Đối với nhà trường THCS, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ...cho học sinh, thông qua nhữn
Trang 1tư, tình cảm của con người một cách sâu sắc Nội dung phong phú được thể hiệnbằng hình thức thơ hoàn mỹ Văn thơ trung đại Việt Nam là bộ phận văn học gắn liền với một giai đoạn cực kì quan trọng trong lịch sử đất nước - giai đoạn nhà nước phong kiến Việt Nam được xác lập, đi tới chỗ cực thịnh rồi chuyển dần tới chỗ suy vi Giai đoạn văn học này đã để lại một di sản vô cùng quý báu, đồ sộ về khối lượng, phong phú, đa dạng về nội dung, đạt tới nhiều đỉnh cao về nghệ thuật Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bó với truyền
thống cao đẹp của dân tộc Bởi lẽ “Mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới hạn
của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam” (Phạm Văn Đồng)
Chúng ta có thể tìm thấy trong di sản này những tinh hoa của quá khứ vinh quang nhưng không ít phần gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lại hiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng về tương lai một cách tin tưởng hơn Đối với nhà trường THCS, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ cho học sinh, thông qua những thành quả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu.Việc dạy văn học ở nhà trường nói chung và dạy thơ trữ tình trung đại Việt Nam nói riêng theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh là một vấn đề đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học văn cũng như nhiều giáo viên giảng dạy văn học quan tâm
2 Lý do về mặt thực tiễn
Trang 2* Về phía học sinh:
- Đối tượng để cảm và hiểu cái hay cái đẹp của các tác phẩm này lại là cáchọc sinh lớp 7, có thể trong số đó, có một số em mê văn song để nắm được cái thầncủa bài thơ, hiểu được ý nghĩa sâu xa của bài thơ quả là rất khó
- Nhiều học sinh tỏ ra ngại học phần thơ trữ tình trung đại, không hứng thú Nhiều học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học, còn thờ ơ,lãnh đạm với tác phẩm văn chương, nhất là thơ, thường ít hiểu, ít yêu thơ Các emhọc các bài thơ trong sách giáo khoa cũng bình thường như các bài học khác, ít em
có một quyển sổ đẹp để chăm chút viết vào đấy những bài thơ hay mà mình yêuthích Đối với nhiều em, thế giới thơ còn là một thế giới xa lạ Nếu có ai hỏi các
em về những bài thơ hay mà các em thích, thường khi hiểu biết của các em quanhquẩn cũng không ngoài các bài thơ đã học trong sách giáo khoa và sở dĩ các emthấy hay vì có in trong sách giáo khoa và thầy giáo bảo vậy Cá biệt không phảikhông có em “sợ” thơ, bởi vì có những bài thơ có phiên âm chữ Hán, từ ngữ khóhiểu, điển cố nặng nề gây cho các em nhiều mệt nhọc, mà cách giảng của ngườithầy nhiều lúc cũng chưa làm cho các em hiểu rõ và thấy hay thêm được chút nào
Từ đó học sinh mất hứng thú khi học văn và kéo theo chất lượng học văn ngàycàng sa sút
* Về phía giáo viên
- Chương trình Ngữ văn lớp 7 – học kì I, có một số lượng tương đối lớn các văn bản thuộc thể loại thơ trữ tình trung đại Việt Nam Đó là các tác phẩm nghệ thuật được sáng tác trong thời kì phong kiến với những thi nhân nổi tiếng thường mang nặng những nỗi đời và một thế giới tâm hồn nhạy cảm, thiết tha…Đây là thể loại văn học tương đối khó, hơn nữa các tác phẩm lại được sáng tác cách chúng ta một khoảng rất xa về mặt thời gian (tính từ thế kỉ X), vì vậy cả người dạy và ngườihọc đều gặp khó trong quá trình thực hiện, nhiều học sinh không thích thú với các tác phẩm văn học cổ
- Với những văn bản thơ chữ Hán, một số giáo viên khi phân tích chủ yếuhướng dẫn các em phần nhiều bám vào bản dịch thơ mà sao nhãng hoặc quên lãng
Trang 3bản phiờn õm (bản gốc), học sinh khụng thể nhớ nổi một từ hay một cõu thơ haytrong bản gốc.
