1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chương 4. Hướng đến một chuyên ngành xã hội học về tổ chức lao động

17 177 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 349,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, cho đến cuối những năm 1970, phân tích tổ chức lao động trong doanh nghiệp ở Pháp cũng không mang tính thời sự, nên ít người quan tâm.. Tuy nhiên, các nghiên cứu ấy thường giới

Trang 1

Chương 4 Hướng đến một chuyên ngành xã hội học về tổ chức lao động

Những suy nghĩ mới mẻ nhất của Michel Crozier chính là những chủ

đề liên quan đến các cơ quan hành chính nhà nước Vào thời kì ấy, các doanh nghiệp chưa thực sự trở thành đối tượng quan tâm đặc biệt của xã hội học Hơn nữa, cho đến cuối những năm 1970, phân tích tổ chức lao động trong doanh nghiệp (ở Pháp) cũng không mang tính thời sự, nên ít người quan tâm Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là vắng bóng hoàn toàn các phân tích xã hội học về doanh nghiệp Anni Borzeix1 đã lưu ý rằng, doanh nghiệp là địa chỉ thu hút rất nhiều nghiên cứu2 Tuy nhiên, các nghiên cứu ấy thường giới hạn đối tượng ở bối cảnh, khuôn khổ pháp lí – xã hội trong đó người ta quan sát những biến chuyển công nghệ, chiến lược của giới chủ và công đoàn, các biến đổi trong tổ chức lao động, các quan hệ quyền lực Như vậy, các nghiên cứu ấy chưa hướng đến một đối tượng đầy

đủ của xã hội học về doanh nghiệp

Trong những năm 1980, xu hướng bắt đầu đảo chiều Ở Pháp, người

ta bắt đầu quan tâm nhiều đến quyền xã hội và chính trị của doanh nghiệp

Xã hội học về doanh nghiệp không thể thờ ơ với hiện tượng mới này Từ đó, người ta thấy xuất hiện ngày càng nhiều các nghiên cứu xã hội học về doanh nghiệp Cùng lúc đó, trong “làng” xã hội học nổi lên hai cái tên Renaud Sainsaulieu và Denis Segrestin3 Những tác giả này có ý định xây dựng một dòng thuyết xã hội học về doanh nghiệp trên cơ sở xã hội học tổ chức và xã hội học lao động Tham vọng thực sự của họ là xem xét lại mối quan hệ giữa

1 “Lời mở đầu”, Xã hội học lao động, số 3, 1986, các trang 231 – 235

2

Renaud Sainsaulieu chỉ ra rằng, giữa những năm 1980, khoảng 20 nhà nghiên cứu đã tập hợp lại để suy nghĩ về tổ chức doanh nghiệp đương thời Để giải thích được các hiện tượng tổ chức lao động trong doanh nghiệp, họ đã tiến hành hơn 20 nghìn phỏng vấn cá nhân trong suốt 10, 15 hoặc 20 năm hành nghề tại hơn

500 doanh nghiệp Pháp Xem Renaud Sainsaulieu, Doanh nghiệp, vấn đề xã hội, Paris, Tủ sách của Hội

khoa học chính trị quốc gia, 1992, trang 19 (xuất bản lần đầu: 1990)

3 “Hướng đến một lí thuyết xã hội học về doanh nghiệp”, Xã hội học lao động, số 3, 1986, các trang 335 –

352

Trang 2

xã hội và doanh nghiệp Mặc dù các nghiên cứu này vẫn còn mang tính rải rác và chưa có được một hệ thống kết cấu chặt chẽ, nhưng chúng có sự quan tâm chung, đặc biệt là các hiện tượng xã hội liên quan đến bản sắc doanh nghiệp hay văn hoá doanh nghiệp Trước khi trình bày một vài công trình nghiên cứu như vậy, nên nhắc lại một khoảng trống lí thuyết khá dài khi bàn

về vấn đề xã hội của doanh nghiệp

4.1 Sự vắng bóng lí thuyết để phân tích “sắc thái xã hội” của doanh nghiệp

Cho đến những năm 1980, làm thế nào để giải nghĩa hiện tượng xã hội học ít quan tâm đến sắc thái xã hội của đời sống doanh nghiệp? Khi bàn đến vấn đề này, Anni Borzeix (1986, bài báo đã dẫn) gợi đến sự phân tách nội bộ của môn xã hội học: xã hội học lao động và xã hội học tổ chức Cả hai chuyên ngành xã hội học này đều quan tâm đến đời sống doanh nghiệp Tuy nhiên, mỗi chuyên ngành lại phát triển một cách tương đối độc lập xét về các chủ đề nghiên cứu và lí thuyết quy chiếu Vả lại, sự khác biệt chuyên ngành còn thể hiện rõ hơn qua sự đối lập về ý thức hệ Như vậy, do thấm nhuần bởi

