Tình hình sâu hại rau, một số đặc điểm sinh học, sinh thái loài sâu đục quả maruca testulalis (geyer) (pyralidae lepidoptera) vụ xuân và xuân hè 2004 tại yên phong bắc ninh
Trang 11 Mở ĐầU 1.1 ĐặT VấN ĐÊ
Cây đậu cove Phaseolus vulgaris L và cây đậu đũa Vigna unguiculatà
L.spp Cylindrica L Verde thuộc họ đậu - Fabaceae là những cây rau chiếm vị trí khá quan trọng trong đời sống của con người Quả đậu cove được sử dụng làm rau xanh giàu dinh dưỡng cho con người trong bữa ăn hàng ngày Hạt đậu
có hàm lượng prôtein và tinh bột cao, dùng làm thức ăn tết cho người và gia súc Thành phần hạt chứa: nước 13%; tro 3.5%; cellulose 2.8%; lipit l.52%; dẫn xuất không prôtein 59.15% và prôtein 19.98% Đặc biệt mầm hạt đậu cove rất giàu prôtein, hàm lượng của nó có thể lên tới 44.50% (Đường Hồng Dật, 2002) [5]
Đậu đũa là một trong 10 loại rau quan trọng nhất ờ vùng Đông Nam á,
Đài Loan, miền nam Trung Quốc và Băngladesh (Trần Khắc Thi, Trần Ngọc Hùng, 2002) ~20] Kết quả nghiên cứu cho thấy long đậu đũa cung cấp cho cơ thể 329 cao Trong thành phần hoá học của đậu đũa nước chiếm 14%; prôtein 23.7%; lipit 2.O%; glucid 51.9%; cellulose 4.3%; tro 4.1% Quả non
đậu đũa: chất thô prôtein 6.O%; lipit l.4%; glucid 37.5%; cellulose 36.0% (Đường Hồng Dật, 2002) [51 Ngoài ra quả đậu đũa còn có chứa các axit min quan trọng như: cystine, lysine, methionine và những Vitamin cần thiết cho cơ
thể con người như: A, Bl' C, (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996) [l]
Ngoài việc hạt và quả đậu đỗ được sử dụng làm thực phẩm ra, các bộ phận này còn được sử dụng trong lĩnh vực y học, quả và hạt có tác dụng chống tích mỡ ở gan nên sử dụng tốt đối với người bị bệnh viêm gan mãn tính, sử
dụng đối với một số bệnh có liên quan đến việc thiếu Vitamin Bl ' ' ' dùng cho
người cao tuổi có tác dụng điều hoà huyết áp
Bên cạnh những đóng góp về mát dinh dưỡng và y học, cây họ đậu còn có những đóng góp quan trọng về mặt trồng trọt trong cơ cấu giống cây trồng
Trang 2Đây là những cây trồng ngắn ngày, thích hợp với việc trồng xen, trồng gối, yêu cầu thâm canh không cao, có tác dụng cải tạo và nâng cao độ phì cho đất
do bộ phận rễ của chúng có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nết sần để đồng hoá ni tơ tự do trong không khí thành đạm hữu cơ mà cây có thể sử dụng
được Hàng năm, cây họ đậu để lại cho đất từ 200 - 300 kg N/ ha là cây
trồng trước rất tết cho cây trồng sau ( Lê Văn Cẩn, 1976) [3]
Song lịch sử trồng rau nói chung đã cho thấy rằng, nghề trồng rau không thể nào tránh khỏi sự phá hại của sâu hại "rau nào, sâu ấy" Trên mỗi loài cây trồng hay mỗi họ cây trồng thường có một tập đoàn sâu hại nhất định, đặc trưng cho loài cây đó Sự phá hại nghiêm trọng nhất và có ảnh hởng sâu sắc nhất đến mục đích trồng trọt của con người là sự tấn công trực tiếp vào sản phẩm thu hoạch Theo kết quả thống kê ở nhiều nước trồng đậu đỗ, thiệt hại
do sâu bệnh gây ra có thể từ 53% đến 98% nếu không tiến hành các biện pháp phòng trừ
Đối với cây đậu rau thì đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất, được các nhà khoa học cũng nh các nhà sản xuất quan tâm đến nhiều là loài sâu đục
quả đậu đỗ (Maruca testulalis Geyer) Ngoài ra còn có một số loài sâu hại
quan trọng khác nh: sâu cuốn xếp lá, dòi đục thân, dòi đục lá, bọ trĩ, nhện đỏ,
bọ xít xanh, kết hợp cùng phá hại trên ruộng trồng đậu đỗ
Sâu đục quả đậu đỗ (Maruca testulalis Geyer) có thể gây hại trên hầu hết