- Bờn cạnh đú, thế kỉ 21 Hội nhập toàn cầu, đời sống kinh tế xó hội phỏttriển, những mụn học thời thượng (Toỏn, Lý, Hoỏ, Tin học, Ngoại ngữ…) quantrọng hơn bao giờ hết thỡ văn chương khụng cú tớnh năng ứng dụng, tương laingười học khụng được đảm bảo, học sinh ngày càng xa rời văn chương Đặc biệt,một thực tại mà giỏo viờn nào cũng nhận thấy : Sỏch tham khảo, sỏch hướng dẫn
để học tốt, sỏch chuẩn kiến thức, những bài văn mẫu… quỏ nhiều, vụ hỡnh chung
đó làm cho học sinh bỏ rơi sỏch giỏo khoa, học sinh tỏ ra biết đầy đủ nội dung tỏcphẩm văn chương được học dựa vào bài soạn ở nhà nhưng chưa một lần đọc bàivăn, bài thơ trong sỏch giỏo khoa, thầy cú kiểm tra phỏt vấn thỡ cỏc loại sỏch thamkhảo nghĩ hộ, núi hộ tất cả và khi giỏo viờn ra đề kiểm tra coi nghiờm tỳc thỡ tấtthảy đó phơi bày ra, học sinh khụng thớch, khụng cú hứng thỳ học văn
Đú là lớ do thụi thỳc tụi lựa chọn đề tài “Một số phương phỏp dạy thơ trữ tỡnh trung đại Việt Nam lớp 7” với mong muốn cú thể ứng dụng hiệu quả hơn
trong giảng dạy để dạy tốt cỏc bài thơ trữ tỡnh trung đại trong chương trỡnh Ngữvăn 7, nhằm gúp phần nõng cao hiệu quả dạy, học mụn ngữ văn ở trường THCS
II Mục đớch nghiờn cứu
- Trong việc giảng dạy phân môn Văn hiện nay không ít giáo viên loay hoaylúng túng trớc tác phẩm nghệ thuật và tài liệu hớng dẫn ( hình nh hớng dẫn một đ-ờng mà tác phẩm lại gợi cho giáo viên một ấn tợng khác) Không ít những giờ dạyhọc tác phẩm văn chơng đã diễn ra khá bài bản, giáo viên đã đi hết một quy trình(theo trình tự các đề mục) mà ta cha yên tâm chút nào, hình nh có một cái gì đó sâuthẳm lớn lao ở tác phẩm … do mở nhầm cửa ng do mở nhầm cửa ngời dạy, ngời học đã cha đi đến đợccái đích cuối cùng Nguyên nhân chính là cha xác định, cha tìm hiểu kĩ đặc trng thểloại của tác phẩm với tính chất nội dung của nó là không "chính danh" và đã không
"chính danh" thì việc phân tích có sắc sảo đến đâu cũng chỉ là võ đoán
- Xuất phỏt từ những vấn đề cú tớnh lớ luận và cơ sở thực tiễn trờn cộng vớinhững trăn trở của bản thõn, tụi tự đặt ra cõu hỏi: làm thế nào để cho cỏc em hiểu
Trang 4thơ yờu thơ và say mờ với thơ hơn, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại Việt Nam, để từ
đú hỡnh thành thúi quen ham học và cảm thụ văn thơ
III Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Nhiệm vụ tổng quát:
- Sáng kiến kinh nghiệm này tổng kết các phơng pháp cách thức kĩ năng mà ngờiviết thu đợc từ hoạt động thực tiễn giảng dạy ở các trờng THCS nơi từng công tácgiảng dạy
- Những việc đã làm từ thực tế trong giảng dạy môn Ngữ văn đợc đúc rút thànhkinh nghiệm.Thông qua sáng kiến kinh nghiệm này mong muốn phần nào, hoặc là
sự gợi ý, hoặc là sự tham khảo đối với mỗi giáo viên giảng dạy môn ngữ văn ở bậcTHCS
