Đánh giá khả năng sản suất của các công thức lai đối với đàn lợn nuôi tại xí nghiệp chăn nuôi đồng hiệp hải phòng
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trường Đại học nông nghiệp I – Hà nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đặng Vũ Bình
Hà nội - 2004
Trang 2Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Tường
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn thầy giáo hướng dẫn khoa học GS.TS
Đặng Vũ Bình đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn và hoàn thành luận văn Xin cảm ơn các cơ quan sau đây
đã giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn này:
- Xí nghiệp Chăn nuôi Đồng Hiệp - Hải Phòng
- Bộ môn Di truyền giống - Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông nghiệp I
- Khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông nghiệp I
Để hoàn thành bản luận văn này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn :
- Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của BGH Trường Trung học
Kỹ thuật Nông nghiệp và PTNT Hà Tĩnh
- Tôi xin cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tạo
điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này
Hà Nội, ngày 12 tháng 09 năm 2004
Tác giả
Nguyễn Đình Tường
Trang 4mục lục
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục mục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 9
1.2 Mục đích đề tài 10
2 Tổng quan tài liệu 11
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 11
2.1.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của lợn 11
2.1.2 Cơ sở di truyền của sự sinh sản, sinh trưởng và cho thịt 20
2.1.3 Cơ sở của sự lai tạo và ưu thế lai 24
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 27
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 32
3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 35
3.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 35
3.1.1 Các loại lợn được sử dụng trong nghiên cứu 35
3.1.2 Các công thức lai được áp dụng 36
3.2 Nội dung nghiên cứu 36
3.3 Phương pháp nghiên cứu 37
3.3.1 Thu thập số liệu theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản 37
3.3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản 38
3.3.3 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của các công thức lai 39
3.3.4 Tính toán các tham số thống kê đối với các tính trạng 40
3.4 Công cụ tính toán 41
Trang 54 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 42
4.1 Mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố đến năng suất sinh sản của đàn lợn nái Landrace, Yorkshire, C1050, F1(LY) và F1(YL) nuôi tại Đồng Hiệp 42
4.2 Trung bình bình phương nhỏ nhất một số tính trạng năng suất sinh sản của đàn lợn nái theo đực giống, nái giống, lứa, mùa và năm 46
4.2.1 Trung bình bình phương nhỏ nhất một số tính trạng năng suất sinh sản của đàn lợn nái theo đực và giống nái 46
4.2.2 Trung bình bình phương nhỏ nhất một số tính trạng năng suất sinh sản của đàn lợn nái theo các lứa 54
4.2.2 Trung bình bình phương nhỏ nhất một số tính trạng năng suất sinh sản của đàn lợn nái theo các mùa 55
4.2.3 Trung bình bình phương nhỏ nhất một số tính trạng năng suất sinh sản của đàn lợn nái theo các năm 56
4.3 Ưu thế lai về khả năng sinh sản của hai tổ hợp lai đực Yorkshire x nái Ladrace và đực Landrace x nái Yorkshire 60
4.4 Các nhân tố ảnh hưởng và năng suất sinh sản của 5 tổ hợp lai D x F1(LY), D x F1(YL), L19 x C1050, L19 x F1(LY), L19 x F1(YL) 61
4.4.1 Mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố đến năng suất sinh sản của các tổ hợp lai 61
4.4.2 Trung bình bình phương nhỏ nhất một số tính trạng năng suất sinh sản của các tổ hợp lai 64
4.4.3 Trung bình bình phương nhỏ nhất một số tính trạng năng suất sinh sản của các tổ hợp lai theo các lứa 1, 2 và 3 68
4.5 Khả năng sinh trưởng của 5 tổ hợp lai D x F1(LY), D x F1(YL), L19 x C1050, L19 x F1(LY), L19 x F1(YL) nuôi thịt 74
4.5.1 Kết quả nuôi vỗ béo các tổ hợp lai D x F1(LY), D x F1(YL), L19 x C1050, L19 x F1(LY) và L19 x F1(YL) 74
5 Kết luận và đề nghị 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Đề nghị 78
Tài liệu tham khảo 70
Trang 6Danh mục chữ cái viết tắt
1 DxF1(LY) Duroc x F1(Landrace x Yorkshire)
2 DxF1(YL) Duroc x F1(Yorkshire x Landrace)
3 L19xF1(LY) L19 x F1(Landrace x Yorkshire)
4 L19xF1(YL) L19 x F1(Yorkshire x Landracce)
5 L19xC1050 L19 x C1050
6 F1(LY) Landrace x Yorkshire
7 F1(YL) Yorkshire x Landrace
8 L19 Dòng đực (Duroc x Yorkshire)-Viện chăn nuôi
9 402 Dòng đực (Yorkshire x Pietrain)-Viện chăn nuôi
10 C1050 Dòng nái (Landrace (L06)xYorkshire (L11))-Viện chăn nuôi
11 SCDR Số con đẻ ra/lứa
12 SCDN Số con để nuôi/lứa
13 SCCS Số con cai sữa/lứa
14 NCS Số ngày cai sữa
15 PSS Khối l−ợng sơ sinh/ổ
16 PSSC Khối l−ợng sơ sinh/con
17 PCS Khối l−ợng cai sữa/ổ
18 PCSC Khối l−ợng cai sữa/con
19 TTTA/kgTT Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng
Trang 7danh mục các hình
Hình 1: Tính trạng số con của các tổ hợp lai lứa đẻ 1 62 Hình 2: Tính trạng số con của các tổ hợp lai lứa đẻ 2 62 Hình 3: Tính trạng số con của các tổ hợp lai lứa đẻ 3 63 Hình 4: Tính trạng khối l−ợng trung bình một lợn sơ sinh và cai sữa của các tổ hợp lai lứa đẻ 1 63 Hình 5: Tính trạng khối l−ợng trung bình một lợn sơ sinh và cai sữa của các tổ hợp lai lứa đẻ 2 64 Hình 6: Tính trạng khối l−ợng trung bình một lợn sơ sinh và cai sữa của các tổ hợp lai lứa đẻ 3 64
Trang 8danh mục các bảng
Bảng 2.1 Các nguyên nhân làm chết lợn con 7
Bảng 2.2 Năng suất sinh sản một số tổ hợp lai ở Mỹ và Canada 20
Bảng 2.3 Kết quả nghiên cứu của Winters (1978) [59] 21
Bảng 2.4 Năng suất sinh sản của một số giống lợn ngoại 25
Bảng 3.1 Số lượng lợn nái và lứa đẻ được sử dụng để đánh giá 27
Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm theo dõi khả năng sinh trưởng các con lai của các công thức lai 28
Bảng 4.1 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các tính trạng năng suất sinh sản của đàn lợn nái 35
Bảng 4.2 Trung bình bình phương nhỏ nhất của các tính trạng năng suất sinh sản của đàn nái theo đực giống 44
Bảng 4.3 Trung bình bình phương nhỏ nhất của các tính trạng năng suất sinh sản của các nái 45
Bảng 4.4 Trung bình bình phương nhỏ nhất của các tính trạng năng suất sinh sản của đàn nái theo lứa đẻ 48
Bảng 4.5 Trung bình bình phương nhỏ nhất của các tính trạng năng suất sinh sản của đàn nái theo mùa 49
Bảng 4.6 Trung bình bình phương nhỏ nhất của các tính trạng năng suất sinh sản của đàn nái theo năm 50
Bảng 4.7 Ưu thế lai về khả năng sinh sản của 2 tổ hợp lai: đực Y x nái L và đực L x nái Y 53
Bảng 4.8 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các tính trạng năng suất sinh sản của các tổ hợp lai 54
Bảng 4.9 Trung bình bình phương nhỏ nhất của các tính trạng năng suất sinh sản của các tổ hợp lai 58
Bảng 4.10 Kết quả nuôi vỗ béo các tổ hợp lai D x F1(LY), D x F1(YL), L19 x C1050, L19 x F1(LY) và L19 x F1(YL) 67
Trang 9Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, chăn nuôi lợn là một ngành phát triển, thịt lợn chiếm 40% tổng sản lượng các loại thịt ở Việt Nam, chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống của hàng triệu hộ nông dân, thịt lợn chiếm 76% tổng sản lượng các loại thịt tiêu thụ hàng ngày trên thị trường
Theo thống kê của Tổ chức Nông - Lương của Liên Hiệp Quốc (FAO), trong thập niên vừa qua Việt Nam đứng thứ 10 trong số 60 nước trên thế giới được ghi nhận là chăn nuôi nhiều lợn và sản xuất nhiều thịt lợn ở Châu á, Việt Nam là nước
đứng thứ nhì về sản xuất nhiều thịt lợn 1,32 triệu tấn năm 1999 sau Trung Quốc (Asian Livestock Journ, 2000 - dẫn qua [14])
