Đây là loại văn bản trực tiếp nói lí lẽ, được viết ra nhằm phát biểumột nhận định, tư tưởng, quan điểm, thái độ trước một vấn đề đặt ra trong cuộcsống, qua đó xác lập cho người nghe, ngư
Trang 1- Văn bản nghị luận chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình SGKNgữ văn THCS Đây là loại văn bản trực tiếp nói lí lẽ, được viết ra nhằm phát biểumột nhận định, tư tưởng, quan điểm, thái độ trước một vấn đề đặt ra trong cuộcsống, qua đó xác lập cho người nghe, người đọc một tư tưởng quan điểm nào đó.Văn bản nghị luận là kết quả chủ yếu của tư duy lôgíc.
- Dạy học văn bản nghị luận có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện cho họcsinh tư duy lôgíc; kĩ năng lập luận sắc bén, năng lực biểu đạt những quan niệm, tưtưởng một cách sâu sắc và bản lĩnh, tinh thần tự chủ trước đời sống Cụ thể hơn,kiến thức và kĩ năng được rèn luyện trong quá trình học tập về nghị luận và cáchnghị luận không chỉ giúp cho học sinh có khả năng làm văn mà có tác dụng hìnhthành năng lực cả về tư duy và sự thành công trong giao tiếp ảnh hưởng của vănnghị luận đạt được không chỉ trong phạm vi môn Ngữ văn mà còn lan tỏa đối vớitất cả các môn học khác trong trường phổ thông
Trang 2- Từ những lí do trên và qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn ở trườngtrung học cơ sở, tôi đã có ý thức tìm tòi, nghiên cứu và rút ra phương pháp dạyhọc văn bản nghị luận trong chương trình ngữ văn THCS Đây là cách dạy và họctheo tinh thần đổi mới phương pháp giảng dạy làm cho học sinh tiếp thu bài họcmột cách chủ động sang tạo và biết cách cảm thụ cái hay cái đẹp của một tác phẩmvăn chương Chính vì vậy mà tôi đã mạnh dạn đưa ra ý kiên này Rất mong có sựđóng góp tham gia của các đồng nghiệp
II Mục đích nghiên cứu:
- Rút ra được phương pháp dạy tác phẩm nghị luận theo tinh thần đổi mới, theohướng tích hợp để tạo ra sự gắn kết kiến thức trong một bộ môn, trong cả chươngtrình và giữa các bộ môn học khác nhau
- Giúp học sinh có thể hiểu bài một cách chủ động và sáng tạo
- Giúp học sinh có khả năng ứng xử nhanh nhạy trước những vấn đề phức tạp củacuộc sống; bồi dưỡng cho học sinh ý thức, trách nhiệm đối với cuộc sống; nângcao nhận thức, hiểu biết về những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội
III Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nhiệm vụ cơ bản của đề tài là chỉ ra được các cách cơ bản để dạy và học tácphẩm nghị luận trong môn Ngữ Văn trường THCS đặc biệt là lớp 8,9 ở trườngTHCS Trần Hưng Đạo, đồng thời đề xuất những kinh nghiệm thiết thực của bảnthân trong những tiết dạy cụ thể
IV Đối tượng nghiên cứu.
- Các tác phẩm nghị luận trong chương trình ngữ văn lớp 8,9 trung học cơ sở
- Học sinh khối 8 và 9 trường THCS Trần Hưng Đạo
V Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu (Lí luận tích hợp)
- Thực nghiệm ( giảng dạy) – Phương pháp chính
Trang 3- Khảo sát tình hình thực tế
- Tổng hợp đánh giá, thiết kế bài soạn tác phẩm nghị luận ở khối lớp 8 và lớp 9
VI Những đóng góp của đề tài.
- Qua việc áp dụng vào thực tế giảng dạy, tôi thấy đề tài đã mang lại những đónggóp không nhỏ trong việc tạo hứng thú học tập cho học sinh, đặc biệt là với thểloại văn nghị luận vẫn mang tiếng là khô khan này Không những thế tôi cũngnhận thấy kỹ năng viết văn nghị luận của các em cũng tốt hơn, sắc sảo hơn khi các
em hiểu rõ được vấn đề
*********************************************
Trang 4Phần thứ hai: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢNG DẠY TÁC PHẨM
NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS.