các bộ phận còn non của cây, đặc biệt gây hại nghiêm trọng đối với hoa và quả non Việc phòng trừ chúng sẽ thực sự khó khăn khi chúng đã đục sâu vào quả hoa và ẩn nấp ở đó Do vậy, để góp phần làm rõ các đặc tính của loài sâu
đục quả đậu đỗ làm cơ sở cho công tác dự tính dự báo và phòng trừ sâu hại
được tết hơn, nâng cao năng suất cây trồng, góp phần bảo vệ thiên nhiên và thực hiện chơng trình an toàn môi trường Đợc sự phân công của khoa Nông Học, ngành Bảo Vệ Thực Vật - Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội, dưới
sự hướng dẫn của TS Đặng Thị Dung - cán bộ giảng dạy bộ môn Côn trùng,
Trang 3chúng tôi thực hiện đề tài: " Tình hình sâu hại đậu rau, một số đặc điểm sinh học, sinh thái loài sâu đục quả Maruca testulalis Geyer (Pyralidae: Lepidoptera) vụ xuân và xuân hè 2004 tại Yên Phong - Bắc Ninh "
1.2 MụC ĐíCH CủA Đề TàI
Những số liệu nghiên cứu về tình hình gây hại và đặc tính sinh học, sinh
thái của loài Maruca testulahs Geyer trên cây đậu rau vụ xuân và xuân hè
2004 sẽ làm cơ sở cho việc lựa chọn biện pháp phòng trừ thích hợp, đồng thời cung cấp số liệu cho thông tin khoa học
1 3 YÊU CầU CủA Đề TàI
+ Điều tra thành phần sâu hại trên cây đậu rau vụ xuân và xuân hè 2004
tại Yên Phong - Bắc Ninh
+ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học - sinh thái của loài sâu đục quả
đậu rau M testulahs: tập tính gây hại, vị trí gây hại, vòng đời, kích thớc các
pha phát dục
+ Điều tra diễn biến mật độ của loài sâu đục quả M testulahs trên cây
đậu rau
+ Xác định sự ảnh hởng của thuốc hoá học đến mật độ sâu đục quả và sơ
bộ hạch toán kinh tế của từng biện pháp
Trang 42 TổNG QUAN TàI LIệU NGHIÊN CứU 2.1 NHữNG NGHIÊN Cú U NGOàI Nước
Nhóm đậu rau là những cây trồng quan trọng ở nhiều nước trên thế giới,
có tác dụng cung cấp một lượng thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cho con người, được coi là nguồn cung cấp prôtein cho các quốc gia đang phát triển (Gethi và Khaemba, 1985; Alghali, 1991) [75] [77] và có tác dụng cải tạo đất
rất tốt cho cây trồng sau như lúa, ngô, Tuy nhiên việc trồng cây đậu rau
cũng gặp không ít khó khăn, trong đó phải kể đến sự có mặt và gây hại của nhiều loài dịch hại (chủ yếu là côn trùng gây hại)
Theo Bohec J Le (1982) [30], ở Pháp đã phát hiện được 20 loài sâu hại
đậu cove Theo kết quả điều tra của các nhà khoa học ở vùng Đông Nam á và
Nam á cho thấy trên đậu đũa có 10 loài sâu hại chính [31] Theo Waterhouse
(1998) [74] , trên đậu cove trồng ở vùng Đông Nam á đã phát hiện được 13 loài sâu hại thuộc 3 bộ côn trùng Cũng theo ông ờ tài liệu này, ở vùng Đông Nam á đã ghi nhận có 30 loài sâu hại trên đậu đũa thuộc 6 bộ côn trùng và số lượng này ở từng nước như sau: Campuchia và Myanma mỗi nước có 1 1 loài, Indonexia 15 loài, Brunei 5 loài (ít nhất), Malaysia 26 loài, Lào 10 loài, Singapore 17 loài và Thái Lan 20 loài ở Ghana đã xác định được 7 loài sâu hại chính trên đậu đũa trong tổng số hơn 150 loài côn trùng gây hại [51] Theo Campeli và W Reed ( 1 986) [3 1 ] , ở ấn Độ có trên 200 loài sâu hại đậu đỗ,
ở giai đoạn cây con chúng cắn chết cây, làm khuyết và giảm mật độ cây Rất nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy sự có mặt của các loài sâu đục quả trên cây
đậu đỗ như: sâu đục quả Legumimvora glycinivorella và Etiella zinckenella là
2 trong số 7 loài sâu hại nghiêm trọng trên đậu tương ở Nhật (Takashi Kobayashi,1978) [68]
Trang 5Trên cây đậu đỗ ở mỗi nước có một số loài sâu hại chính khác nhau Theo Hohmann và ctv (1982) [41], ở Braxin sâu hại chính quan trọng trên đậu