tư tưởng Mác – xít nên xã hội học lao động rất quan tâm đến việc nghiên cứu phong trào công nhân, các xung đột lao động Chuyên ngành này thường tiếp cận doanh nghiệp thông qua trung gian công đoàn và các đại diện nhân

sự Về phần mình, xã hội học tổ chức được đánh dấu bởi các công trình Anh ngữ và thường tập trung quan tâm của mình đến các quan hệ quyền lực cũng như cơ quan lãnh đạo Qua đó, xã hội học tổ chức tiếp cận nghiên cứu doanh nghiệp4 Dù có rất nghiều nghiên cứu khoa học về doanh nghiệp, nhưng hai chuyên ngành này chưa bao giờ coi doanh nghiệp là chủ đề trung tâm của

họ

4 Ngoài những nghiên cứu của Anni Borzeix (bài báo được công bố năm 1986), có thể kế đến những lưu ý

của Christian Mahieu trong tạp chí Xã hội học lao động, số 3, 1986, “Tổ chức và quản lí sản xuất trong một

đơn vị đóng nút chai: từ xã hội học lao động đến xã hội học doanh nghiệp”

Trang 3

4.1.1 Xã hội học lao động và doanh nghiệp

Marc Maurice5 gợi ý hai hướng nghiên cứu doanh nghiệp: ở hướng

thứ nhất, xã hội học lao động quan tâm phân tích tình hình, điều kiện và hoàn cảnh lao động của công nhân trong công xưởng; ở hướng thứ hai, xã hội học nghiên cứu về xã hội công nghiệp và hệ thống sản xuất chứa đựng trong đó Hay nói cách khác, sự thiếu vắng lí thuyết về doanh nghiệp ở giai đoạn đoạn này xuất phát từ sự phân cực giữa một bên là xã hội học thực địa (xã hội học vi mô) và một bên là xã hội học vĩ mô Xã hội học vĩ mô cơ bản mang tính lí thuyết và hướng quan tâm chính là xã hội tư bản công nghiệp, trong khi đó xã hội học vi mô quan tâm chính đến thực tế tiến triển của lao động Hai dòng xã hội học này song song phát triển mà không hề có dòng thuyết trung gian nào Nhưng không vì thế mà chúng hoàn toàn đối lập nhau, bởi lẽ, theo học thuyết Mác – xít, các phân tích của xã hội học vi mô (trong một doanh nghiệp) có thể được hiểu như là sự cập nhật các mâu thuẫn giai cấp trong toàn bộ hệ thống sản xuất tư bản Hay nói cách khác, các mâu thuẫn giai cấp được nghiên cứu trong một môi trường vi mô cũng có thể mang tính đại diện cho một môi trường sản xuất tư bản vĩ mô

Tuy nhiên, không có phương pháp tiếp cận nào có được vị trí trung gian để tìm hiểu thật đúng đời sống doanh nghiệp Marc Maurice lưu ý rằng, một phương pháp trung gian tiếp cận doanh nghiệp (giữa vĩ mô và vi mô) có khả năng bù đắp được những giới hạn và khoảng trống lí thuyết Như vậy, phương pháp tiếp cận trung gian trở thành cầu nối giữa xã hội học vĩ mô (quá nặng về lí thuyết) và xã hội học vi mô (quá nặng về thực địa – quy nạp

và quá ít lí thuyết)

