1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

“Tác động của tăng trưởng tới xóa đói giảm nghèo ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hiện nay”.

18 328 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của tăng trưởng tới xóa đói giảm nghèo ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hiện nay
Tác giả Phạm Thị Thanh Hải
Người hướng dẫn ThS. Vũ Cương
Trường học Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch - Đầu tư
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 567,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 1997, nền kinh tế nước ta đã lấy lại được đà tăng trưởng với tốc độ tăng năm sau hơn cao hơn năm trước. Giai đoạn 2001 – 2005 với tốc độ tăng trung bình là 7.28%, giai đoạn 2006 – 2008, đạt 7.64%. Tốc độ tăng bình quân năm không những cao hơn hẳn tốc độ tăng bình quân năm trước mà còn đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐBB) có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của cả nước; là đầu tàu kinh tế của cả nước; là vùng có đủ điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng, công nghiệp sử dụng công nghệ cao, phát triển khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, phát triển dịch vụ, du lịch…

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 1997, nền

kinh tế nước ta đã lấy lại được đà tăng trưởng với tốc độ tăng năm sau hơn cao hơn năm trước Giai đoa ̣n 2001 – 2005 với tốc đô ̣ tăng trung bình là 7.28%, giai đoạn 2006 –

2008, đạt 7.64% Tốc độ tăng bình quân năm không những cao hơn hẳn tốc độ tăng bình quân năm trước mà còn đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và thế giới

Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐBB) có vị trí, vai trò rất quan trọng trong

sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của cả nước; là đầu tàu kinh tế của cả nước; là vùng có đủ điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng, công nghiệp sử dụng công nghệ cao, phát triển khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, phát triển dịch vụ, du lịch…

Nhìn chung trong những năm qua vùng KTTĐBắc Bộ đã phát triển khá toàn diện, duy trì được mức tăng trưởng tương đối cao, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mặc dù ảnh hưởng của lạm phát và biến động giá cả do trên thị trường thế giới thường xuyên tạo

ra mặt bằng giá mới, song các tỉnh thuộc Vùng KTTĐ Bắc bộ vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối cao so với mức bình quân cả nước, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể Đời sống nhân dân trong vùng được cải thiện, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm đáng kể (từ 11.7% năm 2005 xuống còn 5.8% năm 2008); mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 12 vạn người… Tuy nhiên, nếu đem so sánh với các vùng khác trong vùng vẫn còn cao hơn vùng KTTĐ phía Nam (3,8%), tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi là 27,5% (vùng KTTĐ phía Nam là 23,2%)

Như vậy, quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thay đổi tỷ lệ nghèo vừa phức tạp vừa đa dạng Nếu tăng trưởng kinh tế bao giờ cũng đi kèm với giảm nghèo nhanh tức

là tăng trưởng có tác động tới giảm nghèo thì chiến lược giảm nghèo chỉ cần tập trung vào việc đạt tăng trưởng nhanh hơn Xong, nếu điều đó không nhất thiết đúng, việc theo đuổi tăng trưởng phải đi kèm với nỗ lực đạt được tăng trưởng vì người nghèo thông qua việc tái phân bổ tài sản và thu nhập trong nền kinh tế Vì thế ở đề tài

Trang 2

này tôi xin tìm hiểu về “Tác động của tăng trưởng tới xóa đói giảm nghèo ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hiện nay”.

Đề tài gồm 3 phần :

Chương I: Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (XĐGN)

Chương II : Tác động của tăng trưởng kinh tế đến XĐGN ở vùng Kinh Tế Trọng điểm Bắc Bộ

Chương III : Các giải pháp giải quyêt vấn đề tăng trưởng và giảm nghèo ở khu vực Kinh Tế Trọng điểm Bắc Bộ

Đề tài này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo ThS Vũ Cương và ban Tổng hợp- Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoach - Đầu tư Tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

I Cơ sở lý thuyết:

1 Tăng trưởng kinh tế

1.1 Khái niệm

Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) thu nhập của nền kinh tế về trong một thời kì nhất định Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất dịch vụ của nền kinh tế tạo ra Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người

Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản anh sự thay đổi về lượng của nền kinh

tế Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng ngày càng cao Theo khía cạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người Hơn thế nữa, quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý

1.2 Thước đo tăng trưởng kinh tế

Có nhiều chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng của nền kinh tế như GNP (Tổng thu nhập quốc dân), GO (Tổng giá trị sản xuất), NI (Thu nhập quốc dân), NDI (Thu nhập quốc

dân sử dụng), GDP (Tổng sản phẩm quốc nội), Thu nhập bình quân đầu người Ở đề

tài này tôi chỉ đề cập tới 2 thước đo

a Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh

tế trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia, một vùng hay địa phương tạo nên trong một thời kỳ nhất định

Trang 4

b Thu nhập bình quân đầu người

Với ý nghĩa phản ánh thu nhập, chỉ tiêu GDP và GNP còn được sừ dụng để đánh giá mức thu nhập bình quân trên đầu người của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ (GDP/người, GNP/người) Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số Quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ báo quan trọng phản ánh và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cư nói chung

2 Lý thuyết về vấn đề đói nghèo

2.1 Các khái niệm

a Nghèo khổ thu nhập:

Theo giáo trình kinh tế phát triển - trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân, Nghèo là tình

trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định…Như vậy nghèo khổ được định nghĩa trên nhiều khía cạnh khác nhau

Theo định nghĩa của hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á- Thái Bình Dương

do ESCAP tổ chức tại Băng Kốc, Thái Lan (9/1993): Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội

và phong tục tập quán của địa phương Định nghĩa này hiện nay đang được nhiều quốc gia sử dụng trong đó có Việt Nam

Một người được coi là nghèo khi mức tiêu dùng hay thu nhập của người đó thấp hơn một ngưỡng tối thiểu thiết yếu để đáp ứng những nhu cầu cơ bản Ngưỡng tối thiểu đó thường được gọi là chuẩn nghèo Tuy nhiên, mức độ thiết yếu để thỏa mãn nhu cầu lại thay đổi theo không gian và thời gian Vì vậy, chuẩn nghèo cũng thay đổi theo thời gian, địa điểm, và mỗi nước sử dụng chuẩn nghèo riêng phù hợp với trình

độ phát triển các chuẩn mực và giá trị xã hội mình

b Nghèo khổ con người hay nghèo khổ tổng hợp:

Theo Liên hiệp quốc đưa ra trong “báo cáo về phát triển con người năm 1997” thì nghèo khổ của con người là khái niệm biểu thị sự nghèo khổ đa chiều của con người

Trang 5

-là sự thiệt thòi (khốn cùng) theo ba khía cạnh cơ bản nhất của con người Chẳng hạn đối với nước đang phát triển sự thiệt thòi đó là:

- Thiệt thòi xét trên khía cạnh cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh, được xác định bởi

tỷ lệ người dự kiến không thọ quá 40 tuổi;

- Thiệt thòi về tri thức, được xác định bởi tỉ lệ người lớn mù chữ;

- Thiệt thòi về đảm bảo kinh tế, được xác định bởi tỷ lệ người không tiếp cận được các dịch vụ y tế, nước sạch và tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng

Để đánh giá nghèo khổ con người, Liên hiệp quốc đã sử dụng chỉ số nghèo khổ của con người – HPI (Human Poor Index) hay còn gọi là chỉ số nghèo khổ tổng hợp Giá trị HPI nói lên rằng sự nghèo khổ của con người ảnh hưởng lên bao nhiêu phần dân số nước đó

Ngưỡng nghèo hay mức nghèo, là mức chi dùng tối thiểu, được xác định như tổng

số tiền chi cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực thực phẩm và đồ dùng cá nhân, cần thiết để bảo đảm cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành, và các khoản chi bắt buộc khác Người ở ngưỡng nghèo là người có tổng thu nhập tương đương với tổng chi dùng tối thiểu đó Nhiều nước trên thế giới ấn định ngưỡng nghèo thành một điều luật Ở các nước phát triển ngưỡng nghèo cao hơn đáng kể so với các nước đang phát triển Hầu như mọi

xã hội đều có các công dân đang sống nghèo khổ

2.2 Phương pháp đánh giá

Ở Việt Nam hiện nay, có phương pháp tiếp cận với danh giới nghèo đói như sau:

* Phương pháp dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người ( phương pháp của tổng cục thống kê) Phương pháp này đã xác định hai ngưỡng nghèo:

•Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua được một số lương thực hàng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng Như vậy, phương pháp tiếp cận này tương tự cách tiếp cận của WB

•Ngưỡng nghèo thứ hai, thường được gọi là “ ngưỡng nghèo chung” ngưỡng này bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hoá phi lương thực