2 Nhiệm vụ cụ thể :
Sáng kiến kinh nghiệm đa ra phơng pháp giảng dạy thơ trữ tỡnh trung đại ViệtNam mà ngời viết đã từng vận dụng trong giảng dạy, đúc rút thành kinh nghiệm
Sáng kiến kinh nghiệm này có nhiệm vụ tập trung vào vấn đề Ph“Ph ơng pháp giảng dạy thơ trữ tỡnh trung đại Việt Nam lớp 7” Đa ra phơng pháp tiếp cận thơ trữ tỡnh
trung đại Việt Nam đạt hiệu quả tối u nhất, để mỗi giáo viên, học sinh tiếp cận mộtcách nhanh chóng, hiểu kĩ càng mỗi bài từ đú có khả năng vận dụng trong thực tiễngiao tiếp và có khả năng học tập các phần văn học khác
IV Đối tợng nghiên cứu:
- Vận dụng chuyờn đề “ Đổi mới phương phỏp dạy học văn ” và ỏp dụng vào
phương phỏp dạy thơ trữ tỡnh trung đại Việt Nam lớp 7
- Học sinh lớp 7, Trường THCS Trần Hưng Đạo, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Trong cỏc trường THCS, đối với cỏc giờ giảng văn phần thơ trữ tỡnh trung đại
Việt Nam
V Phương phỏp nghiờn cứu
Trong quỏ trỡnh thực hiện đề tài này, tụi đó vận dụng và phối hợp nhiềuphương phỏp trong đú cú cỏc phương phỏp cơ bản sau:
Trang 5- Phương phỏp nghiờn cứu tài liệu: dẫn chỳng ta trong khi đi tỡm những phươngphỏp cụ thể để giảng cỏc bài thơ muụn hỡnh muụn vẻ Đọc cỏc tài liệu giỏo trỡnh cúliờn quan đến vấn đề thơ và phương phỏp giảng dạy thơ trữ tỡnh.
- Phương phỏp điều tra, quan sỏt: dẫn chỳng ta trong khi đi tỡm những phươngphỏp cụ thể để giảng cỏc bài thơ muụn hỡnh muụn vẻ Thụng qua việc dự giờ thămlớp, qua thưc tế dạy học
- Phương phỏp đàm thoại: dẫn chỳng ta trong khi đi tỡm những phương phỏp cụ thể
để giảng cỏc bài thơ muụn hỡnh muụn vẻ Trao đổi với giỏo viờn trong tổ xó hội vềvấn đề dạy Ngữ văn núi chung và dạy thơ trữ tỡnh trung đại Việt Nam lớp 7 núiriờng
- Phương phỏp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm để kiểm nghiệm tớnh khả thi
và tỏc dụng của cỏc ý kiến đúng gúp về phương phỏp giảng dạy thơ trữ tỡnhtrung đại, từ đú điều chỉnh cho hợp lý hơn
VI Những đóng góp của đề tài.
Nếu mỗi giỏo viờn thực hiện cú hiệu quả việc giảng dạy cỏc văn bản, trong đú
cú phần thơ trung đại Việt Nam là chỳng ta đó cung cấp cho học sinh kiến thức vềthể loại văn học này, đồng thời góp phần bồi đắp tâm hồn các em Hơn nữa còn mởrộng cho mỗi học sinh sự hiểu biết về danh lam thắng cảnh, tư tưởng tỡnh cảm, vẻđẹp tõm hồn và có khả năng liên hệ với địa phơng mình , từ đó thêm yêu thiênnhiên, truyền thống lịch sử, văn hoá và tỡnh yờu quờ hương đất nước
Sáng kiến kinh nghiệm này giúp mỗi giáo viên có thêm một cách nhìn nhậnthấu đáo về việc giảng dạy thơ trữ tỡnh trung đại Việt Nam và góp phần giảng dạytốt hơn trong chơng trình Ngữ văn lớp 7
VII Cấu trúc của đề tài
CÁC PHẦN CHÍNH Bỡa
Trang phụ bỡa
Danh mục chữ cỏi viết tắt ( nếu cú )
Phần 1: Đặt vấn đề
