1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Làm văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 9

23 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 199 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, khả năng tự đánh giá, nhận xét về một vấn đề của họcsinh còn hạn chế nhiều.Trong quá trình giảng dạy môn ngữ văn lớp 9, giáo viêngiúp học sinh nắm vững các yêu cầu, cách làm

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Đã từ lâu, kiểu bài nghị luận luôn là kiểu bài khó đối với học sinh trườngtrung học cơ sở và kiểu bài thường gặp trong các kỳ thi cũng như các bài viết củahọc sinh lớp 9 trong năm học hay học lên những năm học trung học phổ thông hoặcvận dụng trong đời sống

Tuy nhiên, phân môn Tập làm văn ở trung học cơ sở khá nhiều kiểu bài nhưgiải thích, chứng minh, bình luận, phân tích … Các em lại phải tiếp xúc với thờilượng có hạn cho nên điểm đạt được trong bài làm và sự yêu thích việc làm văn củahọc sinh cũng chưa cao

Đối với học sinh lớp 9 là lớp cuối cấp, mặc dù học sinh chưa được học sâucác kiểu bài nghị luận ở các lớp dưới nhưng đã học về sự kết hợp sử dụng nhiều cácphép lập luận Bên cạnh đó, khả năng tự đánh giá, nhận xét về một vấn đề của họcsinh còn hạn chế nhiều.Trong quá trình giảng dạy môn ngữ văn lớp 9, giáo viêngiúp học sinh nắm vững các yêu cầu, cách làm bài nghị luận văn học ở từng kiểubài, nhưng về kĩ năng viết bài nghị luận về văn học của học sinh chưa thật thànhthạo, còn lúng túng, hành văn chưa mạch lạc, bố cục chưa rõ ràng, nhất là đối vớiđối tượng học sinh từ trung bình trở xuống Cho nên khi giảng dạy, cần phải chútrọng giúp học sinh và định hướng trong việc rèn luyện kĩ năng làm bài cho họcsinh, giúp học sinh biết cách làm bài, nhằm từng bước nâng cao chất lượng của bàiviết và hiệu quả của việc giáo dục, đáp ứng yêu cầu của mực tiêu giáo dục hiện nay

Chính vì những khó khăn đó nên tôi chọn đề tài này nhằm giúp học sinhnâng cao kỹ năng viết bài nghị luận cũng như góp phần giúp các em đạt kết quả caotrong các bài viết văn nghị luận và kỳ thi cuối học kỳ II, kỳ thi lên lớp 10 THPT

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trang 2

Chúng ta biết rằng mục tiêu chung của bậc học phổ thông là đào tạo conngười toàn diện, nhưng thực tế hiện nay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hộithường bị học sinh xem nhẹ, mặc dù kiến thức của các bộ môn này vô cùng quantrọng cho tất cả mọi người Muốn khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộmôn khoa học xã hội, không thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tíchcực đổi mới phương pháp dạy học văn, khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh,hình thành cho các em phương pháp học văn hiệu quả nhất.

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả giáo dục ở bộ môn ngữ văn trong nhà trườnghiện nay, giáo viên cần đặc biệt chú trọng hơn nữa trong việc rèn luyện kĩ năng nói

và viết (tạo lập văn bản) cho học sinh, nhất là rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận

về một vấn đề xã hội( một sự việc hiện tượng trong đời sống, một tư tưởng đạo lí),tác phẩm văn học ở chương trình ngữ văn lớp 9 THCS Đồng thời qua đó bồidưỡng thêm cho học sinh niềm say mê, yêu thích môn Ngữ văn THCS nói chung

III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Giáo viên cần cung cấp giúp cho học sinh nắm chắc những kiến thức cơ bản

về văn nghị luận nói chung và các kiểu nghị luận nói riêng( nghị luận một sự việchiện tượng trong đời sống, một tư tưởng đạo lí và tác phẩm văn học) Từ đó hướngdẫn rèn luyện cho các em kĩ năng từ viết đúng, dần dần hướng tới bài viết hay, có ý

tứ sâu xa, lời lẽ ngắn gọn, hàm súc, bài viết mạch lạc, gợi cảm và có sức thuyếtphục

IV ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Làm văn nghị luận trong chương trình

Ngữ văn lớp 9” nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường THCS

* Phạm vi nghin cứu:

- Các lớp 9B, 9C - Trường THCS Trần Hưng Đạo – Lục Ngạn- Bắc Giang

- Đề tài nghiên cứu: Một số biện pháp và kỹ năng cơ bản để làm bài văn

nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 9.

