1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tìm hiểu về hoạt động quản trị công ty chứng khoán Bảo Việt

39 147 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 324,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TRONG CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAMI. Công ty chứng khoán1. Khái niệmCTCK là tổ chức có tư cách pháp nhân kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán, thực hiện một hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.2. Mô hình hoạt động – cơ cấu tổ chức Trên thế giới hiện nay tồn tại hai mô hình: chuyên doanh và đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán.3. Nghiệp vụ kinh doanh Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư.II. Hoạt động quản trị tại công ty chứng khoán ở Việt Nam1. Khái niệm Quản trị doanh nghiệp là những cơ chế, quy định thông qua đó công ty được điều hành và kiểm soát. Cơ cấu quản trị doanh nghiệp xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa những thành viên khác nhau trong công ty, bao gồm các Cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát và những người liên quan khác của công ty.2. Thực trạng quản trị tại công ty chứng khoán ở Việt Nam2.1Cơ sở lý luận về quản trị công ty Vấn đề cốt lõi của quản trị công ty gắn với quyền sở hữu. Khái niệm quản trị công ty xuất hiện cùng với sự ra đời của những công ty cổ phần đại chúng. ðặc thù của loại doanh nghiệp này là những cổ đông bên ngoài công ty có rất ít cơ hội để biết rằng tiền đầu tư của mình đã được doanh nghiệp sử dụng như thế nào và phần lợi ích mà họ được chia có cân xứng với giá trị vốn đầu tư và tình hình hoạt động của công ty hay không. Về mặt khái niệm, quản trị công ty chính là “một tập hợp các quy trình, thông lệ, chính sách, quy tắc và thể chế chi phối cách thức điều hành, quản lý và kiểm soát một công ty”. Do vậy, các nguyên tắc quản trị công ty ra đời nhằm giúp các cổ đông “sử dụng quyền và nghĩa vụ của mình để quản lý một cách hiệu quả nhất tình hình hoạt động và phân phối quyền lợi của một công ty cổ phần đại chúng”. Quản trị công ty có hai mục tiêu chính: (i) Tối đa hóa giá trị cổ đông và (ii) bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông nhỏ và người có quyền lợi liên quan. Mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ đông đòi hỏi các nguyên tắc quản trị công ty phải được thực hiện sao cho công ty hoạt động sinh lời và giá trị đầu tư của cổ đông liên tục tăng trưởng, thể hiện ở giá cổ phiếu trên thị trường. Mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông nhỏ và người có quyền lợi liên quan yêu cầu công ty thực hiện các nguyên tắc về đảm bảo thực thi quyền cổ đông một cách công bằng thông qua hoạt động của hội đồng quản trị, đại hội đồng cổ đông, tránh xung đột lợi ích và công bố thông tin đầy đủ trên thị trường chứng khoán. Theo thông lệ quốc tế, có 04 nhóm nguyên tắc quản trị công ty chính được áp dụng với mọi công ty cổ phần, trong đó có công ty chứng khoán, bao gồm: (i)Các nguyên tắc về cơ cấu, tổ chức của công ty đại chúng, bao gồm các nguyên tắc về cơ cấu hội đồng quản trị, ban giám đốc, ban kiểm soát, cơ chế hoạt động, phối hợp và chế độ thù lao của các bộ máy này. ðây là nhóm nguyên tắc nhằm đảm bảo rằng công ty cổ phần có những bộ máy cần thiết để Hội đồng quản trị người đại diện cho quyền lợi của các cổ đông có thể vận hành và quản lý công ty một cách hiệu quả và sinh lời. (ii)Các nguyên tắc về nghĩa vụ và trách nhiệm của thành viên hội đồng quản trị và ban Giám đốc trước cổ đông, những người có liên quan và xã hội. Đây là nhóm nguyên tắc nhằm đảm bảo rằng thành viên của hai bộ máy vận hành công ty thực hiện đầy đủ các trách nhiệm và nghĩa vụ vì lợi ích tối cao của cổ đông, những người có liên quan đến công ty (stakeholders), bao gồm nhân viên, những người làm công cho công ty, nhà cung cấp, chủ nợ, khách hàng, người tiêu dùng, cơ quan quản lý và cộng đồng (xã hội). (iii)Các nguyên tắc về thực hiện quyền của cổ đông và đại hội đồng cổ đông. Đây là nhóm các nguyên tắc về quyền của cổ đông và việc thực hiện các quyền của cổ đông thông qua cơ quan quyền lực tối cao là đại hội đồng cổ đông, phương thức triệu tập, tổ chức và biểu quyết tại đại hội đồng cổ đông để thông qua những vấn đề về điều hành và quản lý công ty. Đại hội cổ đông chính là phương tiện để cổ đông thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong công ty cổ phần. (iv)Các nguyên tắc về minh bạch và công bố thông tin. ðây là nhóm các nguyên tắc nhằm đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động của công ty cổ phần thông qua việc thực hiện công bố thông tin, lập báo cáo tài chính và kiểm toán các báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính được lập một cách trung thực, được kiểm toán và việc công bố thông tin đầy đủ là căn cứ để cổ đông có thể nắm bắt, đánh giá về tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của công ty, biết được đồng vốn đầu tư của mình đang được sử dụng và sinh lời ra sao, lợi nhuận đầu tư có được quản lý và phân bổ một cách công bằng, hợp lý hay không. Bên cạnh đó, báo cáo tài chính và thông tin được công bố cũng là nguồn thông tin quan trọng để các chủ nợ, đối tác, nhà cung cấp, cơ quan quản lý, những người hưởng lợi khác từ hoạt động của công ty, cộng đồng và xã hội có thể đánh giá chính xác hoạt động của công ty, nhằm đưa ra những quyết định phù hợp trong mối quan hệ của những chủ thể này với công ty cổ phần đại chúng. Bốn nhóm nguyên tắc trên bao gồm nhiều nguyên tắc và phù hợp với mọi công ty cổ phần đại chúng, cho dù công ty đang hoạt động trên lĩnh vực nào. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết chỉ tập trung phân tích 03 nguyên tắc quan trọng nhất trong quản trị công ty đối với công ty chứng khoán với tư cách là một tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính. Ba nguyên tắc này bao gồm: Kiểm soát rủi ro Tránh xung đột lợi ích Thực hiện các quy tắc đạo đức nghề nghiệp.