Trang 6Phần 2: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lớ luận của vấn đề
Chương 2: Thực trạng của vấn đề nghiờn cứu
Chương 3: Đề xuất một số biện phỏp thực hiện
I Cơ sở lớ luận của đề tài:
Phần thơ trữ tỡnh trung đại Việt nam có ý nghĩa rất quan trọng trong chơng trình Ngữ văn bậc THCS Phần học này không chỉ có ý nghĩa nhằm củng cố kiến thức văn học cho học sinh mà còn mang tính hữu ích, ứng dụng, góp phần tạo ra kiến thức tổng thể có hệ thống về môn học, ngoài ra còn góp phần hoàn thiện nhân cách để một ngời học sinh phát triển toàn diện về tri thức, biết cảm nhận cái hay cái
đẹp của cả mụt nền thơ ca
II Cơ sở thực tiễn của đề tài:
Căn cứ vào thực trạng đã khảo sát, hơn nữa phần thơ trữ tỡnh trung đại ViệtNam chiếm một số lượng và thời lượng lớn trong chương trỡnh học kỡ I lớp 7 nờngiáo viên càng phải cố gắng thâm nhập để có thể truyền tải hết nội dung, giá trịnghệ thuật của cỏc tỏc phẩm Từ đú giúp học sinh có cái nhìn tổng quát về một bộphận văn học có ý nghĩa tiền đề cho thể loại thơ trữ tình trung đại sau này
Chơng II: Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Qua thực tế giảng dạy ở các trờng THCS, tôi nhận thấy trong những năm gần
đây đội ngũ giáo viên dạy văn đã có nhiều cố gắng, tích cực đổi mới phơng phápgiảng dạy, nhiều giờ giảng văn thực sự có hiệu quả, không những cung cấp đợckiến thức văn học cho học sinh mà còn góp phần bồi dỡng tâm hồn tình cảm cho
Trang 7các em Song bên cạnh đó một số học sinh cha thực sự yêu thích môn Văn, một sốgiáo viên cha thực sự tích cực đổi mới phơng pháp giảng dạy Do vậy đòi hỏi ngờithầy phải không ngừng tự học, tự bồi dỡng chuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt đổimới phơng pháp giảng dạy trên lớp để thu hút và phát huy khả năng tích cực họctập của học sinh.
Hơn nữa trong thực tế hiện nay, nhiều phụ huynh có tâm lí không thích chocon học Văn, chỉ tập trung học Toán và các môn khoa học tự nhiên, bản thân họcsinh nhiều em ngại học Văn Tâm lí đó có thể một phần do cách giảng dạy của ngờithầy, một phần do nhận thức của phụ huynh Từ thực tế ấy xảy ra thực trạng là họcsinh cha yêu thích môn học, do vậy việc đổi mới giảng dạy Ngữ văn nói chung vàphần thơ trữ tỡnh trung đại Việt Nam nói riêng là rất cần thiết
Trớc khi viết Sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã khảo sát trên 90 em học sinh lớp 7trờng THCS Trần Hưng Đạo Với câu hỏi trắc nghiệm về lí do yêu thích học phầnthơ trữ tỡnh trung đại Việt Nam, về khả năng vận dụng trong cuộc sống, trong giaotiếp hàng ngày và về phơng pháp giảng dạy của giáo viên… do mở nhầm cửa ngkết quả thu đợc nh sau:
Em cú thớch học phần thơ trung đại
Em cú thường xuyờn sưu tầm cỏc bài
thơ khỏc thuộc phần thơ trữ tỡnh trung
đại Việt Nam khụng?