cove là rầy xanh Empoasca kraemen Theo Bohec (1982) [30], ở Pháp sâu hại quan trọng trên đậu cove là loài rệp muội Acyrthosiphon pi sum (Hanis) và ruồi De ha platura ( Mg.) Theo Waterhouse(1974), ở Myanmar và Thái Lan tương ứng có 4 và 9 loài sâu hại chính nhưng chỉ có loài Helicoverpa armigera (Hubn) là sâu hại quan trọng Bên cạnh đó Pom pam Suddhiyam và
Somjai Kowsurat [83] cũng đã chỉ ra rằng trên cây đậu đỗ ở Thái Lan có 4 loài sâu hại chính là: bọ phấn, rệp đậu, sâu đục quả đậu và sâu xám Theo Wanchai Thanomsub và Anat Watanasit [85] có 3 loài sâu hại chính trên cây
đậu đỗ: Heliothis armigera, Etiella zinckenella và Maruca testulahs ở Campuchia và Brunei đều có loài Helicoverpa armigera (Hubn) và Maruca testulalis(Geyer) là sâu hại quan trọng, ở Lào trong số 4 loài sâu hại chính đã phát hiện được thì loài Hehcoverpa armigera và Ophiomyia phaseoh (Tron) là
2 loài quan trọng Tại Malaysia đã xác định được có 1 1 loài sâu hại chính ,
trong đó có 6 loài quan trọng là: Heliothis armigera, Maruca testulahs, Ophiomyiaphaseoh, Chromatomyia horticola (Gour), Anomis flava (Fabr) và Callosubruchus chinensis (L.); trên đậu cove ở Philippin có 5 loài sâu hại
quan trọng ~waterhouse, 1998)[74] Gần đây các loài bọ trĩ đã trở thành đối tượng gây hại phổ biến và quan trọng trên nhiều loại rau, trong đó có nhóm cây đậu ăn quả Theo Niann (1991) [47], ở Đài Loan có loài bọ trĩ
Meglurothrips usitatus (Bagnall) là đối tượng gây hại quan trọng trên các cây
đậu Vigra sesquipedatis, V sinensis, Phaseolus vulgaris và Phaseohlslimeasis Theo Spencer (1973) [66], hiện nay có nhiều cây thực
phẩm (kể cảđậu đũa, đậu trạch, đậu cove) bị ruồi đục lá hại rất nặng, phần lớn
các loài ruồi đục lá thuộc giống Liriomyza, Phytomyza, Chroniatomyia
(Diptera: Agromyzidae)
Trang 6Các loài sâu hại đậu đỗ đã gây ra những tổn thất đáng kể cả về mặt năng suất và chất lượng quả Theo ớc tính của Saxena và cộng sự (1978) [59], con
số này giao động trong phạm vi từ 53 - 98% nếu không tiến hành các biện
pháp phòng trừ Theo Rejesus (1978) [58], thiệt hại năng suất trên cây đậu
xanh là 32 - 74%, đậu tương là 22 - 48%, đậu đũa là 66 - 100% Theo Giao C
ĩ.j- và Lin C.S (2000) [80], thiệt hại năng suất do Maruca testulalis gây ratrên
đậu đỗ là 17 - 53% Theo Sống và Allen (1980) [63], sâu đục quả Maruca testulalis có thể làm giảm năng suất hạt của các loài đậu từ 20 - 60% nếu
không phòng trừ ở Băngladesh, Ohno và Lam (1989) [49] cho biết, sâu đục quả đậu có thể gây hại tới 54.4% quả đậu đũa khi thu hoạch và làm giảm năng suất khoảng 20% Theo Ogunwolu (1990) [48], ở Nigeria năng suất đậu đũa
bị giảm từ 48 - 72% do sâu hại, còn theo Bai ( 1 99 1 ) [29] , cho rằng nếu không phòng trừ bọ trĩ thì năng suất đậu đũa giảm đi từ 30 - 90% Theo Singh
và Van Em den (1979); Taylor (1964) (dẫn theo Nguyễn Quý Dương, 1997)
năng suất cây đậu đỗ bị giảm tới 60% do sự gây hại của loài M testulahs và
nó còn kết hợp với loài bọ trĩ Megalurothrip sjỏstedti làm mất khả năng sinh
sản của hoa Có một số lượng lớn các loài sâu hại gây ra các tác hại khác nhau
cho cây đậu đỗ Trong số 85 loài tấn công trên đậu đỗ, loài M testltlalis được
coi là loài sâu hại chính (Atachi và Ahohoendo,1989; Singh, 1980)[28][64]
Theo Reed và Lateef (1990) loài M testulahs là nguyên nhân chính gây ra
việc giảm năng suất cây đậu đỗ ờ khu vực nhiệt đới ẩm Trong khi đó ở vùng
cận nhiệt đới thì 2 loài H armigera (Hubner) và M obtusa là 2 loài có sự gây
hại quan trọng nhất