I Cơ sở lý luận:
Văn bản nghị luận là một trong 6 dạng văn bản trong sách giáo khoa Ngữvăn bậc THCS Cũng như các văn bản khác, ngoài mục đích văn chương, văn bảnnghị luận với những giá trị đặc trưng riêng đã đem lại cho học sinh những pháttriển mà mỗi dạng văn bản tạo ra từ chính giá trị của bản thân tác phẩm Vậy, tahiểu như thế nào về văn bản nghị luận?
Có nhiều cách phát biểu khác nhau về văn bản nghị luận Theo sách giáo
khoa Ngữ văn lớp 7, văn bản nghị luận là kiểu văn bản được dùng để trực tiếp
trình bày, phát biểu các tư tưởng, quan điểm bằng luận cứ và lập luận trước mộtvấn đề đặt ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểmnào đó, hoặc hướng tới giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống
Như vậy, mục đích của văn bản nghị luận trước hết là để đưa thông tin vànói lí lẽ Văn bản nghị luận thực chất là kiểu văn bản lí thuyết, văn bản trực tiếpnói lí lẽ
II Cơ sở thực tiễn:
Về đặc điểm của văn bản nghị luận, phần Tập làm văn về văn nghị luận
trong sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập hai; Ngữ văn 8, tập hai đã đề cập đến khá cụ
thể và sâu sắc Cụ thể trên các phương diện sau:
1/ Phạm vi đề tài và thể loại của văn bản nghị luận:
Trang 5Văn bản nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng và phổ biếntrong đời sống Khi cần trình bày một cách trực tiếp, mạch lạc, sâu sắc một tưtưởng, quan điểm nào đó trước cuộc sống, người ta thường dùng nghị luận làmphương thức biểu đạt chính Vì vậy, phạm vi đề tài của văn bản nghị luận rất rộng.
Đề tài của các văn bản nghị luận được lựa chọn dạy trong chương trình SGK Ngữvăn bậc THCS cũng vậy Qua các tiêu đề của các văn bản đủ để thấy sự phongphú, đa dạng của các vấn đề được đem ra bàn luận Từ đề tài chiến tranh, hòabình, chủ quyền độc lập quốc gia đến việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy truyềnthống, bản sắc văn hóa dân tộc; từ vai trò, vị trí, ý nghĩa đến đặc trưng nghệ thuậtcủa văn chương; từ phương pháp đọc sách đến những vấn đề về dịch bệnh, môitrường, Sự phong phú, đa dạng; tính cập nhật của đề tài nghị luận trong chươngtrình Ngữ văn phổ thông đã thể hiện rõ quan điểm dạy học văn gắn với thực tế đờisống, rút ngắn khoảng cách giữa văn học nhà trường với đời sống xã hội; nâng caovốn hiểu biết về văn hóa - xã hội nói chung cho học sinh
Về hình thức, văn nghị luận có thể tồn tại dưới dạng các bài bình luận thời
sự, bình luận kinh tế, quân sự, ;các bài tuyên ngôn, phát biểu ý kiến, diễn thuyết;
tiểu phẩm, chuyên luận, Các bài cáo, hịch, chiếu, biểu, tấu, cũng đậm chất nghị
luận
2/ Văn bản nghị luận – sản phẩm của tư duy logic:
Như chúng ta đã biết, văn bản nghị luận được dùng để trình bày trực tiếpmột tư tưởng, quan điểm bằng luận cứ và lập luận trước một vấn đề đặt ra trongcuộc sống, vì vậy có thể nói văn bản nghị luận là sản phẩm của tư duy logic, của lítrí
Trang 6Có thể thấy, văn chương hình tượng cũng có tính logic, nhưng đó là kiểulogic hư cấu nghệ thuật Còn đối với văn bản nghị luận, ở những phạm vi nhấtđịnh cũng có sử dụng trí tưởng tượng, nhưng nhìn chung văn bản nghị luận khôngcăn bản dựa vào trí tưởng tượng, hư cấu Văn bản nghị luận trước hết là sản phẩmcủa tư duy logic, của lí trí sắc bén và tỉnh táo, nhằm trình bày tư tưởng, quan điểmnào đó của người viết một cách rõ ràng, mạch lạc Văn bản nghị luận thuyết phụcngười đọc trong tính đúng đắn, khách quan, sắc bén của lập luận Ví dụ, Viễn
Phương viết Viếng lăng Bác trước hết để bày tỏ nỗi xúc động nghẹn ngào, trào
dâng của một người con lần đầu được vào lăng viếng Bác, thì cũng với niềm tôn
kính chân thành, nhưng viết Đức tính giản dị của Bác Hồ, tác giả Phạm Văn Đồng