Trang 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang chủ của CTCK Bảo Việt: http://www.bvsc.com.vn/

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 2

Với sự ra đời ban đầu là Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước(28/11/1996) đếnnay, TTCK Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ về quy mô, không ngừng hoànthiện về cấu trúc, thông qua các hoạt động kinh doanh chính như môi giới, tựdoanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư, các CTCK đã góp phần thanhkhoản cho thị trường, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường và thúc đẩy hội nhập quốc tế, trở thành kênh dẫn vốnquan trọng của nền kinh tế.

Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp của TTCK trong thời gian qua, đặcbiệt cuộc khửng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã ảnh hưởng không nhỏđến hoạt động kinh doanh của các CTCK Việt Nam Nhiều yếu kém của cáccông ty dần lộ diện: số lượng các công ty quá nhiều so với quy mô thịtrường,năng lực tài chính yếu kém, khả năng cạnh tranh chưa cao, công tác quảntrị của công ty chưa hiệu quả… dẫn đến hậu quả kinh doanh kém, thậm chínhiều công ty rơi vào tình trạng thua lỗ nhiều năm, mất khả năng thanh khoản

và nằm trong diện cảnh báo đặc biệt của UBCKNN

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng nêu trên, song một trong nhữngnguyên nhân chính là do công tác quản tr ị trong hoạt động kinh doanh của cácCTCK chưa tốt Thực tế cho thấy hoạt động kinh doanh chứng khoán là loạihình kinh doanh tiềm ẩn rủi ro lớn do đối tượng kinh doanh liên quan trực tiếpđến các loại chứng khoán có biến động giá mạnh và thường xuyên Vì vậy, hoạtđộng quản trị trong CTCK là thực sự cần thiết, đặc biệt là trong thời kì xu thếhội nhập với các thị trường tài chính quốc tế như hiện nay Nhận thấy điều đó,nhóm 10 thảo luận và lựa chọn nghiên cứu đề tài: “ Tìm hiểu về hoạt độngquản trị công ty chứng khoán Bảo Việt”

CHƯƠNG 1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TRONG CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

I Công ty chứng khoán

Trang 3

1 Khái niệm

CTCK là tổ chức có tư cách pháp nhân kinh doanh trong lĩnh vực chứngkhoán, thực hiện một hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới, tự doanh, bảo lãnhphát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận

2 Mô hình hoạt động – cơ cấu tổ chức

Trên thế giới hiện nay tồn tại hai mô hình: chuyên doanh và đa năng kinhdoanh tiền tệ và chứng khoán

3 Nghiệp vụ kinh doanh

Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành, tư vấnđầu tư

II Hoạt động quản trị tại công ty chứng khoán ở Việt Nam

1 Khái niệm

Quản trị doanh nghiệp là những cơ chế, quy định thông qua đó công ty đượcđiều hành và kiểm soát Cơ cấu quản trị doanh nghiệp xác định quyền hạn vàtrách nhiệm giữa những thành viên khác nhau trong công ty, bao gồm các Cổđông, Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát và những người liênquan khác của công ty

2 Thực trạng quản trị tại công ty chứng khoán ở Việt Nam

2.1Cơ sở lý luận về quản trị công ty

Vấn đề cốt lõi của quản trị công ty gắn với quyền sở hữu Khái niệm quảntrị công ty xuất hiện cùng với sự ra đời của những công ty cổ phần đạichúng ðặc thù của loại doanh nghiệp này là những cổ đông bên ngoài công

ty có rất ít cơ hội để biết rằng tiền đầu tư của mình đã được doanh nghiệp sửdụng như thế nào và phần lợi ích mà họ được chia có cân xứng với giá trịvốn đầu tư và tình hình hoạt động của công ty hay không Về mặt khái niệm,quản trị công ty chính là “một tập hợp các quy trình, thông lệ, chính sách,quy tắc và thể chế chi phối cách thức điều hành, quản lý và kiểm soát một

Trang 4

công ty” Do vậy, các nguyên tắc quản trị công ty ra đời nhằm giúp các cổđông “sử dụng quyền và nghĩa vụ của mình để quản lý một cách hiệu quảnhất tình hình hoạt động và phân phối quyền lợi của một công ty cổ phần đạichúng”

Quản trị công ty có hai mục tiêu chính: (i) Tối đa hóa giá trị cổ đông và(ii) bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông nhỏ và người có quyềnlợi liên quan Mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ đông đòi hỏi các nguyên tắc quảntrị công ty phải được thực hiện sao cho công ty hoạt động sinh lời và giá trịđầu tư của cổ đông liên tục tăng trưởng, thể hiện ở giá cổ phiếu trên thịtrường Mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông nhỏ và người

có quyền lợi liên quan yêu cầu công ty thực hiện các nguyên tắc về đảm bảothực thi quyền cổ đông một cách công bằng thông qua hoạt động của hộiđồng quản trị, đại hội đồng cổ đông, tránh xung đột lợi ích và công bố thôngtin đầy đủ trên thị trường chứng khoán Theo thông lệ quốc tế, có 04 nhómnguyên tắc quản trị công ty chính được áp dụng với mọi công ty cổ phần,trong đó có công ty chứng khoán, bao gồm:

(i) Các nguyên tắc về cơ cấu, tổ chức của công ty đại chúng, bao gồm

các nguyên tắc về cơ cấu hội đồng quản trị, ban giám đốc, ban kiểmsoát, cơ chế hoạt động, phối hợp và chế độ thù lao của các bộ máynày ðây là nhóm nguyên tắc nhằm đảm bảo rằng công ty cổ phần

có những bộ máy cần thiết để Hội đồng quản trị- người đại diện choquyền lợi của các cổ đông- có thể vận hành và quản lý công ty mộtcách hiệu quả và sinh lời

(ii) Các nguyên tắc về nghĩa vụ và trách nhiệm của thành viên hội đồng

quản trị và ban Giám đốc trước cổ đông, những người có liên quan

và xã hội Đây là nhóm nguyên tắc nhằm đảm bảo rằng thành viêncủa hai bộ máy vận hành công ty thực hiện đầy đủ các trách nhiệm

và nghĩa vụ vì lợi ích tối cao của cổ đông, những người có liên quan

Trang 5

đến công ty (stakeholders), bao gồm nhân viên, những người làmcông cho công ty, nhà cung cấp, chủ nợ, khách hàng, người tiêudùng, cơ quan quản lý và cộng đồng (xã hội)

(iii) Các nguyên tắc về thực hiện quyền của cổ đông và đại hội đồng cổ

đông Đây là nhóm các nguyên tắc về quyền của cổ đông và việcthực hiện các quyền của cổ đông thông qua cơ quan quyền lực tốicao là đại hội đồng cổ đông, phương thức triệu tập, tổ chức và biểuquyết tại đại hội đồng cổ đông để thông qua những vấn đề về điềuhành và quản lý công ty Đại hội cổ đông chính là phương tiện để

cổ đông thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong công ty cổphần