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trang 3

Trong quá trình giảng dạy thường phát hiện học sinh rất ngại khi phải tranhluận về một vấn đề nào đó trong học tập, hoặc khi muốn bảo vệ ý kiến của mình thìcũng không có những ý kiến lập luận rõ ràng, mạch lạc nên việc rèn luyện kỹ nănglàm văn nghị luận nhằm giúp học sinh biết trình bày một ý kiến, một quan điểm …một cách rõ ràng, gãy gọn, mạch lạc và liên kết là điều khó khăn Để đạt được mụcđích này, tôi vận dụng một số phương pháp để nghiên cứu đề tài như sau:

a Đọc và nghiên cứu tài liệu:

Qua chương trình giảng dạy, tới nghiên cứu các tài liệu có liên quan đếnmôn Ngữ văn lớp 7, 8, 9 nhất là phân môn Tập làm văn như sách giáo khoa, sáchgiáo viên, sách thiết kế giảng dạy, sách bồi dưỡng thường xuyên, sách báo thuộcvăn học, nhất là các tài liệu có liên quan đến việc rèn luyện kỹ năng làm văn nghịluận cho học sinh

b.Phương pháp điều tra:

Ngoài việc tự nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu phương pháp giảng dạy phùhợp với tiết dạy, tôi thường xuyên dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp trong tổ đểviệc vận dụng phương pháp giảng dạy đạt kết quả tốt hơn

Để học sinh có ý thức hơn trong học tập và rèn luyện, tôi thực hiện cáchình thức kiểm tra, luyện nói … phát huy tính tích cực, tính sáng tạo chủ động củahọc sinh

c Khảo sát thực tế:

Dạy thực tế các lớp 9 để nắm bắt những tồn tại trong cách làm bài của họcsinh, nhằm có hướng vận dụng phương pháp cho phù hợp

VI NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:

Nếu như đề tài nghiên cứu của tôi thành công và được áp dụng cho tất cả cáckhối lớp, sau khi học xong chương trình THCS thì học sinh có thể tự tin bước vàohọc tiếp chương trình THPT hoặc bước vào cuộc sống vì các em không còn sợmình sẽ nói lạc đề tài hay không biết cách diễn đạt các quan điểm, ý kiến, nhậnxét… của mình với vấn đề muốn đề cập đến Đồng thời qua đó góp phần bồidưỡng thêm cho các em hứng thú, niềm say mê và yêu thích môn Ngữ văn

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ

Trang 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN V THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Các văn bản chỉ đạo:

Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề cơ bản cấp thiết hiện nay Nghị

quyết Trung ương IV khóa VII đã xác định đổi mới phương pháp dạy học nghĩa là

phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp dạy học hiện đại để

bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề

Điều 24, Luật Giáo dục, (do Quốc Hội khóa X thông qua) đã chỉ rõ phương

pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Đây chính là những định

hướng hết sức cơ bản và thiết thực đối với ngành Giáo dục và Đào tạo

2 Các quan niệm khác về giáo dục:

Như chúng ta đã biết bài làm văn là dạng bài đặc thù của phân môn tập làm văn trong bộ môn ngữ văn,đặc biệt là kiểu bài nghị luận Bài văn nghị luận ra đời là

cả một quá trình lao động sáng tạo của giáo viên và học sinh Đó là sự tích hợp hài hòa kiến thức của ba phân môn: Văn học – Tiếng việt – Tập làm văn Bản chất của việc học thể loại ghị luận là người viết thường vận dụng nhiều thao tác, kĩ

năng( giải thích,chứng minh, phân tích, bình giảng ) để từ đó giúp các em biết trình bày một cách có lí lẽ, hấp dẫn những cảm nhận, suy nghĩ, đánh giá của mình

về một vấn đề văn học Hơn nữa, nghị luận là nêu lý lẽ, dẫn chứng để bảo vệ một quan điểm, một tư tưởng (luận điểm) nào đó Vì thế, muốn làm tốt một bài nghị luận xã hội hay nghị luận văn học đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng viết văn nghị luận Từ đoạn văn nghị luận, học sinh phải biết vận dụng các phép liên kết của Tiếng việt, phải có sự hiểu biết, vốn sống thực tế phong phú có thể vận dụng vào bài viết để có thể đánh giá đúng giá trị của tác phẩm

