phòng là sức mạnh tổng hợp Nhiều quốc gia hùng mạnh cho rằng môi trường
an ninh quốc tế đã đổi thay, nhưng sứ mạng chủ yếu của quân đội vẫn không thay đổi; sức mạnh quân sự vẫn giữ vai trò thiết yếu, không thể thay thế trong sức mạnh tổng hợp của quốc gia Nhìn chung các nước mới giành độc lập đều coi trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Nét nổi bật của sự kết hợp kinh tế với quốc phòng trong tình hình hiện nay là phát huy vai trò tiên phong của khoa học- kỹ thuật quốc phòng; phát triển quốc phòng trong chỉnh thể của phát triển sức mạnh quốc gia
- Thái Lan: Lực lượng quân đội tham gia làm kinh tế, có ngân hàng riêng, có tổ chức hoạt động kinh doanh
- In-đô-nê-xi-a rất coi trọng sự kết hợp kinh tế với quốc phòng, phát triển mạnh mẽ các phương pháp và hình thứ giáo dục quốc phòng toàn dân, xây dựng cấp cơ sở phố, phường, làng, xã thành các tổ chức quốc phòng, an
Trang 31ninh được nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động; ngoài ra còn cho phép hoạt động Hiệp hội quốc phòng trên toàn quốc thu hút nhiều tầng lớp trong xã hội tham gia Vai trò rất quan trọng của Bộ nghiên cứu và công nghệ trong hệ thống sản xuất quốc phòng, đưa ra chiến lược nghiên cứu và công nghệ cả tầm quốc gia Các công ty quốc doanh trong ngành công nghiệp chiến lược là xương sống ngành công nghiệp quốc phòng với quan hệ thông qua các hợp đồng kinh tế Đó là một trong mô hình quốc phòng toàn dân điển hình, tập trung được tối đa nguồn lực khác nhau trong một quốc gia, giảm bớt khá lớn cho chi phí quân sự địa phương
- Ma-lai-xi-a lưu ý đặc biệt đến công nghiệp quốc phòng, khuyến khích việc liên doanh tiếp thu công nghệ tiên tiến của nước ngoài, ưu đãi đối với những cơ sở nào có triển vọng như miễn thuế, mua hàng của họ để tạo điều kiện thâm nhập thị trường Công nghiệp quốc phòng có trách nhiệm tạo ra công nghệ mũi nhọn cho phát triển kinh tế, phát triển theo hướng lưỡng dụng với mục tiêu nâng cao dần từng bước trình độ kinh tế, văn hóa xã hội, tạo việc làm cho dân; như vậy tạo ra tiềm lực công nghệ cao cho đất nước, đáp ứng được cả hai nhu cầu quốc phòng và kinh tế
-Nga coi chuyển hóa công nghiệp quốc phòng được hiểu như là sự quy
tụ trong nó hàng loạt các biện pháp tài chính, kinh tế, tổ chức, công nghệ nhằm chuyển từng phần hoặc toàn bộ nền công nghiệp quốc phòng sang sản xuất các sản phẩm kinh tế Nghĩa là chuyển hẳn một bộ phận từ nhiệm vụ sản xuất sản phẩm phục vụ quân sự sang sản xuất sản phẩm kinh tế phục vụ dân sinh; thứ hai là kết hợp vừa sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu quân sự vừa sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu dân sinh; thứ ba sản xuất sản phẩm phục
vụ nhu cầu quân sự với mặt hàng như trước hoặc nâng cấp chất lượng Sự chuyển hóa các tổ hợp quân sự sang dân sự hợp với xu thế chung trong quan
hệ kinh tế quốc tế, tuy nhiên vẫn tồn tại các tổ hợp công nghiệp quân sự
Trang 32khổng lồ ở một số quốc gia tư bản phát triển là một thực tế, là mối lo ngại cho toàn thể nhân loại
- Trung Quốc: Trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, ngành kinh tế đều thực hiện chính sách “Quân dân nhất thể hóa”, đồng thời thực hiện rất chu đáo chính sách chăm sóc và ưu đãi đối với quân đội; rút gọn quy mô, nâng cao chất lượng, xây dựng trọng điểm và tối ưu hóa tổ chức lực lượng thường trực với mục tiêu kết hợp tốt, hài hòa giữa củng cố quốc phòng với phát triển kinh tế
-Mỹ: Hình thức kết hợp kinh tế với quốc phòng cũng hết sức linh hoạt, đặc biệt trong công nghiệp quốc phòng, ngoài các nhà máy trực thuộc chính phủ còn tất cả cơ sở công nghiệp quân sự có quy mô nhỏ; các trang bị vũ khí đều do công ty tư nhân sản xuất, công ty lớn sản xuất sản phẩm phục vụ cả quân sự và nhu cầu dân dụng Tất cả các hình thức kết hợp đều lấy nguyên tắc phù hợp kinh tế làm tiêu chuẩn cơ bản, cho phép hưởng lợi thế khi sản xuất hàng dân dụng được kế thừa công nghệ và kỹ thuật cao của công nghiệp quân
sự, từ đó thúc đẩy, kích thích nền kinh tế quốc dân phát triển
Có thể nói, cùng với tỷ lệ tăng ngân sách quân sự của nhiều quốc gia tăng dần so với giá trị tổng sản phẩm quốc dân (GDP) thì nguy cơ chiến tranh không bị ngoại trừ, vấn đề quốc phòng, an ninh vẫn được đặt đúng vị trí, vai trò trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Từ sự tham khảo trên cho chúng