(iv) Các nguyên tắc về minh bạch và công bố thông tin ðây là nhóm các

nguyên tắc nhằm đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động của công

ty cổ phần thông qua việc thực hiện công bố thông tin, lập báo cáotài chính và kiểm toán các báo cáo tài chính Báo cáo tài chính đượclập một cách trung thực, được kiểm toán và việc công bố thông tinđầy đủ là căn cứ để cổ đông có thể nắm bắt, đánh giá về tình hìnhhoạt động kinh doanh và tài chính của công ty, biết được đồng vốnđầu tư của mình đang được sử dụng và sinh lời ra sao, lợi nhuậnđầu tư có được quản lý và phân bổ một cách công bằng, hợp lý haykhông Bên cạnh đó, báo cáo tài chính và thông tin được công bốcũng là nguồn thông tin quan trọng để các chủ nợ, đối tác, nhà cungcấp, cơ quan quản lý, những người hưởng lợi khác từ hoạt động củacông ty, cộng đồng và xã hội có thể đánh giá chính xác hoạt độngcủa công ty, nhằm đưa ra những quyết định phù hợp trong mối quan

hệ của những chủ thể này với công ty cổ phần đại chúng

Bốn nhóm nguyên tắc trên bao gồm nhiều nguyên tắc và phù hợp với mọicông ty cổ phần đại chúng, cho dù công ty đang hoạt động trên lĩnh vựcnào Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết chỉ tập trung phân tích 03 nguyên

Trang 6

tắc quan trọng nhất trong quản trị công ty đối với công ty chứng khoánvới tư cách là một tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính Ba nguyên tắc nàybao gồm:

- Kiểm soát rủi ro

- Tránh xung đột lợi ích

- Thực hiện các quy tắc đạo đức nghề nghiệp

3.2 Thực trạng quản trị tại các công ty chứng khoán Việt Nam

Thực trạng hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam cho thấy, hầu hết các định chế trung gian này đều thực hiện chưa tốt 03 nguyên tắc nêu trên

Thứ nhất, mục tiêu của nguyên tắc về kiểm soát rủi ro là nhằm đảm bảo công tychứng khoán hoạt động lành mạnh, giá trị cổ đông tăng trưởng liên tục Kiểmsoát rủi ro hiện nay đang là vấn đề đáng lo ngại nhất của các công ty chứngkhoán Việt Nam Lạm dụng đòn bẩy tài chính, cung cấp tín dụng cho nhà đầu tưmua chứng khoán một cách bất hợp pháp và vượt quá ngưỡng kiểm soát rủi rocủa công ty chứng khoán đã trở thành chuyện hàng ngày của thị trường

Trong hai năm gần đây(, để cạnh tranh, nhiều công ty cho vay đầu tư chứngkhoán với tỷ lệ đòn bẩy tài chính từ 100% tới 300%, các dịch vụ cho vay khácnhư cho vay ứng trước ngay sau khi có kết quả khớp lệnh, repo cổ phiếu chưaniêm yết, cho vay bảo chứng, cho vay 100% thời gian T+1, T+2, thậm chí đếnT+7, hợp tác với các ngân hàng thương mại để cung cấp dịch vụ cầm cố chứngkhoán, ứng trước tiền bán chứng khoán

Thông qua công tác giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoáncho thấy, không ít công ty chứng khoán cho nhà đầu tư “VIP” vay để giao dịchvới số tiền lên tới 30-40 tỷ đồng Giai đoạn thị trường tăng trưởng nóng khiếncác công ty chứng khoán đã lãng quên các nguyên tắc về quản trị rủi ro, nhằmchạy theo việc cạnh tranh và thu hút khách hàng Gần đây nhất, dư luận thịtrường xôn xao vì thông tin một số nhà đầu tư VIP đã sử dụng đòn bẩy tài chính

để lừa các công ty chứng khoán Nhóm nhà đầu tư này đã được công ty chứngkhoán hỗ trợ tài chính để liên tục mua vào vài chục tỷ đồng cổ phiếu AAA, đẩygiá cổ phiếu này lên mức cao ngất ngưởng rồi chính nhóm này lại mở tài khoản

Trang 7

mới tại các công ty chứng khoán khác, sử dụng đòn bẩy tài chính lên đến 70%giá trị giao dịch để mua lại số cổ phiếu này Như vậy, với chiêu bài dùng tiềncủa chính công ty chứng khoán để mua vào tay này, bán ra tay kia, nhóm nhàđầu tư này đã thu về vài chục tỷ đồng rồi “biến mất”, để lại “nạn nhân” là một

số công ty chứng khoán ôm đống cổ phiếu AAA mà giá trị thị trường liên tục đixuống Thông tin chi tiết về sự kiện này tuy chưa được cơ quan quản lý chứngkhoán xác nhận cụ thể nhưng có thể coi đây là bài học quý báu về kiểm soát rủi

ro cho các công ty chứng khoán

Bên cạnh đó, tình trạng thua lỗ của hầu hết các công ty chứng khoán trongnăm 2010 cũng phần nào phản ánh việc quản trị kinh doanh và quản trị rủi rochưa tốt của các doanh nghiệp này Báo cáo tài chính quý 3-2010 cho thấy, tại

25 CTCK đang niêm yết trên sàn có đến 9 công ty thông báo lỗ quý 3 (đều ở sànHNX) Lỗ nặng nhất là CTCK Kim Long (KLS), tới 193 tỷ đồng (lũy kế 9tháng KLS lỗ 203 tỷ đồng) CTCK Bảo Việt (BVS) thông báo lỗ 83,6 tỷ đồng;lũy kế 9 tháng lỗ của BVS là 74,6 tỷ đồng CTCK Rồng Việt (VDS) quý 3 cũnglâm vào tình trạng thua lỗ gần 25,5 tỷ đồng Chứng khoán Hải Phòng- HPC lỗnặng quý 3 với 42,9 tỷ đồng; CTCK Công Thương lỗ 26,96 tỷ đồng ðiều nàyđặt ra nhiều dấu hỏi về tình hình quản trị của các công ty chứng khoán