Trong số các loài sâu hại trên đậu đỗ thì sâu đục quả M testulalis được
ghi nhận là một trong những loài sâu quan trọng nhất Theo Singh (1978) [62]
và Taylor (1974) [69] từ những nghiên cứu thực địa cho thấy sâu đục quả có thể xuất hiện và gây hại sớm từ trước khi cây đậu đũa ra hoa và sống trên búp,
Trang 7ngọn, thân cây, ở các chồi Khi cây đậu ra hoa thì sâu non chủ yếu sống trên hoa và nụ hoa, khi có quả sâu non tấn công đục vào quả Taylor (1974) cho rằng loài sâu này là nguyên nhân chính gây mất mùa đậu ở Nigeria do chúng phá hại khoảng 50% số lượng hoa và hơn 60% số lượng quả xanh [69] Theo các thông số về sự giảm năng suất ở tất cả các vùng và các mùa trồng đậu đỗ thì loài sâu đục quả luôn có sự gây hại nghiêm trọng cả ở trên hoa và quả
Trong hầu hết các trường hợp, sự gây hại của loài M testulalis gây ra cho quả
có sự liên quan chặt chẽ với số lượng sâu non có ở trên quả Số lượng sâu non
và khả năng gây hại của chúng đối với hoa và quả luôn là nguyên nhân dẫn
đến việc giảm năng suất của đậu đỗ (Odulaja và Oghiakhe, 1993) [82]
Mức độ gây hại đối với bất cứ một quả nào đều phụ thuộc vào số lượng sâu non hiện có Taylor (1967) ớc tính rằng một con sâu non có thể gây hại từ
10 - 20% trọng lượng của một quả
Theo Atachi và ctv (1989) [28j, ở Benin mật độ sâu đục quả đạt cao nhất
và thời điểm 40 - 70 ngày sau trồng, ngoài sâu đục quả ra thì bọ trĩ cũng luôn
có mật độ cao trong cả vụ Theo kết quả nghiên cứu của Karel (1985) thì sâu
đục quả đậu (M testulalis) và sâu xanh (Heliothis armigera) là 2 loài sâu
nguy hiểm nhất trên đậu co ve Thiệt hại do 2 loài này gây ra trên hoa trung bình là 31%, trên quả sâu xanh gây hại khoảng 13%, sâu đục quả là 31% Năng suất hạt cũng bị giảm từ 33 - 53% do 2 loài này, trong đó chủ yếu là do sâu đục quả gây ra [43]
Sâu đục quả đậu đỗ (M testulalis) phân bố rất rộng trên cây đậu đỗ ở các
vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới thuộc châu Phi, châu á và vùng Thái Bình Dương Vùng phân bố chính được xác định từ đảo Verde ở Tây Phi, kéo dài
về phía Đông tới Kiji, Sam oa và cả phần Tây ấn, Nam Mỹ Ngoài ra nó còn xuất hiện trên đậu đũa ở một phần của phía Nam châu Phi (Pháp và Oostihuigen, 1958), miền Nam nước Mỹ (Williamson, 1943) và ục (Passlow, 1968) [54]; [69]; [72] Sâu đục quả đậu đỗ được phát hiện thấy lần đầu tiên
Trang 8trên cây "Katjan" (một loại đậu) ở Indonexia (Dielx, 1914) Nó được Hubner mô tả đầu tiên và sau khi ông mất Geyer đã công bố kết quả này Tuy nhiên những nhà phân loại học ngày nay cho rằng Geyer mới là người đã mô tả về
loài sâu đục quả đậu Maruca testulalis [49]
Những nghiên cứu về phổ kí chủ của sâu đục quả đậu cho thấy chúng có mặt trên rất nhiều loại cây thuộc họ đậu và các họ cây trồng khác Theo Akinfewa (1975), chúng gây hại trên 35 loài cây khác nhau thuộc 20 giống và
60 họ thực vật khác nhau, trong đó tập trung chủ yếu vào họ cánh bướm
(Papihonaceae) Taylor (1967) cũng đã điều tra được 33 loài cây bị gây hại bởi loài M testulalis Shanna và cộng sự (1999) [84], cho rằng M testulalis
gây hại trên 20 loài cây trồng, thuộc 6 họ thực vật, trong đó chủ yếu thuộc họ
cánh bướm (Papihonacaea) Kết quả nghiên cứu về loài sâu đục quả M testulalis ở châu Phi của Zebitz.C và cộng sự cho thấy loài sâu hại này có mặt
trên 60 loài kí chủ dại được tìm thấy ở xung quanh khu vực trồng đậu đỗ ở 3