Trang 8Với câu hỏi khám phá, đặt tình huống : “Ph Em thích thầy cô bổ sung thêm những gìtrong giảng dạy ”? Với câu hỏi này, tôi đã nhận đợc một số đề xuất khá thú vị và
có ý nghĩa thiết thực nh :
+ Các thầy cô nên sưu tầm thờm những bài thơ trữ tỡnh trung đại khỏc
+ Giới thiệu thờm những nột cơ bản về cỏc tỏc giả
Tựu chung lại : từ thực tế trên cho thấy đa số học sinh đều yêu thích phần văn họcnày Đó là một thuận lợi cho việc nghiên cứu SKKN Nhng bên cạnh đó còn chothấy, mặc dù đã tích cực đổi mối phơng pháp giảng dạy nhng khi dạy phần văn họcnày , giáo viên cần bổ sung thêm một số nội dung để thực sự làm nổi bật đặc trngcủa thơ trữ tỡnh trung đại Việt Nam Đặc biệt là cỏc bài thơ thể hiện hào khớ Đụng
I Thống kờ cỏc văn bản thơ trữ tỡnh trung đại Việt Nam lớp 7:
D y đ c hi u th tr tỡnh, ểu thơ trữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một ơ trữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một ữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi mộtc bi t th tr tỡnh trung ệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một ơ trữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một ữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một đ i ũi h i m tđ ỏi một ộtcỏch ti p c n riờng khỏc v i d y cỏc v n b n t s , miờu t hay ngh lu n Choới dạy cỏc văn bản tự sự, miờu tả hay nghị luận Cho ăn bản tự sự, miờu tả hay nghị luận Cho ản tự sự, miờu tả hay nghị luận Cho ự sự, miờu tả hay nghị luận Cho ự sự, miờu tả hay nghị luận Cho ản tự sự, miờu tả hay nghị luận Cho ị luận Chonờn, trưới dạy cỏc văn bản tự sự, miờu tả hay nghị luận Choc khi d y, người thầy cần nắm được hệ thống cỏc văn bản thơ trữi th y c n n m ầy cần nắm được hệ thống cỏc văn bản thơ trữ ầy cần nắm được hệ thống cỏc văn bản thơ trữ ắm được hệ thống cỏc văn bản thơ trữ được hệ thống cỏc văn bản thơ trữc h th ng cỏc v n b n th trệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một ống cỏc văn bản thơ trữ ăn bản tự sự, miờu tả hay nghị luận Cho ản tự sự, miờu tả hay nghị luận Cho ơ trữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một ữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi mộttỡnh trung đ i trong chươ trữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi mộtng trỡnh Ng v n 7 ữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một ăn bản tự sự, miờu tả hay nghị luận Cho đểu thơ trữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một ừ đú cú định hướng, cỏch đ t ú cú đị luận Chonh hưới dạy cỏc văn bản tự sự, miờu tả hay nghị luận Chong, cỏchkhai thỏc riờng cho t ng c m b i, t ng b i Ta cú th theo dừi cỏc tỏc ph m thừ đú cú định hướng, cỏch ụm bài, từng bài Ta cú thể theo dừi cỏc tỏc phẩm thơ ài, từng bài Ta cú thể theo dừi cỏc tỏc phẩm thơ ừ đú cú định hướng, cỏch ài, từng bài Ta cú thể theo dừi cỏc tỏc phẩm thơ ểu thơ trữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một ẩm thơ ơ trữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một
tr tỡnh trung ữ tỡnh, đặc biệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một đ i l p 7 qua b ng h th ng sau: ới dạy cỏc văn bản tự sự, miờu tả hay nghị luận Cho ản tự sự, miờu tả hay nghị luận Cho ệt thơ trữ tỡnh trung đại đũi hỏi một ống cỏc văn bản thơ trữ
1 Sụng nỳi nước Nam Lý Thường Kiệt Thất ngụn tứ tuyệt
2 Phũ giỏ về kinh Trần Quang Khải Ngũ ngụn tứ tuyệt
3 Buổi chiều đứng ở phủ Trần Nhõn Tụng Thất ngụn tứ tuyệt
Trang 9Thiên Trường trông ra
5 Sau phút chia li Đặng Trần Côn (Đoàn
Thị Điểm dịch)
Song thất lục bát
6 Bánh trôi nước Hồ Xuân Hương Tứ tuyệt
7 Qua đèo Ngang Bà Huyện Thanh Quan Thất ngôn bát cú
cơ sở đó, dẫn dắt học sinh đi tìm cái hay, cái đẹp trong tư tưởng, nghệ thuật của tácphẩm
II Một số nét khái quát về thơ trữ tình Trung đại Việt nam
1 Đặc trưng thi pháp của thơ trung đại
Văn học trung đại nói chung và Thơ trữ tình trung Việt Nam đại nói riêng được ra đời trong bối cảnh xã hội phong kiến hình thành, phát triển và suy vong
Nó phản ánh thực tế lịch sử xã hội phong kiến từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX Đặcbiệt là những biến động của xã hội và thân phận con người Chủ đề xuyên suốt nhưsợi chỉ đỏ của thơ trung đại Việt Nam là cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo Các tác giả thơ Trung đại Việt Nam chủ yếu là những người có địa vị xã hội,
có những ảnh hưởng quan trọng cho sự phát triển của xã hội…Chính vì thế khi giảng dạy hoặc phân tích, bình giảng cần phải chú ý đến các đặc điểm cơ bản sau :
* Quan niệm “Văn dĩ tải đạo” : Văn chương phải chuyên chở đạo lý.