Thứ hai, một trong những nguyên tắc quan trọng trong quản trị công tychứng khoán là tránh xung đột lợi ích Với tư cách là tổ chức cung cấp dịch vụ,tránh xung đột lợi ích là nhằm đảm bảo rằng công ty chứng khoán tôn trọngquyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, cung cấp tốt dịch vụ, duy trì cũngnhư phát triển được cơ sở khách hàng bền vững Tuy nhiên, các công ty chứngkhoán Việt Nam cũng chưa thực hiện triệt để nguyên tắc này Tránh xung độtlợi ích thể hiện ở hai lĩnh vực chủ yếu: (i) Tách biệt tài sản của công ty chứngkhoán và tài sản khách hàng, tách biệt tài sản của các khách hàng với nhau; (ii)thực hiện đúng các nguyên tắc ưu tiên trong thực hiện lệnh của khách hàng.Thực hiện nguyên tắc này, trong những năm gần đây, UBCKNN đã rất vất vảtrong việc yêu cầu các công ty chứng khoán thực hiện tách biệt tiền của kháchhàng và tiền của công ty Mặc dù quy định được UBCKNN ban hành từ năm

2007, nhưng cơ quan này mới chỉ thực sự thúc giục các công ty chứng khoánthực hiện quy định tách biệt tài sản trong 2 năm 2008 và 2009 Kết quả là cókhoảng 20/105 công ty thực hiện Tuy nhiên, đến năm 2010, do tính chất phứctạp của việc yêu cầu nhà đầu tư mở tài khoản tại ngân hàng thương mại và kếtnối tài khoản này với các giao dịch chứng khoán, hầu hết các công ty chứngkhoán lại quay lại phương thức sử dụng một tài khoản tổng cho tất cả các nhà

Trang 8

đầu tư tại ngân hàng Với phương thức này, sự tách biệt tài sản của nhà đầu tư làkhông tồn tại, vì thế nếu có tình trạng công ty chứng khoán lạm dụng tiền củanhà đầu tư này để cho nhà đầu tư khác vay mua chứng khoán thì cơ quan quản

lý chứng khoán cũng khó lòng giám sát được

Bên cạnh đó, việc tôn trọng và thực hiện đúng các nguyên tắc về ưu tiên lệnhcủa khách hàng cũng chưa được các công ty chứng khoán thực hiện triệt để.Năm 2010 là một năm báo chí và công luận ghi nhận các giao dịch thao túng thịtrường xảy ra nhiều nhất từ trước tới nay Những cổ phiếu của doanh nghiệp cóhoạt động bình thường hoặc thua lỗ đột nhiên tăng giá chóng mặt chỉ trong thờigian ngắn như AMV, MKV, HTV, HHC và nhiều mã cổ phiếu khác Một số vụthao túng giá chứng khoán mà cơ quan quản lý phát hiện được đều cho thấy dấuhiệu đặt lệnh dồn dập đầu phiên, cuối phiên hoặc sát giờ khớp lệnh định kỳ đểtác động đến giá mở cửa hoặc giá tham chiếu Dư luận thị trường cho rằng nếuthiếu sự “giúp đỡ” của nhân viên công ty chứng khoán, những nhà đầu tư thựchiện các hành vi thao túng giá này khó lòng có thể đặt lệnh như vậy Báo cáogiám sát của các Sở Giao dịch Chứng khoán năm 2009 cho thấy, có tới 77% các

vi phạm của công ty chứng khoán thành viên là vi phạm về việc đặt, hủy và sửalệnh sai quy định Hiện tượng này một mặt làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợppháp của cộng đồng đầu tư, một mặt giảm niềm tin của thị trường vào chính cáccông ty chứng khoán

Thứ ba, thực hiện các quy tắc đạo đức nghề nghiệp (code of conduct) là mộttrong những nguyên tắc về quản trị của công ty chứng khoán Nguyên tắc nàynhằm đảm bảo rằng công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ một cách tốt nhấtcho khách hàng và giảm thiểu rủi ro đạo đức Hầu hết các công ty chứng khoánđều xây dựng những quy chế quản trị nội bộ, cá biệt có công ty xây dựng bộquy tắc đạo đức nghề nghiệp áp dụng trong công ty Tuy nhiên, việc vi phạmcác quy tắc đạo đức nghề nghiệp của nhân viên công ty chứng khoán vẫn cònphổ biến trên thị trường Điển hình là vụ nhân 5 viên môi giới chứng khoán bắtcóc con gái, tống tiền chính khách hàng của mình Một số công ty chứng khoánnhư Thiên Việt, Công ty chứng khoán Phố Wall đã bị khách hàng khiếu nại vềviệc lạm dụng tài khoản khách hàng Có không ít trường hợp dư luận dị nghị vềcông ty chứng khoán thổi phồng tình hình lợi nhuận và kinh doanh để thu hútkhách hàng; tiết lộ thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của công tyniêm yết cho người thân và bạn bè để trục lợi từ việc có trước thông tin; cạnhtranh thiếu lành mạnh bằng cách tung tin thất thiệt về đối thủ; nhân viên công tymôi giới tham gia vào việc tung tin đồn về việc “đánh lên” một số cổ phiếu nhất

Trang 9

định hoặc chính bản thân các công ty chứng khoán cũng tham gia vào các “độilái” để làm giá trên thị trường chứng khoán; hoặc nhân viên công ty chứngkhoán sau khi chuyển sang công ty khác đã tiết lộ bí quyết kinh doanh của công

ty cũ cho công ty mới Mặc dù cơ quan quản lý chứng khoán có rất ít thông tinphản hồi về những vụ việc này, nhưng đây là những câu chuyện được bàn luậnsôi nổi của giới kinh doanh chứng khoán và những người tham gia hầu hết đềucho rằng thị trường chứng khoán cần một “quy tắc đạo đức nghề nghiệp”

Thách thức cạnh tranh trước thực trạng quản trị công ty yếu kém như vậy,thách thức của công ty chứng khoán Việt Nam càng trở nên lớn hơn trước thềmhội nhập của thị trường tài chính Bản thân sự cạnh tranh giữa các công tychứng khoán trong nước đã rất gay gắt do số công ty chứng khoán đang hoạtđộng quá nhiều (105) trong khi quy mô thị trường chứng khoán nhỏ Hiện nay

cơ quan quản lý nhà nước đang tạm thời áp dụng giải pháp tạm đình chỉ việccấp phép thành lập công ty chứng khoán mới Tuy nhiên, đến thời điểm1/1/2012, theo các cam kết WTO, Chính phủ sẽ phải dỡ bỏ hạn chế này để đảmbảo sự đối xử công bằng với công ty chứng khoán trong nước và nước ngoài vàcho phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được thành lập các công tychứng khoán 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Việc cấp phép mới cho công

ty chứng khoán nước ngoài với nhiều thế mạnh nổi trội về tài chính, công nghệ

và bí quyết kinh doanh sẽ đẩy một số công ty chứng khoán đến nguy cơ giải thể,phá sản, phải sáp nhập để tăng sức cạnh tranh hay bị mua lại bởi các công tychứng khoán nước ngoài Quản trị công ty yếu kém thể hiện trên cả ba phươngdiện quản trị rủi ro, tránh xung đột lợi ích và thực hiện các quy tắc đạo đức nghềnghiệp là một nhược điểm khiến các công ty chứng khoán trong nước khó lòngduy trì được hoạt động và cơ sở khách hàng của mình để cạnh tranh với nhau vàcạnh tranh với các tổ chức trung gian 100% vốn nước ngoài