Trang 6

* Phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình ( phương pháp của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) Phương pháp này hiện đang được sử dụng để xác định chuẩn nghèo đói của chương trình xáo đói giảm nghèo quốc gia ( chuẩn nghèo quốc gia)

• Chẩn nghèo hiện nay của Việt Nam áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 là 200.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn; 260.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị Theo dự thảo Quyết định Ban hành chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 mà Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội vừa chính thức công bố: Chuẩn nghèo mới đối với khu vực nông thôn là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 350.000 đồng/người/tháng (dưới 4.200.000 đồng/người/năm), còn với thành thị là mức 450.000 đồng/người/tháng (dưới 5.400.000 đồng/người/năm)

•Người được coi là nghèo khổ về thu nhập là những người mà thu nhập của họ

ở bên dưới các “ giới hạn” đã được quy định nói trên

• Một cách tiếp cận khác cũng thường được sử dụng để xem xét nghèo đói là chia dân cư thành các nhóm khác nhau (theo 5 nhóm) Nhóm 1/5 nghèo nhất là 20% dân số, những người sống trong các hộ gia đình có thu nhập (chi tiêu) thấp nhất

2.3 Vai trò của giảm nghèo đối với tăng trưởng kinh tế:

Xóa đói giảm nghèo không chỉ là công việc trước mắt mà còn là nhiệm vụ lâu dài Trước mắt là xóa hộ đói, giảm hộ nghèo và lâu dài là xóa sự nghèo giảm khoảng cách giầu nghèo, phấn đấu xây dựng một xã hội giầu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh

Xóa đói giảm nghèo không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách thụ động mà phải tạo ra động lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động tự vươn lên thoát nghèo Xóa đói giảm nghèo tức là phải làm sao để tăng được thu nhập của các hộ nghèo Xóa đói giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh

tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lực lượng sản xuất dồi dào

và đảm bảo sự ổn định cho giai đoạn “cất cánh”

II Mối quan hệ giữa tăng trưởng và XĐGN

1 Độ co giãn của đói nghèo đối với tăng trưởng:

Cách tốt nhất để thấy được mối quan hệ giữa tăng trưởng và giảm nghèo chặt chẽ thế nào là tính độ co giãn của đói nghèo đối với tăng trưởng Độ co giãn này thể

Trang 7

hiện bằng phần trăm thay đổi tỷ lệ đói nghèo khi có 1% tăng trưởng thu nhập đầu người

Hệ số co giãn của nghèo đối với

% Δ tỷ lệ nghèo đói % Δ tốc độ tăng trưởng

Độ co giãn có thể là âm cũng có thể là dương Thứ nhất, độ co giãn là dương cho thấy tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ nghèo cùng chiều, được quan sát trong các trường hợp tốc độ tăng trưởng tăng làm đói nghèo gia tăng, và ngược lại tốc độ tăng trưởng giảm làm đói nghèo giảm Thứ hai, độ co giãn là âm trong trường hợp tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ giảm nghèo ngược chiều nhau, tốc độ tăng trưởng tăng làm giảm tỷ lệ nghèo Nói chung mọi người chấp nhận rằng giá trị âm của độ co giãn của đói nghèo đối với tăng trưởng là một thước đo tốt để xác định mức độ vì người nghèo của tăng trưởng

Có thể phân loại nhiều chế độ tăng trưởng khác nhau (biểu hiện qua độ co giãn của nghèo đói đối với tăng trưởng), và trong “ tăng trưởng vì người nghèo của World Bank và câu chuyện thành công của Việt Nam – Trần Hải Lạc” cũng có nhắc đến độ

co giãn của nghèo đói đối với tăng trưởng kinh tế :

- Tốc độ giảm tỷ lệ nghèo và tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân ngang nhau (độ

co giản bằng - 1) ;

- Độ co giãn bằng 0 tức là tỷ lệ nghèo không co giãn theo tốc độ tăng trưởng Tốc độ tăng trưởng có tăng hay giảm thế nào cũng không ảnh hưởng đến tỷ lệ nghèo

- Trong trường hợp tốc độ giảm nghèo vượt qua tốc độ tăng trưởng, chế độ tăng trưởng thay đổi phân phối thu nhập theo hướng bình đẳng hơn (độ co giản vượt - 1),