ta những gợi mở từ việc chọn lọc, áp dụng các phương pháp, hình thức kết hợp kinh tế với quốc phòng phù hợp thực tế của quốc gia và quốc tế
1.2.2.Quốc phòng kết hợp với kinh tế ở Việt Nam
Từ khi lập quốc đến nay, lịch sử dân tộc đã cho thấy một thực tiễn hợp quy luật đó là xây dựng kinh tế, phát triển đất nước luôn gắn liền chặt chẽ với củng cố quốc phòng, giải phóng dân tộc và tiến hành chiến trang chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc Trước hết, vị trí địa chính trị - quân sự của nước
Trang 33ta đã tạo ra lợi thế giao lưu quốc tế, đồng thời luôn bị các thế lực xâm lược từ Đông sang Tây rình rập xâm chiếm.
Trong thời kỳ các triều đại phong kiến, quan hệ kinh tế với quốc phòng luôn quan hệ chặt chẽ trên quan điểm "thực túc - binh cường”, từ đó trên tổng thể sản xuất nông nghiệp càng phát triển, đời sống nhân dân tương đối ổn định, đủ lương thực phẩm cung cấp cho các cuộc chiến tranh vệ quốc Bằng nhiều hình thức khác nhau, các triều đại phong kiến đã hết sức quan tâm tới
sự phân bố lại nguồn lực trong đó chú ý đặc biệt đến nguồn nhân lực, khuyếnkhích dân cư miền xuôi di dân ra các vùng biên giới khai hoang phục hóa đất đai, còn vô cùng rộng lớn và dân cư thưa thớt để giữ gìn biên cương, phát triển nông nghiệp, mở mang các tuyến đường thủy, đường bộ hướng vào hai mục đích chính là giao lưu kinh tế và phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, đồng thời mở mang phát triển các ngành nghề thủ công như dệt vải, rèn đúc
vũ khí, sửa chữa đóng thuyền và công cụ sản xuất khác Để có thể động viên
và sử dụng lực lượng vũ trang trong phòng thủ và tiến hành chiến tranh vệ quốc khi cần thiết, một mặt giảm chi phí cho quân sự mà vẫn có đủ sức mạnh, mặt khác vẫn tham gia tăng cường sức người sức của cho phát triển sản xuất Đến thời nhà Lý với chính sách “ngụ binh ngư nông” thực chất là gửi lính trong dân, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng được quan tâm, là một kế sách diệu kỳ xây dựng quân đội gắn liền với sản xuất nông nghiệp và binh lính trong thời bình thay phiên nhau vừa sản xuất vừa huấn luyện quân sự và canh giữ, canh phòng đất nước
Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh là quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam; mỗi giai đoạn cách mạng, phương thức và nội dung kết hợp có khác nhau Tổng khởi nghĩa vũ trang năm 1945 chống Thực dân Pháp, chúng ta có chủ trương
Trang 34“thực túc binh cường”, chủ trương gắn liền biện pháp kinh tế với quân sự để đạt được mục tiêu cách mạng là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình huy động lực lượng, từ việc lập đoàn giải phóng bao hàm đầy đủ các nội dung quân sự, chính trị, kinh tế, tài chính, tiền tệ, giao thông vận tải… tiếp theo là Chỉ thị kháng chiến kiến quốc, Chỉ thị toàn quốc kháng chiến, Các Nghị quyết của BCHTƯ chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách và trực tiếp là củng cố và bảo vệ chính quyền, tự cấp tự túc, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến và kháng chiến thắng lợi Do đó, đã chuyển biến căn bản trong kinh tế, các ngành kinh tế phát triển mạnh mẽ, phục vụ tốt cho yêu cầu của cuộc kháng chiến, góp phần vào thắng lợi Điện Biên Phủ, nước ta bước sang một thời kỳ cách mạng mới
Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc của cả nước, tiến hành cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.Quân đội tham gia sản xuất xây dựng kinh tế đã trở thành một trong chức năng của quân đội Hoạt động kinh tế của quân đội được Đảng chỉ đạo mạnh mẽ, cụ thể: Đưa 8 vạn quân chuyển sang làm kinh tế tham gia khôi phục kinh tế đất nước bị chiến tranh tàn phá, xây dựng các tuyến đường giao thông chiến lược, hình thành các nông lâm trường quân đội và một số đoàncông nghiệp và cho phép BQP thành lập Cục Nông binh ngày 23 tháng 8 năm
1956 Tiến hành kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một mặt Quân đội khắc phục rất nhiều khó khăn gian khổ, mở đường xuyên dọc dãy Trường Sơn, lập các căn cứ, binh trạm hậu cần ở hầu hết chiến trường miền Nam và các Đoàn hậu cần, mặt khác thành lập Hệ thống cơ quan chỉ đạo làm kinh tế từ cấp Bộ đến Quân khu, Quân khu, đồng thời hình thành Binh đoàn 773 xây dựng kinh