Ngoài ra, trong Lễ công bố Báo cáo thường niên DN VN 2016-2017 doPhòng Thương mại và Công nghiệp VN tổ chức, nhiều chuyên gia đã tỏ ra rấtmạnh mẽ về tình hình báo động ở các công ty chứng khoán ở Việt Nam và nêunhững quan điểm rất đáng xem xét sau:

* Doanh nghiệp các công ty chứng khoán đang “mơ hồ”

Theo Báo cáo của VCCI, trong năm 2014, mức điểm trung bình về khả năngquản trị của doanh nghiệp Việt Nam là 35,1, thấp hơn nhiều so với Thái Lan(84,5) , Malaysia (75,2), Singapore (70,7) hay Indonesia (57,3) Trong năm

2015, Việt Nam cũng không có đại diện nào lọt vào Top 50 doanh nghiệp niêmyết có chất lượng quản trị công ty tốt nhất khu vực ASEAN

Trang 10

Điều này cho thấy tình trạng đáng báo động của khả năng quản trị DN VN, bởicon số thống kê trên mới là của những DN đã niêm yết, những DN tiên tiến, vậynếu tính cả những DN chưa niêm yết “bức tranh” quản trị DN sẽ còn tệ hơn.Trả lời câu hỏi về nguyên nhân của thực trạng này, Ông Phan Đức Hiếu, Phó

viện trưởng, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương cho rằng: “Lý do đầu tiên nằm ở vấn đề nhận thức, nhận thức của DN về vai trò, tầm quan trọng của quản trị công ty hiện nay còn chưa cao, thậm chí nhiều DN đã hoạt động nhưng chưa có điều lệ hay bộ quy tắc quản trị công ty Đây chính là nguyên nhân cho sự phát triển theo tỷ lệ nghịch giữa quy mô doanh nghiệp với khả năng quản trị công ty”.

Theo ông Hiếu, để doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh và hội nhập cần những yếu

tố là cạnh tranh tạo sự khác biệt, cạnh tranh dựa theo chi phí sản xuất và cạnhtranh theo quy mô

“Nếu quy mô công ty càng lớn nhưng khả năng quản trị công ty kém hoạt động kinh doanh sẽ không bền vững Đồng thời sẽ không được đánh giá cao trên bản

đồ đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài” ông Hiếu nhấn mạnh.

Ông Hiếu nêu rõ, quản trị công ty có vai trò hết sức quan trọng với sự phát triểnbền vững của DN Theo đó, quản trị công ty tốt sẽ giúp huy động nguồn vốn dểdàng và đặc biệt giúp giải quyết tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp

Cũng về vấn đề này, ông Vũ Chí Dũng – Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Ủy banChứng khoán Nhà nước cho rằng, quản trị công ty tốt sẽ thu hút đầu tư, cảithiện hoạt động của doanh nghiệp

“Tuy nhiên, dù đã có thời gian phát triển tương đối dài, nhưng khái niệm quản trị công ty với nhiều lãnh đạo doanh nghiệp còn rất mới mẻ, lẫn lộn giữa quản trị công ty với quản trị tác nghiệp” ông Dũng chia sẻ.

Kết quả khảo sát 400 doanh nghiệp theo mô hình hiện đại (công ty TNHH, công

ty cổ phần, doanh nghiệp FDI) trong năm 2016 của VCCI cũng cho thấy, 40%doanh nghiệp chỉ công bố Báo cáo tài chính; tỷ lệ doanh nghiệp chỉ công bốBáo cáo thường niên là 6,5%; tỷ lệ doanh nghiệp công bố cả Báo cáo tài chính

và Báo cáo thường niên là gần 23% Đặc biệt, có tới 30% không công bố báocáo nào

Điều này cho thấy, quá trình thực hiện nguyên tắc quản trị công ty ở Việt Namchưa tốt, DN VN chưa nhận thức đúng mực vai trò của quản trị công ty Do đó,doanh nghiệp Việt Nam chưa tạo ra niềm tin và chưa đưa ra hiệu quả tốt trongkinh doanh

Trang 11

* Việc quản trị của các công ty chứng khoán quy định “xa” thực tiễn

Ông Phan Đức Hiếu cho biết thêm, Luật DN 2014 đã quy định 3 vấn đềrất quan trọng đối với quản trị DN Đó là đưa ra mô hình quản trị mới; chế địnhtrách nhiệm HĐQT và quản trị đối với DN nhà nước Trong đó, phân biệt rất rõtrách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của HĐQT Tuy nhiên, rất ít DN nhận thứcđược tầm quan trọng của quản trị DN, vẫn còn nhầm lẫn giữa sở hữu và quản lý,

số đông còn chưa mạnh dạn áp dụng mô hình quản trị mới

“Như vậy, khoảng cách giữa quy định và thực tiễn trong quản trị doanh nghiệp Việt Nam khá xa nhau” Phó viện trưởng, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế

Trung Ương chia sẻ

Ông Hiếu cũng cho rằng, môi trường và chế định chưa thực sự tạo thuận lợi chothực thi và áp dụng chế định trách nhiệm người quản lý, đặc biệt là hệ thống cơquan liên quan đến giải quyết khởi kiện người quản lý

Minh họa cho điều này, ông Hiếu dẫn chứng về mâu thuẫn trong quản trị doanhnghiệp Nhà nước, cụ thể là mức độ phức tạp trong vai trò đại diện của đại diệncông ty có vốn nhà nước Trách nhiệm HĐQT đang bị “đánh đồng” giữa tráchnhiệm với quyền và nghĩa vụ Khi một người quản lý được giao quyền và nhiệm

vụ thì đó đơn thuần là quyền và nghĩa vụ Nhưng người quản lý đó thực hiệnquyền và nghĩa vụ ấy như thế nào thì đó là trách nhiệm Người quản lý phảithực hiện quyền và nghĩa vụ một cách trung thành, trung thực và cẩn trọng Đâycũng là lúc mâu thuẫn trong vai trò của người quản lý xuất hiện khi một ngườicùng đại diện cho nhiều vai trò: cổ đông đại diện cho vốn nhà nước, cổ đôngcủa công ty, đồng thời là người quản lý công ty

