1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO RÀ SOÁT YÊU CẦU VỀ PHÂN TỔ SỐ LIỆU THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI, DÂN TỘC, VÙNG VÀ XÁC ĐỊNH SỰ CHỆNH LỆCH GIỮA SỐ LIỆU HIỆN CÓ VỚI NHU CẦU CỦA NGƯỜI DÙNG TIN

296 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 296
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay nhu cầu của người dùng tin về các chỉ tiêu có chất lượng cũng như số liệu được phân tổ theo vùng, giới tính, dân tộc và độ tuổi để phục vụ công tác giám sát các diễn biến kinh t

Trang 1

VÀ XÁC ĐỊNH SỰ CHỆNH LỆCH GIỮA SỐ LIỆU

Trang 2

BÁO CÁO

VÀ XÁC ĐỊNH SỰ CHỆNH LỆCH GIỮA SỐ LIỆU

Trang 3

Giới thiệu

Báo cáo này trình bày kết quả hoạt động “Rà soát yêu cầu về phân tổ số

liệu theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, vùng và xác định sự chênh lệch giữa số

liệu hiện có với nhu cầu của người dùng tin” thuộc Dự án 00040722 “Hỗ trợ giám sát phát triển kinh tế-xã hội” (sau đây gọi tắt là Dự án) do UNDP hỗ trợ

kỷ (MDG);

(2) Kế hoạch hành động thống kê quốc gia được rà soát/cập nhật;

(3) Chất lượng số liệu được nâng cao và việc thu thập số liệu được đồng bộ hoá; và

(4) Công tác báo cáo, sử dụng và lưu trữ số liệu được cải tiến

Dự án được TCTK thực hiện với sự phối hợp của 6 Bộ (Bộ Kế hoạch

và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn) và 3 tỉnh (Bắc

Kạn, Quảng Nam và Bình Dương) theo phương thức quốc gia điều hành (NEX)

Hoạt động “Rà soát yêu cầu v ề phân tổ số liệu theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, vùng và xác định sự chênh lệch giữa số liệu hiện có với nhu cầu của người dùng tin” sẽ trực tiếp đóng góp vào việc đạt được đầu ra 3 của Dự án

Hiện nay nhu cầu của người dùng tin về các chỉ tiêu có chất lượng cũng như số liệu được phân tổ theo vùng, giới tính, dân tộc và độ tuổi để phục vụ công tác giám sát các diễn biến kinh tế-xã hội (bao gồm cả bất bình đẳng, một trong những vấn đề trọng tâm của các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và MDG/VDG đang ngày càng gia tăng Nhiều Bộ, ngành, tỉnh, các cơ quan chính phủ đã xây dựng hệ thống các chỉ tiêu và tiến hành thu thập số liệu

nhằm đáp ứng nhu cầu giám sát bất bình đẳng của mình Các cơ quan thông tin đại chúng cũng rất quan tâm đến vấn đề này

Tuy nhiên thực tế cho thấy rằng:

Trang 4

(i) Các cơ quan và tổ chức đã sử dụng các khái niệm, định nghĩa và phương pháp tính toán các chỉ tiêu khác nhau;

(ii) Có sự trùng lặp trong thu thập số liệu Điều này dẫn đến việc mặc

dù có cùng một khái niệm và phương pháp tính nhưng khi c ông bố lại có sự khác biệt trong số liệu của cùng một chỉ tiêu;

(iii) Việc chia sẻ số liệu thu thập được giữa các nhà sản xuất số liệu

cũng như giữa các nhà sản xuất số liệu với người dùng tin vẫn còn hạn chế

Ngoài ra hiện nay hai tình trạng sau vẫn đang xảy ra:

(i) Những người dùng tin cho rằng vẫn còn thiếu các số liệu thống kê được phân tổ theo vùng, giới tính, dân tộc và độ tuổi để phục vụ cho việc giám giát thực hiện SEDP, MDGs/VDGs, các kế hoạch phát triển ngành và

tỉnh;

(ii) Trong khi đó đối với các nhà sản xuất số liệu thì các hạn chế về mặt

kỹ thuật và sự cân nhắc giữa chi phí và lợi ích lại là các rào cản khiến họ không thể đáp ứng được nhu cầu của người dùng tin

Nhằm giải quyết những vấn đề này và để đáp ứng tốt hơn nhu cầu về số

liệu, Tổng cục Thống kê đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành và người dùng tin để xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (NSIS) Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã phối hợp chặt

chẽ với các Bộ ngành xây dựng Khung giám sát và đánh giá SEDP cho giai đoạn 2006-2010 Một số Bộ ngành đã ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê

phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của mình TCTK phối hợp với các Cục

Thống kê tỉnh, thành phố đang xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cho cấp

tỉnh và huyện Các hệ thống chỉ tiêu thống kê nêu trên sẽ phục vụ tốt hơn việc xây dựng, giám sát và đánh giá các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp Bộ ngành Cùng với những nỗ lực nêu trên, việc chuẩn hóa các chỉ tiêu , bao gồm xác định các khái niệm, định nghĩa chuẩn, xác định chu kỳ thu thập, công bố, xác định các phân tổ, phân công trách nhiệm thu thập/phổ biến số liệu cũng đã và đang được xây dựng Ngoài ra TCTK cũng đang xây dựng chương trình điều tra thống kê quốc gia và ban hành chế độ báo cáo thống kê cho các Bộ ngành nhằm đáp ứng được càng nhiều nhu cầu của người dùng tin càng tốt

Hoạt động “Rà soát yêu cầu về phân tổ số liệu theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, vùng và xác định sự chênh lệch giữa số liệu hiện có với nhu cầu của người dùng tin” được tiến hành dựa trên các hệ thống chỉ tiêu, gồm Hệ thống

chỉ tiêu thống kê quốc gia, Khung giám sát và đánh giá Kế hoạch phát triển

Trang 5

kinh tế xã hội 2006-2010, hệ thống chỉ tiêu của các bộ/ngành liên quan, hệ

thống chỉ tiêu của 3 tỉnh Bắc Kạn, Quảng Nam và Bình Dương, MDGs, VDGs, Hệ thống chỉ tiêu theo dõi thực hiện công ước quyền trẻ em (CRC), và

Hệ thống chỉ tiêu theo dõi Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW)

Tuy nhiên, do HTCTTKQG là tập hợp những chỉ tiêu thốn g kê phản ánh tình hình kinh tế - xã hội chủ yếu của đất nước, phục vụ việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ nên nó sẽ là trọng tâm của việc rà soát và đánh giá lần này

Theo đề cương Báo cáo nêu trong Điều khoản tham chiếu của hoạt động này, báo cáo sẽ bao gồm 2 phần:

Phần I rà soát/xác định (i) nhu cầu về phân tổ số liệu đối với các chỉ tiêu hiện có (trong NSIS, khung giám sát & đánh giá SEDP, các hệ thống chỉ tiêu thống kê của văn phòng quốc hội, 6 bộ và 3 tỉnh nói trên), (ii) nhu cầu phân tổ số liệu mới đối với các chỉ tiêu hiện có (iii) các chỉ tiêu cần bổ sung (nhất là các chỉ tiêu có liên quan đến và là những chỉ tiêu cần phân tổ theo

giới tính, độ tuổi, dân tộc và vùng) để đưa vào trong quá trình thu thập số liệu (để phục vụ công tác giám sát kế hoạch phát triển kinh tế xã hội/kế hoạch hành động ở cấp quốc gia, kế hoạch phát triển ngành và địa phương, và những cam kết quốc tế như MDGs, CEDAW, CRC, ….) và (iv) các số liệu đã được phân tổ hiện nay đang có (bao gồm cơ quan sản xuất ra số liệu đó và làm thế nào số liệu đó đến được tay của người dùng tin)

Phần II cần đưa ra được (i) sự khác biệt giữa các chỉ tiêu/nhu cầu về phân tổ số liệu với số liệu hiện nay đang có (bao gồm sự khác biệt trong định nghĩa/phương pháp tính, cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, phương pháp thu

thập…); và (ii) đưa ra các khuyến nghị để giúp cho các chương trình điều tra, các kế hoạch thu thập số liệu ở bộ ngành và tỉnh (thông qua điều tra và báo cáo hành chính), và/ hoặc các cuộc điều tra mới ở tầm quốc gia/bộ/tỉnh và các công cụ thu thập số liệu có thể đáp ứng được tốt nhất nhu cầu về phân tổ số

liệu cả về mặt kinh phí cũng như chuyên môn

Tuy nhiên khi viết báo cáo này nhóm chuyên gia nhận thấy nếu theo bố

cục 2 phần nêu trên thì có sự trùng lắp khi rà soát từng chỉ tiêu trong mỗi hệ

thống chỉ tiêu Ví dụ đối với 1 chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia khi viết xong về thực trạng phân tổ, nhu cầu phân tổ mới, đề xuất bổ sung

Trang 6

chỉ tiêu nếu có thì sang phần 2 lại quay lại chỉ tiêu đó để viết về sự khác biệt

giữa các chỉ tiêu và khuyến nghị

Vì vậy nhóm chuyên gia viết báo cáo theo bố cục mới gồm 2 phần:

Phần I viết về những vấn đề chung, phần II đi vào từng chỉ tiêu trong mỗi hệ

thống chỉ tiêu thống kê nêu trên, trong khi vẫn bảo đảm các nội dung trong Điều khoản tham chiếu đề ra Đối với từng chỉ tiêu trong phần II sẽ rà soát theo 6 nội dung sau đây:

(i) Chỉ tiêu có đáp ứng được nhu cầu về số liệu của bộ/ngành chưa?

Nếu không thì đề nghị bỏ Nếu đề nghị bổ sung chỉ tiêu thay thế thì ghi tên

chỉ tiêu?

(ii) Chỉ tiêu đã có khái niệm, định nghĩa, phương pháp tính, chu kỳ thu thập/báo cáo/công bố chuẩn chưa? Nếu có thì đưa vào trong Phụ lục cùng Quyết định ban hành

(iii) Các phân tổ hiện có của chỉ tiêu, đặc biệt là các phân tổ theo: giới tính, độ tuổi, dân tộc và vùng đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng của bộ và người dùng tin khác chưa? Nếu không đè nghị bổ sung phân tổ nào?

(iv) Phương pháp phổ biến số liệu của chỉ tiêu đến người sử dụng như

thế nào?