địa điểm Lem, Tokpa/ayou và IITA Trong số đó có 39 loài thuộc họ Fabaceae, 7 loài thuộc họ Caesalpinaceae, 3 loài thuộc họ Asteraceae, họ Rubiacaea và họ Rosaceae mỗi họ có 2 loài, các họ Convolvulaceae, Solanaceae, Anacardiaceae, Sapotaceae, Meliaceae, Bignoniaceae và
Malvaceae mỗi họ có một loài (Zebitz, Zenz, Kệch, 1999) [86] Những kết quả nghiên cứu về phổ kí chủ của loài M testulahs được trình bày ở bảng
1[39]
bảng 1
Đậu co ve sinh trưởng và phát triển thuận lợi ở nhiệt độ từ 18 - 250C, yêu cầu nhiệt độ không thấp dưới 130c, đậu đũa phát triển thuận lợi ở nhiệt độ ban ngày từ 25 - 350C, ban đêm không thấp quá 150C Do vậy sâu hại đậu đỗ thường phát triển và hoạt động mạnh ở những khu vực nóng ẩm (Tumipseed
ét Kogan, 1976) [71] Sâu đục quả đậu đỗ thường gây hại cho đậu đỗ vùng
Trang 9nhiệt đới và cận nhiệt đới nhiều hơn ôn đới Rất nhiều công trình nghiên cứu
đã cho thấy sâu đục quả đậu đỗ có thể xuất hiện quanh năm và đặc biệt gây hại nặng trong vụ Xuân hè.sâu đục quả có thể gây hại trên cây đậu đỗ ngay khi hạt mới nảy mầm, giai đoạn cây con cho đến khi ra hoa kết quả Sâu non của sâu đục quả nhả tơ kết các lá non lại rồi đục vào ăn lá (đối với sâu non tuổi nhỏ) hoặc đục qua lại từ bên nọ sang bên kia (đối với sâu non tuổi lớn) Sâu non có thể tấn công trực tiếp vào các bộ phận còn non nh làm mất đỉnh sinh trưởng ngọn dẫn đến cây không phát triển được Tuy nhiên sự gây hại nguy hiểm nhất cho cây đậu đỗ là ở giai đoạn ra hoa và hình thành quả, nó
ảnh hởng trực tiếp đến năng suất của cây trồng Điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc ra hoa và hình thành quả cũng thường là điều kiện thuận lợi cho sâu
đục quả sinh trưởng và phát triển (thuận lợi cho sự phát triển của sâu non và sự
đẻ trứng của trưởng thành) Trưởng thành thường đẻ trứng trên đài và cánh hoa Sâu non sau khi nở ra di chuyển dọc theo mép cánh hoa rồi đục lỗ chui vào bên trong nụ hoa Chúng chủ yếu tấn công vào các bộ phận sinh sản của hoa, trước tiên là bao phấn, chỉ nhị, vòi nhụy, bầu nhụy sau đó đến tràng hoa Triệu chứng mà chúng để lại trên hoa là cánh hoa bị biến màu, mất màu
Sự tái tạo các phần của hoa bị ảnh hởng thậm chí bị mất hẳn Các hoa bị sâu non phá hại sẽ bị thối và rụng Vì vậy việc sâu non của sâu đục quả đậu xuất hiện sớm ở giai đoạn cây ra nụ hoa có liên quan chặt chẽ đến sự thiệt hại về năng suất (Akinfewa, 1975) (dẫn theo Nguyễn Quý Dơng, 1997) Kết quả
điều tra nghiên cứu về sự phân bố của sâu non sâu đục quả đậu đỗ trên các tầng hoa và sự biến động về mật độ của chúng ở Sang hùa, Đài Loan cho thấy:
sự phân bố của sâu non sâu đục quả đậu đỗ không có sự khác biệt giữa các tầng hoa và tầng quả Thông thường, trên mỗi nụ hoa có từ 1 đến vài sâu non, trong khi trên quả có một số lượng lớn 4 - 5 sâu non được tìm thấy Sự phát triển của sâu non không diễn ra hoàn toàn trên một hoa mà chúng thường di chuyển từ hoa này sang hoa khác sau khi đã phá hại các bộ phận sinh sản của
Trang 10hoa, trung bình một sâu non có thể phá hại từ 4 - 6 hoa (Giao và Lin,2000)
[80] Khi hoa đậu quả chúng chuyển sang gây hại cho quả non và các hạt đang
phát triển Ngoài ra chúng còn có thể phá hại ở phần cuống quả, cuống lá và cành non, Taylor (1967) Theo Usua và Sinh ~1975) [69], sự tấn công gây hại vào thân cây cũng gây ra những ảnh hởng nghiêm trọng, đặc biệt đối với những giống đậu đũa thân mềm Tuy nhiên theo các số liệu thống kê cho thấy mức độ thiệt hại lớn nhất xảy ra khi sâu non xuất hiện nhiều ở giai đoạn cây
ra hoa rộ và giai đoạn hình thành quả non
Những đặc tính sinh học, sinh thái cơ bản của loài M testulahs đã được