Học làm văn nghị luận cũng như mọi loại hình học tập khác là phải biết xây dựng từ sự hiểu biết cơ bản đến các mức độ cao.Trong khi rèn luyện kĩ năng cách làm bài văn nghị luận văn học thì mỗi một giáo viên cần chú ý phát huy, động viên tích cực sự sáng tạo của từng học sinh chứ không được gò ép theo những khuôn mẫu Chúng ta cần xác định đây là tiết dạy học rèn luyện, rèn phương pháp, kĩ nănglàm văn chứ không phải là giảng văn Vì thế cần tránh sa vào bình giảng và phân tích một tác phẩm hay một vấn đề cụ thể

Mỗi chúng ta ai cũng biết kỹ năng là thói quen mà đó là thói quen tốt Thóiquen đó được hình thành là do cả một quá trình học tập và rèn luyện tích lũythường xuyên của mỗi học sinh Và kỹ năng làm văn cũng vậy, đặc biệt là văn nghịluận, không thể một sớm một chiều mà có thể viết ngay được

Chính vì đặc thù của bộ môn và yêu cầu quan trọng của kiểu bài đối với họcsinh cuối cấp mà phải chú trọng nâng cao hơn kỹ năng khi làm văn nghị luận chohọc sinh lớp 9 trong năm học này

Trang 5

II CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.

Qua nhiều năm giảng dạy và hiện tại tôi đang phụ trách các lớp 9B, 9C bảnthân nhận thấy kỹ năng viết văn của các lớp còn đạt mức độ thấp dù là học sinhcuối cấp

Trong viết bài Tập làm văn số 5 là bình luận câu vấn đề Một hiện tượng khá

phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng Ngồi bên hồ dù

là hồ đẹp, nổi tiếng,người ta cũng tiện tay vứt rác xuống … Em hãy đặt ra nhan đề gọi ra hiện tượng ấy và viết bài văn nêu lên suy nghhĩ của mình tổng số bài ở các

mà thầy cô giáo cần phải quan tâm và chú trọng

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG

1 Thực trạng việc học văn và giảng dạy bộ môn:

Chúng ta thấy rằng những năm gần đây, ngành giáo dục không khỏi lo ngạitrước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với việc học văn ở các trường phổ thông.Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy văn là nhiều học sinh có năng khiếu văncũng không muốn tham gia đội tuyển văn Các em còn phải dành thời gian học cácmôn khác Phần lớn phụ huynh khi đã định hướng cho con mình sẽ thi khối A,B thìchỉ chủ yếu chú trọng các môn: Toán, Lý, Hóa, Sinh Điều đáng lo ngại hơn nữa, là

có không ít phụ huynh đã chọn hướng cho con thi khối A,B từ khi học tiểu học.Một bậc học mà học sinh còn đang được rèn nói, viết, mới bắt đầu làm quen vớinhững khái niệm về từ ngữ mà đã định hướng khối A,B thì vô cùng lo ngại

Trang 6

Mặt khác, một thực trạng khá phổ biến hiên nay trong các nhà trường là: Khi

HS tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản củahọc sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tả sai, bố cục và lời văn hết sứclủng củng, thiếu logic Đặc biệt có những bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng

củng

Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải nhận thấy rằng ở một số giáo viên khi

giảng dạy: Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận khôngnhỏ học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao Do điều kiện khách quan nênviệc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp trực quan vào tiết học hạn chế, ảnhhưởng đến chất lượng tiếp thu bài của học sinh Một số giáo viên chưa thực sự tâmhuyết với nghề, chưa khơi gợi được mạch nguồn cảm xúc , hứng thú và niềm say

mê văn học của học sinh

2 Sự cần thiết của giải pháp:

Trong năm học này, phân môn tập làm văn lớp 9 yêu cầu học sinh làm quenvới 2 dạng nghị luận: Nghị luận xã hội và nghị luận văn học, với thời lượng 10 tiết

Ở mỗi dạng bài thì có một tiết dành cho việc hướng dẫn làm kiểu bài nghịluận về tác phẩm truyện, còn các dạng khác thì không có tìm hiểu nên có đa sốcòn rất bỡ ngỡ khi bắt tay vào việc viết bài nghị luận Bên cạnh đó, một số học sinhtrung bình yếu ở các lớp chưa tích cực luyện tập Đối với những bài tập yêu cầuviết đoạn thì đa số học sinh chưa nhạy bén dẫn đến mất nhiều thời gian ở lớp, thậmchí có nhiều em không chịu khó suy nghĩ để viết Chính vì vậy mà kỹ năng viếtnghị luận của các em còn hạn chế