(v) Nếu chỉ tiêu có nhiều nguồn số liệu (bộ khác cũng thu thập) thì

chỉ ra sự khác nhau trong khái niệm/định nghĩa, phương pháp tính, phương pháp thu thập số liệu, kỳ thu thập số liệu, cơ quan thu thập số liệu

(vi) Các khuyến nghị (nếu có)

Trang 7

PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

I H Ệ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ QUỐC GIA

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành theo quyết định 305/2005/QĐ -TTg ngày 24/11/2005 HTCTTKQG

gồm 24 nhóm chỉ tiêu với tổng số 274 chỉ tiêu Đây là những chỉ tiêu cơ bản

phản ánh một cách toàn diện tình hình kinh tế - xã hội của nước ta Hệ thống

chỉ tiêu này bao gồm phần lớn các chỉ tiêu thống kê kinh tế xã hội đã được đưa vào niên giám thống kê quốc gia những năm qua Các nhóm chỉ tiêu trên được TCTK và các cơ quan, bộ ngành chịu trách nhiệm chính thức thu thập tổng hợp

số liệu; trong đó:

- 112 chỉ tiêu do TCTK chịu trách nhiệm thu thập

- 162 chỉ tiêu do các bộ ngành khác chịu trách nhiệm thu thập, tổng

thập

U

Bộ ngành khác

Trang 8

Nhóm 18 Giáo dục và đào tạo 26 1 25

Trong 24 nhóm chỉ tiêu của HTCTTKQG các nhóm có các phân tổ về

giới tính, độ tuổi, dân tộc, vùng gồm:

Các chỉ tiêu trong nhóm dân số đã:

- Sử dụng các khái niệm/định nghĩa, phương pháp tính toán rõ ràng, theo chuẩn quốc tế;

- Phân tổ theo các phân tổ chủ yếu, gồm khu vực thành thị, nông thôn, vùng, tỉnh/thành phố, giới tính, tuổi/nhóm tuổi, và dân tộc;

- Công bố kết quả của các cuộc tổng điều tra dân số thông qua các ấn

phẩm, đĩa CD-ROM, các cơ sở dữ liệu vĩ mô và vi mô, và được đưa lên trang WEB của Tổng cục Thống kê Số liệu dân số hàng năm được công bố trong các niên giám Thống kê

- Nguồn thu thập số liệu chính về số liệu dân số là các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở thực hiện 10 năm một lần Số liệu dân số hàng năm được

Trang 9

tính toán từ số liệu tổng điều tra dân số và số liệu điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ hàng năm

Các chỉ tiêu trong nhóm dân số có các nguồn số liệu khác, gồm:

- Ngành dân số và kế hoạch hoá gia đình cũng có hệ thống thu thập số

liệu về dân số từ “Sổ Dân số” do cộng tác viên dân số quản lý Về văn bản, sổ dân số cũng sử dụng khái niện “nhân khẩu thực tế thường trú” như của Tổng

cục Thống kê Tuy nhiên, trong thực tế, cộng tác viên dân số thường chỉ đăng

ký vào sổ những đối tượng thuộc phạm vi quản lý và vận động KHHGĐ của

họ (dân số của thôn/ấp/tổ dân phố) Như vậy sẽ bỏ qua các nhân khẩu thuộc các ngành quân đội, công an quản lý cũng như các khu tập thể của các cơ quan tổ chức nhà nước, các ký túc xá của học sinh, sinh viên Vì vậy, số liệu thu thập được của ngành Dân số, KHHGĐ thường bị thiếu

- Ngành Công an cũng có hệ thống thu thập số liệu dân số từ “Sổ đăng

ký hộ tịch, hộ khẩu” do công an xã/phường quản lý Tuy nhiên số liệu dân số

tổng hợp được từ hệ thống sổ sách này chỉ bao gồm số người đã được ngành công an đăng ký hộ khẩu thường trú (Sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu cũng ghi chép các đối tượng KT3, KT4 nhưng không theo dõi được những biến động

của họ theo thời gian) Chính vì vậy, số liệu dân số do ngành Công an tổng

hợp cũng thường bị thiếu

- Ngành Tư pháp cũng có hệ thống thu thập số liệu sinh từ “Sổ Đăng

ký hộ tịch” do cán bộ tư pháp xã/phường quản lý Tuy nhiên số liệu về số trường hợp sinh tổng hợp được từ hệ thống sổ sách này chỉ bao gồm số trường

hợp sinh đã được đăng ký khai sinh, trong khi đó số không đăng ký khai sinh

hoặc đăng ký muộn còn khá lớn Ngoài ra các trường hợp sinh của các nhân

khẩu thuộc các đối tượng KT3, KT4 không được đăng ký khai sinh Chính vì

vậy, số liệu về các trường hợp sinh do ngành Tư pháp tổng hợp cũng thường

bị thiếu

- Hai ngành Dân số - KHHGĐ và Tư Pháp cũng có hệ thống đăng ký

và thu thập số liệu về mức độ chết Tuy nhiên, ngoài những hạn chế như đối

với chỉ tiêu tỷ suất sinh thô, cả 2 hệ thống này nói chung đều không đăng ký

và thu thập được các trường hợp sinh ra chỉ được ít phút, ít ngày đã chết (chết trước khi khai sinh)

- Ngành Công an cũng có hệ thống thu thập số liệu về di chuyển của dân số từ “Sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu” do công an xã/phường quản lý Tuy nhiên sô liệu về chuyển đi và chuyển đến của dân số tổng hợp được từ hệ

thống sổ sách này chỉ bao gồm số người chuyển đi đã được ngành công an cắt

Trang 10

hộ khẩu thường trú và số người chuyển đến đã được ngành công an nhập hộ

khẩu (Sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu cũng ghi chép các đối tượng KT3, KT4 nhưng không theo dõi được những biến động của họ theo thời gian) Chính vì

vậy, số liệu di chuyển của dân số do ngành Công an tổng hợp cũng thường bị thiếu rất nhiều

Các chỉ tiêu dân số tính toán từ các cuộc điều tra dân số của TCTK còn

có một số vấn đề tồn tại sau đây mà chúng cần được khắc phục để hoàn thiện:

- Do số liệu điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ hàng năm

chỉ đại diện được cho cấp tỉnh trở lên nên số liệu dân số cũng chỉ tính được cho cấp tỉnh trở lên mà chưa có số liệu cho cấp huyện

- Số liệu dân số theo độ tuổi công bố hàng năm và 5 năm chỉ được tính toán và phân tổ theo nhóm 5 độ tuổi nên chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng theo

từng độ tuổi hoặc các nhóm tuổi khác theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào

cầu nghiên cứu những hộ có chủ hộ là nữ

- Số năm đi học trung bình của dân số năm 1989 chỉ tính chung cho toàn bộ dân số, không phân tổ theo giới cũng như chưa phân tổ đến các khu

vực thành thị, nông thôn

- Tỷ lệ biết chữ của dân số cũng cần được mở rộng độ tuổi đến 10 tuổi

trở lên vì một số ngành cần chỉ tiêu này Trong bộ chỉ số MDGs cần phân tổ

từ 15-24 khu vực thành thị/nông thôn

Kiến nghị:

- Mẫu của các cuộc điều tra biến động dân số và KHHGĐ hàng năm

cần thiết kế đại diện đến cấp huyện để có thể tính toán được số lượng dân số đến cấp huyện

- Các số liệu dân số cần được phân tổ theo từng độ tuổi (ít nhất cho cấp

tỉnh) để có thể phục vụ tốt hơn nhu cầu của đối tượng dùng tin

- Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh chỉ nên tính toán và công bố 3 năm 1 lần Điều này sẽ hạn chế được những biến động ngẫu nhiên của mức độ

chết tác động đến chỉ tiêu này

Trang 11

- Chỉ tiêu Số năm đi học trung bình cần được tính toán cho đúng

phương pháp (tính được đúng số năm đi học cho những người nhiều bằng cấp ngang nhau) Kỳ tính toán và công bố nên thực hiện định kỳ 5 năm một lần, cho cả 2 giới và cho các vùng thành thị, nông thôn Phương pháp phổ biến cần

đa dạng hơn, tiện lợi cho người dùng tin

- Các cơ sở dữ liệu vi mô cần được phổ biến rộng rãi hơn

- Hội LHPNVN đề nghị thêm chỉ tiêu Tỷ suất sinh của nữ, thêm phân

tổ giới tính cho chỉ tiêu Tỷ suất nhập cư, xuất cư, di cư thuần

2 Nhóm ch ỉ tiêu lao động việc làm:

Đa số các chỉ tiêu trong nhóm lao động việc làm đã:

- Sử dụng các khái niệm/định nghĩa, phương pháp tính toán rõ ràng, theo chuẩn quốc tế;

- Phân tổ theo các phân tổ chủ yếu, gồm khu vực thành thị, nông thôn, vùng, tỉnh/thành phố, giới tính, nhóm tuổi

- Công bố kết quả của các cuộc tổng điều tra dân số thông qua các ấn

phẩm, đĩa CD-ROM, các cơ sở dữ liệu vĩ mô và vi mô, và được đưa lên trang Web của Tổng cục Thống kê Số liệu dân số hàng năm được công bố trong các niên giám Thống kê

- Nguồn số liệu gồm các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở thực hiện

10 năm một lần Số liệu hàng năm được tính toán từ điều tra lao động việc làm, và chế độ báo cáo định kỳ theo 2 kênh: báo cáo của các Cục Thống kê về lao động do địa phương quản lý và các Bộ ngành về lao động do Trung ương

một thời gian dài (12 tháng qua) Trong khi đó các cuộc điều tra lao động việc làm theo các khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) lại tiếp cận

hoạt động kinh tế theo khái niệm hoạt động hiện thời, tức là hoạt động trong 7

Trang 12

ngày qua, nhưng ở Việt Nam chỉ điều tra tại một thời điểm trong năm nên tính đại diện không cao do khong loại được ảnh hưởng của thời vụ đến việc làm

Vì vậy điều tra Lao động - việc làm cần thực hiện thường xuyên hơn, trước hết là 6 tháng một lần, dần dần thực hiện mỗi quý một lần và tiến tới

thực hiện mỗi tháng một lần Điều này sẽ hạn chế được tính thời vụ của các

hoạt động kinh tế, nhất là chỉ tiêu thất nghiệp và lao động làm việc trong các ngành nông nghiệp và tiểu thủ cộng nghiệp

Ngoài ra một số chỉ tiêu trong nhóm này còn có những vấn đề cần hoàn thiện sau:

- Ch ỉ tiêu 301 Lực lượng lao động và Chỉ tiêu 302 Số lao động đang làm vi ệc trong nền kinh tế

Hai chỉ tiêu này đang được thu thập theo 2 nguồn: điều tra lao động

việc làm và chế độ báo cáo định kỳ theo 2 kênh: báo cáo của các Cục Thống

kê (lao động do địa phương quản lý) và các Bộ ngành (lao động do Trung ương quản lý)

Kiến nghị: Nên khai thác từ một nguồn duy nhất là điều tra lao động

sống

- Ch ỉ tiêu 305 Số ngày làm việc bình quân 1 lao động ở nông thôn; Chỉ tiêu 308 Năng suất lao động xã hội; Chỉ tiêu 309 Thu nhập bình quân

1 lao động đang làm việc

Ba chỉ tiêu này đã thu thập số liệu nhưng do chất lượng thấp nên chưa được công bố Riêng chỉ tiêu 309 Hội LHPNVN đề nghị thêm phân tổ giới tính