trước hết nhằm làm sáng tỏ và thuyết phục người đọc nhận rõ rằng, giản dị là đứctính nổi bật ở con người vĩ đại Hồ Chí Minh,
3/ Lập luận và luận điểm trong văn nghị luận:
Nếu như trong văn tự sự và kịch, nhân vật, cốt truyện và xung đột, lànhững yếu tố cơ bản của tác phẩm thì trong văn bản nghị luận, luận điểm, lập luận,luận cứ, luận chứng là những yếu tố cơ bản làm nên tác phẩm
a/Về luận điểm:
Luận điểm là tư tưởng, quan điểm, chủ trương của tác giả về một vấn đềnào đó Luận điểm là linh hồn của bài văn,nó thống nhất các phần, các đoạn vănthành một khối
Nếu luận đề nêu lên đề tài, vấn đề, câu hỏi cần bàn luận, giải đáp thì luậnđiểm là những ý kiến thể hiện quan điểm, chủ trương của người nói, người viếtđược đưa ra nhằm giải đáp, làm sáng tỏ cho vấn đề hoặc câu hỏi đó giúp cho lí tríđược thông suốt
Trang 7Trong một bài văn nghị luận, luận điểm có thể có các cấp độ khác nhau.Tùy nội dung vấn đề và cách lập luận của người viết, bài văn có thể có một luậnđiểm chính, luận điểm trung tâm và các luận điểm phụ; có luận điểm tổng quát,bao trùm toàn bài và có luận điểm nhỏ là bộ phận của luận điểm lớn Chẳng hạn,
luận điểm bao trùm của văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới là “Bước vào
thế kỉ mới con người phải chuẩn bị hành trang như thế nào?” Luận điểm tổng quát
đó được triển khai thành các luận điểm nhỏ, bao gồm:
- Vai trò của con người trong hành trang vào thế kỉ mới;
- Những mục tiêu, nhiệm vụ của đất nước trong bối cảnh mới;
- Những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam
Việc xác định được hệ thống, các cấp độ của luận điểm trong văn bản làmột yêu cầu cấp thiết chứng tỏ khả năng hiểu sâu, khả năng thâu tóm vấn đề và kĩnăng tư duy logic, mạch lạc của người đọc
Luận điểm thường được diễn tả sáng tỏ, mạch lạc dưới hình thức một câu
khẳng định hay phủ định; thường có các từ là, có, không thể, đã, chẳng hạn
“Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới trước hết là sự chuẩn bị về mặt bản thân conngười”
b/Về luận cứ:
Luận cứ là lí lẽ và dẫn chứng được đưa ra làm cơ sở cho luận điểm Lí lẽ lànhững đạo lí, lẽ phải được thừa nhận, nêu ra là được đồng tình Dẫn chứng là sựvật, sự việc, số liệu, nhân chứng, bằng chứng, để chứng minh, làm sáng tỏ, xácnhận cho luận điểm Dẫn chứng phải tiêu biểu, xác thực, đáng tin cậy, không thểbác bỏ Lí lẽ và dẫn chứng phải đáng tin cậy mới làm cho luận cứ vững chắc Luận
cứ phải chân thật, đúng đắn, tiêu biểu mới làm cho luận điểm có sức thuyết phục
Chẳng hạn trong Nước Đại Việt ta (Ngữ văn 8), Nguyễn Trãi viết:
Trang 8Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Hai câu đầu là lí lẽ, nêu lên một nguyên lí đã được đúc kết, được thừa nhận,hai câu sau là dẫn chứng Trong quá trình đọc hiểu văn bản nghị luận, để phântích, đánh giá được tính đúng đắn của luận điểm, tính chặt chẽ, sắc bén của lậpluận thì việc xác định, phân tích luận cứ là một thao tác hết sức quan trọng và cầnthiết
c/Về lập luận:
Lập luận là cách nêu lên luận điểm và vận dụng lí lẽ, dẫn chứng sao choluận điểm được nổi bật và có sức thuyết phục Luận điểm được xem như kết luậncủa lập luận
Lập luận bao gồm các cách suy lí (quy nạp, diễn dịch), phân tích, chứngminh, phản bác, bình luận, so sánh, tổng hợp, sao cho luận điểm đưa ra là hợp lí,không thể bác bỏ Lập luận thể hiện trong cách viết đoạn văn và trong cách tổchức bài văn Mở bài cũng có lập luận, thân bài và kết bài đều có lập luận Có lậpluận mới đưa ra được luận điểm như là kết luận của nó
Ví dụ, luận điểm trung tâm của văn bản Chiếu dời đô (Ngữ văn 8) là: “Việc
định đô”
Để đi đến luận điểm ấy, tác giả phải làm sáng tỏ câu hỏi: Tại sao phải dời
đô về Thăng Long?