4.1.2 Xã hội học tổ chức và doanh nghiệp

5 “Các nhà xã hội học và doanh nghiệp” trong Renaud Sainsaulieu (chủ biên), Doanh nghiệp - vấn đề xã

hội, Tủ sách của Hội khoa học chính trị quốc gia, 1992, các trang 303 – 331

Trang 4

Ở Pháp, xã hội học tổ chức xuất hiện vào cuối những năm 1950 với tên tuổi nổi tiếng nhất là Michel Crozier Tuy nhiên, xã hội học tổ chức không bù đắp được sự thiếu hụt lí thuyết này Mặc dù có nhiều nghiên cứu

về quan hệ xã hội trong doanh nghiệp cũng như về quản trị hành chính doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp vẫn chưa trở thành đối tượng chủ yếu trong các phân tích của xã hội học tổ chức Chuyên ngành này thường phân tích “trò chơi quyền lực” Marc Maurice (1992, bài báo đã dẫn) lưu ý rằng, doanh nghiệp không thể trở thành một đối tượng đặc trưng trong không gian

lí thuyết của xã hội học tổ chức Đặc biệt, cho dù doanh nghiệp là nơi thể hiện các “hệ thống hành động cụ thể”, thì nó cũng chưa bao giờ trở thành tác nhân bao quát và cấu trúc nên các trò chơi quyền lực ấy Sự chụyển dịch từ việc phân tích tổ chức chính thức sang “hành động được tổ chức” (lao động được tổ chức) cũng thể hiện rõ sự thiếu hụt lí thuyết ở giai đoạn này Phân tích chiến lược hay tác nhân chiến lược của Michel Crozier đã thể hiện điều này

Cả hai chuyên ngành (xã hội học lao động và xã hội học tổ chức) có một điểm chung là đều quan tâm đến những gì xẩy ra trong doanh nghiệp Tuy nhiên, cả hai đều không coi doanh nghiệp là bước chuyển mang tính bắt buộc trong các suy nghĩ lí thuyết của chúng Dẫu vậy, chúng ta cũng thấy xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về bản sắc và văn hoá doanh nghiệp cũng như tổ chức Đây là những công trình mang tính bản lề giữa xã hội học lao động và xã hội học tổ chức

4.2 Các hiện tượng bản sắc và văn hoá doanh nghiệp

Có ba con đường nghiên cứu về bản sắc và văn hoá doanh nghiệp Tuy chỉ giống nhau cục bộ, nhưng các hướng nghiên cứu này đều đặc trưng cho phương pháp tiếp cận doanh nghiệp Con đường thứ nhất cơ bản được

xây dựng bởi các nhà xã hội học và lịch sử lao động Họ quan tâm đến các

Trang 5

tiểu văn hoá công xưởng, văn hoá nghề và các hình thái xã hội tập thể trong doanh nghiệp Con đường thứ hai được khai phá bởi Renaud Sainsaulieu6 và mang nhiều tham vọng hơn Hướng nghiên cứu này coi lao động và doanh nghiệp là những nơi tạo ra bản sắc và văn hoá Cuối cùng, con đường thứ ba được khai thông bởi Philippe d’Iribarne7

Tác giả này đưa ra giải thuyết rằng, mô hình doanh nghiệp của các nước nói chung và của Pháp nói riêng bén rễ từ các truyền thống văn hoá quốc gia Trường hợp mô hình doanh nghiệp Pháp bắt nguồn từ văn hoá tiền công nghiệp và ẩn chứa logic danh

dự (lao động = danh dự)

4.2.1 Các tiểu văn hoá và tính tập thể xã hội

Nhiều nhà xã hội học lao động và nhà lịch sử đã làm sáng tỏ các đặc tính tập thể xã hội, các cộng đồng nghề nghiệp và các tiểu văn hoá Đặc biệt, các tiểu văn hoá chính là nền tảng trong lao động và trong các quan hệ nghề nghiệp tại công xưởng cũng như ở văn phòng Để tổ chức quy trình sản xuất của mình, doanh nghiệp phải tính đến các tiểu văn hoá ấy

Có rất nhiều nghiên cứu về các cộng đồng nghề nghiệp Ở đây, ta có thể lấy làm ví dụ như công trình nghiên cứu lịch sử của Georges Ribeill8

về những công nhân đường sắt Tác giả đã chỉ rõ con đường hình thành cộng đồng nghề nghiệp của những con người này Giữa những nhân viên khai thác và công nhân bảo dưỡng đường ray đã hình thành tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, đặc biệt khi họ cùng đương đầu với các vấn đề an toàn

và điều độ (điều hành) Bản sắc văn hoá này đã được tăng cường qua phương thức tuyển dụng (tuyển người thân của các nhân viên đường sắt),