nhiều tác giả tập trung nghiên cứu cả ở trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng Wolcott (1933) là người đầu tiên đa ra những mô tả tổng quát về quá trình phát triển và tập tính của 3 loài sâu đục quả trên cây đậu Lim ở Puerto Ri
co Tác giả Taylor (1967) nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu này ở phía Nam Nigeria Sau đó Akinfewa (1975), Usua và Sinh (1975), Usua (1977) đã bổ sung thêm chi tiết về đặc điểm sinh học của loài sâu này
Pompam Suddhiyam và Somjai Kowsurat [83] cũng đã chỉ ra rằng loài
sâu đục quả M testulahs là một trong 4 loài sâu bệnh nguy hiểm cho các vùng
trồng đậu đỗ ở Thái Lan năm 1997/ 1998 Giao và Lin (2000) [80] nghiên cứu
về đặc tính gây hại và sự phân bố của loài M testulalis trên cây đậu đũa ở các
tuổi sâu non ở Đài Loan Các tác giả Ntonifor; Jackai; Ewete (1996) [81] thuộc viện Nông nghiệp nhiệt đới Quốc tế ở Ibadan, Nigeria nghiên cứu về
phổ kí chủ và tập tính sống của loài M testulalis Geyer trong phòng thí
nghiệm và trong nhà lới từ trưởng thành đến thế hệ F1 Các nhà nghiên cứu
đều đa ra nhận định, rất khó xác định được đặc điểm sinh học của loài sâu hại này do trưởng thành khó ghép đôi và đẻ trứng khi nuôi trong phòng thí nghiệm Do vậy phải có sự kết hợp với các nghiên cứu ngoài đồng ruộng để đa
ra các kết luận chính xác Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy, sâu đục quả
đậu thường đẻ trứng trên nụ và hoa của cây đậu Tuy nhiên trong một số
Trang 11trường hợp cũng tìm thấy trứng ở trên lá, nách lá, đỉnh sinh trưởng và quả (Bruner,1931; Wolcott,1933; Krishwasnurthy,1936; Taylor , 1963, 1967) Khi theo dõi vị trí đẻ trứng của loài sâu này trên cây đậu đỗ Wallis và Byth (1986) cũng có kết luận tương tự [72] Nghiên cứu về đặc điểm của trứng loài sâu
đục quả, Taylor ( 1 967) cho thấy, trứng có hình bầu dục, kích thớc 0.65 x
O.45mm, màu vàng nhạt, trên bề mặt có những đờng vân hình mạng lới Theo
Jackai ( 1 9 8 1 ) trứng thường có đờng kính O.35mm và rất khó phát hiện khi nhìn bằng mắt thường Việc xác định khả năng đẻ trứng của trưởng thành tương đối khó khăn do vị trí đẻ trứng luôn thay đổi Theo kết quả nghiên cứu của Taylor (1967) thì một trưởng thành cái có thể đẻ từ 8 - 140 quả trứng, còn theo Akinfewa là từ 6 - 189 quả Jackai, Ochieng và Raulson (1990) [38] khi nuôi sâu trong phòng thí nghiệm với tỉ lệ 1 0 đực : 1 0 cái cho kết quả trung bình 440 trứng , cao hơn nhiều so với các kết quả nghiên cứu trước đó Kết quả giải phẫu một con trưởng thành cái ở thời kì chuẩn bị sinh sản cho thấy
có 200 - 300 quả trứng đã phát triển đầy đủ (Taylor, 1967) Trứng thường
được đẻ thành từng đợt, mỗi đợt có từ 2 - 16 quả (Taylor, 1967; Jackai và cộng
sự 1990) [38]
Thời gian phát dục của i ứng là từ 2 - 3 ngày (Taylor, 1967; Akinfewa, 1975) (dẫn theo Nguyễn Quý Dơng, 1997) Kết quả nghiên cứu của Ramasubramanian và Babu (1989) ên 3 loài cây thuộc họ đậu cũng cho kết quả tương tự [56] ở Đài Loan, thời gian phát dục của tnmg được ghi nhận là
4 - 5 ngày (Chang và Chen, 1989) [32] Đặc tính ghép đôi của sâu đục quả cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Theo Jackai, Ochieng và Raulson (1990) [38], nếu trưởng thành ghép đôi trong 4 - 5 đêm thì sẽ cho tỷ
lệ giao phối và đẻ trímg cao nhất Theo các tác giả trên thì trưởng thành đực
có khả nàng giao phối nhiều lần trong khi trưởng thành cái chỉ giao phối một lần
Trang 12Quá trình giao phối thường diễn ra trong khoảng từ 21 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau trong điều kiện nhiệt độ 20 - 220c Và ẩm độ tương đối cao 80 - 100%, cao điểm của sự giao phối vào lúc 2 - 3 giờ sáng