- Trong trường hợp tốc độ giảm nghèo thấp hơn tốc độ tăng trưởng, chế độ tăng trưởng thay đổi phân phối thu nhập theo hướng bất bình đẳng hơn, cho nên tỷ lệ nghèo có giảm nhưng ít hơn (độ co giãn ở giữa 0 và -1)

- Trường hợp tỷ lệ nghèo tăng thay vì giảm, bởi tốc độ tăng trưởng tương đối thấp trong khi bất bình đẳng lại tăng (độ co giãn trở nên dương)

2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và XĐGN

Trang 8

2.1 Tăng trưởng cao là cơ sở để giảm nghèo:

Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế cao và bền vững sẽ dẫn đến giảm nghèo Tăng trưởng kinh tế trên diện rộng với chất lượng cao và bền vững, tạo ra những cơ hội thuận lợi để người nghèo và cộng đồng nghèo tiếp cận được các cơ hội phát triển sản xuất, kinh doanh và hưởng thụ được từ thành quả tăng trưởng Tăng trưởng chất lượng cao là để giảm nhanh mức nghèo đói

Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở, điều kiện vật chất để giảm nghèo Thực tiễn những năm vừa qua đã chứng minh rằng, nhờ kinh tế tăng trưởng cao Nhà nước có sức mạnh vật chất để hình thành và triển khai các chương trình hỗ trợ vật chất, tài chính và cho các xã khó khăn phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội cơ bản Người nghèo và cộng đồng nghèo nhờ đó có cơ hội vươn lên thoát khỏi đói nghèo Tăng trưởng kinh tế là điều kiện quan trọng để xóa đói giảm nghèo trên quy mô rộng; không có tăng trưởng mà chỉ thực hiện các chương trình tái phân phối hoặc các biện pháp giảm nghèo truyền thống thì tác dụng không lớn Có thể nói nguyên nhân đầu tiên của đói nghèo là kinh tế không có sự tăng trưởng Khi thành quả của tăng trưởng kinh tế được phân phối công bằng hợp lý thì tăng trưởng nhanh làm mức thu nhập tăng, tạo điều kiện cải thiện chất lượng cuộc sống như kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ và tình trạng suy dinh dưỡng, văn hóa và giáo dục phát triển, tạo công ăn việc làm cho nhân dân, chống thất nghiệp

Mặt khác tăng trưởng kinh tế với chất lượng cao và bền vững sẽ tạo điều kiện nhiều hơn cho phát triển các ngành nghề ở nông thôn và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo việc làm phi nông nghiệp, tăng thu nhập cho người nghèo Các chương trình mục tiêu và chính sách phát triển nhân lực không thể thực hiện được nếu không có tăng trưởng kinh tế bền vững Phát trỉên kinh tế - xã hội đồng bộ từ miền xuôi đến miền núi, từ vùng thuận lợi đến vùng sâu vùng xa Chú trọng giúp các địa phương nghèo phát triển thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cây trồng vật nuôi

có giá trị kinh tế cao; phát triển sản xuất hàng hoá, đổi mới cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng lao động công nghịêp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp Những biểu hiện của việc tăng trưởng ở trên tạo thêm nhiều việc làm cho cả thành thị và nông thôn

2.2 Tăng trưởng cao không có nghĩa là giảm nghèo nhanh

Trang 9

Mặc dù bản chất tăng trưởng cao có lợi cho người nghèo, nhưng cũng có lúc tăng trưởng không làm giảm nghèo mà có tác động ngược lại

Trong quá trình vận động, các yếu tố, quy luật tác động lên tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo có thể theo chiều trái ngược nhau Tăng trưởng kinh tế nhanh làm quy luật phân hóa giầu nghèo diễn ra mạnh mẽ, làm giảm nghèo khó khăn hơn Chúng ta đều thấy có sự phát triển giữa các vùng nhưng tỷ lệ nghèo đói và tốc độ giảm nghèo giữa các vùng là tương đối khác nhau Tăng trưởng thì chủ yếu tập trung cho vùng đồng bằng, thành thị vùng có mật độ dân cư đông đúc còn nghèo đói thì lại tập trung