Chăn nuôi lợn ngoại ngày càng được đẩy mạnh trong khu vực nông hộ cũng như các trại chăn nuôi công nghiệp Bởi vì, chăn nuôi lợn ngoại có tốc độ tăng khối lượng nhanh, tỷ lệ nạc cao, cho hiệu quả kinh tế cao và đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng cũng như xuất khẩu Muốn có số lượng thịt nhiều và chất lượng thịt cao cần phải có đàn lợn giống tốt Do đó nhiệm vụ của cơ sở giống là phải đáp ứng
được cả về số lượng cũng như chất lượng con giống Cho tới nay đã có các giống và dòng lợn được sử dụng ở Việt Nam như Đai Bạch, Landrace, Duroc, Pietrain, L19, L95, C1230, C1050 , các công thức lai tạo lợn hướng nạc giữa các giống và dòng trên đang được áp dụng mang lại thay đổi rõ rệt đối với các tính trạng tăng trọng, chi phí thức ăn, phẩm chất sản phẩm góp phần quan trọng nâng cao năng suất và cải tiến chất lượng thịt Chăn nuôi lợn ở nước ta tuy đã có những tiến bộ nhất định nhưng so với tốc độ phát triển chăn nuôi lợn của một số nước trong khu vực và trên thế giới thì nền chăn nuôi lợn ở nước ta vẫn còn ở mức độ năng suất thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao
Để đạt được mục tiêu tăng nhanh tổng sản lượng thịt lợn và nâng cao chất
Trang 10lượng thịt phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu thì việc nghiên cứu các công thức lai nhằm xác định những cặp lai phù hợp cho từng vùng sinh thái, quy mô và hình thức chăn nuôi đang là yêu cầu cấp thiết đối với sản xuất hiện nay, đặc biệt trong điều kiện của quá trình phát triển chăn nuôi lợn ngoại ở các địa phương trong
cả nước Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Đánh giá khả năng sản xuất của các công thức lai đối với đàn lợn nuôi tại Xí nghiệp Chăn nuôi
Đồng Hiệp - Hải Phòng"
1.2 Mục đích đề tài
- Đánh giá năng suất sinh sản, các nhân tố ảnh hưởng đối với các tính trạng năng suất sinh sản của đàn lợn nái và của các công thức lai được sử dụng tại Xí nghiệp Chăn nuôi Đồng Hiệp - Hải Phòng
- Đánh giá năng suất thịt của các công thức lai nuôi tại Xí nghiệp Chăn nuôi
Đồng Hiệp - Hải Phòng
- Trên cơ sở đó xác định được các công thức lai phù hợp và có hiệu quả đối với Xí nghiệp Chăn nuôi Đồng Hiệp - Hải Phòng
Trang 112 Tổng quan tài liệu
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của lợn
2.1.1.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản
Sinh sản là một quá trình mà ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, thụ tinh giữa tinh trùng và trứng, hợp tử hình thành và phát triển trong
tử cung của con cái, cuối cùng sinh ra đời con Khả năng sinh sản của lợn là một tiêu chuẩn để xác định giá trị kinh tế của chăn nuôi lợn Khả năng sinh sản được biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu: đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ sống khi đẻ và khi cai sữa, độ đồng đều, khả năng tiết sữa, thời gian động dục trở lại của lợn nái sau khi cai sữa Sinh sản của gia súc là một hình thái của sức sản xuất và cũng biểu hiện đặc trưng của tính di truyền của mỗi phẩm giống (Trần Đình Miên, 1975) [31] Như vậy quá trình sinh sản cần phải có cả lợn đực và lợn cái Nhưng khả năng sinh sản của lợn cái là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nói chung, vì trong khả năng sinh sản của lợn cái đã bao hàm cả một phần khả năng sinh sản của lợn đực Trần Đình Miên (1975) [30]; Lê Xuân Cương (1986) [10]; Lush (1947) [89] cho biết có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái:
- Sự thành thục về tính dục: sự thành thục về tính dục của lợn nái được nhận biết bởi sự xuất hiện chu kỳ động dục đầu tiên, tuy vậy trong lần động dục này hầu như lợn nái không chửa đẻ Hughes và cộng sự (1980) [81]; Self (1955) [99] lợn cái thường thành thục về tính dục lúc 6-8 tháng tuổi Sự thành thục tính dục phụ thuộc vào phẩm giống và điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, phạm vi biến động từ 135 đến
250 ngày tuổi Lợn cái được sinh ra trong mùa Xuân, thành thục về tính dục sớm hơn lợn cái sinh ra ở các mùa khác nhau (Schmidt 1974) [98] Điều đó chứng tỏ rằng yếu tố thời tiết, mùa vụ ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính dục của lợn Brooks (1969) [63]cho biết có thể sử dụng những con đực đã thành thục về tính dục
Trang 12để thúc đẩy sự thành thục về tính dục sớm hơn đối với lợn cái hậu bị Nhưng theo John (2000) [17], sự khác biệt về mùa vụ được sinh ra cũng là vấn đề phổ biến đối với kỳ động dục đầu Nói chung, lợn cái hậu bị được sinh vào mùa Thu sẽ thành thục khi thể trọng hơi thấp và tuổi cũng ít hơn so với lợn cái hậu bị được sinh trong mùa Xuân Cho lợn đực tiếp xúc có thể rút ngắn tuổi và thể trọng thành thục đối với lợn cái hậu bị được sinh trong mùa Xuân, nhưng đối với lợn cái hậu bị được sinh vào mùa Thu thì không
Dwane và cộng sự (2000) [15], những tài liệu ở lò sát sinh và các thí nghiệm
đối chiếu cho thấy những lợn cái hậu bị được sinh ra trong mùa Đông và mùa Xuân thì động dục lần đầu chậm thua những lợn cái hậu bị được sinh ra trong các mùa khác của năm Song hiện nay vẫn chưa còn rõ sự thành thục tính bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ mùa Hè cao hay độ dài của ngày bị giảm trong giai đoạn khủng khoảng của
sự phát triển thành thục tính dục Nhiệt độ môi trường cao (85oF) gây trở ngại cho biểu hiện chịu đực tập tính, làm giảm mức ăn được và hạ thấp tỷ lệ rụng trứng ở những lợn cái hậu bị trong chu kỳ Chưa có đủ những tài liệu nghiên cứu về tầm quan trọng của thời kỳ chiếu sáng vốn được coi như là một thành phần quan trọng của ảnh hưởng mùa vụ Bóng tối hoàn toàn làm chậm thành thục so với những biến
động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày Chế độ ánh sáng nhân tạo 6 giờ mỗi ngày không đủ để làm cho thành thục tính dục sớm hơn
- Số trứng rụng trong một chu kỳ động dục là giới hạn cao nhất của số con đẻ
ra trong một lứa Số trứng rụng chịu ảnh hưởng của mức độ cận huyết, nếu hệ số cận huyết tăng lên 10% thì số trứng rụng sẽ giảm đi 0,6 tới 1,7 trứng (Stewart, 1945 [102]; Cunningham và cộng sự, 1979 [67]) Nếu tuổi của lợn nái hậu bị tăng lên 10 ngày thì số trứng rụng tăng 0,67 trứng (Rathnasabapathy, 1956) [95] Số trứng rụng trong kỳ động dục đầu tiên là 11,3 trứng, trong chu kỳ thứ hai là 12,3 trứng Số tế bào trứng rụng trong 4 chu kỳ động dục đầu tiên lần lượt là 10,0; 10,8; 11,9 và 12,0 trứng (Warnick, 1951) [109] Số trứng rụng của lợn nái trưởng thành là 21,4 trứng, trong khi đó lợn nái non chỉ rụng 13,5 trứng Trung bình mỗi lợn nái có số trứng rụng từ 15 đến 20 trứng trong một chu kỳ động dục (Haines, 1959 [76]; Vangen,
1981 [107]; Skinner, 1977 [101]) Số trứng rụng tăng lên đáng kể trong 4 lứa đẻ đầu
Trang 13tiên, đạt được mức ổn định ở lứa thứ 6 Số lượng trứng rụng ở các chu kỳ động dục
1, 2, 3 có ảnh hưởng đến số con đẻ ra trong một lứa ở lợn cái hậu bị (Paul, 1996) [93] Số trứng rụng còn liên quan đến khối lượng của lợn nái (Bowman, 1961 [65]; Strang, 1970 [103] và Vander Steen, 1983 [105]) Nhiều nghiên cứu đă chứng minh rằng số trứng rụng còn phụ thuộc vào mùa vụ, nhiệt độ môi trường và thời gian chiếu sáng (Perry, 1954 [94]; Hughes, 1980 [81]; Strang, 1979 [104]) cho rằng nhiệt
độ môi trường chỉ ảnh hưởng đến số lượng trứng rụng, còn thời gian chiếu sáng lại
ảnh hưởng tới số con đẻ ra