Trang 9Và tác giả đã lập luận rõ ràng:
- Dời đô là hợp với mệnh trời;
- Hai nhà Đinh, Lê không dời đô là không theo mệnh trời;
- Thành Đại La là nơi có đủ ưu thế để trở thành kinh đô đất nước
Để đánh giá cái hay, sức thuyết phục của văn bản nghị luận tất yếu phảiphân tích, đánh giá, chứng minh được mức độ chặt chẽ, sắc bén của lập luận và sựhợp lí của các cách thức lập luận mà các tác giả đã lựa chọn
4/ Bố cục, kết cấu trong văn bản nghị luận:
Trong văn bản nghị luận, tính chặt chẽ, logic của kết cấu văn bản là tiêu chíthứ nhất Để gây ấn tượng nghệ thuật, để tạo cho tác phẩm nhiều hàm nghĩa hoặc
để thể hiện dụng ý nghệ thuật của mình, tác giả truyện ngắn hay tiểu thuyết có thểbắt đầu câu chuyện từ kết thúc rồi mới đến diễn biến, còn đối với văn bản nghịluận, sáng tạo nào của người viết cũng phải nằm trong khuôn khổ nguyên tắc kếtcấu chung của văn bản nghị luận - đó là tính logic, chặt chẽ Kết cấu của văn bảnnghị luận thường được triển khai theo một hệ thống luận điểm, luận cứ, trình tựlập luận nhất định nhằm từng bước giải quyết, làm sáng tỏ vấn đề Thông thường,luận điểm trước là sự chuẩn bị cơ sở cho luận điểm sau, luận điểm sau tiếp thu vàphát triển kết quả của luận điểm trước để đi đến luận điểm cuối và cũng là kết luậncủa toàn bài Nhìn chung, có thể khái quát bố cục, trình tự lập luận của các vănbản nghị luận như sau:
Phần thứ nhất: Mở đầu, thường là trình bày cơ sở, tiền đề lí luận, vai trò, vị
trí của vấn đề được đem ra bàn luận
Trang 10Phần thứ hai: Khảo sát, phân tích tình hình thực tiễn, thực trạng của vấn đề
được đem ra bàn luận
Phần thứ ba: Bàn luận, phủ định hoặc khẳng định một quan điểm, tư tưởng
lập trường, thái độ; đề ra những chủ trương, giải pháp, biện pháp để khắc phục đốivới vấn đề được đem ra bàn luận
Phần thứ ba: Khẳng định, kết luận hoặc lời kêu gọi hành động.
5/ Ngôn ngữ, giọng điệu:
Nếu đặc trưng của tác phẩm văn chương hình tượng là tính hình tượng, gợicảm, gọt giũa, đa nghĩa thì đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ tác phẩm nghị luận làtính chính xác Để thuyết phục người đọc, phải viết lên sự thật, bởi bản thân sựthật có sức thuyết phục mạnh hơn tất cả Do vậy ngôn từ phải chính xác Chínhxác đến từng cung bậc và sắc thái Bên cạnh đó, giọng điệu chính trong văn bảnnghị luận là giọng phân tích, bình luận khẳng định hoặc bác bỏ Nếu tác phẩm vănchương hình tượng có thể phản ánh một cách phong phú, đa dạng các cung bậccảm xúc tinh tế của đời sống tâm hồn, tình cảm của con người từ yêu thương, giậnhờn, mộng mơ, hi vọng đến cảm giác cô đơn, buồn tủi, sầu muộn, thì do đặctrưng về thể tài, ngữ điệu trong văn bản nghị luận thường được tập trung ở các sắcthái: khảng khái, dõng dạc, tự tin, hùng hồn, thống thiết, đanh thép
6/ Tính chất đối thoại của văn bản nghị luận:
Trước hết, văn bản nghị luận viết ra nhằm để đối thoại, tranh luận về mộtvấn đề nào đó đang đặt ra trong cuộc sống, chính vì vậy, văn bản nghị luận luônluôn hướng tới một đối tượng người nghe nhất định (tuy nhiên, trong văn nghịluận, chủ yếu là đối thoại ngầm) Về mặt cú pháp, trong văn bản nghị luận thường
Trang 11có một tỉ lệ câu nghi vấn hoặc câu có tính chất nghi vấn nhiều hơn các loại vănbản văn chương hình tượng khác.