Từ những thực trạng của học sinh và những thực tế của chương trình đối vớimong muốn học sinh tiến bộ và đạt kết quả cao trong các bài viết nghị luận và đạtkết quả khả quan trong kì thi học kì II sắp tới nên cần phải rèn luyện cho học sinh

kỹ năng viết văn nghị luận bằng nhiều biện pháp thích hợp

CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHP THỰC HIỆN

1 Giáo viên hướng dẫn học sinh những điểm cần lưu ý khi viết đoạn văn, bài văn nghị luận lớp 9:

Trang 7

* Trong chương trình có các dạng nghị luận như sau:

a Nghị luận xã hội: Trong phạm vi tập làm văn ở trường cấp trung học cơ

sở, học sinh chỉ tập làm văn ở mức độ thấp như nghị luận về một sự việc, hiệntượng đời sống và nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

- Bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống thì người viết bàn về một

sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đềsuy nghĩ Sự việc, hiện tượng đời sống có thể là giúp bạn học tốt, giúp đỡ gia đìnhthương binh liệt sĩ, bảo vệ cây xanh trong khuôn viên nhà trường góp ý phê bìnhkhi bạn có khuyết điểm, đưa em nhỏ qua đường hoặc các hiện tượng xấu như hútthuốc lá, đua đòi, đi học muộn ……

- Bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí là bài nghị luận bàn về một tưtưởng đạo lí có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống con nguời Các tư tưởng, đạo

lí đó được đúc kết trong những câu tục ngữ, danh ngôn, ngụ ngôn, khẩu hiệu hoặckhái niệm

+ Ví dụ: khi học sinh viết một đọan văn nghị luận bàn về vấn đề Ý chí, Giáo

viên cần hướng dẫn học sinh xác định luận điểm và các luận cứ như:

Luận điểm: Ý chí

Lý lẽ: Nếu không có ý chí, nghị lực thì khó thành công

Luận cứ về các biểu hiện của ý chí: đưa câu nói của Bác Hồ

Thực chất nghị luận văn học ở lớp 9 phải có sự kế thừa, nâng cao kiến thức

đã cung cấp, kỹ năng đã rèn luyện ở các lớp 7,8 Nghị luận văn học ở đây có 2dạng:

- Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày những nhậnxét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tácphẩm cụ thể

- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là một nhận xét, đánh giá của mình vềnội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy

* Yêu cầu của kiểu bài:

- Phân tích: Nói tới phân tích tức là nói tới việc mỏ xẻ, chia tách đối tượng

ra thành các phương diện, các bộ phận khác nhau để tìm hiểu, khám phá, cắt nghĩa.Cái đích cuối cùng là nhằm để tổng hợp, khái quát, chỉ ra được sự thống nhất Nhưvậy, phân tích là yêu cầu phân tích tác phẩm để nêu ra nhận xét của nguwoif viết(người nói)

Trang 8

- Suy nghĩ: Là nhận xét, nhận định, phân tích về tác phẩm của người viết ở

gcs nhìn nào đó về chủ đề, đề tài, hình tượng nhân vật, nghệ thuật…

- Cảm nhận: Là cảm thụ của người viết về một hay nhiều ấn tượng mà tác

phảm để lại sâu sắc trong lòng người đọc về nội dung hay nghệ thuật hoặc cả nộidung và nghệ thuật

Như vậy, từ việc phân tích chỉ định về phương pháp, từ suy nghĩ nhấn mạnh tới nhận định, phân tích, từ cảm nhận lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của người viết.

nếu học sinh không hiểu thì đề bài yêu cầu gì đi nữa thì học sinh đều phân tích hết

*Hướng dẫn học sinh cách làm và viết đoạn văn nghị luận văn học:

Hướng dẫn học sinh viết bài văn phải có bố cục đầ đủ gồm ba phần: mở bài,thân bài, kết bài

Đối với bài thơ học sinh phải xác định được bố cục Phân tích theo lối cắtngang ở từng đoạn thơ, khổ thơ

Từ văn bản thơ, học sinh tiến hành chia đoạn và tìm những ý chính của mỗiđoạn đối với từng khổ thơ, đoạn thơ, câu thơ vẫn có thể chia tách ra thành các ýnhỏ được sau khi tìm được ý chính cảu mỗi đoạn thì biến những ý chính ấy thànhcác luận điểm

Ban đầu tập cho học sinh phân tích một câu, rồi đến hai câu Từ hai câu rồiđến mọt khổ thơ, từ khổ thơ (đoạn thơ) rồi đến bài thơ

+ Ví dụ 1: Khổ thơ đầu của bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồn cùng gió khơi.