- Tỷ lệ thụ tinh: xác định thời điểm phối giống thích hợp sẽ quyết định tỷ lệ thụ tinh của các trứng rụng trong một chu kỳ động dục của lợn nái Trong điều kiện bình thường, tỷ lệ thụ tinh có thể đạt 90 - 100%, điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Hancock (1961) [77] và Self (1955) [99] Nếu cho lợn phối giống trực tiếp thì tỷ lệ thụ tinh thường cao hơn từ 10-20% so với phối giống nhân tạo Kỹ thuật phối giống nhân tạo, môi trường pha loãng để bảo vệ tinh dịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thụ tinh (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện và Lưu Kỷ, 1995 [1]; Nguyễn Văn Thưởng, 1998 [47]) Tỷ lệ thụ tinh còn phụ thuộc vào mùa vụ phối giống, nếu cho lợn phối giống vào các tháng 6 - 8 thì tỷ lệ thụ tinh giảm 10% so với phối giống ở tháng 11 - 12 (Akina Ogasa, 1992) [60] Nghiên cứu tài liệu ghi chép hàng năm trên nhiều nhóm lợn thí nghiệm, nhận thấy mùa vụ tương đối có ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh (Dwane và cộng sự, 2000) [15]
- Tỷ lệ chết phôi: khi nghiên cứu giai đoạn từ 9 - 13 ngày sau khi phối giống, Johansson (1980) [83] cho rằng đây là giai đoạn khủng khoảng của sự phát triển của phôi, vì phần lớn các trường hợp chết phôi diễn ra trong giai đoạn này Ngày nay các nghiên cứu đều xác định rằng 30% - 40% phôi bị chết trong thời gian làm tổ ở sừng
tử cung Perry (1954) [94] và Joakimsen (1977) [82] cho biết phôi bị chết vào ngày
13 - 18 sau khi thụ tinh Tỷ lệ thai chết tỷ lệ thuận với số phôi còn sống ở đầu thời
kỳ bào thai (Đặng Vũ Bình, 1993) [5] Perry (1954) [94] cho rằng tỷ lệ thai chết thường cao ở những sừng tử cung chứa trên 5 bào thai
- Số lợn con được sinh ra trong ổ thường được đánh giá theo ba loại lợn con
Trang 14(Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy Hoan, 1998 [42]; Nguyễn Văn Thiện, 1989 [38]):
+ Loại đẻ ra còn sống: trong số này sẽ có một số con chết trong vòng 24 giờ, như vậy số con sơ sinh sống đến 24 giờ là số con còn sống trừ đi số con chết trong
24 giờ
+ Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra Nguyên nhân có thể do lợn mẹ nhiễm bệnh trong khi có chửa hoặc do thiếu dinh dưỡng
+ Loại thai gỗ: là loại thai chết trong tử cung lúc 35 - 90 ngày tuổi Thai chết trong giai đoạn này thường không gây sảy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại Nguyên nhân có thể các thai này không được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ làm cho thai phát triển không bình thường, thai phát triển dị dạng, hoặc do nhiễm vi rút Entorovirus, Parvovirus Lợn nái chửa nhiễm Parvovirus lúc 70 ngày có chửa trở
về trước thì mới gây ra thai gỗ, số con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ, sẽ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24 giờ cho một lứa đẻ
Hughes và cộng sự (1980) [81] cho rằng năng suất của đàn lợn giống được xác
định bởi chỉ tiêu số con bán được khi cai sữa/1nái/1năm Do đó, số con trong ổ là tính trạng năng suất sinh sản rất quan trọng Giới hạn cao nhất của số con trong ổ là
số trứng rụng Từ giới hạn này, số con trong ổ bị giảm đi là do:
+ Một số trứng không được thụ tinh
+ Một số thai chết khi đẻ
+ Một số lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa
Khá nhiều nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa Người ta đã thống kê được khoảng 3 - 5% lợn con chết khi sơ sinh bao gồm cả lợn con chết do đẻ khó và lợn con chết trong giai đoạn chửa cuối
Các nguyên nhân chủ yếu làm lợn con chết trong quá trình từ sơ sinh tới cai sữa (Veternary Investigation Service dẫn qua [5])
+ Bị mẹ đè và bỏ đói: 50%
Trang 15ở bảng 2.1 cho thấy, có hơn 42% số lợn con bị hao hụt trước cai sữa đã chết vì
đói hoặc bị dẫm đạp và nếu kể cả lợn bị giết bỏ do khối lượng cơ thể thấp dưới 1,8 pao thì có 55% của sự tổn thất là do 3 nguyên nhân trên Như vậy, kết quả nghiên cứu này cũng tương tự như kết quả nêu trên
Huang Yishua (2000) [80] đã phân tích thống kê về ảnh hưởng của mùa vụ và lứa đẻ đến số con trong ổ trên 560 ổ lợn Landrace và 163 ổ lợn Duroc Lứa đẻ ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến số con/ổ của lợn Landrace, nhưng ảnh hưởng của
Trang 16mùa phối và tương tác giữa mùa phối và lứa đẻ lại không có ý nghĩa thống kê Những kết quả này cũng giống như đối với lợn Duroc, ngoại trừ ảnh hưởng tương tác giữa mùa phối và lứa đẻ lại không có ý nghĩa thống kê đối với số con/ổ
- Khoảng cách lứa đẻ là thời gian để lợn nái hoàn thành một chu kỳ sinh sản gồm: thời gian nuôi con + thời gian chờ động dục lại sau khi cai sữa + thời gian phối giống có chửa và thời gian chửa Trong bốn yếu tố đó, thì thời gian mang thai là không thay đổi, ba yếu tố còn lại có thể thay đổi Cai sữa sớm cho lợn con là biện pháp tích cực nhằm làm tăng lứa đẻ/nái/năm Nhiều công trình nghiên cứu đã dùng huyết thanh ngựa chửa làm giảm đáng kể thời gian từ khi cai sữa đến động dục trở lại (Lê Xuân Cương, 1985) [9] và (Lê Xuân Cương, 1987) [11]
- Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức sản xuất của lợn nái Lợn nái sau cai sữa có thể động dục bình thường hay động dục bị chậm lại khi dinh dưỡng trong thời kỳ nuôi con không đầy
đủ Phùng Thị Vân và cộng sự (1999) [52] cho rằng lợn cái hậu bị giống ngoại chuyển sang chế độ nuôi ăn hạn chế từ 65 kg đến 90 kg thể trọng và có chế độ ăn tăng 10 ngày trước khi dự kiến phối giống thì có xu hướng tăng số con đẻ sống, tỷ lệ nuôi sống lợn con trước khi cai sữa, số con cai sữa/lứa và khối lượng lợn con cai sữa/lứa Cam Mc Phee (2001) [66], đã thông báo rằng cho lợn hậu bị sau khi đã
được chọn lọc ở 50 kg và trong 6 tuần nuôi tiếp theo chỉ cho ăn khẩu phần hạn chế bằng 80% khẩu phần ăn tự do thì có biểu hiện giảm động dục duy trì, nhưng không
ảnh hưởng đến khối lượng lợn con sau khi sinh
Có nhiều chỉ tiêu sinh học đánh giá năng suất sinh sản của lơn nái Legault (1990) [90], Vander Steen (1986) [106] cho biết chỉ tiêu số lợn con sinh ra nuôi sống đến cai sữa/nái/năm là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Lush (1942) [88], Bowman (1961) [65] và Korkman (1947) [86] nhận xét rằng mùa vụ có ảnh hưởng ít tới số con đẻ ra trong một lứa, nhưng lại ảnh hưởng lớn tới số con cai sữa trên ổ Chỉ tiêu này có liên quan mật thiết với các chỉ tiêu khác như: tuổi đẻ lứa đầu, tính mắn đẻ, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa, thời gian chờ phối giống từ sau khi cai sữa lợn con đến khi lợn mẹ động dục trở lại (Đặng Vũ Bình,
Trang 171993) [3], (Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [42], (Vander Steen, 1983) [105] và (Hill, 1982) [79]
Khả năng đáp ứng của lợn đối với khí hậu nóng ẩm bị hạn chế do ở lợn có rất ít các tuyến mồ hôi nên không thể tự điều chỉnh thân nhiệt bằng cách toát mồ hôi Hơn nữa, sự bốc hơi nước giảm đi khi mà độ ẩm không khí tăng lên Trong các loài động vật có vú, lợn có khả năng chịu nóng thấp nhất và dễ mẫn cảm với sự dao động nhiệt
độ của môi trường xung quanh Yu và cộng sự nghiên cứu trên ba trại lợn giống ở Thái Lan đã kết luận có sự giảm về tỷ lệ đẻ (3,4%) và số con/lứa (0,39 con/lứa) ở các nái Landrace, Yorkshire và Duroc được phối trong mùa nóng (dẫn qua [14]) Trần Quốc Việt (1997) [56] cho rằng, yếu tố mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng của lợn con Lợn con được đẻ vào mùa lạnh đều có khối lượng sơ sinh và cai sữa cao hơn các mùa khác trong năm
2.1.1.2 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ
sở bản chất di truyền của đời trước quy định Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng, từ đó tìm ra những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến quá trình sinh trưởng của con vật Trần Đình Miên (1985) [32] cho biết một số nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của lợn:
- Di truyền: các giống gia súc khác nhau có khả năng cho thịt không giống nhau, khả năng này phụ thuộc vào quá trình sinh trưởng của con vật, đó là quá trình tích luỹ các chất mà chủ yếu là prôtêin Tốc độ và phương thức sinh tổng hợp prôtêin phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể Thời kỳ đầu khi con vật còn bú sữa, các bộ phận chức năng trong cơ thể chưa phát triển đầy đủ như bộ máy tiêu hoá, sự điều hoà thân nhiệt, phải sau một thời gian nhất định các bộ phận chức năng mới hoàn thiện dần