* Tính ước lệ, tượng trưng, quy phạm: Đây là đặc điểm nổi bật của văn
thơ trung đại Khi sáng tác, các tác giả thường vay mượn thi liệu điển cố, điển tíchlấy từ sách vở Thánh Hiền và kinh sách của các tôn giáo Chẳng hạn nói đến cây
Trang 10và hoa thì tùng, trúc, cúc, mai, sen…bởi chúng là những biểu tượng để chỉ nhữngphẩm chất cốt cách, khí tiết của người quân tử, của bậc trượng phu; nói đến con vậtthì phải long, ly, quy, phượng ; nói đến người thì ngư, tiều, canh, mục; nói đến hoabốn mùa thì phải là xuân lan, thu cúc, hạ sen, đông sen; tả mỹ nhân thì làn thuthủy, nét xuân sơn, tóc như mây, da như tuyết …
* Tính giáo huấn, bác học, cao quý, trang nhã: Đối tượng, mục đích của
văn thơ chủ yếu là đề cao thần quyền, cường quyền mang tính giáo hóa, giáo huấncon người với khuôn phép định sẵn Ngôn từ diễn đạt diễm lệ, tránh nói thô tục,nếu có thì dùng ngụ ý, ám chỉ chứ ít khi nói thẳng…
* Cảm thức về thế giới con người thời trung đại Việt Nam: Con người
thấy mình trong tự nhiên, với suy nghĩ trong vũ trụ có ta và trong ta có cả vũ trụ…
Vì thế khi nói về trời đất, về không gian, thời gian với nhiều cách thể hiện bằngnhiều sắc thái biểu cảm khác nhau như thời gian chu kỳ tuần hoàn, thời gian tuyếntính, thời gian vĩnh cửu, thời gian không gian được cảm nhận bằng nhiều giác quankhác nhau…Cho nên con người khi bất đắc chí tìm về thiên nhiên, vũ trụ như tìm
về cội nguồn Khi ngắm cảnh trời mây, họ cũng như mơ về nguồn cội NgườiTrung Quốc ý thức gia tộc, gia hương rất mạnh mẽ như Lý Bạch nhìn trăng mà nhớđến quê nhà (Tĩnh dạ tứ), cũng như trong thơ Đường luật của Việt Nam, Bà HuyệnThanh Quan nhìn cảnh Đèo Ngang mà nhớ về quê cũ…
* Cách biểu hiện: Cái tôi trữ tình hoà lẫn vào trong thiên nhiên ngoại cảnh,
nó tỉnh lược chủ ngữ, nó tan trong cảm xúc, cái tôi nó đạt tính phổ quát
* Cách diễn đạt: Gợi mà không tả, hoà quyện giữa thi, nhạc và hoạ.