Giáo viên tâp cho học sinh phân tích câu thơ thứ nhát, rồi đến câu thơ thứhai Phân tích một lượt hai câu (một và hai) Trong khi hướng dẫn học sinh phântích lưu ý cho học sinh không thể cắt ngang câu 3 vì câu thơ thứ 3 và câu thứ 4cùng nói về hoàn cảnh đoàn thuyền ra khơi, còn câu 1 và 2 là cảnh thiên nhiên khiđoàn thuyền ra khơi Cho nên để tách thành các ý nhỏ chỉ cắt câu thơ 1 và 2 ở khổthơ trên

Phân tích nghệ thuật cũng là nhằm biểu đạt nội dung, một ý tưởng nào đấy

mà tác giả muốn gửi gắm

Lưu ý là tránh diễm nôm các câu thơ thành văn xuôi Khi tiến hành diễnthành văn xuôi, thuật lại ý, tứ của câu chỉ trong trường hợp cái ý, tứ ấy rất mơ hồ,mỗi người hiểu một cách khác nhau

Trang 9

+ Ví dụ 2 : Khi viết đoạn văn nghị luận về nhân vật anh thanh niên có tinh

thần trách nhiệm cao trong bài Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long

Giáo viên cho học sinh xác định luận điểm cần viết là Tinh thần trách nhiệm

cao của anh thanh niên

Giáo viên hướng dẫn cho học sinh tìm các luận cứ để làm sáng tỏ luận điểmvừa nêu như:

Luận cứ 1: Tự nguyện nhận công tác một mình trên đỉnh Yên Sơn cao hainghìn sáu trăm mét

Luận cứ 2: Phải sống cô độc một mình trên đỉnh núi không một bóngngười quanh năm suốt tháng

Giáo viên hướng dẫn học sinh kết hợp giữa lí lẽ và luận cứ để tạo thành mộtđoạn văn nghị luận

*Hướng dẫn cụ thể ở từng phần:

* Mở bài:

Giáo viên trình bày quy trình ở đoạn văn phần mở bài về nhân vật văn học

và về đoạn thơ, bài thơ để học sinh nhậ biết qua đối chiếu sau:

(1) Giới thiệu tác giả -> (2) Tên tác

phẩm -> (3) Thời điểm, hoàn cảnh

Như vậy, nhìn vào phần mở bài của hai kiểu bài, học sinh sẽ thấy cả hai đề

có (1), (20), (3) giống nhau nhưng bắt đầu khác nhau từ (4) và (5) Điều này giúp học sinh dễ nhớ.

Giáo viên lưu ý cho học sinh có thể mở bài theo trình tự như thế nhưng cách trình bày trên là không bắt buộc, điều bắt buộc về nội dung phải có là (2) và (5) ở mỗi phần.

Về giới thiệu tác giả, mỗi tác giả học sinh phải thuộc ít nhất một câu.

* Ví dụ:

- Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn.

- Nguyễn Thành Long là một cây truyện ngắn.

- Chính Hữu là nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp.

- Viễn Phương là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng miền Nam từ những ngày đầu.

* Ví dụ: minh họa phần mở bài:

Trang 10

Đề 1: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lạng lẽ Sa Pa”

của Nguyễn Thành Long.

Nguyễn Thành Long là một cây truyện ngắn truyện ngắn “Lạng lẽ Sa Pa” được sáng tác vào mùa hè năm 1970, trong một chuyến đi lên Lào Cai của tác giả Nhân vật chính trong truyện là anh thanh niên Dù được miêu tả nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, anh thanh niên vẫn hiện lên trong lòng người đọc với bao vẻ đẹp đáng yêu, đáng khâm phục (Câu cuối có thẻ viết: Anh thanh niên nổi bật những phẩm chất tốt đẹp của con người trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ).

Đề 2: Phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Tỉnh.

Hữu Thỉnh vốn rất gắn bó với cuộc sống nông thôn Ông có nhiều bài thơ hay về con người và cuộc sống nông thôn, về mùa thu Bài thơ “Sang thu” được Hữu Thỉnh sáng tác gần cuối năm 1977, giới thiệu lần đầu tiên trên báo Văn nghệ Bài thơ là những cảm nhận, suy tư của nhà thơ về sự biến chuyển của đất trời từ

hạ sang thu.