Tiềm năng di truyền của các chỉ tiêu sinh trưởng được thể hiện thông qua hệ số
di truyền Hệ số di truyền của tăng trọng hàng ngày, tiêu tốn thức ăn cũng như tuổi
Trang 18kết thúc vỗ béo dao động trọng phạm vi rộng, phụ thuộc vào giống, quần thể và phương pháp tính khác nhau Trong trường hợp kiểm tra theo khối lượng và các cá thể được nuôi riêng lẻ thì hệ số di truyền đạt cao hơn nuôi theo nhóm Hệ số di truyền của tăng trọng trong thời gian kiểm tra (30 đến 100kg) là 0,5 (0,3 - 0,65), đối với tăng trọng g/ngày tuổi h2= 0,15 (0,1 - 0,2) và đối với tiêu tốn thức ăn (30 - 100kg) h2= 0,47 (Busse và Groeneveld, 1986 dẫn qua [57])
Do các chỉ tiêu vỗ béo có hệ số di truyền nằm trong phạm vi trung bình, cho nên có thể chờ đợi được hiệu quả chọn lọc ở thế hệ sau Tiềm năng di truyền đối với sinh trưởng được tăng lên theo tuổi Hệ số di truyền đối với khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05 - 0,2, hệ số này thấp hơn so với thời kỳ vỗ béo (Triebler, 1982 dẫn qua [57])
Hazel (1943) [78], Trần Thế Thông (1979) [46] và Lush (1947) [89], hệ số di truyền về sự tăng trưởng của gia súc trong thời kỳ bú sũa mẹ thường thấp, đối với lợn hệ số di truyền là 0,15 Thời kỳ sau cai sữa kiểu di truyền của gia súc ngày càng
có biểu hiện rõ nét hơn
Nghiên cứu nắm vững các quy luật sinh trưởng và phát dục ngay từ khi con vật còn ở trong bào thai cho đến khi được sinh ra và lớn lên, điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi để con vật phát huy được tốt nhất tiềm năng
di truyền vốn có của phẩm giống
- Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố ngoại cảnh, nó trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn Bảo đảm cân đối dinh dưỡng thì con vật mới phát huy được tiềm năng di truyền của nó Nếu dinh dưỡng kém kéo dài, thì các nhân tố di truyền không những không phát triển theo hướng tích cực, mà thậm chí còn ngược lại Mối quan hệ giữa năng lượng và prôtêin trong khẩu phần là yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ thịt nạc, thịt
mỡ và tiêu tốn thức ăn của lợn thịt (Nguyễn Nghi và ctv, 1995) [35]
- Phương thức nuôi dưỡng: sự thay đổi thành phần hoá học của mô cơ, mô mỡ của lợn chủ yếu xẩy ra trong giai đoạn trước 4 tháng tuổi Trên cơ sở quy luật sinh
Trang 19trưởng tích luỹ các chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn, mà người ta đưa ra các phương thức nuôi dưỡng:
+ Nuôi lấy thịt nạc, yêu cầu thời gian nuôi ngắn hơn, khối lượng giết mổ nhỏ hơn phương thức nuôi lấy thịt mỡ
+ Phương thức nuôi lấy thịt mỡ cần thời gian nuôi dài hơn, khối lượng giết thịt lớn hơn
- Chăm sóc nuôi dưỡng: nhiệt độ, độ ẩm, cường độ chiếu sáng đều có tác động nhất định tới khả năng sinh trưởng, tích luỹ của lợn thịt Nugul cho rằng lợn vỗ béo hướng nạc cần nhiệt độ từ 15-200C trong chuồng nuôi Theo Tome ở 210C, cũng theo Cudraxep ở 200C lợn vỗ béo sản ra nhiệt thấp nhất (trích từ Trần Quang Hân, 1946) [21] Trong chăn nuôi lợn thịt người ta thường dùng các thuốc an thần và che tối chuồng lợn trong giai đoạn vỗ béo để lợn nghỉ ngơi, ít vận động, thấy có kết quả
rõ rệt Những thay đổi đột ngột về thời tiết, thức ăn lạ, vận chuyển, tiêm, thiến lợn, phân đàn, thay đổi chổ ở có ảnh hưởng xấu tới tốc độ sinh trưởng và phẩm chất thịt
2.1.1.3 Cơ sở sinh lý của sự cho thịt
Giá trị dinh dưỡng của thịt chủ yếu là prôtêin Protein thịt là loại protein hoàn chỉnh, chứa tất cả các axit amin cần thiết cho cơ thể con người Thịt theo nghĩa rộng bao gồm các tổ chức cơ, mỡ, xương, da và các cơ quan, bộ phận khác của con vật Nghĩa hẹp, thịt gồm có các cơ và tổ chức mỡ Nhiều nghiên cứu cho rằng mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với số lượng mỡ trong thân thịt có mối tương quan thuận r
= 0,48 đến 0,80; giữa độ dày mỡ lưng và tỷ lệ thịt nạc trong thân thịt có mối tương quan nghịch r = (-0,38) đến (-0,70) (Fanconer, 1981) [72] Do đó đánh giá khả năng cho thịt có liên quan đến khả năng sinh trưởng tích luỹ của các bộ phận cơ và mỡ:
- Mô cơ là mô có giá trị thực phẩm cao nhất, nó chiếm 35% khối lượng của con vật, bao gồm cơ vân và cơ trơn (Lê Văn Liễn, Lê Khắc Huy, Nguyễn Thị Liên, 1997) [27] Sợi cơ có đường kính từ 10-100àm, chiều dài 12cm Sợi cơ chia thành 3 phần: màng cơ, chất cơ và nhân Thành phần hoá học của mô cơ là: nước 72-75%, prôtêin 18-21%, lipit 1-3%, khoáng 1%
Trang 20Tỷ lệ thịt nạc ở lợn cao hay thấp được cấu thành và thay đổi theo quy luật di truyền khá chặt chẽ Số lượng “sợi thịt” của từng cơ thịt ngay từ bẩm sinh đã được xác định và gần như được cố định suốt cả đời lợn Số lượng “sợi cơ” phụ thuộc vào giống lợn (Vũ Kính Trực, 1988) [49]
- Mô mỡ được tạo thành từ mô liên kết hình lưới xốp cùng với lượng lớn tế bào
mỡ Đây là nơi dự trữ và cung cấp năng lượng cho cơ thể (Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [42] và (Williamson, 1978) [110] Tuỳ loại gia súc, tuổi giết mổ, mức độ gầy béo và vị trí trên cơ thể con vật mà lượng mỡ khác nhau Thành phần hoá học của mô mỡ: nước 2-21%, lipit 70-97%, protein 0,5-7,2%, một lượng nhỏ khoáng và vitamin
Trong thành phần thịt xẻ thì thịt nạc và mỡ là quan trọng nhất, chúng phát triển nghịch nhau, tuỳ thuộc vào kiểu gen và thông qua sự điều tiết của hệ thống nội tiết
tố (Vũ Kính Trực, 1998) [49], (Wood, 1987) [111] Ngoài 2 thành phần chính là mô cơ và mô mỡ còn có mô sụn, mô xương và mô liên kết, song giá trị dinh dưỡng của chúng thường thấp Tỷ lệ nạc và mỡ phụ thuộc vào tuổi giết mổ và phẩm giống, những giống lợn thành thục về tính dục sớm thì tỷ tệ thịt móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ cao hơn những giống thành thục muộn
2.1.2 Cơ sở di truyền của sự sinh sản, sinh trưởng và cho thịt
2.1.2.1 Tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng là những tính trạng được quy định bởi nhiều cặp gen có hiệu ứng nhỏ (minor gene), tính trạng số lượng bị tác động nhiều của môi trường và
sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại,
đó là các tính trạng đa gen (polygene) Hầu hết những tính trạng có giá trị kinh tế của gia súc đều là những tính trạng số lượng (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [40]; (Nguyễn Văn Thiện, 1996) [41] và (Kiều Minh Lực, 1999) [29]
Có hai hiện tượng di truyền cơ bản liên quan đến tính trạng số lượng, mỗi một hiện tượng di truyền này là một cơ sở lý luận cho việc cải tiến di truyền giống vật nuôi Trước hết là sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc, quan hệ thân thuộc
Trang 21càng gần con vật càng giống nhau, đó là cơ sở di truyền của sự chọn lọc, thứ nữa là hiện tượng suy hoá cận thân và hiện tượng ngược lại về sức sống của con lai hoặc ưu thế lai, đây là cơ sở di truyền của sự chọn phối để nhân thuần hoặc tạp giao (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [40]
Tất cả các tính trạng về sinh sản, sinh trưởng và cho thịt đều là các tính trạng năng suất của con vật và đó là các tính trạng số lượng, do nhiều gen điều khiển, mỗi gen đóng góp một mức độ khác nhau vào cấu thành năng suất của con vật Giá trị kiểu hình của các tính trạng năng suất sinh sản có sự phân bố liên tục, và chịu tác
động nhiều bởi yếu tố ngoại cảnh (Falconer, 1993) [73]
2.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng
Giá trị kiểu hình (P) của bất kỳ một tính trạng số lượng nào cũng có thể phân chia thành các giá trị kiểu gen (G) và sai lệch môi trường (E) Giá trị kiểu gen (G) lại có thể phân thành giá trị cộng gộp của các gen (A), giá trị trội của các gen (D) và giá trị át gen (I) Sai lệch môi trường (E) có thể bao gồm sai lệch môi trường chung (Eg) và sai lệch môi trường riêng (Es) Giá trị kiểu hình (P) được biểu thị như sau:
P = G + E
P = A + D + I + Eg + Es
- Giá trị kiểu gen (G - Genotypic Value):
Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều cặp gen quy định Phương thức di truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của di truyền: phân
ly, tái tổ hợp, liên kết Tác dụng của các gen khác nhau trên cùng một tính trạng có thể là cộng gộp, cũng có thể là không công gộp
Giá trị cộng gộp A (Additive Value - hay còn gọi là giá trị giống)
Bố mẹ chỉ truyền đạt cho con cái các gen của chúng chứ không phải truyền đạt kiểu gen cho thế hệ sau, kiểu gen phải được sáng tạo lại mới ở mỗi thế hệ Để đo lường giá trị truyền đạt từ bố mẹ cho đời con phải có một giá trị đo lường mới có
Trang 22liên hệ với gen chứ không phải có liên hệ với kiểu gen, đó là “hiệu ứng trung bình” của các gen Hiệu ứng trung bình của một gen là sai lệch trung bình của cá thể so với trung bình của quần thể mà nó đã nhận gen đó từ một bố hoặc một mẹ nào đó, còn gen kia nhận được từ mẹ hoặc bố khác trong quần thể Tổng các hiệu ứng trung bình của các gen mà nó mang (tổng các hiệu ứng được thực hiện cùng với cặp gen ở mỗi lô cút và trên tất cả các lô cút) được gọi là giá trị cộng gộp hoặc giá trị giống của cá thể Giá trị giống là thành phần quan trọng của kiểu gen vì nó cố định và có thể di truyền được, do đó nó là nguyên nhân chính gây ra sự giống nhau giữa các thân thuộc, nghĩa là nó là nhân tố chủ yếu sinh ra đặc tính di truyền của quần thể và
sự đáp ứng của quần thể đối với sự chọn lọc Hơn nữa đó là thành phần duy nhất mà người ta có thể xác định được sự đo lường các tính trạng đó ở quần thể
Tác động của gen gọi là cộng gộp khi giá trị kiểu hình của kiểu gen dị hợp luôn luôn là trung gian so với kiểu hình của hai kiểu gen đồng hợp Giả sử tính trạng khối lượng được điều khiển bởi một cặp gen và có các kiểu gen và kiểu hình như sau:
AA = 10kg, Aa = 9 Kg, aa = 8 Kg
Vì gen tác động cộng tính, giá trị kiểu hình của dị hợp luôn nằm khoảng giữa giá trị kiểu hình của các đồng hợp: (AA + aa)/2 = Aa
Bất kỳ một mô hình di truyền tương tự như BB = 1, Bb = 1,5 và bb = 2 hoặc CC
= 100, Cc = 90 và cc = 80 đều là ví dụ của các tác động gen cộng Đơn vị đo lường phụ thuộc vào tính trạng (ví dụ kg, gr, cm, ) (Kiều Minh Lực, 1999) [29]
Giá trị cộng gộp (giá trị giống) là cố định và có thể di truyền được, nó là một thuộc tính của quần thể mà trong đó cá thể được giao phối Bố mẹ luôn truyền 1/2 giá trị cộng gộp của chúng cho đời con Tiềm năng di truyền do tác động cộng gộp của gen bố và mẹ tạo nên gọi là giá trị di truyền của con vật hay giá trị giống Giá trị giống được dùng để chọn lọc có khả năng di truyền cho đời sau
Giá trị không cộng gộp bao gồm sai lệch trội và sai lệch át chế gen
Trang 23+ Sai lệch trội D (Dominant Deviation) là sai lệch được sản sinh ra do sự tác
động qua lại giữa các cặp alen ở trong cùng một lô cút (đặc biệt là các cặp alen di hợp tử) Sai lệch trội cũng là một phần thuộc tính của quần thể Sai lệch trội có thể là: Trội hoàn toàn (AA=Aa>aa); Siêu trội (Aa>AA>aa); Trội không hoàn toàn (AA>Aa>aa)
Quan hệ trội ở bố mẹ không di truyền được sang con cái
+ Sai lệch át gen (Epistatic Deviation) hoặc sai lệch tương tác I (Interaction Deviation) là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các gen không cùng một alen thuộc các lô cút khác nhau Do đó:
G = A + D + I
Nhận xét về tác động của gen trong hình thành tính trạng năng suất
Tác động cộng gộp của gen phân ly độc lập trong quá trình phân bào giảm nhiễm do vậy có khả năng di truyền cho thế hệ sau Vì vậy, nội dung cơ bản của chọn lọc là đánh giá tiềm năng di truyền của lợn được tạo lập bởi các tác động cộng gộp của gen
Tác động trội, lặn và tương tác gen chỉ xẩy ra do sự kết hợp đặc hiệu giữa hai alen, do vậy không có khả năng di truyền cho thế hệ sau Ưu thế lai là kết quả của tác động trội lặn và tương tác gen
- Sai lệch môi trường (E - Environmental Deviation) thể hiện thông qua sai
lệch môi trường chung Eg (General Environmental Deviation) đó là sai lệch giữa cá thể do hoàn cảnh tạm thời và cục bộ gây ra
Tóm lại khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ hai lô cút trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị:
P = A + D + I + Eg + Es
Qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng, chúng ta có thể thấy; muốn nâng cao năng suất vật nuôi cần phải:
Trang 24+ Tác động về mặt di truyền (G), bao gồm: tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách phối giống, tạp giao
+ Tác động về mặt môi trường (E) bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi: thức
ăn, thú y, chuồng trại v.v
2.1.3 Cơ sở của sự lai tạo và ưu thế lai
2.1.3.1 Lai tạo và ưu thế lai
Lai tạo là nhằm mục đích tạo ra những tổ hợp di truyền mới Đó cũng là biện pháp làm phong phú thêm các đặc tính di truyền thông qua chon phối Cuối cùng lai tạo là nhằm lợi dụng một hiện tượng sinh vật khá quan trọng, đó là ưu thế lai Ưu thế lai làm cho sức sống của con vật tăng lên, có sức đề kháng với bệnh tật và nâng cao sức sản xuất của chúng (Trần Đình Miên, 1975) [30] Ưu thế lai thường thể hiện mạnh hơn nếu như có sự sai khác di truyền giữa hai quần thể Bởi vậy lai giữa các giống bao giờ cũng có ưu thế lai cao hơn là lai giữa các dòng
ở lợn có 3 loại ưu thế lai: ưu thế lai của mẹ, ưu thế lai của con và ưu thế lai của
bố
Ưu thế lai của con mẹ có lợi cho các cá thể đời con, thông qua ưu thế lai của
mẹ, biểu hiện rõ nhất là lợn con theo mẹ Ưu thế lai của mẹ là ưu thế lai quan trọng nhất trong 3 loại ưu thế lai bởi vì nó ảnh hưởng đến số lợn con cai sữa/nái
Ưu thế lai của con có lợi cho chính bản thân chúng vì nó là những con lai Ưu thế lai có ảnh hưởng đến khả năng tăng tăng khối lượng và sức sống của con lai đặc biệt là sau khi cai sữa
Ưu thế lai của con bố được thể hiện bằng kết quả phối giống đạt tỷ lệ (%) có chửa cao (Trần Kim Anh, 1998) [2]
Lai tạo là phương pháp nhân giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế
hệ sau giảm đi, có nghĩa là làm tăng tần số kiểu gen dị hợp tử Trong chăn nuôi
Trang 25người ta thường cho giao phối giữa các cá thể thuộc hai dòng trong cùng một giống, hay hai giống khác nhau Khi cho lai tạo giữa hai quần thể với nhau sẽ gây ra hai hiệu ứng:
- Hiệu ứng cộng gộp của các gen là trung bình X P1P2 của trung bình giá trị kiểu hình của quần thể thứ nhất X P1 và trung bình giá trị kiểu hình của quần thể thứ hai X P2
(X P1 + X P2)
X P1P2 = -
2
- Hiệu ứng không cộng gộp đó là ưu thế lai H
Như vậy ưu thế lai là do trạng thái dị hợp tử ở đời con sinh ra Nếu gọi ưu thế lai là H ta có công thức tính như sau:
X f1 - X bm
H (%) = - x 100
X bm
Trong đó: X f1 : Bình quân giá trị tính trạng của đời con
X bm :Bình quân giá trị tính trạng của bố mẹ
2.1.3.2 Bản chất di truyền của ưu thế lai
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [40], Phan Cự Nhân (1977) [36], Phan Cự Nhân (1985) [37], và Bereskin (1986) [61] thì cho đến nay có ba giả thuyết để giải thích hiện tượng ưu thế lai đó là thuyết trội, thuyết siêu trội và thuyết gia tăng tác
động tương hỗ của các gen không cùng locus
- Thuyết trội (Dominance): Aa = AA>aa Những tính trạng về khả năng sinh
sản, sinh trưởng và cho thịt nói chung là các tính trạng số lượng, do nhiều gen điều khiển nên rất hiếm có tỷ lệ đồng hợp tử Thế hệ con được tạo ra do lai giữa hai cá thể sẽ được biểu hiện do tất cả các gen trội, một nửa thuộc gen trội đồng hợp tử của cha mẹ, một nửa là gen trội dị hợp Khi bố mẹ càng xa nhau về quan hệ huyết thống,
Trang 26thì xác suất để mỗi bố mẹ truyền lại cho con những gen trội khác nhau càng tăng lên