- Ch ỉ tiêu 306 Số lao động được tạo việc làm trong kỳ

Có ý kiến cho rằng số liệu này cao và không có nguồn số liệu tin cậy

Trang 13

3 Nhóm ch ỉ tiêu về giáo dục và đào tạo:

Các chỉ tiêu trong nhóm giáo dục và đào tạo cơ bản đã đáp ứng nhu cầu

của người dùng tin chủ yếu, bao gồm các cơ quan chính phủ và các viện nghiên cứu và các đối tượng khác

Các chỉ tiêu trong nhóm giáo dục và đào tạo đã:

- Sử dụng các khái niệm/định nghĩa, phương pháp tính toán rõ ràng, theo chuẩn quốc tế;

- Phân tổ theo các phân tổ chủ yếu, gồm loại hình, loại trường, giới tính, dân tộc, trình độ chuyên môn, tỉnh/TP, tuyển mới, lưu ban, bỏ học, cấp

quản lý, loại cơ sở, hình thức đào tạo, ngành đào tạo cấp 2, trong nước, ngoài nước, trình độ chuyên môn

- Công bố số liệu thông qua Niên giám Thống kê

- Nguồn số liệu chính về thống kê giáo dục và đào tạo là hệ thống báo cáo hành chính của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục dạy nghề thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Ngoài ra TCTK duy trì song song kênh báo cáo từ các Cục Thống kê nhưng vẫn thu thập số liệu thứ cấp từ các Sở Giáo

dục và Đào tạo

Một số tồn tại:

- Đối với các chỉ tiêu cần số liệu dân số chia theo tuổi thì số liệu dân số

của TCTK dự báo cho 5 nhóm tuổi, không phù hợp với độ tuổi học sinh Dự báo theo nhiều phương án nên lựa chọn phư ơng án nào để tính là một khó khăn Ngoài ra số liệu dự báo dân số chưa chính xác, không phản ánh được

biến động dân số do di cư, nên có 1 vài tỉnh số liệu học sinh đi học lớn hơn dân số cùng độ tuổi

- Một số khái niệm chưa thật chuẩn để áp dụng, như: trẻ tàn tật để tính toán tình trạng nhập học, nước sạch để tính toán các chỉ tiêu về trường học

Một số chỉ tiêu việc phân tổ theo giới tính chưa thực sự chính xác do hệ thống báo cáo chưa đầy đủ, ví dụ: tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học, tỷ lệ học sinh phân

tổ theo nhóm tuổi và giới

- Số liệu chủ yếu từ báo cáo hành chính nên khó tránh khỏi “bệnh thành tích”

- Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề nghị bỏ ra khỏi HTCTTKQG các chỉ tiêu: Số cơ sở, phòng thí nghiệm, thư viện, xưởng thực tập của cơ sở

dạy nghề vì ý nghĩa thấp Các chỉ tiêu S ố giáo viên dạy nghề, chi cho hoạt

Trang 14

động sự nghiệp dạy nghề cũng có ý nghĩa thấp, trong khi có thể có sự trùng

lắp do số giáo viên có thể hợp đồng tại nhiều cơ sở dạy nghề khác nhau; chỉ tiêu Số học sinh học nghề đề nghị chia làm 3 chỉ tiêu (học sinh đầu năm học,

học sinh tuyển mới và học sinh tốt nghiệp)

- Một số số liệu của kênh TCTK khác số liệu của kênh giáo dục do thời điểm thu thập số liệu khác nhau, kênh của TCTK thường thu thập số liệu từ các Sở Giáo dục và Đào tạo sớm trong khi số liệu chính thức của kênh Giáo

dục thường có muộn hơn

- Hội LHPNVN đề nghị thêm chỉ tiêu: Số lượng và tỷ lệ người (theo

giới tính) được tư vấn nghề, tư vấn việc làm; Số lượng và tỷ lệ người (theo

giới tính) đi xuất khẩu lao động

- Ch ỉ tiêu 1801 Số trường, lớp, phòng học mầm non đề nghị thêm phân

tổ chất lượng phòng học

- Ch ỉ tiêu 1804 Số trường, lớp, phòng học phổ thông đề nghị thêm phân

tổ loại phòng học kiên cố, bán kiên cố, nhà tạm, phòng học 3 ca, phòng học xây dựng mới và mới được cải tạo, số trường tiểu học học 2 ca 1 ngày

- Ch ỉ tiêu 1806 Số học sinh phổ thông đề nghị thêm số học sinh tiểu học học 2 ca/ ngày

- Ch ỉ tiêu 1808 Tỷ lệ học sinh phổ thông tốt nghiệp: Đề nghị sửa chỉ

tiêu này thành: học sinh dự thi, học sinh tốt nghiệp và báo cáo 2 lần trong năm (báo cáo nhanh: 17 ngày sau khi thi tốt nghiệp và báo cáo chính thức)

- Ch ỉ tiêu 1809 Tỷ lệ học sinh chuyển cấp và tỷ lệ học sinh hoàn thành

c ấp học:

Chỉ tiêu này hiện vẫn được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổng hợp trong các báo cáo Tuy nhiên, số liệu phân tổ về giới tính chưa được chính xác Do việc

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bỏ thi tốt nghiệp tiểu học và THCS nên rất nhiều

sở Giáo dục không báo cáo số liệu của hai cấp học này

4 Nhóm ch ỉ tiêu y tế và chăm sóc sức khỏe:

Các chỉ tiêu trong nhóm y tế và chăm sóc sức khỏe cơ bản đã đáp ứng nhu cầu của người dùng tin chủ yếu, bao gồm các cơ quan chính phủ và các

viện nghiên cứu và các đối tượng khác

Các chỉ tiêu trong nhóm y tế và chăm sóc sức khỏe đã:

Trang 15

- Sử dụng các khái niệm/định nghĩa, phương pháp tính toán rõ ràng, theo chuẩn quốc tế;

- Phân tổ theo các phân tổ chủ yếu, gồm giới tính, độ tuổi, dân tộc, thành thị, nông thôn, tỉnh/TP

- Công bố số liệu thông qua Niên giám Thống kê Y tế

- Nguồn số liệu chính về thống kê y tế và chăm sóc sức khỏe là hệ

thống báo cáo hành chính của Bộ Y tế

Một số tồn tại:

- Hiện còn một số phân tổ chưa được Bộ Y tế thống nhất như Cơ sở y

tế, giường bệnh phân theo loại hình

- Trong thực tế do 17/18 chỉ tiêu trong nhóm Y tế và chăm sóc sức

khỏe là báo cáo hành chính hàng năm, do đó việc phân tổ thành thị, nông thôn

giới tính, độ tuổi, dân tộc… hiện gặp nhiều khó khăn Chỉ tiêu Nhân lực y tế

báo cáo hành chính không phân tổ theo loại hình, loại cơ sở y tế

- Ngành Y tế chưa thu thập số liệu đối với y tế tư nhân và y tế có vốn đầu tư nước ngoài

- Chỉ tiêu 1903 số bác sĩ tính trên 10.000 chưa thống nhất được cách tính do có 2 quan điểm Quan điểm 1 cho rằng chỉ cần tính số bác sĩ đang làm trong các cơ sở y tế trực tiếp liên quan đến khám, chữa bệnh; trong khi quan điểm 2 cho rằng cần tính thêm cả số bác sĩ làm công tác quản lý, văn phòng không trực tiếp tham gia khám chữa bệnh, ví dụ khối văn phòng ở Bộ Y tế, Sở

Y tế, Phòng y tế huyện và khối sản xuất kinh doanh khác

5 Nhóm chỉ tiêu về mức sống hộ gia đình:

Các chỉ tiêu trong nhóm mức sống hộ gia đình cơ bản đã đáp ứng nhu

cầu của người dùng tin chủ yếu, bao gồm các cơ quan chính phủ và các viện nghiên cứu và các đối tượng khác

Các chỉ tiêu trong nhóm mức sống hộ gia đình đã:

- Sử dụng các khái niệm/định nghĩa, phương pháp tính toán rõ ràng, theo chuẩn quốc tế;

- Phân tổ theo các phân tổ chủ yếu, gồm khu vực thành thị, nông thôn, vùng, tỉnh/thành phố, giới tính, nhóm tuổi, và dân tộc

Trang 16

- Công bố kết quả của các cuộc khảo sát mức sống thông qua các ấn

phẩm, đĩa CD-ROM, các cơ sở dữ liệu vi mô, và được đưa lên trang WEB của

Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê

- Nguồn thu thập số liệu chính về số liệu mức sống hộ gia đình là các

cuộc khảo sát mức sống thực hiện 2 năm một lần trong những năm gần đây,

từ 2002

Tuy nhiên có một số vấn đề cần giải quyết để hoàn thiện:

- Đối với 2 chỉ tiêu Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng và chi tiêu

bình quân nhân kh ẩu 1 tháng cần bổ sung thêm các phân tổ: nhóm dân tộc

chủ hộ, trình độ học vấn chủ hộ

- Chỉ tiêu Chênh lệch thu nhập nhóm 5 so nhóm 1 trong “Hệ thống chỉ

tiêu thống kê quốc gia” có đưa phân tổ nhóm thu nhập là không có ý nghĩa nên đề nghị bỏ phân tổ này

- Đối với chỉ tiêu Tỷ lệ nghèo cần bổ sung một số phân tổ: giới tính chủ

hộ, nhóm dân tộc chủ hộ, trình độ học vấn chủ hộ Ngoài ra cần thống nhất cách hiểu trong cách tính chỉ tiêu này khi có lạm phát, tức là cần phân biệt rõ điều chỉnh chuẩn nghèo khi mô hình mức sống thay đổi và cập nhật chuẩn nghèo khi có lạm phát

- Chỉ tiêu Tỷ lệ hộ, nhân khẩu thiếu đói còn gặp khó khăn và chưa

thống nhất trong xác định các hộ thiếu đói Ngoài ra để tạo điều kiện thuận lợi trong việc thu thập thông tin để tính chỉ tiêu này thì cần có sự thống nhất và

phối hợp chặt chẽ giữa Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động, Thương binh và

Xã hội trong xác định hộ thiếu đói và trách nhiệm thu thập thông tin

- Đối với chỉ tiêu 2107 Chỉ số khoảng cách nghèo cần được công bố

trong những năm có Khảo sát mức sống hộ gia đình

6 Nhóm ch ỉ tiêu về tiến bộ phụ nữ:

Các chỉ tiêu tiến bộ phụ nữ lần đầu đưa vào NSIS và chế độ báo cáo

thống kê của TCTK Hiện nay các chỉ tiêu chưa được TCTK thu thập và tổng

hợp một cách chính quy do chế độ báo cáo áp dụng cho các nơi cung cấp số

liệu chưa được hoàn thiện Trong tương lai gần các chỉ tiêu này sẽ được tổng

hợp Tuy nhiên, chỉ tiêu tỷ lệ nữ đảm nhiệm các chức vụ trong các tổ chức chính trị - xã hội rất khó để thu thập được ở phạm vi đầy đủ vì liên quan đến

số liệu của nhiều ngành

Trang 17

II H Ệ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ BỘ NGÀNH

Báo cáo này rà soát phân tổ về giới tính, độ tuổi, dân tộc, tỉnh và vùng

của hệ thống chỉ tiêu thống kê của 5 Bộ, gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Số liệu thống kê bộ/ngành chủ yếu được tổng hợp từ hệ thống báo cáo hành chính định kỳ, một số ít chỉ tiêu thu thập từ các cuộc điều tra chuyên ngành