tế, 20 trung đoàn sản xuất… đã đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, xây dựng vững chắc xã hội chủ nghĩa, thống nhất đất nước Đó chính là thắng lợi của đường lối chiến
Trang 35tranh nhân dân, là kết quả của sự kết hợp đúng đắn về chỉ đạo, tổ chức, sử dụng giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong sự biến đổi mỗi thời kỳ cách mạng, mỗi vùng chiến lược, mỗi ngành kinh tế của Đảng ta, thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối của Đảng Cộng sản vào Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước.
Sau khi đất nước thống nhất, Quân đội được Đảng và Nhà nước giao cho hai nhiệm vụ chính trị là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và tham gia xây dựng đất nước Chính phủ ra Nghị quyết số 59/CP ngày 05/4/1976, thành lập Tổng cục Xây dựng kinh tế, đồng thời điều chuyển gần 28 vạn quân sang làm nhiệm vụ kinh tế, xây dựng đất nước, tham gia phục hồi đất nước sau chiến tranh với 5 nội dung cơ bản: Xây dựng vùng kinh tế mới kết hợp kinh tế với quốc phòng; xây dựng cơ bản; đánh cá, khai thác hải sản; sản xuất và xây dựng quốc phòng cho quân đội và nhân dân; giúp nước bạn xây dựng công trình kinh tế và quốc phòng Mục tiêu là bảo đảm một phần nhu cầu của quân đội, tham gia xây dựng một số vùng kinh tế chiến lược, xây dựng giao thông thủy lợi, một số công trình trọng điểm của Nhà nước, góp phần phân bố lại lao động, dân cư Trong giai đoạn này chúng ta đồng thời phải đương đầu với khó khăn phức tạp xảy ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và bảo vệ biên giới phía Bắc làm cho quân số làm kinh tế biến động rất lớn, nên hiệu quả thực tế mang lại không cao, chưa đạt yêu cầu đề ra, cùng tình trạng trì trệ yếu kém của nền kinh tế với lạm phát phi mã Dù cho nền kinh tế càng khó khăn, đường lối xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng vẫn được Đảng, Nhà nước quan tâm đúng mức, tiếp tục duy trì và phát triển mới, vẫn dành hơn 10 vạn quân tham gia làm kinh tế, xây dựng đất nước, nhằm hỗ trợ giảm bớt khó khăn nguồn chi phí quốc phòng, đồng thời bổ sung một phần thiếu hụt mà các ngành kinh tế quốc dân không bảo đảm đủ
Trang 36Năm 1985 Bộ Quốc phòng đã Thành lập Tổ chức Binh đoàn TâyNguyên phát triển cây công nghiệp và xây dựng địa bàn Ba biên giới; tổ chức lại Tổng cục kinh tế với chức năng giúp BQP quản lý nhà nước với các lực lượng bộ đội chuyên làm kinh tế, chỉ đạo toàn quân tham gia làm kinh tế Thực tế đã cho thấy lực lượng quân đội làm kinh tế cùng với các ngành kinh
tế quốc dân đã tạo ra được kết cấu hạ tầng quan trọng, có tác dụng lớn cả về phát triển kinh tế với việc củng cố quốc phòng Hệ thống đường sá, giao thông vận tải từ vùng nông thôn đồng bằng, miền núi, thành phố, thị xã, các đoàn kinh tế, đường chiến lược được nối liền Cảng biển, cảng sông, cảng hàng không được khôi phục, mở rộng và nâng cấp Hệ thống đường sắt Bắc -Nam được khôi phục Hệ thống giao thông toàn quốc trở nên hoạt động bình thường, nâng cao năng lực vận tải thông thương giữa các vùng miền Hệ thống thông tin quốc gia phát triển và hiện đại hóa nhanh phục vụ tốt cho phát triển kinh tế và bảo đảm cho quốc phòng Các ngành sản xuất như: cơ khí, hóa chất, điện tử…mở rộng quy mô sản xuất, trang bị càng hiện đại, nhiều sản phẩm chất lượng cao Song song với sự phát triển của các ngành kinh tế, các khu vực phòng thủ được xây dựng trên các địa bàn chiến lược quan trọng như Tây Nguyên, tứ giác Long Xuyên, các tuyến phòng thủ biên giới, các công trình lấn biển kết hợp với củng cố tuyến phòng thủ bờ biển Tuy nhiên, giai đoạn này có một số hạn chế về quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển kinh
tế, xây dựng đất nước không kịp thời, nền kinh tế chưa thoát khỏi khủng hoảng, cơ cấu kinh tế mất cân đối, năng lực quản lý kinh tế, năng lực sản xuất, trình độ công nghệ và lực lượng sản xuất còn yếu kém Sự nhận thức sai lệch về yêu cầu kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, đồng thời ta cũng chưa xây dựng cơ chế kết hợp
Thời kỳ từ 1988 đến nay, nước ta bước vào thời kỳ đổi mới có hai đặc trưng nổi bật là chuyển nền kinh tế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường
Trang 37định hướng xã hội chủ nghĩa và mở của hội nhập từng bước với nền kinh tế thế giới; kết quả giành được nhiều thành tựu to lớn thế và lực mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì thế nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng có nội dung và yêu cầu mới.
Thành tựu quan trọng trong tổ chức thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng từ năm 1991 đến nay là thực hiện ngày càng tốt hơn mục tiêu kết hợp, khai thác sử dụng ngày càng có hiệu quả nguồn lực tổng hợp của quốc gia, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vừa bảo đảm cho phát triển kinh tê - xã hội ổn định, nhanh có tính bền vững, vừa củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh Phương thức kết hợp kinh tế với quốc phòng đã đổi mới, hoàn thiện từng bước, thể chế hóa về mặt Nhà nước, trở thành đường lối chiến lược của Đảng Thống nhất và gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng thế trận quốc phòng với quy hoạch tổng thể của quốc gia, vùng, miền, hình thành các khu vực chiến lược vững mạnh Xây dựng nhiều đoànkinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế trên vùng biên giới, ven biển, sắp xếp lại lực lượng quân đội làm kinh tế có hiệu quả hơn Có sự điều chỉnh việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trong điều kiện hội nhập kinh tế và hội nhập nhiều mặt trên bình diện quốc tế mặc dù còn chậm Ở một số địa phương sự kết hợp đó chưa thực hiện tốt, nổi lên là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và
có vốn đầu tư nước ngoài Quá trình triển khai thực hiện sự kết hợp kinh tế với quốc phòng tại một số địa bàn trọng điểm, chiến lược, biên giới có hiệu
quả chưa cao, Các đoàn kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế được đầu
tư chưa tương xứng với vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng về mặt chính trị - xã
hội, quốc phòng, an ninh ở một số chỗ, một số vùng, miền
1.2.3. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về kinh tế
kết hợp với quốc phòng - an ninh
Trang 38Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được Đại hội VIII xây dựng thành tư tưởng chỉ đạo về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong thời kỳ mới (T18), nêu rõ: “Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm
vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; Kết hợp quốc phòng và an ninh với kinh tế”.Nhiệm vụ đó được cụ thể hóa trong tư tưởng chỉ đạo thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 đến năm 2000; “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu quả sư dụng các nguồn lực vừa phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, vừa phục vụ quốc phòng,
an ninh”, trên các địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh quốc phòng, khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng biển, ven biển; đồng thời: “Tăng
trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển kinh tế xã hội - văn hóa,
bảo đảm an ninh quốc phòng, phấn đấu giảm bớt khoảng cách giữa các vùng
về mặt tiến bộ xã hội”
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX có nhận thức rõ hơn về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, sự kết hợp trong tổ chức thực hiện, trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Đảng ta có quan điểm xây dựng kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh, được xây dựng thành đường
lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là: “Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh“ Phát triển kinh tế - xã hội gắn với
tăng cường quốc phòng - an ninh ở các vùng miền núi đồng bào dân tộc thiểu
số, biên giới, hải đảo, chú trọng các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam
Nghị quyết cụ thể: “Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng tiềm lực
và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, được thể hiện
trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước,
của các ngành, các địa phương và trong các dự án đầu tư lớn” Tại Hội nghị lần thứ 8, Đảng ta đã có sự phát triển về nhiều phương diện về kết hợp kinh tế
Trang 39với quốc phòng Chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về quốc phòng là:” Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Sách trắng quốc phòng Việt Nam năm 2004).