6 Bản sắc qua lao động, Paris, Tủ sách của FNSP, 1985 (xuất bản lần thứ nhất: 1977)

7 Logic của danh dự Quản lí doanh nghiệp và các truyền thống quốc gia Paris, NXB Seuil, 1989 và “Sự nghèo hèn và sự vĩ đại của mô hình doanh nghiệp Pháp” trong Renaud Sainsaulieu (chủ biên), Doanh

nghiệp - vấn đề xã hội, Paris, Tủ sách của Quỹ quốc gia về khoa học chính trị (FNSP), 1992, các trang 254

– 266

8 Những công nhân đường sắt, Paris, NXB La Découverte, 1984

Trang 6

qua các cơ chế thăng tiến xã hội đặc biệt, qua lao động nhóm hay qua chính sách nhà ở Cộng đồng nghề nghiệp có bản sắc mạnh mẽ như vậy đã đương đầu với nhiều giai đoạn hiện đại hoá do Tổng công ty đường sắt Pháp tiến hành: điện hoá các tuyến đường, phát kiến sử dụng tàu siêu tốc (TGV: vận tốc = 519,4km/h vào năm 1981), tin học hoá quản lí Và cộng đồng nghề này cũng đóng vai trò quyết định trong hoạt động công đoàn, nhất là vào thời điểm đình công Như chúng ta biết, đình công là thời điểm mà việc thống nhất nhóm và xây dựng bản sắc nhóm là rất khó khăn9

Tuy nhiên, họ vẫn thực hiện được nhờ có sự đoàn kết tập thể đặc biệt Tương tự như vậy,

Pierre Bouvier10 đã tiến hành nghiên cứu các cộng đồng người lao động trong tàu điện ngầm ở Paris và New York bằng phương pháp tiếp cận xã hội học – nhân học Tác giả mô tả những thói quen nghề nghiệp, những tính tập thể xã hội và những chuẩn mực hội nhập nhóm Tất cả những điều đó tạo nên hình ảnh riêng và cấu trúc nên các nhóm lao động của hai doanh nghiệp được nghiên cứu Tác giả chỉ ra rằng, ở Mạng lưới giao thông Paris (RATP), các thực hành lao động, thói quen và những hình ảnh tâm lí xã hội về nghề nghiệp đã tạo nên cốt lõi trong lịch sử tàu điện ngầm của Paris Những nét bản sắc ấy thể hiện lâu dài qua cả thời kì cách mạng công nghệ về đường sắt trong những năm 1970 Ở thời kì này, người ta tiến hành tin học hoá (tự động hoá) nhiều công đoạn của hệ thống giao thông Paris

Một số công trình nghiên cứu khác cũng quan tâm đến các tiểu nhóm hay các tiểu văn hoá được hình thành trong phân xưởng và trong thế giới lao động riêng của họ Michel Liu11 đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng trong một nhà máy luyện kim nhỏ gồm nhiều công nhân chuyên nghiệp, công

9 Xem Philippe Corcuff, “Tính thành phần xã hội, tính nghề nghiệp và tính giai cấp », Tạp chí Genèses, số

3, 1991, các trang 55 – 57

10 Lao động thường ngày, Paris, NXB PUF, 1989

11 “Công nghệ, tổ chức lao động và hành vi của những người làm công ăn lương”, Tạp chí xã hội học Pháp,

XXII, 1981, các trang 205-221

Trang 7

nhân lành nghề và công nhân vận hành máy Tác giả nhận định rằng, có

nhiều tiểu văn hoá doanh nghiệp được hình thành trong lòng các nguyên tắc công nghiệp và tổ chức lao động Các tiểu văn hoá này góp phần xác định chức năng, nhịp độ, định lượng lao động, điều tiết các quan hệ thứ bậc (chủ - quản lí trung gian - người lao động) và các quan hệ giữa đồng nghiệp Chúng cũng xác định không gian cá nhân hay biên giới của nhóm trong doanh nghiệp Đôi khi, các tiểu văn hoá đóng vai trò công cụ cho phép thực hiện nhiệm vụ; chúng góp phần hình thành nhóm, duy trì sự vận hành của nhóm, mặc cho các thành viên vẫn tiếp tục biến đổi Emmanuelle Reynaud12 tập trung nghiên cứu về các nhóm công nhân ở xưởng sản xuất và các nhân viên siêu thị Tác giả cũng rất quan tâm tìm hiểu vai trò của các tiểu văn hoá trong việc thiết tạo bản sắc tập thể, trong việc huy động sức mạnh và trong đấu tranh bảo vệ quyền lợi nhóm