Đa số các bộ/ngành đã xây dựng được hệ thống báo cáo và c hương trình điều tra, đã ra quyết định ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Tuy nhiên hầu hết mới chỉ đưa ra được danh sách chỉ tiêu mà chưa chuẩn hóa được khái niệm/định nghĩa, phương pháp tính cho từng chỉ tiêu Các phân tổ

của các chỉ tiêu thống kê Bộ ngành nói chung đã có và đã đáp ứng được nhu

cầu sử dụng Tuy nhiên cũng có một số chỉ tiêu cần có thêm các phân tổ về độ

tuổi và dân tộc

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo:

Hệ thống chỉ tiêu thống kê giáo dục và đào tạo có 97 chỉ tiêu được ban hành theo Quyết định số 37/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 12/07/2007 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo Các nhóm, tên chỉ tiêu được sắp xếp theo các

cấp học và trình độ đào tạo như sau:

(i) Giáo dục mầm non, gồm:

(iii) Trung cấp chuyên nghiệp:

(iv) Giáo dục đại học, gồm:

- Cao đẳng

- Đại học

Trang 18

- Thạc sĩ

- Tiến sĩ

(v) Giáo dục thường xuyên

(vi) Thu, chi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Mỗi cấp học và trình độ đào tạo bao gồm các chỉ tiêu được sắp xếp theo trình tự:

- Số trường học

- Số lớp học

- Số phòng học

- Diện tích khuôn viên và diện tích phòng học

- Cán bộ quản lý, giáo viên/giảng viên, nhân viên

- Số giáo viên trực tiếp dạy

- Số trẻ em/học sinh/sinh viên

- Thu, chi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo

- Các chỉ tiêu phân tích

Các phân tổ theo giới tính được áp dụng đối với các chỉ tiêu liên quan đến học sinh, sinh viên các cấp học và cán bộ, giáo viên, giảng viên và nhân viên các cấp học

Phân tổ theo giới tính xây dựng cho các chỉ tiêu liên quan đến số lượng

học sinh, sinh viên, giáo viên, giảng viên của các cấp học và số liệu thường được công bố theo kỳ đầu năm trong niên giám thống kê Giáo dục Phân tổ

giới của một số chỉ tiêu đã thu thập được tương đối chính xác Tuy nhiên còn

một vài chỉ tiêu thu thập số liệu theo giới tính chưa chính xác, ví dụ Số học sinh phổ thông chia theo độ tuổi, do đó ảnh hưởng đến việc tính toán tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi theo giới tính Nguyên nhân là do cấp cơ sở ghi số

liệu học sinh nữ chia theo độ tuổi chưa chính xác, số liệu dự báo dân số nữ theo độ tuổi đi học của Tổng cục Thống kê chưa chính xác

Các phân tổ theo độ tuổi được áp dụng đối với các chỉ tiêu liên quan đến học sinh, sinh viên các cấp học và cán bộ, giáo viên, giảng viên và nhân viên các cấp học , gồm học sinh đang giáo dục mầm non và phổ thông, học sinh phổ thông người dân tộc

Trang 19

Phân tổ theo độ tuổi của học sinh theo giới tính chưa được chính xác,

do đó ảnh hưởng đến việc tính toán tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi theo

gồm: Đô thị, đồng bằng, núi thấp - vùng sâu, núi cao - hải đảo

Các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu đã được ban hành nhưng chưa có khái niệm/định nghĩa, phương pháp tính, phương pháp thu thập số liệu

Một số chỉ tiêu về tỷ lệ đi học chung, đúng tuổi ở các cấp học có thể tính toán và tham khảo từ Khảo sát mức sống hộ gia đình của TCTK Tuy nhiên, cuộc điều tra này không có số liệu hàng năm

Chỉ tiêu Tỷ lệ đi học đúng tuổi hiện nay có thể có sai số nhất định do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là số liệu dự báo dân số hoặc do yếu tố

di cư Về lý thuyết, tỷ lệ này không thể lớn hơn 100% nhưng ở bậc tiểu học

hiện nay một số tỉnh/thành phố có tỷ lệ lớn hơn 100% Do vậy, nên tham khảo

số liệu của Khảo sát mức sống hộ gia đình của TCTK, nhưng thường không được phân tổ chi tiết đến tỉnh/thành phố

Các tỷ lệ học sinh đi học phân tổ theo giới tính số liệu thu thập học sinh theo độ tuổi chưa chính xác và số liệu dự báo dân số theo giới tính có nhiều phương án Phân tổ theo dân tộc Bộ chưa bao giờ tính toán tỷ lệ này, Bộ GD-

ĐT sẽ bổ sung phân tổ này vào chế độ báo cáo mới

Các chỉ số tỷ lệ thường được tính toán từ 2 nguồn số liệu: tử số lấy từ báo cáo của hành chính của ngành Giáo dục, mẫu số từ số liệu dân số của

Tổng cục Thống kê Tuy nhiên, số liệu dân số thường không cập nhật theo chu kỳ thu thập số liệu của ngành Giáo dục, các phân tổ không đảm bảo để tính toán Trong thực tế thường lấy từ số liệu dự báo dân số, do đó chất lượng

số liệu có thể không đảm bảo

Hiện nay việc tính toán tỷ lệ trẻ em khuyết tật học hòa nhập còn rất nhiều khó khăn do chưa có định nghĩa chuẩn về khuyết tật

Trang 20

Một số chỉ tiêu về học sinh phân tổ theo độ tuổi: Thu thập vào kỳ giữa năm, số liệu phản ánh chưa được chính xác qua các năm

Về học sinh bỏ học hiện nay có 2 cách tính:

Cách tính 1: tỷ lệ học sinh bỏ học theo UNESCO có một số tồn tại: Học sinh bỏ học được tính cho 12 tháng (từ tháng 9 năm nay đến tháng 9 năm sau), không loại trừ số học sinh chuyển đi Học sinh chuyển sang học các loại khác như bổ túc văn hóa, học trung cấp, học nghề bị tính vào học sinh bỏ học

Cách tính 2 Bộ GDĐT đang áp dụng: Học sinh bỏ học được tính cho 9 tháng học (từ tháng 9 khai giảng đến tháng 5 cuối năm học); đánh giá đúng

chất lượng giáo dục và loại trừ được số học sinh chuyển đi

Bộ sẽ bổ sung thêm chỉ tiêu số học sinh được công nhận hoàn thành chương trình THCS đối với học sinh khuyết tật học hòa nhập

Có 2 chỉ tiêu có trong hệ thống chỉ tiêu Quốc gia nhưng chưa có trong

hệ thống chỉ tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cần phải bổ sung 2 chỉ tiêu này vào hệ thống chỉ tiêu của ngành, là Tỷ lệ học sinh hoàn thành cấp học và Tỷ

lệ học sinh lưu ban, bỏ học Nguồn số liệu cho 2 chỉ tiêu này sẵn có tại Bộ và

có khả năng thu thập được số liệu

2 Bộ Y tế:

Do mới thành lập Tổng cục dân số trong Bộ Y tế nên trong phần này sẽ

rà soát hệ thống chỉ tiêu thống kê y tế của Bộ Y tế như truyền thống và hệ

thống chỉ tiêu thống kê của Tổng cục Dân số

2.1 H ệ thống chỉ tiêu thống kê của ngành Y tế:

Hệ thống chỉ tiêu thống kê của ngành Y tế gồm 127 chỉ tiêu, được ban hành theo Quyết định số 40/2006/QĐ-BYT, và được phân thành 17 nhóm theo chương trình và nhóm bệnh

Các phân tổ thường theo vùng, tỉnh/thành phố và cấp quản lý (Trung ương/địa phương)

Phân tổ theo giới chưa được áp dụng nhiều trong bộ chỉ tiêu do ít chỉ tiêu có phân tổ này và một số chỉ tiêu chưa được chú ý đến Ví dụ: phân tổ

giới trong các chỉ tiêu về HIV/AIDS, suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, mắc bướu cổ, mắc/chết các loại bệnh

Chưa có chỉ tiêu nào áp dụng phân tổ theo dân tộc

Trang 21

Phân tổ theo độ tuổi cũng ít được chú trọng, chủ yếu mới chỉ phân theo

độ tuổi trẻ em dưới 1, 5 và dưới 6 tuổi; và độ tuổi sinh đẻ của phụ nữ

Các chỉ tiêu trong hệ thống đã được chuẩn hóa về khái niệm/định nghĩa, phương pháp tính

Phạm vi thu thập số liệu của ngành y tế chưa bao quát được khu vực y

tế tư nhân, doanh nghiệp, tổ chức

Chỉ tiêu thu, chi bảo hiểm y tế cần bổ sung phân tổ theo đối t ượng (người nghèo, trẻ em < 6 tuổi, chính sách, tự nguyện ) và theo nguồn (ngân sách nhà nước doanh nghiệp, cá nhân)

Chỉ tiêu Chi tiêu y tế hộ gia đình nên lấy nguồn từ Khảo sát mức sống

hộ gia đình của TCTK

Một số chỉ tiêu về chi y tế tại các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, trường học, tổ chức từ thiện, y tế tư nhân, và chi ngân sách y tế kiến nghị cho điều tra hàng năm

Chỉ tiêu Tỷ lệ vị thành niên có thai, phá thai tuổi vị thành niên chưa đủ tính tin cậy mặc dù đã thu thập từ báo cáo định kỳ, khuyến nghị tổ chức điều tra

Chỉ tiêu Tỷ lệ cặp vợ chồng chữa vô sinh đề nghị tổ chức điều tra 5 năm/lần

Chỉ tiêu Tỷ lệ tử vong bà mẹ có hai nguồn số liệu: TCTK và Bộ Y tế Nguồn số liệu từ báo cáo hành chính của ngành Y tế không gồm những ca

chết ngoài cơ sở y tế Ngược lại nguồn của ngành Thống kê thường không đảm bảo phân tổ nhỏ do mẫu điều tra nhỏ

Chỉ tiêu Tỷ lệ xảy thai tự nhiên đề nghị bỏ vì ý nghĩa chỉ tiêu thấp

Chỉ tiêu Tổng số cơ sở dược toàn quốc không nên phân theo vùng, tỉnh

vì có thể tính trùng chi nhánh

Chỉ tiêu Doanh thu nhập khẩu thuốc, tiền thuốc bq đầu người, tỷ trọng

sử dụng thuốc trong nước trong điều trị đề nghị tổ chức điều tra

Chỉ tiêu Số ca nhiễm HIV nên bổ sung phân tổ giới và phụ nữ có thai

Trang 22

Chỉ tiêu Tỷ lệ lao phổi AFB(+) mới đề nghị điều tra để phân tích sâu theo giới và tuổi