và chính từ đó dẫn đến ưu thế lai Hutt (1978) [23] cho rằng cá thể ở trạng thái dị hợp tử sẽ bảo vệ được cơ thể tránh khỏi tác động xấu của alen lặn
Ví dụ: Đời bố mẹ: AAbbccDDee x aaBBCCddEE
AaBbccDdEe
Từ ví dụ trên cho thấy ở đời bố mẹ số locus mang gen trội là 2, nhưng đến đời con số locus mang gen trội là 4 Trong trường hợp trên tất cả các gen lặn đều bị át bởi gen trội (trừ c)
- Thuyết siêu trội (Overdominance): Aa>AA>aa Theo thuyết này thì hiệu quả
của một cặp alen ở trạng thái dị hợp tử thường khác với hiệu quả của từng alen này ở trạng thái đồng hợp tử Thuyết siêu trội cho rằng trạng thái dị hợp tử là có lợi nhất (Shull, 1952) [100] và (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [40]
- Thuyết gia tăng tác động tương hỗ của các gen không cùng lôcus ở trạng
thái dị hợp tử tác động tương hỗ của các gen không cùng locus cũng tăng lên Theo Hutt (1978) [23] sự tương tác giữa hai alen xảy ra không phải chỉ trong một locus
mà ở nhiều locus, có thể làm tăng quá trình hoá sinh trong tế bào, làm cho tế bào trở nên có hoạt tính cao hơn do đó có sức sống cao hơn những cá thể đồng hợp tử Shull gọi hiện tượng hoạt động tăng lên là “ưu thế lai”
2.1.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [40] mức độ ưu thế lai phụ thuộc vào bốn yếu tố:
- Nguồn gốc di truyền của bố mẹ: bố mẹ có nguồn gốc càng xa nhau thì ưu thế lai càng cao và ngược lại
- Tính trạng xem xét: các tính trạng có hệ số di truyền thấp thì ưu thế lai cao và ngược lại
- Công thức giao phối: ưu thế lai còn phụ thuộc vào việc sử dụng con vật nào làm bố, con vật nào làm mẹ
Trang 27- Điều kiện nuôi dưỡng: nếu nuôi dưỡng kém thì ưu thế lai có được sẽ thấp và ngược lại
Ưu thế lai là hiện tượng sinh học rất quý, biểu hiện ở sự phát triển mạnh mẽ của những cơ thể được tạo ra do lai tạo giữa các con giống không cùng huyết thống Cũng có thể hiểu ưu thế lai “toàn bộ” là sự phát triển toàn khối của con vật, sự gia tăng cường độ trong quá trình trao đổi chất, sự tăng thêm của các tính trạng sản xuất, mặt khác có thể hiểu ưu thế lai theo từng mặt, từng tính trạng một (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1994) [33]
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nửa đầu thế kỷ 20 nội dung chủ yếu của công tác giống lợn là chọn lọc và nhân thuần bằng các phương pháp kiểm tra lợn đực giống qua đời sau Nhưng từ nửa sau thế kỷ này do có thêm về những hiểu biết mới về ưu thế lai và sự phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo lợn, nên ở các nước có ngành chăn nuôi tiên tiến đã phát triển mạnh về lai kinh tế ở lợn Thời kỳ đầu chỉ mới áp dụng các tổ hợp lai kinh tế đơn giản như lai giữa hai giống lợn, về sau có nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ 3, 4, 5 giống lợn và cao hơn nữa là các chương trình lai tạo lợn Hybrid
2.2.1.1 Lai kinh tế ở Mỹ và Canada (Bắc Mỹ)
Các nước có nền chăn nuôi lợn phát triển như Mỹ, Canada đã sử dụng các tổ hợp lợn lai kinh tế phức tạp từ các giống lợn cao sản như Landrace, Yorkshire, Duroc, Hampshire Các nước này thường dùng lợn nái lai từ hai giống lợn, sau đó cho phối giống với lợn đực thứ ba để sản xuất ra lợn thương phẩm Ví dụ: Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) Cũng có khi sử dụng lợn đực lai cho phối giống với lợn nái lai để sản xuất ra lợn con nuôi thịt bốn máu Tổ hợp lai dưới đây được nhiều nước ứng dụng trong sản xuất: (Duroc x Landrace) x F1(Hampshire x Yorkshire)
Hiện nay Mỹ đã sử dụng “hình tháp di truyền truyền thống” và mô hình “hình tháp di truyền cải tiến”, để xây dựng hệ thống giống lợn Đối với mô hình truyền
Trang 28thống, ở đàn lợn cụ kỵ (GGP) thường là lợn nái Yorkshire cho phối với lợn đực Yorkshire để sản xuất ra lợn Yorkshire thuần chủng ở đàn ông bà Lợn nái Yorkshire ở đàn lợn ông bà (GP) được phối giống với lợn đực Landrace để sản xuất
ra lợn bố mẹ (P) là F1(Landrace x Yorkshire) Để sản xuất ra lợn thương phẩm người ta thường dùng nái F1 phối với lợn đực kết thúc, như Hampshire, Duroc sản xuất ra lợn lai “ba máu”:
H x F1(L xY) để sản xuất ra lợn thương phẩm [H(LxY)]
D x F1(L x Y) để sản xuất ra lợn thương phẩm [D(LxY)]
Bảng 2.2 Năng suất sinh sản một số tổ hợp lai ở Mỹ và Canada
Số con đẻ ra còn sống/ổ (con)
Số lợn con cai sữa/ổ (con)
Số lợn con cai sữa/nái/năm (con)
Số lứa đẻ/nái/năm (lứa)
Khoảng cách lứa đẻ (ngày)
10,11 8,92 20,53 2,32
157
10,22 8,93 20,27 2,27
161
Trong mô hình hình tháp di truyền cải tiến, ở đàn lợn cụ kỵ vẫn dùng lợn nái Yorkshire cho phối với lợn đực Yorkshire để sản xuất ra lợn thuần thay thế trong
đàn lợn cụ kỵ (GGP), còn những lợn nái Yorkshire khác cho phối với lợn đực Welsh
để sản xuất ra lợn ông bà (GP) Các lợn lai thuộc ông bà được phối giống với lợn
đực giống Landrace để sản xuất ra lợn bố mẹ (P) là những lợn lai “ba máu” Cuối cùng những lợn lai “ba máu” này được phối giống với lợn đực kết thúc để sản xuất
ra lợn thương phẩm Căn cứ vào nhu cầu thị trường mà người ta chọn lợn đực kết thúc cho phù hợp như: (Hampshire x Large White), Duroc, Berkshire, (Duroc x Hampshire), (Duroc x Large White) (Nguyễn Văn Thiện, 1998) [43] và (Trần Đình Miên, 1998) [34]
Trang 29Năng suất sinh sản của một số tổ hợp lai ở Mỹ và Canada trình bày ở bảng 2.2 (Trần Kim Anh, 1998) [2]
2.2.1.2 Lai kinh tế lợn ở một số nước Châu Âu
ở Liên Xô (cũ), Hungary, Đức, Bungary kết quả lai kinh tế lợn đã làm tăng số lợn con sơ sinh trung bình/ổ là 12 - 16% và tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa cao hơn từ 10
- 15% so với lợn thuần Khả năng nuôi thịt tốt hơn, giảm được thời gian vỗ béo từ 25
- 30 ngày, đạt khối lượng giết mổ 100kg
Kết quả lai kinh tế giữa lợn đực Breitốp với lợn nái Đại bạch cho thấy sinh sản của lợn nái tăng lên 17,4%, khối lượng lợn con sơ sinh tăng 11,7%, tỷ lệ lợn con xuất bán ra nhiều hơn nhóm lợn thuần là 16,9%, con lai tiêu tốn thức ăn ít hơn 5,4% trên một kg tăng khối lượng (Karelin, 1984) [25]
Bảng 2.3 Kết quả nghiên cứu của Winters (1978) [59]
Số lượng (con)
Số lợn con/ổ (con) Chỉ tiêu
mẹ Lợn con sinh Sơ Cai sữa
Tuổi đạt khối lượng 100kg/con (ngày)
Tiêu tốn thức ăn cho
1 lợn đạt 100kg (kg)
Lợn lai từ 2 giống 45 415 9,22 6,76 X - 17 Y - 28 Lợn lai từ 3 giống 24 237 9,88 8,44 X - 17 Y - 31
Nhiều kết quả nghiên cứu của Winters và các cộng tác viên (1978) [59] đã chứng minh, lợn lai khác giống vượt lợn thuần chủng về số lượng lợn con nuôi sống
và vỗ béo đến khi xuất chuồng, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng thấp hơn Tác giả nhận xét lợn lai từ 2 giống có số con trung bình/ổ lúc sơ sinh cao hơn 11,6%, giảm thời gian nuôi thịt là 17 ngày và tiết kiệm được 28 kg thức ăn cho một đời lợn nuôi thịt đạt khối lượng 100 kg/con so với nuôi lợn thuần
Lợn lai từ 3 giống có số con trung bình một ổ khi sơ sinh cao hơn 7,2% so với
Trang 30lợn lai 2 giống và cao hơn 19,6% so với lợn thuần Từ những nhận xét trên Winters (1978) [59] đi đến kết luận: nhóm lợn lai có xu hướng đẻ nhiều con hơn, giảm được thời gian nuôi thịt, tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với nhóm lợn thuần
Tỷ lệ thịt nạc của con lai đạt giá trị trung bình giữa bố và mẹ, song có thiên hướng về giống bố Năng suất nuôi thịt ở con lai F1(Yorkshire x Landrace) cao hơn 6,8%, chi phí thức ăn cho một kg tăng khối lượng giảm 6,1% so với giống Yorkshire thuần Khi nuôi lợn lai từ 3 giống: Duroc, Yorkshire, Landrace ưu thế lai về tăng khối lượng của con lai là 10,5% (Vơginơ Lôpxki, 1984) [58]
Đỗ Thị Tỵ (1994) [51], ở Hà Lan chăn nuôi là một trong những ngành quan trọng Thịt lợn chiếm 60% tổng sản lượng thịt các loại được sản xuất trong năm, trong chăn nuôi lợn thì trên 90% lợn vỗ béo là lợn lai Tổ hợp lai hai máu Landrace