Ví dụ: Hịch tướng sĩ là cuộc đối thoại giữa chủ tướng và các tướng sĩ, trong
đó có rất nhiều câu hỏi trực tiếp
Hay Nước Đại Việt ta là một đoạn đối thoại gián tiếp với quân xâm lược
nhằm khẳng định chủ quyền, độc lập dân tộc
Hiểu được tính chất đối thoại của văn bản, xác định được mục đích, đốitượng giao tiếp của văn bản là điều vô cùng quan trọng trong quá trình đọc – hiểuvăn bản
****************************************
Chương II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Trước đây do quan niệm phiến diện về văn học nên nhiều người cho rằngvăn chương chỉ bao gồm những sáng tác bằng tưởng tượng, hư cấu mà ít nghĩ đếnvăn nghị luận Hoặc có nghĩ đến thì lại cho rằng đây là thể loại thường đề cập đếnnhững tư tưởng cao siêu, trừu tượng, lập luận khó, diễn đạt khô nên không hấpdẫn Do vậy mà văn chương nghị luận rất ít được đưa vào chương trình phổ thông.Mặt khác, mảng văn chương nghị luận này còn rất nghèo về đề tài, chưa phongphú về thể loại
Trong quá trình dạy, giáo viên lại thường chỉ chú ý khai thác nội dung làmtoát nên những quan điểm tư tưởng các các tác giả mà ít chú ý đến vẻ đẹp về hìnhthức nghệ thuật của các tác phẩm Vì thế việc dạy học các tác phẩm nghị luậnthường khô, không hấp dẫn đối với học sinh nên dẫn đến tình trạng học sinh chánhọc, học một cách chống đối, hời hợt
Trang 12Trên thực tế cả ở thế giới và Việt Nam văn chương nghị luận có lịch sử từrất lâu đời, nó không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao của đất nước,thời đại như công cuộc dựng nước, giữ nước, canh tân đất nước, mà còn rất gầngũi và có ý nghĩa trong đời sống công dân hiện nay Vì thế cụm văn bản nghị luậnđược tuyển chọn dạy trong chương trình Ngữ văn THCS hiện rất phong phú về đềtài và đa dạng về thể loại Đây là một trong sáu kiểu văn bản (miêu tả, tự sự, biểucảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính - công vụ) Phần văn bản nghị luận dànhcho đọc – hiểu chiếm một khối lượng đáng kể trong chương trình Văn bản nghịluận trong sách giáo khoa THCS được phân loại như sau:
- Phân bố số lượng văn bản nghị luận theo từng lớp:
Phân bố số lượng văn bản nghị luận trong SGK Ngữ văn THCS
- Phân loại văn bản nghị luận theo nội dung:
Theo sự phân chia này, văn bản nghị luận chia thành hai loại:
+ Nghị luận chính trị xã hội
+ Nghị luận văn học
Lớp Nghị luận chính trị xã hộiPhân loại văn bản nghị luận trong SGK Ngữ văn THCSNghị luận văn học
7 - Sự giàu đẹp của tiếng Việt - Tục ngữ về thiên nhiên và lao
Trang 13- Tinh thần yêu nước của nhân dân
- Tục ngữ về con người và xã hội
- Ý nghĩa văn chương
- Tiếng nói của văn nghệ
- Chó sói và cừu trong thơ ngụngôn của La Phông-ten
Thực tế giảng dạy của trường: Trường THCS Trần Hưng Đạo nằm ở trungtâm thị trấn Chũ nên trình độ nhận thức của các em học sinh cũng khá nhanh nhạy.Nhưng để cho các em có thể lĩnh hội được kiến thức cơ bản và cảm nhận đượcchất văn, tính nghị luận trong mỗi văn bản nghị luận lại không phải là điều dễdàng Vậy làm thế nào để học sinh có thể nhận thức, lĩnh hội được một lượng kiếnthức văn học nhất định và hơn nữa, qua các văn bản nghị luận các em có thể họctập, rèn những kĩ năng sống, xác lập được một tư tưởng, quan điểm, hoặc hướngtới giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống như thế nào đó là điều mà bảnthân tôi và đồng nghiệp chúng tôi luôn suy nghĩ, trăn trở Xuất phát từ thực tiễntrên, tôi xin trình bày một vài suy nghĩ của mình: Làm thế nào để dạy văn bảnnghị luận có hiệu quả nhất?
Trang 14Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta hãy xem xét khả năng giáo dục học sinh qua các giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận.