Sau hơn hai mươi năm đổi mới và thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định rõ: “Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng
và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước” Đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) Tiếp tục phát triển các đoàn
kinh tế - quốc phòng, xây dựng các đoàn quốc phòng - kinh tế với các mục tiêu tằng cường quốc phòng - an ninh là chủ yếu, tập trung vào các địa bàn
trọng điểm chiến lược và những khu vực nhạy cảm trên biên giới đất liền, biển đảo” Phương châm phát triển kinh tế - xã hội là nền tảng để bảo vệ Tổ quốc; ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh là điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội Chủ trương rất mới trong Nghị quyết Đại hội X là xây dựng đoàn công nghiệp quốc phòng trong hệ thống công nghiệp quốc gia dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, đầu tư có chọn lọc theo hướng hiện đại, vừa
phục vụ quốc phòng vừa phục vụ dân sinh
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI nêu rõ: “Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn” Tr82 Văn kiện
Đại hội Đảng lần thứ XI
Kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế từ Cương lĩnh năm 1991 đến Đại hội XI, Đảng ta có nhiều đổi mới và phát triển, rõ nét
Trang 40hơn, đầy đủ hơn, đúng đắn hơn, nâng cao tư duy lý luận về bảo vệ Tổ quốc, bám sát tình hình thực tiễn, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới; Mối quan hệ giữa các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại từ chưa toàn diện đến toàn diện, từ nhận thức chung đến nhận thức cụ thể, rõ nét hơn vai trò tăng lên của an ninh, đối ngoại với quốc phòng và sự cần thiết gắn kết quốc phòng với an ninh, đối ngoại trong một chiến lược tổng thể thống nhất.
1.3.Một số vấn đề lý luận thực tiễn kinh tế kết hợp với quốc phòng trong tình hình mới Sự hình thành, vai trò chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ và
cơ chế hoạt động của Đoàn kinh tế - quốc phòng
1.3.1 Một số vấn đề lý luận, thực tiễn kết hợp kinh tế với quốc phòng - an
ninh trong tình hình mới
Mối quan hệ các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại là mối quan hệ tương tác, có quan điểm tổng hợp và toàn diện, không tách rời từng vấn đề biêng biệt, như vậy từ quan điểm này sẽ tạo ra một chiến lược tổng thể thống nhất, phát huy được tối đa mọi tiềm lực, nguồn lực tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm xây dựng và bảo vệ đất nước trong tình hình có nhiều biến động sâu sắc trên thế giới Ở đây, nói lên sự thực hiện những cam kết quốc tế về một số lĩnh vực như kinh tế, nghĩa vụ giữ gìn hòa bình, an ninh, môi trường khu vực
và quốc tế Thể hiện sự kết hợp với các thành phần kinh tế, kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài theo hướng lợi ích và trách nhiệm các bên
Mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong điều kiện hội nhập sâu với cộng đồng quốc tế là mối quan hệ đan xen, cần được làm rõ về mặt lý luận trong sự thống nhất và sự khác biệt, phương pháp và biện pháp giải quyết mối quan hệ đó trong hoạt động thực tiễn như cơ chế lãnh đạo, quản lý, cơ chế phối hợp, xử lý các tình huống Có văn bản pháp quy, quy trình về mối kết hợp những lĩnh vực đó, đồng thời xây dựng chiến lược tổng