x Yorkshire chiếm tới 69%, các tổ hợp lai kinh tế có nhiều giống tham gia ngày càng phát triển ở Hà Lan Các giống lợn chủ yếu dùng trong lai kinh tế là Landrace
Hà Lan, Landrace Bỉ, Đại bạch, Pietrain Hà Lan Nhiều địa phương của Hà Lan đã
sử dụng lợn lai hai máu để nuôi thịt, một số địa phương khác thì ưa chuộng lợn lai 3
- 4 máu, trong đó giống thứ ba thường được chọn là lợn đực Duroc Canada Lợn lai
có ưu thế đẻ nhiều con, trung bình một ổ lợn con lúc sơ sinh là 9,9 con và đạt 18,2 con cai sữa/năm
Một số tác giả khác đã sử dụng các tổ hợp lợn lai khác nhau để nâng cao chất lượng thịt xẻ Nghiên cứu của Bereskin và Steel (1986) [61] với công thức lai thuận nghịch giữa hai giống lợn Duroc và Large White ông nhận thấy ở tổ hợp lợn lai Duroc x Large White có độ dày mỡ lưng thấp hơn so với tổ hợp lợn lai Large White x Duroc
Khi lai giữa lợn Hampshire với lợn Slovakia White, bình quân tăng khối lượng của lợn lai F1 là 488 g/ngày, độ dày mỡ lưng là 2,52 cm (Gracik và Heten, 1993) [75]
Nghiên cứu các công thức lợn lai có sự tham gia của giống lợn Landrace Bỉ cho kết quả rất tốt, tăng khối lượng trung bình 745 gam/ngày và đạt tỷ lệ thịt nạc là
Trang 3148,6% cao hơn giống lợn thuần của địa phương (Kopecky và cộng sự 1989) [87]
Khi nghiên cứu con lai giữa lợn Duroc với lợn Landrace cho thấy tăng khối lượng đạt 804 gam/ngày, tiêu tốn 2kg thức ăn/1kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt nạc/thân thịt xẻ là 51,86%, độ dày mỡ lưng là 2,23 cm Khi cho lợn đực Pietrain phối với lợn nái F1 (Landrace x Yorkshire), tỷ lệ thịt nạc đạt 52 - 55% và đạt khối lượng 100 kg ở 161 ngày tuổi (Pavlik và cộng sự 1989) [92]
Chương trình lai tạo giống lợn “PIC CAMBOROGH 22” của Anh quốc sau nhiều năm nghiên cứu PIC đã lựa chọn được tổ hợp lai từ 4 giống lợn: (Pi xY) x [D x (L x Y)] Tổ hợp lai này có khả năng sinh sản cao từ 14 - 16 con/lứa Lợn thịt
từ 30 - 90 kg tăng khối lượng trung bình 850 gam/ngày, tỷ lệ thịt xẻ trên 80%, độ dày mỡ lưng tại vị trí P2 là 10,5 mm (giết thịt lúc 80 kg), tỷ lệ thịt nạc trên 60% so với thịt xẻ, chất lượng và hương vị thịt thơm ngon Tổ hợp lai từ 4 giống lợn Pietrain, Yorkshire, Duroc, Landrace được nuôi phổ biến ở các nước Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Nhật, Thái Lan và đã đưa vào Việt Nam từ năm 1997 (PIC Việt Nam)
2.2.1.3 Lai kinh tế lợn ở Trung Quốc và Thái Lan (Châu á)
Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản xuất thịt lợn, số lượng lợn của Trung Quốc chiếm trên 40% tổng số lợn của thế giới Thịt lợn của Trung Quốc chiếm 85% tổng các loại thịt trong nước
Để nâng cao chất lượng đàn lợn thịt, Trung Quốc đã nhập một số giống lợn có khả năng sản xuất cao, phẩm chất thịt tốt như lợn Yorkshire, Duroc, Hampshire, Landrace cho phối với lợn nái Meishan của Trung Quốc vì vậy đã làm tăng khả năng sinh sản của lợn nái, đạt trung bình 12,5 con/ổ Lợn vỗ béo đạt khối lượng 90 kg lúc
180 ngày tuổi, tiêu tốn 3,4 kg thức ăn/1kg tăng khối lượng, độ dày mỡ lưng trung bình là 26 mm và đạt tỷ lệ thịt nạc trên 48% (Đỗ Thị Tỵ, 1994) [50]
Các nhà khoa học Trung Quốc nhận xét: tổ hợp lai từ ba giống lợn Large White, Landrace và Tung Chung cho năng suất sinh sản cao hơn, chất lượng thịt xẻ tốt hơn so với tổ hợp lai kinh tế từ hai giống, ví dụ: Large White x F1
Trang 32(Landrace x Tung Chung) cho kết quả cao nhất, đạt trung bình 14,1 con/ổ, khối lượng một ổ lợn con khi cai sữa là 183,7 kg, lợn vỗ béo đạt tỷ lệ thịt nạc 48,85% (Phạm Đức Kính, 1994) [26]
Tương tự như các nước ở Châu Âu, trước năm 1960 Thái Lan chỉ quan tâm đến dòng thuần, phải sau năm 1960 mới quan tâm nghiên cứu lai kinh tế hai máu (hai giống) Sau năm 1970 các nhà khoa học Thái Lan tiến hành nghiên cứu lai kinh tế
ba máu (ba giống) và sau 1980 đã tiến tới lai bốn máu (bốn giống) Các giống lợn
được sử dụng chủ yếu để lai kinh tế ở Thái Lan là Yorkshire, Landrace, Duroc, Hampshire Hiện nay ở Thái Lan lợn thương phẩm chủ yếu là lợn lai từ 3 - 4 giống
có tỷ lệ thịt nạc từ 50 - 55%
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhằm nâng cao năng suất và chất lượng lợn thịt trong nước từ năm 1964 được
sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ), Việt Nam đã nhập giống lợn Đại Bạch, Berkshire về nuôi Tiếp sau đó cho đến các năm gần đây Việt Nam tiếp tục cho nhập nội các các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace, DE, Duroc từ Cu Ba, Nhật, Pháp về nuôi tại các trại giống lợn của các viện nghiên cứu, các trường đại học nông nghiệp, các cơ
sở giống của trung ương và của tỉnh để nuôi thích nghi và phục vụ lai tạo sản xuất giống lợn trong nước
Trong kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của một số giống lợn ngoại của tác giả Phạm Hữu Doanh và các cộng sự (1995) [13] cho biết:
Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace cũng được thể hiện thông báo của Đặng Vũ Bình (1999) [6] ở lợn Yorkshire tuổi đẻ lứa đầu 418,54 ngày tuổi, số con đẻ ra còn sống 9,77 con/ổ, số con 21 ngày tuổi là 8,61 con/ổ, số con 35 ngày tuổi là 8,15 con/ổ và khối lượng lúc 35 ngày tuổi là 8,09 kg/con ở lợn Landrace các chỉ tiêu tương ứng là 9,86 con/ổ; 8,68 con/ổ; 8,22 con/ổ
và 8,2 kg Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rằng độ lớn của lứa đẻ đạt giá trị thấp nhất
ở lứa 1, sau đó tăng dần lên, ổn định và có khuynh hướng giảm ở lứa thứ 6
Trang 33Bảng 2.4 Năng suất sinh sản của một số giống lợn ngoại
Giống
Số con đẻ ra/ổ (con)
Khối lượng toàn ổ con sơ sinh (kg)
Khối lượng toàn ổ 21 ngày tuổi (kg)
Khối lượng toàn ổ 45 ngày tuổi (kg)
Khối lượng toàn ổ 60 ngày tuổi (kg)
Số con 60 ngày/ổ (con)
9,37 11,89 33,67 60,04 79,24 8,9
8,40 11,30 31,30 66,13 84,05 7,0
9,1 12,10 33,45 58,43
-
-
Phùng Thị Vân và cộng sự (2000) [53] kết luận hai nhóm lợn lai đực Yorkhsire với nái Landrace nâng cao số con đẻ sống/ổ 1,03 con, tỷ lệ nuôi sống lợn con đến cai sữa là 3,52%, khối lượng bình quân/1 lợn con lúc 60 ngày tuổi là 1,0 kg và giảm mức tiêu tốn thức ăn/1 kg lợn con lúc 35 và 60 ngày tuổi tương ứng là 6,76% và 9,64% so với lợn nái Landrace phối thuần Tổ hợp lai đực Landrace với nái Yorkshire không làm tăng số con đẻ ra còn sống/ổ nhưng tăng tỷ lệ nuôi sống lợn con đến cai sữa là 1,61%, tăng khối lượng bình quân/1 lợn con lúc 60 ngày là 0,4 kg
đồng thời giảm chi phí thức ăn cho 1 kg lợn con 35 và 60 ngày tuổi tương ứng là 6,6% và 4,94% so với lợn Yorkshire phối thuần
Kết quả nghiên cứu về các chỉ tiêu nuôi vỗ béo và giết thịt đối với lợn Đại Bạch, Landrace và con lai F1(Đại bạch x Landrace) được Đinh Hồng Luận (1979) [28] thông báo Trong những năm gần đây nhiều nghiên cứu về nuôi vỗ béo lợn ngoại và lợn lai ngoại x ngoại cũng được tiến hành Nguyễn Khắc Tích (1993) [44]
đã công bố kết quả nghiên cứu về lai giữa lợn ngoại với lợn ngoại: kết quả chỉ ra rằng con lai Hampshire x (Landrace x Yorkshire); Duroc x (Landrace x Yorkshire)
có tốc độ tăng trọng cao hơn 50 - 70 g/ngày, tiêu tốn thức ăn thấp hơn từ 0,39 - 0,40
kg thức ăn/kg tăng trọng so với lợn Yorkshire và Landrace thuần chủng Đồng thời
tỷ lệ thịt nạc ở ba loại con lai đạt từ 51,55% - 55,11% Kết quả nghiên cứu của Lê
Trang 34Thanh Hải và cộng sự (1994) [19] về sử dụng đực lai (Pietrain x Yorkshire) cho giao phối với nái Yorkshire chỉ ra rằng con lai đạt mức tăng trọng 537,04 gam/ngày; tiêu tốn thức ăn 3,51 kg/kg tăng trọng và tỷ lệ nạc 56,23% Trong khi đó lợn Yorkshire thuần chủng các chỉ tiêu tương ứng đạt được là 523,84 gam/ngày; 3,65 kg thức
ăn/kg tăng trọng và 52,85% Đồng thời Lê Thanh Hải và cộng sự (1996) [20] cũng thông báo kết quả nghiên cứu xác định một số tổ hợp lai ngoại x ngoại để sản xuất lợn lai nuôi thịt đạt tỷ lệ nạc trên 52% Kết quả cho thấy tỷ lệ nạc ở Yorkshire thuần