Giai đoạn sâu non của loài M testltlalis Geyer có 5 tuổi (Taylor, 1967;
Kochler và Mehta, 1972) Thời gian phát dục của sâu non từ 8 - 13 ngày và 10
- 14 ngày theo kết quả của Akinfewa (1975) Theo kết quả nghiên cứu của Ramasubramanian và Babu (1989) thì thời gian phát dục của trứng trên đậu triều là 13.32 ngày, trên đậu đũa là 13.86 ngày và trên đậu ván là 12.9 ngày [56] Nghiên cứu của Chang và Chen ~1989) cho kết quả là 20 - 24 ngày [32] Taylor (1978) [69] cho rằng thời gian phát dục của sâu non kéo dài khoảng 3 tuần
Sâu non tuổi 5 chuẩn bị hoá nhộng, chúng thường nhả tơ, dệt một lớp kén mỏng Giai đoạn này được gọi là thời kì liền nhộng, thường kéo dài 1- 2 ngày [69] Sâu non thường hoá nhộng ở dưới đất ở độ sâu 2 - 3 cai Tuy nhiên trong điều kiện không thuận lợi cho việc hoá nhộng ở dưới đất chúng có thể hoá nhộng ngay ở trên cây bằng cách nhả tơ kéo gập mép lá vào thành tổ, hoặc kết kén giữa các lá sát nhau Khi sâu non vừa hoá nhộng thì nhộng có màu vàng, sau chuyển sang nâu xẩm Thời gian phát dục của pha nhộng thường kéo dài từ 6 - 8 ngày [56]; [69] Các kết quả nghiên cứu của Ke, Fang,
Li (1985) tại Quảng Châu - Trung Quốc cho thấy nhộng của loài M testulalis
thường qua đông trong các lớp đất bề mặt, đến tháng 5 mới vũ hoá trưởng thành bay ra [44]
Sau khi vũ hoá, trưởng thành cái không đẻ trứng ngay mà nó cần một thời gian ăn thêm để hoàn thiện bộ máy sinh sản Vào thời gian này, chất lượng thức ăn có sự ảnh hởng rất lớn đến thời điểm bắt đầu đẻ trứng và số lượng trứng đẻ Khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm rất nhiều tác giả cho thấy nếu được ăn thêm bằng dung dịch đờng glucose 25% thì sau khi vũ hoá 3 - 4 ngày trưởng thành cái bắt đầu đẻ trứng Sự đẻ trứng đạt mức cao nhất là
Trang 13khoảng 6 - 8 ngày sau khi giao phối [44] Trung bình trưởng thành cái sống từ 8.5 - 10 ngày, trưởng thành đực có thời gian sống ngắn hơn 5.9 - 6.1 ngày
[69] Việc nghiên cứu khả năng đẻ trứng của loài M testulahs trên một số loài
cây kí chủ khác nhau nhằm xác định kí chủ phù hợp cho việc nhân nuôi chúng trong phòng thí nghiệm cho kết quả là số trứng được đẻ và tỷ lệ nở cao nhất ở trên cây đậu ván (Ramasubramanian và Ba bu, 1989).Thời gian phát dục của sâu non trên đậu ván ngắn nhất (12.9 ngày) và trưởng thành vũ hoá từ những sâu non sống trên đậu ván cũng có thời gian sống lâu hơn Từ đó hai tác giả này đi đến kết luận rằng đậu ván là thức ăn thích hợp cho việc nhân nuôi loài sâu này trong phòng thí nghiệm [56]
Ngoài việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học của loài sâu đục quả M
testulalis, nhiều nhà khoa học cũng đã tiến hành các nghiên cứu về đặc điểm
sinh thái học của chúng Tại Đài Loan, sâu đục quả xuất hiện quanh năm và số lượng quần thể tăng dần từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau [32] Vòng đời của chúng có sự thay đổi theovùng sinh thái: ở miền Nam Nigeria là 18 - 25 ngày
còn ở miền Bắc là 30 - 35 ngày (Booker, 1965) Loài M testulalis luôn có
những giai đoạn phát triển khác nhau trong suốt năm nhờ vào hai nguồn thức
ăn chính là những cây trồng chính được trồng ở vùng đất canh tác và những cây hoang dại Sự tồn tại của loài sâu đục quả phụ thuộc vào sự tồn tại của các cây kí chủ mà không phụ thuộc vào sự ngủ nghỉ bắt buộc (diapause) hay sự ngủ nghỉ do điều kiện thời tiết bất thuận (Ananthakrishnan và Gopichandran, 1993) Những cây trồng có sẵn trong tự nhiên vừa là nguồn cung cấp thức ăn vừa là nơi c trú và nơi đẻ trứng cho loài sâu hại này (Van Em den, 1981; Way