Một số chỉ tiêu có nhiều nguồn số liệu như các chỉ tiêu về khám thai, tiêm uốn ván phụ nữ có thai, tiêm chủng của trẻ em dưới 1 tuổi, trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2.500 gram, có thể tham khảo từ kết quả điều tra của một số

cuộc điều tra mẫu của TCTK mặc dù nguồn số liệu của Bộ Y tế là chính

thống

Riêng chỉ tiêu Tỷ lệ tiêm chủng trẻ em dưới 1 tuổi 2 ngành áp dụng 2 phương pháp tính khác nhau Ngành Y tế dựa trên số liều vắc xin phát ra, trong khi ngành Thống kê phỏng vấn hộ Cả 2 phương pháp này đều có thể có

những sai số Cần cải tiến bằng cách thống kê từ thẻ tiêm chủng của trẻ em

2.2 H ệ thống chỉ tiêu thống kê của Tổng cục Dân số

Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban DSGĐTE trước đây đã ra Quyết định số 02/2005/QĐ-DSGĐTE ngày 29/7/2005 của về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê dân số, gia đình và trẻ em

Hệ thống chỉ tiêu này được thu thập, tính toán, sử dụng đúng theo qui định về khái niệm, định nghĩa qui định chung của hệ thống chỉ tiêu thống kê

quốc gia do Tổng cục Thống kê ban hành

Về phạm vi thu thập, đây là các chỉ tiêu cơ bản nên phạm vi thu thập là trên toàn quốc phân tổ theo tất cả các vùng địa lý kinh tế, vùng thành thị/nông thôn, theo đơn vị quản lý hành chính tỉnh/ huyện/ xã

Hệ thống chỉ tiêu DS-KHHGĐ đều phân tổ theo đơn vị quản lý hành chính các cấp; thành thị/nông thôn; vùng địa lý kinh tế

Số liệu DS-KHHGĐ gồm 2 nguồn chính là TCTK và báo cáo thống kê định kỳ của ngành DS-KHHGĐ

Hệ thống chỉ tiêu DS-KHHGĐ này đã đáp ứng được yêu cầu sử dụng trong thời gian qua Tuy nhiên do biến động về tổ chức và cán bộ ở trung ương và địa phương, đồng thời để đáp ứng nhu cầu số liệu ngày càng tăng trong tình hình mới, TCDS đand nghiên cứu đề xuất hệ thống chỉ tiêu DS -KHHGĐ mới theo hướng gọn nhẹ và hiệu quả hơn

2.3 Bộ Y tế đã đề xuất các kiến nghị/giải pháp sau:

(i) Hoàn ch ỉnh hệ thống chỉ tiêu Ngành Y tế:

a) Xem xét bổ sung hệ thống chỉ tiêu quốc gia và hệ thống chỉ tiêu

của ngành Y tế phù hợp với tình hình thực tiễn mới

Trang 23

b) Bổ sung những chỉ tiêu liên quan đến dân số và kế hoạch hóa gia đình

c) Bổ sung chỉ tiêu thể hiện một số chính sách mới của ngành Y tế như chỉ tiêu về giới khi sinh, một số chỉ tiêu báo cáo quốc tế như

chỉ tiêu thiên niên kỷ, chỉ tiêu báo cáo hàng năm cho Tổ chức Y

tế thế giới d) Đối với chỉ tiêu thu thập từ nhiều nguồn khác nhau cần khuyến cáo lấy từ nguồn số liệu đủ độ tin cậy, đáp ứng kịp thời cho các nhà quản lý

Dựa vào Hệ thống chỉ tiêu ngành Y tế đã ban hành, cần phân loại rõ chỉ tiêu nào, thuộc lĩnh vực nào và phân tổ gì thì thu thập thông qua báo cáo định

kỳ, những chỉ tiêu nào không thu thập được qua hệ thống định kỳ cần thu thập thông qua điều tra Đề xuất danh mục và phương án điều tra gửi Tổng cục

Thống kê thẩm định để trình Chính phủ phê duyệt

Bộ Y tế cần tăng cường khai thác các thông tin trong những hồ sơ hành chính (khai thác bệnh án, hồ sơ dịch bệnh, sổ khám bệnh, sổ tử vong ) để có

thể phân tích chỉ tiêu theo phân tổ giới, tuổi, dân tộc

Đối với nhóm chỉ tiêu liên quan tới các Bộ/ngành khác: Tổng cục

Thống kê là đơn vị đầu mối chủ trì việc chia sẻ thông tin do Bộ Y tế thu thập

từ các Bộ ngành khác và từ Tổng cục Thống kê Cụ thể như sau:

a) Các chỉ số giá tiêu dùng đối với nhóm hàng dược phẩm và dịch

vụ y tế b) Các chỉ tiêu tổng hợp nền kinh tế, thu chi NSNN chung và NSNN dành cho ngành Y tế

c) Những thông tin từ các Bộ ngành khác (Bộ NN & PTNN, Bộ Tài chính, Bộ lao động TBXH, BHXH Việt nam )

d) Chia sẻ những thông tin y tế do Tổng cục thống kê được giao trách nhiệm thu thập, công bố như dân số (theo độ tuổi, giới, thành thị/nông thôn) và thông tin sinh tử: tỉ số chết mẹ (theo

tỉnh/thành phố, theo nguyên nhân chết), chết trẻ em (theo giới,

tuổi, nguyên nhân)

Để đáp ứng cho việc quản lý theo vùng lãnh thổ, cần có sự phối hợp và chia sẻ thông tin không những tại tuyến trung ương mà cần phối hợp chia sẻ

số liệu giữa các đơn vị các tuyến thuộc ngành dọc của ngành Y tế với ngành

dọc của Hệ thống thống kê nhà nước do Tổng cục quản lý và chỉ đạo

Trang 24

Thực tế có chỉ tiêu được nhiều Bộ/ngành thu thập, khái niệm chỉ tiêu không thống nhất do vậy Tổng cục thống kê cần có hội thảo thống nhất, chuẩn hóa thống nhất hệ thống chỉ tiêu phù hợp với thực tế Việt Nam, thống nhất

giữa các Bộ/ngành và tham khảo những khái niệm, chuẩn của quốc tế

(ii) Ki ện toàn bộ máy làm công tác thống kê: phân công cán bộ có

trách nhiệm thu thập, chia sẻ thông tin giữa các đơn vị Có chính sách đãi ngộ

thỏa đáng để cán bộ thống kê an tâm làm việc lâu dài, nâng cao chất lượng số

liệu đáp ứng đầy đủ cho người sử dụng số liệu, các nhà quản lý và hoạch định chính sách

(iii) C ải tiến chế độ báo cáo thống kê định kỳ nhằm đáp ứng thông tin

kịp thời cho công tác quản lý của Bộ Y tế và cung cấp đầy đủ thông tin đã được phân công trong bộ chỉ tiêu quốc gia được Thủ tướng Chính phủ ban hành

(iv) Xây d ựng và nâng cấp hệ thống biểu mẫu phù hợp với Hệ thống

chỉ tiêu thống kê quốc gia và của Ngành Y tế, phân cấp hệ thống chỉ tiêu cho

từng tuyến đáp ứng nhu cầu thông tin hiện nay (bao gồm cả hệ thống y tế tư nhân)

(v) Nâng cao năng lực cán bộ:

a) Đào tạo cho cán bộ về nghiệp vụ thống kê : các phương pháp

thống kê, phân tích, dự báo, tài khoản quốc gia cho các bộ tuyến trung ương, bao gồm: các vụ, cục, viện Phần đào tạo này

rất cần sự hỗ trợ nghiệp vụ từ Tổng cục Thống kê b) Mở lớp đào tạo cho cán bộ thống kê: thống kê cơ bản, cách ghi chép biểu mẫu, làm báo cáo và tính toán các chỉ số cơ bản cho các đơn vị y tế và các tuyến

c) Đào tạo cho cán bộ kế hoạch, quản lý: sử dụng số liệu trong phân tích, đánh giá và hoạch định chính sách

d) Tăng cường đào tạo nghiệp vụ thống kê: TCTK cần tổ chức các

lớp nghiệp vụ cho các Bộ nâng cao kỹ năng phân tích, dự báo

thống kê Hướng dẫn về phương pháp điều tra đối với những chỉ tiêu phân công cho Bộ Y tế mà không thu thập được qua báo cáo định kỳ

(vi) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý, xử lý và

truyền tin Xây dựng cơ sở dữ liệu tại tuyến trung ương, tuyến tỉnh Tăng

Trang 25

cường phổ biến số liệu y tế thông qua trang web thống kê, các ấn phẩm thống

kê (niên giám thống kê, phân tích chuyên đề )

Trang 26

3 B ộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Ngoài chịu trách nhiệm về số liệu của 11 chỉ tiêu trong HTCTTKQG

Bộ LĐTBXH đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu riêng gồm 32 chỉ tiêu về lao động việc làm, dạy nghề, tệ nạn xã hội theo Quyết định số 12/2006/QĐ -LĐTBXH

Phân tổ vùng, tỉnh/thành phố được áp dụng trong hầu hết các chỉ tiêu liên quan

Phân tổ giới cũng được áp dụng cho hầu hết các chỉ tiêu liên quan đến con người

Tuy nhiên phân tổ nhóm tuổi và nhất là phân tổ về dân tộc ít được

thống kê trong bộ chỉ tiêu này

Riêng chỉ tiêu Tỷ lệ hộ nghèo có sự khác nhau về phương pháp tính Ngân hàng Thế giới tính toán tỷ lệ nghèo dựa trên chi tiêu, Tổng cục Thống

kê tính toán dựa trên thu nhập của hộ gia đình được điều tra, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng dựa trên thu nhập của hộ gia đình nhưng không qua điều tra mà qua báo cáo từ cơ sở Mỗi ngành có ưu, nhược điểm riêng trong cách tính toán tỷ lệ nghèo Ngành Lao động có thể chỉ ra được hộ nào nghèo để phục vụ cho công tác quản lý của ngành, tuy nhiên độ chính xác chưa được đảm bảo Ngành Thống kê có phương pháp thu thập số liệu và tính toán khoa học nhưng không lập được danh sách hộ nghèo và đó cũng không

phải là mục đích của Ngành Thống kê

Tổng cục Thống kê dựa vào số liệu thu nhập vì cho rằng thu nhập mới

mô tả chính xác nhất tình trạng giàu nghèo của hộ gia đình, tuy nhiên rất khó

để có thể khai thác chính xác nhất số liệu thu nhập của hộ gia đình qua điều tra Ngân hàng Thế giới tính toán dựa vào số liệu chi tiêu để tính toán vì theo

lập luận chi tiêu mô tả rõ nét hơn mức sống của hộ gia đình, tuy nhiên có thể chi tiêu, đặc biệt là chi tiêu dùng lương thực thực phẩm sẽ không tăng hoặc có

thể giảm đi nếu thu nhập của hộ gia đình tăng lên

Tỷ lệ hộ, nhân khẩu thiếu đói có 2 nguồn số liệu: Bộ LĐTBXH và TCTK Hai nguồn số liệu này không có sự khác biệt về khái niệm và phương pháp tính, nhưng cần có quy định phương pháp tính cụ thể số hộ và nhân khẩu thiếu đói sau mỗi đợt thiếu đói