* Ngôn ngữ: Từ ngữ sử dụng ở thơ Đường là những từ ngữ quen thuộc
nhưng lại có khả năng diễn đạt vô cùng tinh tế, phong phú Sở dĩ đạt được như thế
là vì công phu tinh luyện của các nhà thơ Vì thế, học thơ Đường là học tinh thầnlao động và sáng tạo của nhà thơ với vốn từ hữu hạn
* Đề tài: Đề tài trong thơ Đường không lấy gì làm phong phú nhưng không
hề trùng lặp vì những mối quan hệ từ ngữ Vì thế phải hướng dẫn học sinh chú ýnhững từ ngữ đắc địa( nhãn tự) vì đó là những từ có tính khái quát cao
Trang 11* Tứ thơ: Cái quan trọng nhất trong thơ Đường là tứ thơ Tư duy thơ Đường
là kiểu tư duy quan hệ, học sinh phải cảm nhận mối quan hệ giữa các sự vật trongkhông gian, quan hệ giữa con người với vũ trụ và quan hệ giữa con người với conngười Thơ ca nói chung cũng như thơ Đường nói riêng, nó không nói hết, khôngnói trực tiếp ý mình muốn nói mà để cho người đọc cùng suy nghĩ, cùng sáng tạo
Chính đặc điểm này đã tạo nên cái gọi là “ý tại ngôn ngoại”, “ngôn tận ý bất tận” Nói gọn lại: chính đặc điểm này mà thơ Đường cô đọng, súc tích, giàu tính
biểu tượng Nó gợi mà không tả để tạo nên một môi trường liên tưởng rộng Vậy,
ta giúp học sinh tham gia đồng sáng tạo cùng tác giả, học sinh cảm nhận được cáimạch ngầm của những tác phẩm thơ ca
2 Đặc điểm hình thức
Ở bậc Trung học cơ sở, thơ Đường luật các em được học một số thể thơ như:ngũ ngôn, thất ngôn với số dòng là tứ tuyệt, bát cú Vậy, trước hết ta phải hướngdẫn học sinh nắm được đặc điểm hình thức của thể thơ này
a Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật:
- Thể thơ này, bài thơ có bốn dòng, mỗi dòng có năm chữ, vần ở cuối các câu một,hai, bốn hoặc cuối câu hai, bốn
- Xét về thanh điệu: tiếng thứ hai với thứ tư trong mỗi câu phải đối nhau và tiếngthứ hai, thứ tư trong mỗi cặp câu cũng phải đối nhau Nghĩa là trong một dòng, nếutiếng thứ hai là tiếng bằng thì tiếng thứ tư phải là tiếng trắc, và ngược lại nếu tiếngthứ hai là tiếng trắc thì tiếng thứ tư phải là tiếng bằng
b Thể thơ thất ngôn bát cú:
- Về số chữ trong câu, số câu trong bài: Bài thơ có tám câu, mỗi câu có bảy chữ.
- Về vần: Độc vận, vần chân ở cuối câu một và các câu chẵn và là vần bằng.
- Về đối: Hai câu thực và hai câu luận thường đối nhau Có khi đối ngay ở hai câu
đề và trốn đối ở hai câu thực và hai câu luận
Trang 12- Về niêm: Niêm nghĩa là dính Câu một niêm với câu tám, câu hai niêm với câu
ba, câu bốn niêm với câu năm, câu sáu niêm với câu bảy
- Về luật: Theo hệ thống thanh ngang Cho phép: “ Nhất tam ngũ bất luận” và
buộc phải: “ Nhị tứ lục phân minh” Có luật bằng vần bằng và luật trắc vần bằng.
c Thất ngôn tứ tuyệt:
- Là dạng rút gọn của thể thơ thất ngôn bát cú: gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ
- Vần: Vần bằng và là vần chân ở câu một, hai, bốn; có khi chỉ ở câu hai và câubốn
K T C U C A CÁC TH TH T NGÔN T TUY T VÀ TH T NGÔN BÁT CÚẾT CẤU CỦA CÁC THỂ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT VÀ THẤT NGÔN BÁT CÚ ẤU CỦA CÁC THỂ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT VÀ THẤT NGÔN BÁT CÚ ỦA CÁC THỂ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT VÀ THẤT NGÔN BÁT CÚ Ể THẤT NGÔN TỨ TUYỆT VÀ THẤT NGÔN BÁT CÚ ẤU CỦA CÁC THỂ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT VÀ THẤT NGÔN BÁT CÚ Ứ TUYỆT VÀ THẤT NGÔN BÁT CÚ ỆT VÀ THẤT NGÔN BÁT CÚ ẤU CỦA CÁC THỂ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT VÀ THẤT NGÔN BÁT CÚ
Thất ngôn
tứ tuyệt
Thất ngôn
Phần 1 Khai Đề Giới thiệu tựa đề
Phần 2 Thừa Thực Giải thích, triển khai tựa đề
Phần 3 Chuyển Luận Bàn luận ý nghĩa của bài
Phần 4 Hợp Kết Tóm tắt ý nghĩa, bày tỏ thái độ, tình cảm
III Thực trạng việc giảng dạy các tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam trong nhà trường THCS hiện nay.