-Thứ nhất, bồi dưỡng cho học sinh ý thức, trách nhiệm đối với cuộc sống; nâng cao nhận thức, hiểu biết về những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội
Chẳng hạn, Bàn luận về phép học (Ngữ văn 8) của tác giả Nguyễn Thiếp
được viết từ thế kí XVIII nhưng những gì tác phẩm đề cập tới là vấn đề bức xúccủa xã hội ta ngày nay Bài tấu này giúp người đọc, người nghe xác định rõ mụcđích chân chính của việc học, tác hại của lối học hình thức, cầu danh lợi và gợi mởmột số phương pháp, biện pháp, hình thức học có hiệu quả Đây là vấn đề hết sứcgần gũi, có khả năng tác động trực tiếp đến động cơ, phương pháp học của họcsinh
Như vậy, nếu khai thác đúng đắn và sâu sắc những giá trị nội dung tư tưởngtrong tác phẩm nghị luận sẽ có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng, nhậnthức và quan điểm, thái độ tích cực đối với cuộc sống cho học sinh
-Thứ hai, rèn luyện cho học sinh khả năng ứng xử nhanh nhạy trước những vấn đề phức tạp đang đặt ra trong cuộc sống; phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo.
Giống như các văn bản nhật dụng, đọc - hiểu các văn bản nghị luận là mộtdịp để học sinh được trải nghiệm, được đặt mình vào các tình huống thực ở ngoàiđời Thông qua cách đặt và giải quyết vấn đề của tác giả, học sinh có thể học đượccách ứng xử nhanh nhạy, bản lĩnh, sự tự chủ, lập trường kiên định, cách thể hiệnquan điểm thái độ trước những vấn đề phức tạp đang đặt ra trong cuộc sống củamình, của quê hương, làng xóm của mình
Trang 15Đối với học sinh, nhất là học sinh bậc THCS, việc thể hiện bản lĩnh, chủkiến của mình trước mọi điều trong cuộc sống là một vấn đề khó khăn Trong môitrường học áp đặt, các em càng có ít cơ hội được thể hiện quan điểm, bản lĩnh củamình Do đó, qua những giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận, học sinh có dịp để thểhiện bản lĩnh, tinh thần tự chủ trước đời sống cũng như được rèn luyện, nâng caonăng lực tư duy logic và sáng tạo.
Chương III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Căn cứ vào tình hình thực tế học sinh, bám sát đặc điểm, phương pháp dạyhọc văn bản nghị luận, thông qua thực tế giảng dạy trên lớp, tôi xin đề xuất một sốphương pháp dạy học, thể cụ thể như sau:
1 Tái hiện sinh động không khí lịch sử, thời đại tạo nên tác phẩm:
Chúng ta biết rằng, mỗi văn bản nói chung, văn bản nghị luận nói riêngthường được ra đời (có xuất xứ) trong những tình huống, hoàn cảnh khá đặc biệt.Điều dễ gây được sự tò mò, hứng thú của học sinh chính là những chi tiết xúcđộng về tác giả, những câu chuyện lịch sử thú vị liên quan đến tác phẩm, Do đó,
để tạo tâm thế cho học sinh sẵn sàng đi vào tác phẩm, người thầy cần tái hiện sinhđộng không khí lịch sử, thời đại đã sản sinh ra tác phẩm Cũng giống như việc xâydựng “Biểu tượng lịch sử” trong việc giảng dạy môn Lịch sử, việc tái hiện khôngkhí sẽ tạo được sự hứng thú để học sinh tham gia vào đọc - hiểu văn bản
Ví dụ những câu chuyện về không khí chiến thắng giặc Minh vang dội khi
dạy Nước Đại Việt ta (Ngữ văn 8), những câu chuyện kể về Nguyễn Thiếp mấy lần từ chối lời mời của vua Quang trung khi dạy Bàn luận về phép học (Ngữ văn
8), chắc chắn sẽ thu hút mạnh mẽ trí tò mò, sự thích thú, độ tập trung chú ý của
học sinh
Trang 16Bên cạnh việc sử dụng các câu chuyện, giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh
để tái hiện không khí lịch sử Trong điều kiện hiện nay, khi công nghệ thông tin vôcùng phát triển, việc tìm kiếm tranh ảnh phù hợp với nội dung một bài dạy khôngphải là khó, chính vì vậy, kết hợp giữa câu chuyện lịch sử với kênh hình, học sinh
Trang 17quan điểm, thái độ, tình cảm của tác giả càng được bộc lộ kín bao nhiêu thì tácphẩm càng trở nên ý nhị, sâu sắc bấy nhiêu.