Bộ LĐTBXH đề xuất thêm, bớt một số phân tổ, trong đó có một số phân tổ về giới tính, dân tộc và nhóm tuổi như sau:

Trang 27

- Cần có quy định độ/nhóm tuổi phù hợp khi phân tổ theo độ tuổi của các chỉ tiêu Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đang hưởng trợ cấp, Số người cao

tuổi đang hưởng trợ cấp, Số người được cai nghiện nghiện ma tuý, Số đối tượng mại dâm có hồ sơ quản lý, Số đối tượng mại dâm được giáo dục, chữa

trị, Số lượng và tỷ lệ đối tượng tái phạm mại dâm

- Cần phân tổ theo một số dân tộc chủ yếu cho các chỉ tiêu Số hộ nghèo

và tỷ lệ hộ nghèo, Số hộ thoát nghèo, Số hộ nghèo phát sinh

Đối với thống kê trẻ em mới chuyển về Bộ LĐTBXH, Bộ đang triển khai nghiên cứu, biên soạn để ban hành Hiện nay h ệ thống số liệu thu thập các chỉ tiêu về trẻ em còn nhiều trùng lặp, các bộ chỉ số đã được xây dựng từ trước đây nhưng cơ chế phối hợp giữa các Bộ ngành chưa chính thức (kể cả

Bộ chỉ số Quyền trẻ em) hoặc đang trong giai đoạn thí điểm nên các số liệu về

trẻ em còn thiếu nhiều và chưa có hệ thống cập nhật

Các bộ chỉ số liên quan đến trẻ em hiện nay gồm có: Bộ chỉ số về Quyền trẻ em (84 chỉ số), Bộ chỉ số bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thương mại (27 chỉ số), Bộ chỉ số tư pháp người chưa thành niên (40 chỉ số),

Bộ chỉ số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (39 chỉ số), Bộ chỉ số phụ nữ và trẻ em dân tộc thiểu số, Bộ chỉ số tai nạn thương tích Các bộ chỉ số không được kết

nối với nhau vì vậy có sự chồng chéo Rất nhiều chỉ số đã được lặp lại ở

những bộ chỉ số khác Một số khái niệm định nghĩa chưa thống nhất kể cả các

cơ quan trong nước cũng như so sánh khu vực và quốc tế

Số liệu liên quan đến trẻ em chưa có sẵn nhiều, đặc biệt các số liệu có liên quan đến bảo vệ trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em lao động, trẻ

tổng hợp số liệu về bảo vệ và chăm sóc trẻ em vào hệ thống chỉ tiêu thống kê

và chế độ báo cáo thống kê của Bộ LĐTBXH Hệ thống chỉ tiêu về bảo vệ và chăm sóc trẻ em gồm 21 chỉ tiêu, trong đó các chỉ tiêu về trẻ em đều đã có phân tổ theo giới, nhóm tuổi nhưng còn ít chỉ tiêu phân tổ về dân tộc

(Xem Phụ lục 1: Đề xuất Hệ thống chỉ tiêu thống kê về bảo vệ và chăm sóc

trẻ em của chuyên gia Dự án hỗ trợ giám sát phát triển kinh tế xã hội (VIE00040722))

Trang 28

4 B ộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Bộ trưởng Bộ NNPTNT đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu riêng gồm 230

chỉ tiêu theo Quyết định số 71/2006/QĐ-BNN ngày 14/9/2006, trong đó 159

chỉ tiêu do Bộ tự sản xuất, số còn lại lấy từ Tổng cục Thống kê và các Bộ ngành khác

Các phân tổ theo vùng, tỉnh, giới tính và dân tộc đã được ngành NNPTNT cố gắng lồng ghép tối đa trong hệ thống chỉ tiêu ngành Phân tổ nhóm tuổi ít được lồng ghép vì thực tế nhu cầu thông tin chưa cao và số liệu

chủ yếu phải dựa vào số liệu của Tổng cục Thống kê và các Bộ/ngành khác

Số liệu của các chỉ tiêu đã đáp ứng được nhu cầu quản lý của Chính

phủ và Lãnh đạo Bộ Tuy nhiên phục vụ nhu cầu dùng tin của các đối tượng dùng tin khác còn hạn chế Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chưa

xuất bản được niên giám thống kê ngành hàng năm; số liệu công bố trên trang web của Bộ cũng rất hạn chế và chủ yếu phục vụ cho việc quản lý ngành

Bộ đề nghị cần xây dựng một cơ chế chia sẻ thông tin giữa các

Bộ/ngành và đề nghị Tổng cục Thống kê là đầu mối trong việc chia sẻ thông tin này

5 Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan sử dụng các số liệu từ các bộ, ngành, các địa phương và số liệu của Tổng cục Thống kê để đánh giá tình hình thực

hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội

Đối với kế hoạch 2006-2010, Bộ trưởng Bộ KHĐT đã ban hành Quyết định số 555/2007/QĐ-BKH ngày 30/5/2007 về việc ban hành Khung theo dõi

và đánh giá dựa trên kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm 2006 -2010 Trong khung theo dõi và đánh giá này có hàng loạt các chỉ tiêu/chỉ số được phân công cho các bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện theo thời gian quy định

Hiện nay mới là kỳ thu thập số liệu đầu tiên của khung giám sát đánh giá nên việc đánh giá các chỉ tiêu trong khung theo các phân tổ chưa thể thực

hiện được Do vậy, việc đánh giá sẽ dựa chủ yếu vào phân loại chỉ tiêu trong khung đánh giá theo hai nhóm:

- Các chỉ tiêu có trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia hoặc có thể tính toán từ Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, và

Trang 29

- Các chỉ tiêu ngoài Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

5.1 Đánh giá các chỉ tiêu có trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia hoặc

có th ể tính toán từ Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Theo chuyên gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì nên xem xét loại bỏ

bớt một số chỉ tiêu không cần thiết, đồng thời bổ sung thêm nhiều các chỉ tiêu

kết quả, tác động đối với các chính sách cụ thể; bổ sung thêm các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ công; các chỉ tiêu về môi trường, các chỉ tiêu liên quan đến khối doanh nghiệp

Thời gian công bố các chỉ tiêu cần trên khả năng thu thập để đảm bảo

số liệu đưa ra được chính xác tới mức cao nhất có thể

Các chỉ tiêu thuộc HTCTTKQG cần được đưa vào Niên giám thống kê hàng năm để phục vụ cho công tác chuyên môn báo cáo Quốc hội, Chính phủ

Hiện nay nhiều chỉ tiêu trong HTCTTKQG chưa được công bố trong Niên giám thống kê, làm cho việc báo cáo số liệu qua từng năm có sự lệch nhau khá lớn, ví dụ các chỉ tiêu về môi trường dưới đây:

2311 Tỷ lệ các đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất đã xử lý rác thải, nước thải đạt tiêu chuẩn quy định, phân theo loại đô thị

2312 Tỷ lệ chất thải nguy hại đã xử lý đạt tiêu chuẩn quy định, phân theo loại chất thải

2313 Tỷ lệ nước thải đã xử lý, phân theo loại nước thải, tỉnh/thành phố

5.2 Đánh giá các chỉ tiêu không thuộc HTCTTKQG

Về định nghĩa, khái niệm, phương pháp tính toán cụ thể cho từng chỉ tiêu đề nghị trong thời gian tới Tổng cục Thống kê phối hợp với các Bộ ngành xác định lại cho phù hợp Nếu theo các cách tiếp cận khác nhau của từng đơn

vị như hiện nay thì số liệu đôi khi còn có sự khác biệt rất nhiều Ví dụ, chỉ tiêu về tổng vốn đầu tư toàn xã hội thì những loại hình nào được tính là đầu

tư, đầu tư ra sản phẩm, đầu tư gián tiếp, mua sắm trang thiết bị, hoặc phân

biệt các nguồn vốn giữa NSNN, trái phiếu Chính phủ, DNNN, tín dụng nhà

Trang 30

nước, tư nhân, cần có sự phân biệt cụ thể để tránh có sự hiểu lầm hoặc trùng

lắp khi tính toán

Các phân tổ cụ thể cho từng chỉ tiêu chưa đặt thành yêu cầu khi xây

dựng khung theo dõi và giám sát Việc này Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần tiếp

tục xây dựng và hoàn thiện sau khi sử dụng khung này trong đánh giá giữa kỳ

6 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Với nhu cầu của một cơ quan hiệp hội về giới, ngày 09/6/2008, Hội

Phụ nữ đã có công văn đề nghị TCTK xem xét, chuẩn hóa các chỉ tiêu về giới vào HTCTTKQG Hội LHPNVN vừa thành lập Trung tâm Thông tin Tư liệu

- Một đơn vị trực thuộc Đoàn Chủ tịch Hội LHPNVN, có chức năng, nhiệm

vụ thu thập, hình thành, tổ chức, quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu của Hội Trung tâm là đơn vị đầu mối về công tác Thống kê của hội

(Xem Phụ lục 2: Danh sách đề nghị các chỉ tiêu và phân tổ của Hội LHPN)

Trang 31

PHẦN II CÁC HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ

I H Ệ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ QUỐC GIA

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (HTCTTKQG) đã được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành theo quyết định 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005,

gồm 24 nhóm chỉ tiêu với tổng số 274 chỉ tiêu (xem chi tiết phụ lục 3 đính kèm) Đây là những chỉ tiêu cơ bản phản ánh một cách toàn diện tình hình kinh tế xã hội của nước ta Hệ thống chỉ tiêu này bao gồm phần lớn các chỉ tiêu thống kê kinh tế xã hội đã được đưa vào niên giám thống kê quốc gia

những năm qua Các nhóm chỉ tiêu trên được phân công một phần cho các cơ quan, bộ ngành chịu trách nhiệm chính thức thu thập tổng hợp số liệu Các nhóm chỉ tiêu trong HCTTKQG có các phân tổ về giới tính, độ tuổi, dân tộc, vùng gồm các nhóm sau:

Chỉ tiêu này đáp ứng được nhu cầu của bộ, ngành Dân số được thu

thập và tính toán theo khái niệm nhân khẩu thực tế thường trú, khái niệm này được sử dụng ở tất cả các cuộc tổng điều tra dân số trên thế giới

Dân số hàng năm được tính toán trên cơ sở phương trình cân bằng dân

mẫu dân số và KHHGĐ hàng năm

Trang 32

Các nguồn số liệu khác:

Ngành dân số và kế hoạch hoá gia đình cũng có hệ thống thu thập số

liệu về dân số từ “Sổ Dân số” do cộng tác viên dân số quản lý Về văn bản, sổ dân số cũng sử dụng khái niện “nhân khẩu thực tế thường trú” như của Tổng

cục Thống kê Tuy nhiên, trong thực tế, cộng tác viên dân số thường chỉ đăng

ký vào sổ những đối tượng thuộc phạm vi quản lý và vận động KHHGĐ của

họ (dân số của thôn/ấp/tổ dân phố) Như vậy sẽ bỏ qua các nhân khẩu thuộc các ngành quân đội, công an qu ản lý cũng như các khu tập thể của các cơ quan tổ chức nhà nước, các ký túc xá của học sinh, sinh viên Vì vậy, số liệu thu thập được của ngành Dân số, KHHGĐ thường bị thiếu

Ngành Công an cũng có hệ thống thu thập số liệu dân số từ “Sổ đăng

ký hộ tịch, hộ khẩu” do công an xã/phường quản lý Tuy nhiên sô liệu dân số

tổng hợp được từ hệ thống sổ sách này chỉ bao gồm số người đã được ngành công an đăng ký hộ khẩu thường trú (Sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu cũng ghi chép các đối tượng KT3, KT4 nhưng không theo dõi được những biến động

của họ theo thời gian) Chính vì vậy, số liệu dân số do ngành Công an tổng

hợp cũng thường bị thiếu

Số liệu dân số công bố hàng năm và 5 năm chỉ được tính toán và phân

tổ theo nhóm 5 độ tuổi và chỉ phân tổ được đến cấp tỉnh/thành phố vì lấy từ nguồn điều tra chọn mẫu Nên chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dùng tin, đặc biệt là của ngành Giáo dục, đào tạo (yêu cầu phân tổ dân số theo từng độ tuổi)

Số liệu của các cuộc tổng điều tra dân số được công bố trong các ấn

phẩm, trong các đĩa CD-ROM, các cơ sở dữ liệu vĩ mô và vi mô, và được đưa lên trang WEB của Tổng cục Thống kê Số liệu dân số hàng năm được công

bố trong các niên giám Thống kê

Kiến nghị:

- Mẫu của các cuộc điều tra biến động dân số và KHHGĐ hàng năm cần thiết kế đại diện đến cấp huyện để có thể tính toán được số lượng dân

số đến cấp huyện

- Các số liệu dân số cần được phân tổ theo từng độ tuổi (ít nhất cho cấp

tỉnh) để có thể phục vụ tốt hơn nhu cầu của đối tượng dùng tin

- Các cơ sở dữ liệu vi mô cần được phổ biến rộng rãi hơn

0202 S ố hộ

Trang 33

Chỉ tiêu này đáp ứng được nhu cầu của tất cả các bộ, ngành Khái niệm

hộ được sử dụng trong các cuộc tổng điều tra dân số cũng như các cuộc điều tra biến động dân số và KHHGĐ là hộ cư trú, với điều kiện là ở chung và ăn chung, không nhất thiết phải có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống cũng như không nhất thiết phải có quĩ thu chi chung

Khái niệm này không giống với khái niệm hộ trong Khảo sát mức sống

hộ gia đình Vì mục đích của Khảo sát mức sống hộ gia đình phục vụ cho việc tính toán các chỉ tiêu liên quan đến mức sống, không phục vụ việc công bố số

liệu về số hộ

Số liệu số hộ chủ yếu thu thập và công bố qua các cuộc Tổng điều tra dân số thực hiện 10 năm 1 lần Ngoài ra, hàng năm Tổng cục Thống kê cũng công bố số liệu về số hộ dựa vào kết quả suy rộng mẫu của các cuộc điều tra

chọn mẫu dân số và KHHGĐ hàng năm

Số liệu hộ gia đình hàng năm chỉ được công bố đến cấp tỉnh/thành phố Các số liệu về tỷ suất sinh thô hàng năm đều được công bố trong “Niên giám Thống kê” của Tổng cục Thống kê và trong các tài liệu công bố kết quả điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ hàng năm (Những kết quả

chủ yếu)

Kiến nghị: Mẫu của các cuộc điều tra biến động dân số và KHHGĐ hàng năm cần thiết kế đại diện đến cấp huyện để có thể tính toán được số lượng hộ đến cấp huyện

0204 T ỷ suất sinh thô

Chỉ tiêu này đáp ứng được nhu cầu của bộ/ngành Các khái niệm, định nghĩa về tỷ suất sinh thô được sử dụng nước ta là những khái niệm, định nghĩa chuẩn của Liên Hợp Quốc

Tỷ suất sinh thô được tính toán dựa trên các thông tin thu được trong các cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình hàng

Trang 34

năm Tuy nhiên chỉ tiêu này không được tính trực tiếp bằng cách chia tổng số sinh trong năm cho dân số trung bình trong năm đó, mà thu được qua ước lượng gián tiếp bằng phương pháp Trussell P/F, được phát triển từ phương pháp P/F của Brass Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến ở các nước đang phát triển, những nơi mà hệ thống đăng ký hộ tịch và thống kê dân số chưa được ho àn thiện Phương pháp này ngoài việc sử dụng số tliệu về số trường hợp sinh trong năm được phân tổ theo tuổi của người mẹ còn phải sử

dụng số liệu về số con đã sinh cũng chia theo tuổi của người mẹ Dựa vào các

số liệu này, bằng phương pháp Trussell P/F, có thể tính được hệ số điều chỉnh

để từ đó điều chỉnh lại sổtường hợp thu được trong điều tra

Mặc dù phương pháp Trussell P/F được sử dụng ở rất nhiều nước trên

thế giới nhưng nó có những hạn chế nhất định Khởi thuỷ, phương pháp này được Brass xây dựng để sử dụng cho các nước Châu Phi, nơi có mức độ sinh

rất cao Mặc dù đã được Trussell cải tiến, nhưng phương pháp này cũng vẫn

chỉ phù hợp cho những nước có mức độ sinh cao, tức là ở những nước có tỷ lệ

sử dụng các biện pháp tránh thai thấp Bởi vậy, khi sử dụng phương pháp Trussell P/F để ước lượng chỉ tiêu tỷ suất sinh thô cũng có những hạn chế

nhất định

Do các số liệu về sinh được thu thập qua các cuộc điều tra chọn mẫu

biến động dân số và KHHGĐ hàng năm mà mẫu của cuộc điều tra này chỉ đại

diện cho cả nước và cấp tỉnh nên không thể tính toán được tỷ suất sinh thô cho các cấp hành chính nhỏ hơn (huyện/quận và xã/phường)

Cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, công tác thống kê

hộ tịch dựa trên tài liệu đăng ký hộ tịch của nước ta còn nhiều hạn chế nên tỷ

suất sinh thô được tính toán từ những số liệu thu được từ các cuộc tổng điều tra dân số và các cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ hàng năm Mặc dù còn có những hạn chế nhất định những có thể nói đây là nguồn thông tin về sinh tốt nhất hiện có

Tỷ suất sinh thô được thu thập và công bố mỗi năm một lần Điều này phù hợp với kỳ thu thập và công bố thông thường trên thế giới

Các nguồn số liệu khác:

Ngành Dân số và kế hoạch hoá gia đình cũng có hệ thống thu thập số

liệu về sinh từ “Sổ Dân số” do cộng tác viên dân số ở các thôn/xóm/ấp/bản/tổ dân phố quản lý Về văn bản, sổ dân số cũng sử dụng khái niệm “sinh sống – live birth” như của Tổng cục Thống kê Tuy nhiên, trong thực tế, cộng tác viên dân số thường chỉ đăng ký vào sổ những trường hợp sinh còn sống mà bỏ

Trang 35

qua những trường hợp sinh ra chết ngay và các trường hợp sinh của các nhân

khẩu thuộc các ngành quân đội, công an quản lý cũng như các khu tập thể của các cơ quan tổ chức nhà nước, các ký túc xã của học sinh, sinh viên Vì vậy,

số liệu sinh thu thập được của ngành Dân số, KHHGĐ thường bị thiếu

Ngành Tư pháp cũng có hệ thống thu thập số liệu sinh từ “Sổ Đăng ký

hộ tịch” do cán bộ tư pháp xã/phường quản lý Tuy nhiên số liệu về số trường

hợp sinh tổng hợp được từ hệ thống sổ sách này chỉ bao gồm số trường hợp sinh đã được đăng ký khai sinh, trong khi đó số không đăng ký khai sinh hoặc đăng ký muộn còn khá lớn Ngoài ra các trường hợp sinh của các nhân khẩu thuộc các đối tượng KT3, KT4 cũng không được đăng ký khai sinh Chính vì

vậy, số liệu về các trường hợp sinh do ngành Tư pháp tổng hợp cũng thường

bị thiếu

Các số liệu về tỷ suất sinh thô hàng năm đều được công bố trong “Niên giám Thống kê” của Tổng cục Thống kê và trong các tài liệu công bố kết quả điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ hàng năm (Những kết quả

chủ yếu)

Kiến nghị: Mẫu của các cuộc điều tra biến động dân số và KHHGĐ hàng năm cần thiết kế đại diện đến cấp huyện để có thể tính toán được tỷ suất sinh thô đến cấp huyện

niệm/định nghĩa được sử dụng trên thế giới

Tỷ suất chết thô cũng được tính toán dựa trên các thông tin thu được trong các cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình hàng năm Tuy nhiên chỉ tiêu này không được tính trực tiếp bằng cách chia

tổng số chết trong năm cho dân số trung bình trong năm đó, mà thu được qua ước lượng gián tiếp bằng phương pháp gián tiếp dựa trên cơ sở số liệu về con

đã sinh và số con còn sống chia theo nhóm tuổi của người mẹ Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến ở các nước đang phát triển, những nơi mà hệ

thống đăng ký hộ tịch và thống kê dân số chưa được hoàn thiện Dựa vào các

Trang 36

số liệu này, bằng phần mền QFIVE do Vụ Dân số của Cục Phát triển các vấn

đề kinh tế và xã hội của Liên Hợp Quốc xây dựng, có thể ước lượng được tỷ

suất chết của trẻ sơ sinh (IMR) để từ đó xác định được tuổi thọ trung bình tính

từ lúc sinh Dựa vào bảng sống mẫu của Coale-Demeny, sử dụng phần mềm

“Đo lường mức dộ chết” của Liên Hợp Quốc (MORPAK) để được tỷ suất

chết đặc trưng theo độ tuổi Nhân tỷ suất chết đặc trưng theo độ tuổi với dân

số chia theo độ tuổi tương ứng sẽ được tổng số chết ước lượng được trong năm Chia tổng số chết ước lượng trong năm cho dân số trung bình sẽ được ước lượng về tỷ suất chết thô thu được trong điều tra