1.Về việc dạy của giáo viên :
Chúng ta đều biết rằng văn học trung đại là bộ phận văn học đồng hành với
sự phát triển của xã hội phong kiến Trong các tác phẩm đều viết bằng ngôn ngữHán văn cổ hay chữ Nôm có phần xa lạ với ngôn ngữ Tiếng Việt hiện đại ngàynay Vì vậy tìm hiểu, phân tích một tác phẩm văn học trung đại là việc làm khôngđơn giản Trong những năm vừa qua đội ngũ giáo viên dạy văn nói riêng đã đượctrang bị nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đã thực sự mang lại hiệuquả tốt Mặc dù vậy vẫn còn những hạn chế trong cách vận dụng phương pháp từđội ngũ Bản thân những người dạy văn về cơ bản đã tận tâm tận lực với nghề, tíchcực nghiên cứu tìm hiểu các kiến thức Tuy nhiên với sự đa dạng và phức tạp của
Trang 13văn học trung đại thì hiệu quả dạy phần văn học này vẫn không tránh khỏi nhữnghạn chế Các điển tích, điển cố của văn học trung đại là phức tạp và đa nghĩa Vìvậy đòi hỏi phải có một tư duy hết sức khoa học, hết sức sáng tạo đối với đội ngũgiáo viên khi thực hiện phần văn học quan trọng này.
2.Việc học của học sinh:
Thể loại, thi pháp văn học cổ có nhiều xa lạ với thi pháp văn học đương đạinên đó là điều khó khăn cho học sinh tiếp nhận.Vốn sống kinh nghiệm thực tế họcsinh còn ít, học sinh khó khăn khi tái hiện hoàn cảnh xã hội, hiểu các điển tích,điển cố được sử dụng trong tác phẩm văn học cổ Bên cạnh đó, trong quá trình pháttriển đi lên của đât nước, chúng ta có những thành tựu quan trong về lĩnh vực kinh
tế Tuy nhiên với cơ chế nền kinh tế thị trường đã tạo ra những phức tạp và nhữngảnh hưởng không lành mạnh đối với đời sống con người, nhất là thế hệ trẻ Đặcbiệt là đối tượng học sinh, trong đó có học sinh bậc trung học cơ sở Một bộ phậnlớn học sinh chịu ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực của xã hội chi phối nên ý thứchọc tập không cao, thiếu tự giác Trong khi đó, phần văn học trung đại là phần vănhọc khó nhất Vì thế, chất lượng học sinh thuyên giảm Ngoài ra, sự quan tâm,cách nhìn nhận của phụ huynh học sinh là sính học các môn Khoa học tự nhiêncũng có những ảnh hưởng không tích cực đến việc nỗ lực phấn đấu của học sinhđối với môn Ngữ văn Điều đó càng đòi hỏi phải có những giải pháp tích cực đểnâng cao chất lượng học bộ môn ngữ văn của học sinh, trong đó có phần văn họctrung đại Việt Nam
IV Một số phương pháp dạy thơ trữ tình trung đại lớp 7
1 Đối với khâu chuẩn bị
- Về phía giáo viên: tìm hiểu bài kĩ lưỡng nhuần nhuyễn đến mức thuộc thơ,sống với bài thơ, tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để hiểu được thấuđáo nội dung tư tưởng của tác phẩm Hướng dẫn học sinh soạn kĩ ở nhà, kiểm tra
kĩ bài soạn của học sinh, có biện pháp nhắc nhở, phê bình hay báo với giáo viênchủ nhiệm nếu học sinh có biểu hiện soạn chống đối như: soạn sơ sài, soạn nhưngchỉ là chép lại mà không hiểu, không nhớ