ở khu vực miền núi, nông thôn Những vùng mà mật độ dân cư cao hơn ngày nay cũng là những vùng mà mức độ nghèo đói không nghiêm trọng Do đó, công bằng mà nói tăng trưởng đối với các dân tộc thiểu số hay vùng nông thôn là chưa đủ, họ sẽ còn

là nhóm người ở tình trạng nghèo đói trong tương lai dài nếu không có chính sách đặc biệt dành cho họ Mặt khác, sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo làm cho tình trạng nghèo tương đối trở nên khó khăn hơn Tăng trưởng giúp một nhóm người trong xã hội đã giàu càng giầu thêm và ngược lại nhóm người nghèo, do chênh lệch thu nhập và biến động thị trường, giá cả mà họ lại càng trở nên nghèo túng hơn Hoặc nếu chạy theo lợi nhuận để đảm bảo tăng trưởng kinh tế thì việc đầu tư cơ

sở hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế sẽ khó thực hiện được Đó là do kết quả tăng trưởng chủ yếu dành cho đầu tư, kết quả tăng trưởng dành cho tiêu dùng các lĩnh vực không liên quan tới việc cải thiện đời sống dân cư, kết quả tăng trưởng phụ thuộc vào một số thành viên trong xã hội, do không hợp lý trong chính sách phân phối thu nhập của nhà nước Mặt khác nghèo đói đi liền với vấn đề lạc hậu, chậm phát triển là trở ngại lớn đối với tăng trưởng, phát triển Chính vì thế tăng trưởng cao chưa chắc đã làm giảm nghèo nhanh

2.3Tăng trưởng có lợi cho người nghèo:

Vì tăng trưởng chưa chắc đã làm giảm nghèo nhanh nên cần có chương trình tăng trưởng có lợi cho người nghèo.Theo UNDP định nghĩa tăng trưởng có lợi cho người nghèo là tăng trưởng kinh tế đưa đến phân phối lại thu nhập có lợi cho người nghèo Còn theo ADB cho rằng tăng trưởng kinh tế có lợi cho người nghèo khi đó là dạng tăng trưởng tận dụng lao động và kèm theo bằng những chính sách và chương trình

Trang 10

giảm thiểu những bất bình đẳng, thúc đẩy tạo việc làm và tăng thu nhập cho người nghèo, đặc biệt là cho phụ nữ và các nhóm xã hội bị cô lập

Nói cách khác Tăng trưởng kinh tế có lợi cho người nghèo là tăng trưởng tối đa hóa tác động tích cực của tăng trưởng trong việc giảm nghèo Một chiến lược tăng trưởng có lợi cho người nghèo không chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế mà còn tác động đến mô hình phân phối thu nhập để từ đó người nghèo hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế theo một tỷ lệ lớn hơn người giàu thu hẹp lại khoảng cách giàu nghèo

và cuối cùng là xóa nghèo

III Các kênh tác động của tăng trưởng tới xóa đói giảm nghèo

Giữa tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo có quan hệ mật thiết, mối quan hệ này có nhiều đặc tính khác nhau Tăng trưởng ảnh hưởng tới giảm nghèo thông qua nhiều biến số kinh tế Theo “Chính sách và tăng trưởng vì người nghèo, kinh nghiệm châu Á” –UNDP các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng việc làm, mô hình tăng trưởng theo ngành… Thêm vào đó, hệ thống các chính sách vĩ mô của nhà nước chính là công cụ để thể hiện sự tác động của tăng trưởng đến giảm nghèo, có vai trò

hỗ trợ tiềm lực, tạo ra môi trường thuận lợi để người nghèo có thể tiếp cận với các nguồn lực phát triển chung của đất nước Chính sách vĩ mô của nhà nước hướng vào mục tiêu tăng trưởng và giảm nghèo được thực hiện bằng hệ thống các chính sách đồng bộ, toàn diện Bao gồm: Chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế tạo nguồn lực cho phát triển ở vùng nghèo, chính sách tín dụng cho người nghèo; chính sách y tế, dân số; chính sách giáo dục, dạy nghề; Chính sách việc làm; chính sách an sinh xã hội…

Ở đề tài này, tôi xin đưa ra phân tích một số kênh tác động của tăng trưởng tới giảm nghèo như qua việc làm, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế…

1 Tăng trưởng việc làm

Việc làm theo quy định của Bộ Luật Lao Động là những hoạt động có ích không

bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động Người có việc làm là người làm việc trong mọi lĩnh vực ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp

Ngày đăng: 02/08/2013, 19:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP vùng KTTĐ Bắc Bộ so với cả nước từ năm - “Tác động của tăng trưởng tới xóa đói giảm nghèo ở  vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hiện nay”.
Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng GDP vùng KTTĐ Bắc Bộ so với cả nước từ năm (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w