Từ hai đề trên, giáo viên cho học sinh đối chiếu với phần mở bài ở tùng kiểu bài thì học sinh dễ dàng viết đoạn mở bài Cách mở bài này dành cho đối tượng học sinh từ trung bình trở xuống.

** Thân bài:

- Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc trích:

Giáo viên hướng cho học sinh viết đoạn theo cách trình bày nội dung đoạn văn theo lối diễn dịch hoặc quy nạp Giáo viên cho học sinh nắm cáh trình bày nội dung diễn dịch hoặc quy nạp bằng sơ đồ để học sinh dễ nhậ biết hơn.

+ Diễn dịch: (1) (câu chủ đề nêu luận điểm)

(2) (3) (4) …

Các câu (2), (3), (4) là các câu nêu các ý chi tiết, cụ thể để làm sáng tỏ câu chủ đề Như vậy, các câu (2), (3), (4) có thể là dãn chứng, là nhậ xét, đánh giá của người viết.

Đoạn văn thực hiện như sau: (1) Câu chủ đề luận điểm -> (2) Dẫn chứng lấy từ tác phẩm (chọn 1 hoặc 2 dẫn chứng) -> phân tích, nhận xét, đánh giá từ dẫn chứng để làm sáng tỏ ý đã nêu ở câu chủ đề Các câu này phải viết thành đoạn văn.

Ví dụ: (1) Anh thanh niên là người rất khiêm tốn (2) Khi ông họa sĩ muốn

vẽ chân dung của anh (3) anh hào hứng giới về những con người đáng để vẽ hơn

Trang 11

mình (4) Đó là ông kĩ sư ở vườn rau dưới Sa Pa vượt qua bao khó khăn vất vả để tạo ra những củ su hào to hơn, ngon hơn cho nhân dân, à anh cán bộ khí tượng dưới trung tâm suốt mười một năm chuyên tâm nghiên cứu và thiết lập bản đồ rét (5) Anh thấy đóng góp của mình bình thường nhỏ bé so với những con người ấy (6) Anh thấy thấm thía sự hi sinh thầm lặng của những con người ngày đêm làm việc lo nghĩ cho đất nước ở nơi mảnh đất nghĩa tình Sa Pa này.

Như vậy: Câu (1) là câu chủ đề luận điểm.

Câu (2) là câu chuyển để đưa dẫn chứng.

Câu (3), (4) là dẫn chứng gián tiếp từ tác phẩm.

Câu (5) và (6) là những câu phân tích, nhận xét từ dẫn chứng của người viết.

Cái khó là học sinh không biết phân tích, nhận xét nên giáo viên cho học sinh đặt câu hỏi để trả lời như: Vì sao anh lại giới thiệu những con người khác ở

Sa Pa? Anh nghĩ điều gì mà giới thiệu như vậy? Học sinh trả lời đúng, nghĩa là học sinh đã biết nhận xét, đánh giá.

Quy nạp là cách trình bày ngược với cách diễn dịch Giới thiệu cách quy nạp để học sinh biết và viết đúng nhằm thay đổi thao tác lập luận trong khi làm bài.

Học sinh xác định được đặc điểm, tính cách của nhân vật theo trình tự diễn biến của truyện thì học sinh lần lượt viết được đoạn văn ở phần thân bài.

- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:

Đầu tiên, giáo viên phải hình thành cho học sinh quy trình xây dựng đoạn khi phân tích một đoạn thơ, khổ thơ như sau:

(1) Nhận xét khái quát về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ ấy (câu này gọi là câu dẫn) -> (2) Dẫn chứng đoạn thơ, khổ thơ -> (3) Giảng giải, cắt nghĩa (từ, ngư, câu thơ) -> (4) Liên hệ, mở rộng, so sánh -> (5) Nhậ xét cách sử dụng nghệ thuật

và phân tích nghệ thuật ấy (chú ý vào các chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, mà ở đó, các ý nghĩa độc đáo, tài năng nghệ thuật của tác giả được bộc lộ - lựa chọn chi tiết không dàn trải) -> (6) Nhận xét, đánh giá về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ (phần này có thể về cảnh, về tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trực tiếp hoặc nhân vật trữ tình nhập vai).

Các câu (1), (2), (5), (6) thường bắt buộc phải có khi phân tích Câu (3), (4) tùy theo đoạn thơ, khổ thơ mà thực hiện Riêng câu (4) học sinh khá, giỏi thường dùng đẻ mở rộng ý.

Ngày đăng: 20/04/2018, 07:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w