Cụ thể, nếu ở vai trò của cổ đông đại diện cho phần vốn nhà nước, cổ đông đó

có những quyết định dựa trên quyền và lợi ích của cổ đông là nhà nước, nhưngkhi ở vai trò cổ đông công ty những quyết định sẽ ảnh hưởng bởi lợi ích cánhân, vai trò nhà quản lý cũng tương tự Nói cách khác, mục tiêu của người đạidiện cho cổ đông của công ty là tối đa hóa lợi nhuận trong khi đó, mục tiêu củađại diện vốn nhà nước là “hài hòa hóa” các lợi ích này nhằm lợi ích tối đa hóacho doanh nghiệp và nhà nước

Như vậy, những quyết định của cá nhân ở mỗi vị trí, vai trò khác nhau lại khácnhau, việc kiêm nhiệm nhiều vị trí sẽ gây xung đột lợi ích giữa các vai trò,nhiệm vụ và mục tiêu

* Việc quản trị của các công ty chứng khoán cần định chế trung gian

Đưa ra giải pháp cho việc khắc phục vấn đề nêu trên, ông Hiếu kiến

nghị, thứ nhất cải thiện hệ thống tư pháp về quản trị công ty, về quyền cổ đông.

Tăng cường nhận thức về quản trị công ty

Trang 12

Thứ hai, cần phải tách bạch giữa sở hữu và quản trị điều hành doanh

nghiệp Cụ thể là tách bạch hoàn toàn người điều hành doanh nghiệp với ngườiđại diện cho phần vốn Nhà nước (trường hợp DN Nhà nước) và tách bạch với

cổ đông (trường hợp DN TN) , tạo bộ máy quản trị độc lập

Đồng thời ông Hiếu cũng khẳng định, luật Doanh nghiệp chỉ là yêu cầutối thiếu Bởi vậy các doanh nghiệp cần phải quản trị công ty tốt hơn, phát triểnmạnh mẽ các bộ quy tắc quản trị là cần thiết

“Quản trị công ty tốt giống như một trái tim của doanh nghiệp cũng luôn khỏe mạnh Doanh nghiệp sẽ có cơ sở để phát triển một cách bền vững” ông

Hiếu khẳng định

Thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức trung gian để tạo áp lực ngược Hiệnnay, Malaysia hiện đang làm rất tốt điều này, bằng cách liên kết các cổ đôngnhỏ để tạo tiếng nói lớn Trong khi đó doanh nghiệp Việt Nam lại đang thiếu áplực từ thị trường và bên thứ ba

Ông Phan Đức Hiếu đặc biệt cho rằng: “Định chế trung gian sẽ hữu hiệu hơn

cả khuôn khổ pháp luật”.

Thứ ba, nhà đầu tư phải thông minh và nhanh nhạy hơn trước khi tham gia đầu

tư vào một mô hình doanh nghiệp

Quản trị công ty là chủ đề năm trong Báo cáo Thường niên Doanh nghiệp ViệtNam 2016/2017 trong đó đưa ra bức tranh toàn cảnh về phát triển doanh nghiệpViệt Nam năm 2016 với những khuyến nghị chính sách hỗ trợ doanh nghiệp,nâng cao năng lực cạnh tranh, nhất là trong cải thiện năng lực quản trị công ty

Để cải thiện chất lượng quản lý công ty nói chung, các chuyên gia đã chỉ ra một

số công cụ bao gồm: Thành lập Viện thành viên hội đồng quản trị theo mô hìnhnhiều nước trên thế giới, áp dụng chuẩn mực kế toán Báo cáo tài chính quốc tế,tôn vinh các doanh nghiệp thực hiện tốt quản trị công ty, các gói giải pháp quảntrị của các công ty chứng khoán, kiểm toán và nâng cao vai trò của các hiệp hộidoanh nghiệp

Trang 13

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TRONG CÔNG

TY CHỨNG KHOÁN BẢO VIỆT

I Khái quát về công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt:

- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN BẢO VIỆT

- Tên tiếng anh: BAOVIET SECURITIES COMPANY

- Biểu tượng công ty:

- Vốn điều lệ: 450.000.000.000 đồng ( bốn trăm năm mươi tỷ đồng)

- Trụ sở chính: số 8 Lê Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

- Chi nhánh: số 11 Nguyễn Công Trứ, quận 1, TP Hồ Chí Minh

- Thời gia hoạt động của công ty: 50 năm

- Ngày nghề kinh doanh của công ty:

+ Môi giới chứng khoán

+ Tự doanh chứng khoán

+ Bảo lãnh phát hành chứng khoán

Trang 14

+ Tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính

+ Lưu ký chứng khoán

- Lịch sử hình thành:

- Công ty chứng khoán Bảo Việt là công ty chứng khoán đầu tiên thành lập tại Việt Nam với cổ đông sáng lập là Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính, chính thức hoạt động kể từ ngày 26/11/1999 với vốn điều lệ ban đầu là 43 tỷ đồng

- Năm 2000, thành lập Chi nhánh và khai trương phòng Giao dịch tại TP HCM

- Ngày 28/11/2005, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định phê duyệt đề án

cổ phần hóa Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam và thí điểm thành lập Tập đoàn Tài chính- Bảo hiểm Bảo Việt, theo đó công ty Cổ phần chứng khoán BẢo Việt trở thành thành viên của Tập đoàn Tài chính- Bảo hiểm Việt Nam

- Nhận bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài chính về thành tích xây dựng và phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2000-2005

- Năm 2006,BVSC tăngvốnđiềulệtừ 49,45 tỷđồnglên 150 tỷđồng

Cổ phiếu BVSC chính thức niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, nay là Sở GDCK Hà Nội(HNX)

- Năm 2008, thực hiện thành công đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng, chính thức tăng vốn điều lệ từ 150 tỷ đồng lên 450 tỷ đồng

Khai trương Trụ sở chính và sàn giao dịch mới tại số 8, Lê Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Khai trương phòng giao dịch số 1 tại 94 Bà Triệu