đạt 55,03%, con lai Landrace x Yorkshire và Landrace x (Landrace x Yorkshire) từ 54,05% - 55,30%; còn con lai Landrace x (Duroc x Yorkshire), (Duroc x Landrace)
x (Landrace x Yorkshire), Duroc x (Landrace x Yorkshire) từ 56,00% - 57,31% Hiện nay nước ta đã đạt được môt số tiến bộ kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi, trong đó kỹ thuật lai kinh tế lợn là một trong những kỹ thuật quan trong nhất của ngành chăn nuôi, nhờ vậy đã làm cho đàn lợn thịt không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng Đàn lợn thịt của nước ta hiện nay có tới 67% là lợn lai kinh tế
Đàn lợn nái lai ở miền Nam chiếm tới 70 - 80%, trong khi đó đàn lợn nái lai ở miền Bắc chỉ chiếm 30 - 35% Do vậy cần tăng nhanh về số lượng và chất lượng đàn nái lai ở miền Bắc bằng cách chọn lọc những tổ hợp lai phù hợp với điều kiện và nhu cầu của người dân
Trang 353 đối tượng, địa điểm, nội dung và
phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu
Để đánh giá khả năng sản xuất của một số công thức lai ngoại x ngoại, chúng tôi tiến hành thu thập số liệu theo dõi năng suất sinh sản và khả năng sinh trưởng của đàn lợn nuôi tại Xí nghiệp Chăn nuôi Đồng Hiệp - Hải Phòng
3.1.1 Các loại lợn đ ược sử dụng trong nghiên cứu
- Lợn nái ông bà C1050, Landrace, Yorkshire tổng số 95 con
- Lợn nái bố mẹ F1(Landrace x Yorkshire) viết tắt F1(LY), F1(Yorkshire x Landrace) viết tắt F1(YL) tổng số 390 con
Bảng 3.1 Số lượng lợn nái và lứa đẻ được sử dụng để đánh giá
F1(Yorkshire x Landrace) 158 con 424
F1(Landrace x Yorkshire) 232 con 428
- Lợn thịt thương phẩm: Con lai F1 của các tổ hợp lai: đực L19 x nái C1050,
đực Duroc x nái F1(Landrace x Yorkshire), đực Duroc x nái F1(Yorkshire x Landrace), đực L19 x nái F1(Landrace x Yorkshire), đực L19 x nái F1(Yorkshire x Landrace) tổng số 211 con
Trang 363.1.2 Các công thức lai được áp dụng
- Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) ký hiệu D x F1(LY)
- Duroc x F1(Yorkshire x Landrace) ký hiệu D x F1(YL)
- L19 x F1(Landrace x Yorkshire) ký hiệu L19 x F1(LY)
- L19 x F1(Yorkshire x Landracce) ký hiệu L19 x F1(YL)
- L19 x C1050 ký hiệu L19 x C1050
Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm theo dõi khả năng sinh tr ưởng các con lai của các công thức lai Công thức lai
Nhắc lại DxF1(LY) DxF1(YL) L19xF1(LY) L19xF1(YL) L19xC1050
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố đến năng suất sinh sản của lợn nái
- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Landrace, Yorkshire, C1050, F1(LY), F1(YL)
- Xác định mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố đến năng suất sinh sản của các công thức lai
- Nghiên cứu khả năng sinh sản của các công thức lai: Duroc x F1(Landrace
Trang 37x Yorkshire), Duroc x F1(Yorkshire x Landrace), L19 x F1(Landrace x Yorkshire), L19 x F1(Yorkshire x Landracce) và L19 x C1050
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng các con lai của các công thức lai ở lợn thương phẩm Duroc x F1(Landrace x Yorkshire), Duroc x F1(Yorkshire x Landrace), L19 x F1(Landrace x Yorkshire), L19 x F1(Yorkshire x Landracce) và L19 x C1050
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thu thập số liệu theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản
Để nghiên cứu năng suất sinh sản của lợn nái chúng tôi tiến hành thu thập số liệu năng suất sinh sản của từng lợn nái, bao gồm:
- Ngày, tháng, năm được sinh ra của từng lợn nái
- Ngày đẻ các lứa: ngày, tháng, năm mà lợn nái đẻ ra các lứa
- Số lợn con sơ sinh sống/lứa: là tổng số lợn con còn sống trong vòng 24 giờ kể
từ khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng của lứa đó (không tính những con có khối lượng <0,5kg)
- Số lợn con để nuôi/lứa: số lợn con sơ sinh sống để lại nuôi/lứa
- Số lợn con cai sữa/lứa là tổng số lợn con do chính nái đó nuôi còn sống tính
đến thời điểm tách mẹ
- Khối lượng lợn con sơ sinh còn sống/lứa (kg) là tổng khối lượng của lợn con
đẻ ra còn sống/lứa trong vòng 24 giờ kể từ sau khi con lợn nái đẻ con cuối cùng Khối lượng lợn con sơ sinh còn sống/lứa chia cho số con sơ sinh sống/lứa ta được khối lượng trung bình của lợn con tại thời điểm sơ sinh
- Khối lượng lợn con cai sữa/lứa là tổng khối lượng của tất cả lợn con còn sống
đến thời điểm cai sữa của một lứa đẻ Bình quân khối lượng một lợn con khi cai sữa
là khối lượng lợn con cai sữa/lứa chia cho số lợn con cai sữa/lứa
Trang 383.3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản
- à: Giá trị trung bình quần thể
- Mi: ảnh hưởng của yếu tố đực giống thứ i
- Gi : ảnh hưởng của yếu tố giống nái thứ j
- Nk : ảnh hưởng của yếu tố năm thứ k
- Vl : ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ l
- Lm : ảnh hưởng của yếu tố lứa đẻ thứ m
- Mô hình 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của các công thức lai
Y ijklmn = à + M i + G i + N k + V l + L m + C n
Trong đó: - Yịklmn: Các yếu tố ảnh hưởng
- à: Giá trị trung bình quần thể
- Mi: ảnh hưởng của yếu tố đực giống thứ i
- Gj : ảnh hưởng của yếu tố giống nái thứ j
- Nk : ảnh hưởng của yếu tố năm thứ k
- Vl : ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ l
- Lm : ảnh hưởng của yếu tố lứa đẻ thứ m
- Cn: ảnh hưởng của yếu tố tương tác đực x nái thứ n
3.3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng
Mô hình 1:
- Đực giống: Gồm 5 giống Landrace, Yorkshire, L19, 402 và Duroc
Trang 39- Giống nái: Gồm 5 giống Landrace, Yorkshire, F1(LY), F1(YL) và C1050
- Mùa vụ: Chia làm 3 mùa trong năm: mùa lạnh-ẩm (từ tháng 1 đến tháng 4), mùa nóng-ẩm (từ tháng 5 đến tháng 8), mùa mát-khô (từ tháng 9 đến tháng 12)
- Năm: 3 năm (từ 2002 đến 2004)
- Lứa đẻ: Có 4 lứa
Mô hình 2:
- Đực giống: Gồm 2 giống L19 và Duroc
- Giống nái: Gồm 3 giống F1(LY), F1(YL) và C1050
- Mùa vụ: Chia làm 3 mùa trong năm: mùa lạnh-ẩm (từ tháng 1 đến tháng 4), mùa nóng-ẩm (từ tháng 5 đến tháng 8), mùa mát-khô (từ tháng 9 đến tháng 12)
- Năm: 3 năm (từ 2002 đến 2004)
- Công thức lai: Gồm có 5 công thức lai
- Lứa đẻ: Có 3 lứa
3.3.3 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của các công thức lai
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng các con lai của các công thức lai lợn thương phẩm Duroc x F1(Landrace x Yorkshire), Duroc x F1(Yorkshire x Landrace), L19 x F1(Landrace x Yorkshire), L19 x F1(Yorkshire x Landracce) và L19
x C1050
+ Khối lượng bắt đầu nuôi vỗ béo (kg)
+ Tuổi bắt đầu nuôi vỗ béo (ngày)
+ Khối lượng kết thúc nuôi vỗ béo (kg)
+ Tuổi kết thúc nuôi vỗ béo (ngày)
+ Tăng trọng/ngày tuổi (g)
Khối lượng kết thúc (g) Tăng trọng (g/ngày tuổi) = -
Tuổi kết thúc (ngày)
Trang 40+ Tăng trọng trong thời gian nuôi (g/ngày nuôi)
(Khối lượng kết thúc - Khối lượng bắt đầu nuôi)g Tăng trọng/ngày nuôi(g)= -
Thời gian nuôi Tổng thức ăn tiêu thụ (kg) + Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng (kg) = -
Tổng tăng trọng (kg) Khối lượng móc hàm (g) + Tăng trọng của thịt móc hàm (g/ngày) = -
Tuổi lúc giết thịt (ngày) + Dày mỡ lưng: Đo bằng máy siêu âm Lean Meater của hãng Renco - Mỹ ở vị trí P2 (từ điểm gốc sương sườn 13 - 14 vuông góc và cách đường sống lưng là 6 cm
về hai bên)
3.3.4 Tính toán các tham số thống kê đối với các tính trạng
3.3.4.1 Các tính trạng sinh sản
- Số lợn con sơ sinh đẻ ra/lứa (con)
- Số lợn con để lại nuôi/lứa (con)
- Số lợn con cai sữa/lứa (con)
- Khối lượng lợn con sơ sinh sống/lứa (kg)
- Khối lượng trung bình một lợn con lúc sơ sinh (kg)
- Khối lượng lợn con cai sữa/lứa (kg)
- Khối lượng trung bình một lợn con cai sữa (kg)
3.3.4.2 Các tính trạng sinh trưởng
- Khối lượng bắt đầu nuôi vỗ béo (kg)
- Tuổi bắt đầu nuôi vỗ béo (ngày)