Ngược lại, đặc điểm cơ bản của văn nghị luận là: các tư tưởng, quan điểm,thái độ của người viết phải được xác lập, thể hiện một cách rõ ràng, trực tiếp quangôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu Thông tin trong văn bản nghị luận chủ yếu làthông tin lí lẽ So với văn bản văn chương hình tượng, ngôn ngữ trong văn bảnnghị luận có tính khách quan, chính xác, tính đơn nghĩa tương đối Chẳng hạn,
mục đích chính khi đọc các văn bản nghị luận như Tiếng nói của văn nghệ, Phong
cách Hồ Chí Minh (Ngữ văn 9), là để thu thập thông tin, lí lẽ, để biết được tiếng
nói của văn nghệ có giá trị như thế nào trong cuộc sống? Phong cách Hồ Chí Minhđược thể hiện ở những phương diện nào? từ đó xác định cho mình một quanđiểm, thái độ và hành động cần có trước những vấn đề được đặt ra
Khi đọc văn bản nghị luận cần phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng vănbản (không có yêu cầu nghiệm ngặt như đọc văn bản văn chương hình tượng)
Không thể đọc như đọc diễn cảm văn chương các văn bản Bàn về đọc sách,
Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới (Ngữ văn 9), Ngược lại, phải kết hợp với đọc
diễn cảm, phải thể hiện cảm xúc chủ quan và thay đổi ngữ điệu đọc nhằm bắt
trúng giọng điệu của tác giả khi đọc các văn bản Hịch tướng sĩ (Ngữ văn 8), Thuế
Trang 18tắt thực sự chưa được chú ý nhiều Mặc dù tóm tắt văn bản chưa phải là khái quát,nhưng đối với văn bản nghị luận, để tóm tắt phải biết khái quát ở một mức độ nhấtđịnh Do đó, rèn cho học sinh kĩ năng tóm tắt cũng chính là rèn kĩ năng khái quát.Hơn nữa, dung lượng văn bản nghị luận thường dài, lại chủ yếu là thông tin, lí lẽ,lập luận Vì thế, để học sinh dễ ghi nhớ, dễ vận dụng khi đọc - hiểu trong dạy học,cần rèn cho học sinh thao tác tóm tắt văn bản nghị luận.
Khi tóm tắt văn bản nghị luận, cần tuân theo cách thức, biện pháp sau:
Do đặc trưng thể loại, khi tóm tắt văn bản nghị luận, ta có thể tóm tắt theo
bố cục bài văn, cụ thể: theo hệ thống các luận điểm, luận cứ và theo trình tự lậpluận của tác giả Có thể vận dụng hai hình thức tóm tắt văn bản nghị luận như sau:
Tóm tắt thành dàn ý:
Ví dụ: tóm tắt văn bản Tiếng nói của văn nghệ (Ngữ văn 9).
1) Nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ
- Tác phẩm nghệ thuật lấy chất liệu ở thực tại đời sống khách quan nhưngkhông phải là sự sao chép đơn giản mà khi sáng tạo một tác phẩm, nghệ sĩ gửi vào
đó một cách nhìn, một lời nhắn nhủ của riêng mình
- Tác phẩm văn nghệ không cất lên những lí thuyết khô khan mà chứa đựngtất cả những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng của nghệ sĩ
- Nội dung văn nghệ còn là rung cảm và nhận thức của người tiếp nhận.2) Giải thích tại sao con người cần đến tiếng nói của văn nghệ
- Văn nghệ giúp cho chúng ta được sống đầy đủ hơn, phong phú hơn vớicuộc đời và với chính mình
Trang 19- Trong những trường hợp con người bị ngăn cách với cuộc sống, tiếng nóicủa văn nghệ sẽ là sợi dây buộc chặt họ với cuộc đời bên ngoài.
- Tác phẩm văn nghệ hay giúp cho con người vui lên, biết rung cảm và biếtước mơ trong cuộc đời còn lắm vất vả, cực nhọc
3) Con đường văn nghệ đến với bạn đọc và khả năng kỳ diệu của nó
- Văn nghệ có khả năng cảm hóa, sức mạnh lôi cuốn của nó thật là kỳ diệubởi đó là tiếng nói của tình cảm, tác động tới mỗi con người qua những rung cảmsâu xa từ trái tim
Tóm tắt thành một văn bản hoàn chỉnh, ngắn gọn.