Mặc dù phương pháp ước lượng gián tiếp nói trên được sử dụng ở rất nhiều nước trên thế giới nhưng nó có những hạn chế nhất định Do phương pháp này phụ thuộc vào mức độ đầy đủ của số liệu về số con đã sinh mà số

liệu này thường bị thiếu do phụ nữ thường bỏ sót về số con đã chết Do bỏ sót

số con đã chết sẽ dẫn đến làm giảm tỷ suất chết của trẻ sơ sinh và kết quả là

Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh cao hơn thực tế Cuối cùng nó sẽ làm

giảm tổng số chết ước lượng được và tỷ suất chết thô vẫn bị thấp hơn so với

thực tế

Chỉ tiêu này được tính toán từ các số liệu mẫu chỉ đại diện được cho cả nước, cho khu vực thành thị/nông thôn của cả nước và cho cấp tỉnh, thành

phố

Cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, công tác thống kê

hộ tịch dựa trên tài liệu đăng ký hộ tịch của nước ta còn nhiều hạn chế nên tỷ

suất chết thô được tính toán từ những số liệu thu được từ các cuộc tổng điều tra dân số và các cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ hàng năm Mặc dù còn có những hạn chế nhất định những có thể nói đây là nguồn thông tin về chết tốt nhất hiện có

Tỷ suất chết thô được thu thập và công bố mỗi năm một lần Điều này phù hợp với kỳ thu thập và công bố thông thường trên thế giới

Các nguồn số liệu khác:

Cũng như tỷ suất sinh thô, hai ngành Dân số - KHHGĐ và Tư Pháp

cũng có hệ thống đăng ký và thu thập số liệu về mức độ chết Tuy nhiên, ngài

những hạn chế như đối với chỉ tiêu tỷ suất sinh thô, cả 2 hệ thống này nói chung đều không đăng ký và thu thập được các trường hợp sinh ra chỉ đượcít phút, ít ngày đã chết

Trang 37

Số liệu của các cuộc tổng điều tra dân số được công bố trong các ấn

phẩm, trong các đĩa CD-ROM, các cơ sở dữ liệu vĩ mô và vi mô, và được đưa lên trang WEB của Tổng cục Thống kê

Kiến nghị: Mẫu của các cuộc điều tra biến động dân số và KHHGĐ hàng năm cần thiết kế đ ại diện đến cấp huyện để có thể tính toán được số lượng hộ đến cấp huyện

0207 T ỷ suất tăng dân số (chung, tự nhiên)

(Các nh ận xét và kiến nghị như chỉ tiêu tỷ suất sinh thô)

0208 T ỷ suất nhập cư, xuất cư, di cư thuần

Chỉ tiêu này đáp ứng được nhu cầu của bộ/ngành Trong các cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ hàng năm đã không trực tiếp thu

thập các trường hợp chuyển đi của dân số mà số người chuyển đi được khai thác từ địa chỉ xuất phát của người chuyển đến (theo dạng tổng hợp bàn cờ) Điều này giúp cho số người chuyển đi và chuyển đến trong cả nước luôn luôn

bằng nhau Đối với các cuộc tổng điều tra dân số, khi chỉ tiêu này được thu

thập toàn diện, cách tiếp cận này có thể chấp nhận được Tuy nhiên, đối với các cuộc điều tra chọn mẫu, cách tính này lại có những hạn chế nhất định liên quan đến quyền số khi gia quyền hoặc suy rộng Chúng ta biết rằng, người di chuyển thường có tính địa phương rẩt cao (cùng quê hương, làng xóm) Điều này sẽ làm chệch kết quả khi gia quyền hoặc suy rộng

Chỉ tiêu này được tính toán từ các số liệu mẫu chỉ đại diện được cho cả nước, cho khu vực thành thị/nông thôn của cả nước và cho cấp tỉnh, thành

phố

Nguồn thu thập các thông tin để tính toán các chỉ tiêu này là các cuộc

tổng điều tra dân số và các cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ hàng năm

Các chỉ tiêu này được thu thập và công bố mỗi năm một lần

Các nguồn số liệu khác:

Ngành Công an cũng có hệ thống thu thập số liệu về di chuyển của dân

số từ “Sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu” do công an xã/phường quản lý Tuy nhiên

sô liệu về chuyển đi và chuyển đến của dân số tổng hợp được từ hệ thống sổ sách này chỉ bao gồm số người chuyển đi đã được ngành công an cắt hộ khẩu

Trang 38

thường trú và số người chuyển đến đã được ngành công an nhập hộ khẩu (Sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu cũng ghi chép các đối tượng KT3, KT4 nhưng không theo dõi được những biến động của họ theo thời gian) Chính vì vậy, số

liệu di chuyển của dân số do ngành Công an tổng hợp cũng thường bị thiếu rất nhiều

Nói chung, số liệu di cư của dân số theo độ tuổi công bố trong các cuộc điều tra biến động dân số và KHHGĐ hàng năm chỉ được tính toán và phân tổ theo nhóm 5 độ tuổi điều này chưa đáp ứng được hoàn toàn nhu cầu sử dụng

của người dung tin, đặc biệt là yêu cầu tính toán số liệu dân số theo độ tuổi

của ngành Giáo dục, đào tạo (yêu cầu phân tổ dân số theo từng độ tuổi) Các chỉ tiêu về di chuyển trong các cuộc tổng điều tra dân số được công

bố trong các ấn phẩm, trong các đĩa CD-ROM, các cơ sở dữ liệu vĩ mô và vi

mô, và được đưa lên trang WEB của Tổng cục Thống kê

Các chỉ tiêu về di chuyển trong điều tra biến động dân số và KHHGĐ được công bố trong các xuất bản phẩm kết quả chủ yếu

Kiến nghị: Mẫu của các cuộc điều tra biến động dân số và KHHGĐ hàng năm cần thiết kế đại diện đến c ấp huyện để có thể tính toán được số lượng hộ đến cấp huyện

0209 Tu ổi thọ trung bình tính từ lúc sinh

Chỉ tiêu này đáp ứng được nhu cầu của bộ/ngành Nói chung, do số người chết thu được trong các cuộc tổng điều tra dân số cũng như trong các

cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ hàng năm vừa bị thiếu,

vừa có số lượng ít nên tuổi thọ trung bình của dân số Việt Nam hiện nay không được lấy từ bảng sống tính trực tiếp dựa trên số người chết và dân số chia theo độ tuổi thu được trong một năm nhất định mà được ước lượng từ tỷ

suất chết của trẻ sơ sinh (IMR) dựa trên bảng sống mẫu Coale-Demeny Trong khi đó, tỷ suất chết của trẻ sơ sinh lại được ước lượng gián tiếp dựa trên cơ sở số liệu về số con đã sinh và số con còn sống chia theo tuổi của người me mà hạn chế của phương pháp ước lượng này đã được trình bày trong chỉ tiêu “Tỷ suất chết thô” (xem chỉ tiêu tỷ suất chết thô) Do hạn chế này, tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của dân số Việt Nam đã tính được có

thể cao hơn so với thực tế

Trang 39

Chỉ tiêu này được tính toán từ các số liệu mẫu chỉ đại diện được cho cả nước, cho khu vực thành thị/nông thôn của cả nước và cho cấp tỉnh, thành

phố

Nguồn thu thập các thông tin để tính toán các chỉ tiêu này là các cuộc

tổng điều tra dân số và các cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ hàng năm

Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của Việt Nam thường đòi hỏi phải tính toán hàng năm Việc tính tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh cũng có

những hạn chế nhất định Do tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh biểu thị quy

luật chết của dân số nên số liệu chết hàng năm, dù thu thập chính xác vẫn có

thể không phản ánh đúng qui luật chết của dân số (có thể do điều kiện ngẫu nhiên, số người chết năm sau có thể cao hơn năm trước và tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh tính theo đó sẽ giảm đi những không thể nói tuổi thọ của dân

số đã giảm đi) Đối với hầu hết các nước trên thế giới, tuổi thọ trung bình tính

từ lúc sinh được tính theo số liệu chết thu thập trong nhiều năm (3,5 hoặc 6 năm, thậm chí 10 năm), điều này sẽ hạn chế được những thay đổi ngẫu nhiên

Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh chỉ tính được cho toàn quốc, khu

vực thành thị/nông thôn, cho cấp tỉnh theo từng giới tính

Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh chỉ tính được công bố trong các

xuất bản phẩm của các cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở

Kiến nghị: Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh chỉ nên tính toán và công bố 3 năm 1 lần Điều này sẽ hạn chế được những biến động ngẫu nhiên

của mức độ chết tác động đến chỉ tiêu này

0210 T ỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ

Chỉ tiêu này đáp ứng được nhu cầu của bộ/ngành

Trong các cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở, các số liệu phục vụ cho

việc tính toán tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ được thu thập toàn diện, còn các cuộc điều tra khác chỉ thu thập mẫu

Nguồn thu thập thông tin để tính toán chỉ tiêu này là các cuộc tổng điều tra dân số và các cuộc điều tra biến động dân số và KHHGĐ hàng năm

Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ chủ yếu được thu thập và tính toán từ các cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở thực hiện 10 năm một lần Ngoài ra, cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ một số năm

Trang 40

cũng cho phép thu thập và tính toán được chỉ tiêu này Do có một số năm,

cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và KHHGĐ không thu thập thông tin cho phép tính toán “Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ” nên không đáp ứng được một số nhu cầu của người dùng tin, đặc biệt là cho việc tính chỉ số phát triển con người (HDI)

Các phân tổ của chỉ tiêu này đáp ứng được yêu cầu của Hệ thốn g chỉ tiêu Thống kê quốc gia Tuy nhiên, một số nhu cầu số liệu cần phạm vi tính toán của chỉ tiêu này mở rộng đến nhóm dân số từ 10 tuổi trở lên

0211 S ố năm đi học trung bình của dân số

Chỉ tiêu này đáp ứng được nhu cầu của bộ/ngành

Khi tính toán số năm đi học trung bình của dân số theo số liệu của cuộc

Tổng điều tra dân số, Tổng cục Thống kê chỉ dựa vào trình độ học vấn của dân số cùng với bảng số năm đi học trung bình qui định cho từng trình độ có tính tới hệ số lưu ban Cách tính này đã không thể hiện đúng số năm đi học

thực tế của dân số, nhất là đối với người có nhiều bằng cấp ngang nhau

Trong các cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở số liệu phục vụ cho việc tính toán số năm đi học trung bình được thu thập toàn diện, còn các cuộc điều tra khác chỉ thu thập mẫu

Nguồn thu thập thông tin để tính toán chỉ tiêu này là các cuộc tổng điều tra dân số và các cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình

Cho đến nay, chỉ có cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở 1989 là có tính toán “Số năm đi học trung bình” của dân số và công bố trong báo cáo phân tích kết quả của cuộc điều tra này

Số năm đi học trung bình của dân số năm 1989 chỉ tính chung cho toàn

bộ dân số, không tính riêng cho từng giới cũng như chưa tính riêng cho các khu vực thành thị, nông thôn

Số năm đi học trung bình tính toán được từ số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở 1989 chỉ được công bố bằng sách

Kiến nghị: Chỉ tiêu này cần được tính toán cho đúng phương pháp (tính được đúng số năm đi học cho những người nhiều bằng cấp ngang nhau) Kỳ tính toán và công bố nên thực hiện định kỳ 5 năm một lần, nếu có thể thì công

Ngày đăng: 19/04/2018, 17:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w