Những định hướng nghiên cứu về văn hoá doanh nghiệp như vậy đóng một vai trò quan trọng Tuy nhiên, hầu hết đang tập trung vào phân tích quan hệ lao động Tuy bước đầu quan tâm nghiên cứu về các hiện tượng văn hoá doanh nghiệp, nhưng các tác giả chưa coi doanh nghiệp là đối tượng trung tâm trong suy nghĩ của bản thân

4.2.2 Doanh nghiệp: nơi tạo ra bản sắc và văn hoá

Trong cuốn Bản sắc trong lao động, Renaud Sainsaulieu (1985, sđd),

đã làm sáng tỏ tầm quan trọng của quá trình xây dựng bản sắc văn hoá thông qua các điều hoà xã hội trong lòng doanh nghiệp Cuốn sách này được viết trên cơ sở nhiều nghiên cứu thực địa được tiến hành trong nhiều doanh nghiệp Tham vọng của tác giả là thảo luận và bổ sung vào các kết quả nghiên cứu của xã hội học lao động, xã hội học tổ chức và tâm lí học lao

12 “Bản sắc tập thể và thay đổi xã hội: văn hoá tập thể như là động lực hành động”, Xã hội học lao động, số

2, 1982

Trang 8

động cho đến thời điểm ấy Các quan hệ lao động không bị tách biệt khỏi khuôn khổ của chúng – doanh nghiệp, bởi vì chính doanh nghiệp mang lại ý nghĩa cho các quan hệ ấy

Chương cuối của cuốn sách có tên gọi là “Hành động văn hoá trong lao động có tổ chức” Chương này bảo vệ giả thuyết rằng, kinh nghiệm thường nhật của các quan hệ xã hội trong các tổ chức đương đại không giới hạn ở duy nhất các chuẩn mực hành vi hiện hữu tại nơi làm việc Theo tác giả, kinh nghiệm thường nhật củng cố thêm các biểu tượng tập thể và các giá trị chung Trong khi đó, những biểu tượng và giá trị chung lại cao hơn kinh nghiệm thường nhật, hệt như kinh nghiệm ấy góp phần định hình các nhân cách cá nhân thông qua những nhận định và lựa chọn của họ Hệ thống giá trị văn hoá của các tác nhân xã hội được tái kích hoạt và được làm mới thông qua những khác biệt giữa một bên là kinh nghiệm của quá khứ để lại và bên kia là kinh nghiệm tức thì học được qua các xung đột

Từ đó, gia đình và nhà trường không còn độc quyền vai trò xã hội hoá cũng như vai trò chuyển giao các giá trị văn hoá nữa Renaud Sainsaulieu chỉ ra rằng, các quan hệ lao động và doanh nghiệp cấu trúc nên bản sắc cá nhân và tập thể Trong các xã hội công nghiệp đương đại, lao động trong doanh nghiệp trở thành địa chỉ mới tạo ra và học tập các giá trị văn hoá Trong quá khứ, những nơi thông thường tạo ra các giá trị văn hoá là nghiệp đoàn, gia đình và Nhà thờ Nhưng lịch sử và truyền thống tiền công nghiệp

có góp phần định hình doanh nghiệp và các quan hệ lao động công nghiệp xuất phát từ đó hay không?

4.2.3 Liệu có một mô hình doanh nghiệp Pháp hay không?

Philippe d’Iribarne (1989, sđd) đưa ra giả thuyết nhấn mạnh đến các đặc điểm quốc gia thông qua các phương thức quản lí doanh nghiệp Nói đúng ra, đây không phải là một ý tưởng hoàn toàn mới Trên cơ sở nghiên