- Năm 2009, tăng vốn điều lệ 722,3 tỷ đồng

Khai trương phòng giao dịch 146 Nguyễn Văn Cừ, Quận 5, TP HCM

- Năm 2010, BVSC thay đổi logo và hệ thống nhận diện thương hiệu mới

- Năm 2011, BVSC khai trương phòng giao dịch Mỹ Đình tại số 8 Nguyễn

Cơ Thạch, Từ Liêm, Hà Nội

- Năm 2012, Cổ phiếu BVS được lưa chọn nằm trong bộ chỉ số HNX IDX

30 Năm 2014, Kỷ niệm 15 năm ngày thành lập công ty

- Năm 2015, thành lập phòng Giao dịch 233 Đòng Khởi tại Quận 1, TP HCM

Thành lập phòng Giao dịch LÁng Hạ tại tầng 1, tòa nhà 14 Láng HẠ, quận Ba Đình, Hà Nội

Trang 15

Chuyển PGD Mỹ Đình về 519 Kim Mã,Ba Đình, Hà Nội và đổi tên thành Phòng giao dịch Kim Mã

- Năm 2016, Chuyển PGD 146 Nguyễn Văn Cừ về 90 Cao Thắng và đổi tênthành PGD 90 Cao Thắng

- Năm 2017, BVSC chuyển trụ sở chính và sàn giao dịch Hội sở về tòa nhà

72 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội

BVSC ký kết thỏa thuận hợp tác với Tập đoàn Tài chính Tokai Tokyo Financial Holdings đến từ Nhật Bản

2.2 Các dịch vụ chính của CTCK Bảo Việt

2.2.1 Môi giới chứngkhoán

Là hoạt động mà Công ty đứng ra làm trung gian giao dịch (mua bán)chứng khoán cho người đầu tư Với việc đầu tư thỏa đáng về cơ sở vật chất kỹthuật, hệ thống công nghệ và con người, cùng với sự trợ giúp của Tổng Công

ty Bảo hiểm Việt Nam, hiện nay BVSC luôn chiếm thị phần trên 20% tổng giátrị giao dịch chung của toàn TTCK Việt Nam Tính đến thời điểm 30/7/2006 sốlượng tài khoản khách hàng mở tại BVSC đã đạt mức gần 10.000 tàikhoản

Trong năm 2005, BVSC đã tiến hành nâng cấp trang thông tin điện tửwww.bvsc.com.vnvới giao diện mới thân thiện hơn, nội dung phong phú hơn vàkhả năng truy cập nhanh hơn nên đã đảm bảo việc truyền tải thông tin tới kháchhàng một cách đầy đủ, kịp thời.Năm 2005 và 2006, hoạt động môi giới củaBVSC đã có những bước tiến vượt bậc với số lượng tài khoản giao dịch củakhách hàng gia tăng đáng kể, đặc biệt một số tổ chức đầu tư lớn trong và ngoàinước đã lựa chọn BVSC là nhà môi giới chính như PXP, VFM, VietNamHolding, Merrill Lynch, KIS, BVFMC góp phần tăng thị phần giao dịch củaCông ty và khẳng định vị thế lớn mạnh của BVSC trên thị trường chứng khoán

2.2.2 Hoạt động Tư vấn

a Tư vấn tài chính doanh nghiệp và phát hành chứngkhoán

Đối với hoạt động tư vấn tài chính và phát hành chứng khoán huy độngvốn cho các doanh nghiệp, BVSC đã thực hiện thành công trên cả thị trườngchứng khoán tập trung và phi tập trung từ việc tư vấn phát hành trái phiếuchuyển đổi cho CTCP Công nghệ thông tin EIS, cổ phần phổ thông cho CTCPHapaco, CTCP Bảo hiểm Nhà Rồng, CTCP Chế biến thực phẩm Kinh đô MiềnBắc, CTCP Xây lắp Bưu điện Hà Nội, CTCP Kinh Đô, CTCPCơ điện lạnhREE, CTCP Văn hoá Phương Nam và nhiều doanh nghiệpkhác Trong năm

Trang 16

2006 và các năm tiếp theo, phát huy những kết quả đạt được nói trên, BVSC sẽchú trọng đến mảng hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp và phát hành, xâydựng một quy trình chuẩn mực nhằm cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính chấtlượng cao để có thể nhanh chóng thích ứng và hội nhập với thị trường tàichính hiện đại trong khu vực cũng như trên thếgiới.

b Tư vấn niêm yết chứngkhoán

Đây là dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp điều chỉnh cơ cấu vốn, chuẩn hóa cácđiều kiện theo đúng tiêu chuẩn quy định, xác định giá niêm yết, soạn thảo hồ sơtài liệu và thực hiện các thủ tục đăng ký niêm yết theo đúng quy định phápluật Với dịch vụ tư vấn niêm yết chứng khoán, BVSC đã tư vấn thành côngnhiều doanh nghiệp lên niêm yết tại TTGDCK TP.Hồ Chí Minh như Hapaco,Hacisco, Gilimex, Bao bì Bỉm Sơn, Kinh Đô, Kinh Đô miền Bắc, Phương Nam,Taya, Chang Yih, Full Power, Comeco, Nhựa Bình Minh, Thanh Thanh Bêncạnh đó BVSC cũng đã tư vấn thành công cho một số doanh nghiệp đăng kýgiao dịch tại TTTGDCK Hà Nội như Công ty Cổ phần Thăng Long, Công ty Cổphần Bao bì Bút Sơn

2.2.3 Hoạt động tự doanh

BVSC đầu tư kinh doanh cho chính Công ty bằng vốn của mình, vốnvay tín dụng và vì mục tiêu thu nhập Dựa vào những am hiểu sâu sắc về thịtrường và sự lớn mạnh của các hoạt động tư vấn, BVSC đã và đang xây dựngcho mình một danh mục đầu tư tự doanh hợp lý và hiệu quả bao gồm cácchứng khoán niêm yết, chưa niêm yết và trái phiếu, trên nguyên tắc đa dạnghoá danh mục đầu tư để phân tán rủi ro, đảm bảo cân bằng và tập trung vàocác chứng khoán có tiềm năng tăng trưởng tốt, ổnđịnh.Trước những diễn biếnthuận lợi của thị trường, cùng với chiến lược tự doanh linh hoạt, hoạt động tựdoanh của BVSC trong năm 2005 đã gặt hái được những kết quả to lớn Lãivốn từ hoạt động tự doanh cổ phiếu đạt trên 1,3 tỷ đồng, tăng 11% so với năm2004; đối với trái phiếu BVSC đã thực hiện theo dõi, phân tích biến động thịtrường lãi suất và áp dụng chiến lược mua bán hợp lý, tạo được lãi vốn từ hoạtđộng tự doanh trái phiếu trên 400triệu Tổng thu nhập từ hoạt động tự doanhtrong năm 2005 (bao gồm cả cổ tức và trái tức) của BVSC đạt xấp xỉ 5 tỷ