Ví dụ: Hịch tướng sĩ (Ngữ văn 8)
Từ xưa đến nay, các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước đời nào cũng
có, ví như Kỉ Tín, Do Vu, Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang,
Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc Lòng ta đau xót, quên
ăn, quên ngủ; căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù, dẫu phảichết trăm nghìn lần ta cũng cam lòng
Ta đối với các ngươi rất ân tình Nhưng các ngươi nhìn thấy chủ nhục màkhông biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầuquân giặc mà không biết tức Hoặc ham mê những thú vui tầm thường Nếu giặctràn sang, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, lúc bấy giờ hậu quả thật khôn lường
Nay các ngươi phải lo huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên để người ngườiđều giỏi, có thể bêu đầu giặc Lúc bấy giờ ta cùng các ngươi sẽ để tiếng thơmmuôn đời
Trang 20Nay ta soạn Binh thư yếu lược Nếu các ngươi chăm chỉ chuyên tập sách
này thì mới phải đạo thần chủ, bằng không tức là kẻ nghịch thù
Việc hướng dẫn học sinh tóm tắt văn bản phải được duy trì thường xuyên,
có như vậy các em mới nắm chắc các thao tác, cách thức tóm tắt và nhớ các ý cơbản trong một văn bản nghị luận
3 Phát hiện, khái quát luận đề, luận điểm và phân tích luận đề, luận điểm:
a Phát hiện, phân tích luận đề:
Xác định luận đề trước khi vào đọc - hiểu chi tiết là để việc phân tích luậnđiểm, luận cứ, lập luận không tản mạn, vụn vặt Đối với văn bản, đoạn trích, đề tàithường thể hiện ở nhan đề tác phẩm, tên văn bản Vì vậy, để khái quát luận đề, bêncạnh việc đọc toàn bộ văn bản, Giáo viên cần hướng học sinh vào tiêu đề của vănbản, đoạn trích
Chẳng hạn, Chiếu dời đô, Bàn về phép học (Ngữ văn 8), Bàn về đọc sách
(Ngữ văn 9),
Các câu hỏi thường dùng để phát hiện, phân tích luận đề, như sau:
(?)Theo em, văn bản này bàn luận vấn đề gì? Hoặc
(?)Luận đề của văn bản này là gì?
(?)Tác giả bàn về vấn đề này nhằm mục đích gì? Hoặc
(?)Vấn đề được đem ra bàn luận có ý nghĩa, tầm quan trọng như thế nào?
b Phát hiện, phân tích, khái quát luận điểm:
Trang 21Trọng tâm của việc phân tích và dạy học văn bản nghị luận là luận điểm,luận cứ, luận chứng, lập luận Việc phát hiện, khái quát và phân tích luận điểmvừa là đầu mối vừa là mục tiêu quan trọng của một giờ đọc - hiểu văn bản nghịluận.
Quá trình phát hiện, khái quát luận điểm là quá trình đi tìm câu trả lời chocâu hỏi: “Viết văn bản (phần, đoạn) này, tác giả nhằm khẳng định điều gì?" Nóicách khác, để phát hiện được luận điểm, phải trả lời được câu hỏi “Quan điểm,chủ trương của tác giả về vấn đề này như thế nào?”
Chẳng hạn: Đoạn thứ nhất trong Chiếu dời đô, tác giả lí giải vấn đề gì?
Tuy nhiên, trên thực tế, việc phát hiện, tóm tắt, khái quát các ý thành luậnđiểm không hề dễ, đặc biệt là với đối tượng học sinh Trung tâm Để khái quátđược luận điểm phải qua thao tác tìm tòi, phát hiện, phân tích, Do đó, tùy vào nộidung từng bài, từng đoạn, phần cụ thể mà giáo viên phải có những cách thức, câuhỏi cụ thể để dẫn dắt, gợi ý học sinh từng bước phát hiện, phân tích và khái quátluận điểm
4 Lấy ví dụ, dẫn chứng tiêu biểu ngoài văn bản để phân tích, làm sáng
tỏ luận điểm:
1 Như chúng ta đã nói, văn bản nghị luận là văn bản thông tin, lí lẽ, lí
lẽ đó thường được chứng minh bằng những dẫn chứng tiêu biểu.Nhưng ở một số văn bản khác, dẫn chứng trong bài còn hạn chế làcho việc dạy học hết sức khó khăn (hoặc là ít dẫn chứng cụ thể, hoặc
có dẫn chứng nhưng do phong cách ngôn ngữ, hành văn nên dẫnchứng cũng rất khái quát, khó hiểu đối với học sinh Để học sinh