Trang 9

cứu so sánh giữa Pháp và Đức, Marc Maurice, François Sellier và Jean-Jacques Silvestre13 đã chỉ ra rằng, các cấu trúc bên trong doanh nghiệp phụ thuộc vào môi trường giáo dục, công đoàn và chính trị Michel Crozier (1964, sđd) trước đó cũng đã bảo vệ giả thuyết theo đó hiện tượng quản lí quan liêu là một “hiện tượng văn hoá Pháp”, không chỉ liên quan đến phương thức hành chính quản trị của phái Jacobin, mà còn đụng chạm đến

cả các doanh nghiệp công nghiệp

Philippe d’Iribarne có những khác biệt đáng kể so với các học giả tiền bối, nhất là giả thuyết của Michel Crozier khi cho rằng, tác giả này chưa tìm tòi trong lịch sử và truyền thống văn hoá tất cả những gì tạo ra đặc thù của doanh nghiệp Pháp Ngoài việc doanh nghiệp Pháp được đặc trưng qua hình ảnh hành chính quản trị (quan liêu), thì Philippe d’Iribarne không tìm thấy các quy định “vô nhân xưng” (lạnh lùng), nỗi sợ hãi trong quan hệ trực diện hay sự tập trung quyền lực như Michel Crozier miêu tả Theo Philippe d’Iribarne, cái đặc trưng cho các doanh nghiệp Pháp và làm cho chúng khác với doanh nghiệp Hà Lan hay doanh nghiệp Đức chính là các đặc thù cá nhân và truyền thống các nghề dựa vào những giữa các giá trị tinh tế gắn với các hoạt động ít nhiều quý tộc đã từng tồn tại trước Cách mạng (1789) Điều thù ấy chính là logic danh dự: nó tiếp tục điều tiết các quan hệ cấp bậc cũng như giữa các nhóm nghề trong các doanh nghiệp Pháp đương đại

Doanh nghiệp đương đại luôn luôn đứng trước các đòi hỏi mới ngày càng gắt gao về hợp tác nội bộ, bởi vì chúng bị những áp lực cạnh tranh kinh

tế mạnh mẽ Vì vậy, doanh nghiệp buộc phải có những diễn giải mới về những thói quen xung đột ngày trước hay những truyền thống hợp tác ở môi trường xã hội trong đó chúng tồn tại Tác giả này xem xét đến các con đường và cách thức hiện đại hoá công nghiệp để phối hợp với truyền thống

13 Chính sách giáo dục và tổ chức công nghiệp ở Pháp và ở Đức, Paris, PUF, 1982

Trang 10

hay dựa vào sự tôn trọng truyền thống như trong mô hình doanh nghiệp Nhật Bản

Tuy nhiên, nhiều tác giả đương đại về văn hoá doanh nghiệp cũng quan tâm phân tích cấu trúc văn hoá của từng loại doanh nghiệp Định hướng nghiên cứu này tập trung vào khái niệm “văn hoá doanh nghiệp”

4.3 Khái niệm “văn hoá doanh nghiệp”

Các nhà xã hội học lao động cũng như các các nhà xã hội học tổ chức rất quan tâm đến các hiện tượng văn hoá và bản sắc của doanh nghiệp bởi tầm quan trọng của chúng Tuy nhiên, liệu chúng ta có thể nói đến văn hoá doanh nghiệp dưới góc độ tiếp cận quản lí hay không? Ngay trước những năm 1980, khái niệm văn hoá doanh nghiệp cũng đã thể hiện rõ tính độc đáo của nó Do vậy, nó được nhiều nhà xã hội học, dân tộc học, lịch sử và các chuyên gia về khoa học quản lí sử dụng rộng rãi14

Cũng không phải chỉ ở Pháp người ta mới quan tâm sử dụng khái niệm văn hoá doanh nghiệp Vào cùng thời kì ấy, các nghiên cứu ở Mỹ cũng được đặc trưng bởi rất nhiều công trình bàn về các hiện tượng văn hoá và bản sắc doanh nghiệp Các khái niệm như “văn hoá nghiệp đoàn” hay “văn hoá tổ chức” được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu phục vụ quản lí doanh nghiệp (Chanlat, bài báo đã dẫn) Ở Pháp, khái niệm văn hoá tổ chức chỉ xuất hiện trước khái niệm văn hoá doanh nghiệp một thời gian rất ngắn ngủi

Theo ngữ nghĩa nhân học, văn hoá doanh nghiệp là thuật ngữ chỉ toàn

bộ các chuẩn mực, giá trị, biểu tượng chung, cách thức cảm nhận và tư duy tạo nên đời sống xã hội của doanh nghiệp Vậy văn hoá doanh nghiệp được dùng để làm gì?

14 Xem Tạp chí quản lí Pháp, số 47 – 48, tháng 9-10/1984 Toàn bộ số này dành cho chủ đề văn hoá doanh

nghiệp

Ngày đăng: 19/04/2018, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w