Trang 17

đồng tỷ đồng, tăng 154% so với năm2004.Các năm tiếp theo, BVSC sẽ tiếptục bám sát diễn biến thị trường để triển khai hoạt động tự doanh một cáchlinh hoạt và hiệu quả

2.2.4 Hoạt động Lưu ký chứngkhoán

BVSC thực hiện việc lưu giữ và bảo quản tập trung chứng khoán chokhách hàng, từ đây BVSC trở thành đầu mối trung gian nối liền giữa doanhnghiệp phát hành và các cổ đông để thực hiện các quyền liên quan đến cổ phiếu,trung gian chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần.Năm 2005 BVSC đã thực hiệntốt các dịch vụ lưu ký cho khách hàng; bên cạnh việc thực hiện các quyền vềnhận cổ tức bằng tiền mặt, nhận gốc và lãi trái phiếu, lập danh sách dự họp Đạihội đồng cổ đông, BVSC đã hỗ trợ tích cực cho cổ đông của một số công tyniêm yết như DHA, PNC, TMS, NKD thực hiện quyền nhận cổ tức bằng cổphiếu và quyền mua chứng khoán phát hành thêm BVSC luôn thực hiện chínhxác các hoạt động thanh toán bù trừ, đảm bảo khả năng thanh toán nên khôngphải sử dụng đến Quỹ hỗ trợ thanh toán Ngoài ra, BVSC tiếp tục nhận lưu kýchứng khoán chưa niêm yết cho các tổ chức đầu tư lớn như các công ty bảohiểm và các quỹ đầu tư; dịch vụ quản lý sổ cổ đông cho các tổ chức chưa niêmyết được mở rộng không chỉ với các công ty cổ phần hóa trong nước như BảoLong, Công ty Dịch vụ Ôtô Hàng Xanh, Nhựa Bình Minh mà còn thực hiệnvới các doanh nghiệp FDI cổ phần hóa như TAYA Việt Nam, Chang Yih

* Kết quả kinhdoanh:(Đơn vị: VNĐ)

Tổng tài sản 117.997.922.717 303.327.274.573 1.296.360.705.741Doanh thu thuần 12.715.032.717 22.605.775.320 82.552.792.716Lãi từ HĐKD 6.594.376.628 11.217.737.554 62.988.937.740

LN khác -5.268.510 -21.208.774 25.935.623

LN trước thuế 6.589.108.118 11.196.528.780 63.014.873.363

LN sau thuế 6.589.108.118 10.022.821.558 50.893.882.212Bảng 2.2 Kết quả kinh doanh BVSC năm 2004,2005,2006

(Nguồn: Annual Report BVSC 2006)

II Thực trạng hoạt động quản trị của công ty chứng khoán Bảo Việt

1 Kiểm soát nội bộ:

Quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ của ban kiểm soát công ty cổ phần chứng

Trang 18

khóan Bảo Việt Nôi dung Quy trình

ban kiểm soát

ban kiểm soát

Yêu cầu kiểm tra, kiểm

soát

Báo cáo tổng hợp về kết quả

kiểm tra, kiểm soát

Xem xét yêu cầu kiểm

tra, kiểm soát

Thực hiện kiểm tra,

Trang 19

* Mô tà sơ đồ quy trình:

Bước 1: Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát

Ban Kiểm soát căn cứ vào các yêu cầu kiểm tra, kiểm soát cùa các đơn vịsau để tiến hành việc kiểm tra, kiểm soát đột xuất hoặc định kỳ đê đánh giámức độ rủi ro trong hoạt độnt> của Công ty:

a Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát của cổ đông, nhóm cổ đông được quy địnhcúa Điều lệ Công ty;

b Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát cùa các cơ quan quản lý Nhà nước;

c Yêu cầu kiểm tra, kiềm soát cùa Hội đồng Quản trị Công ty;

d Quy chế hoạt động cùa Ban Kiểm soát Công ty;

e Các yêu cầu quản lý khác

Bước 2: Xem xét yêu cầu kiểm tra kiểm soát

a Các thành viên Ban Kiểm soát căn cứ vào Điều lệ Công ty, Quy chế hoạtdộng và các văn bàn quy định khác thẩm định các nội dung trong yêu câukiểm tra, kiểm soát

b Nếu nội dung yêu cầu kiểm tra, kiểm soát đã được công bố rộng rãi theoquy chế công bố thông tin cúa Nhà nước đối với doanh nghiệp, thành viênBan Kiểm soát trình Trường Ban Kiềm soát ban hành thông báo về cácnội dung yêu cầu đà được công bổ tới đối tượng yêu cẩu

c Nếu các nội dung yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chưa được công bố rộng rãitheo quy chế công bố thông tin đối với doanh nghiệp thì Ban Kiểm soáttiến hành họp để xác định, phạm vi, thẩm quyển về các nội dung theo yêucầu kiểm tra, kiểm soát tại Bước 1 và chuẩn bị các nội dung có liên quankhác trình Trường Ban Kiểm soát xem xét

d Trường Ban Kiểm soát có thổ xin ý kiến bằng văn bản gửi tới Hội dôngQuàn trị Công ty về các nội duna yêu cầu kiểm tra, kiêm soát được ncu tạiBước 1 trước khi thực hiện việc quyết định kiểm tra, kiểm soát

Bước 3: Lân kế hoach kiểm tra, kiểm soát

a Các thành viên Ban Kiểm soát căn cứ vào Điều lộ Công ty, Quychê hoạt động và các văn bản quy định khác lập kế hoạch kiểm tra, kiểmsoát trình Trưởng Ban Kiểm soát để phê duyệt kế hoạch kiểm tra, kiểmsoát

b Nếu nội dung kiểm tra trong kế hoạch kiểm tra, kiềm soát chưaphù hợp với yêu cầu kiểm tra tại Bước 1 và việc thẩm định tại Bước 2,Trưởng Ban Kiểm soát có thể yêu cầu các thành viên Ban Kiềm soáthoàn thiện lại kế hoạch kiểm tra, kiểm soát hoặc tổ chức cuộc họp trongBan Kiểm soát thống nhất kố hoạch kiểm tra, kiểm soát

c Sau khi thống nhất về kế hoạch kiểm tra, kiểm soát trong nội bộBan Kiểm soát, Trường Ban Kiểm soát có trách nhiệm thông báo kế

Ngày đăng: 19/04/2018, 23:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w