và Hong, 1994) Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, chúng không có thời gian ngừng hoạt động, sâu non của loài sâu này có thể phát triển và gây hại ở tất cả các mùa trong năm do chúng có phổ kí chủ rộng (cây trồng, cây dại và cả nông sản trong quá trình bảo quản) và khả năng gây hại của chúng
Trang 14(trên mọi bộ phận của cây: lá, hoa, quả, hạt, ) ở Nigeria, thời gian hoạt
động của trưởng thành loài M testulalis trên đậu đũa đã được Ntonifor và
cộng sự (1996) [81]xác định thông qua việc sử dụng bẫy ánh sáng Kết quả cho thấy loài sâu này tập trung gây hại chủ yếu vào hai vụ: từ tháng 6 đến tháng 8 và từ tháng 10 đến tháng 1 1 ở Nam Nigeria; từ tháng 7 đến tháng 10
ở Bắc Nigeria ở gần các khu vực trồng đậu đỗ (ở Châu Phi) người ta tiến hành thu thập định kì các loài sâu hại trên hoa của các cây kí chủ của loài sâu
đục quả Số liệu điều tra về các loài sâu hại đó được lu giữ lại để so sánh (so sánh về số lượng sâu hại có mặt trên cây kí chủ dại và trên cây đậu đỗ) Kết
quả cho thấy loài M testulalis rất hiếm khi có mặt trên các kí chủ dại mà
thường xuyên xuất hiện trên ruộng trồng đậu đỗ Điều này cho thấy rằng số lượng cùng với tính chất bề ngoài của các loài kí chủ quyết định tới kích cỡ của chủng quần sâu hại (Zebitz, Zenz, Kích,1999) [86] Việc nghiên cứu đặc
điểm sinh học, sinh thái và tập tính gây hại của loài sâu đục quả đậu đỗ đã cung cấp những cơ sở quan trọng cho việc đề xuất các biện pháp phòng chống Một trong những biện pháp được sử dụng để phòng chống các loài sâu hại
từ rất lâu đời trên nhiều loài cây trồng khác nhau là biện pháp canh tác kỹ thuật Đây là biện pháp cổ điển nhất nhưng nó mang lại hiệu quả cao trong việc hạn chế sự gây hại của các loài sâu đục quả đậu đỗ, đặc biệt đối với những khu vực có diện tích canh tác không quá lớn Người nông dân có thể thu hái các quả bị sâu đục hoặc bóp chết sâu non ngay trong đờng đục mà vẫn
để quả trên cây (Van Em den, 1978) [64], kết hợp với việc dọn vệ sinh đồng ruộng, nhổ cỏ dại và ngắt bỏ những là già ở tầng dưới giúp ruộng thông thoáng và làm mất nơi cư trú của sâu hại khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật
khác
Thực hiện biện pháp kỹ thuật trồng xen giữa cây họ đậu với các loại cây trồng cạn khác như ngô, bông, sắn, hồ tiêu cũng có tác dụng hạn chế sự gây
Trang 15hại của sâu đục quả Tuy nhiên việc lựa chọn thời điểm trồng xen là rất quan trọng Theo kết quả nghiên cứu của Ezuch, Taylor (1984) [35] khi gieo đồng thời ngô và đậu đũa sẽ làm cho số lượng sâu đục quả tăng lên Nếu gieo đậu
đũa vào tuần thứ 12 sau khi gieo ngô sẽ có tác dụng làm giảm thiệt hại do 3 loài sâu hại chính gây ra trong đó có sâu đục quả đậu ở ấn Độ, các kết quả
điều tra nghiên cứu đều cho thấy rằng nếu trồng xen các cây trong cùng họ
đậu thì không hạn chế được mật độ cũng nh nh tác hại của loài sâu này [55] Mật độ gieo trồng cũng có ảnh hởng rất lớn đến sự phát sinh gây hại của các loài sâu hại và năng suất cây trồng Theo Karel và Mghogho (1985), đậu
co ve được trồng với mật độ 200.000 - 300.000 cây/ ha thì hoa và quả sẽ ít bị gây hại nhất Sự gây hại lớn nhất của sâu đục quả xảy ra ở những ruộng trồng với mật độ 100.000 cây/ ha Năng suất cũng như kích thước hạt đạt mức cao
nhất ở những ruộng trồng với mật độ 200.000 cây/ ha [42]
Căn cứ vào quy luật phát sinh phát triển của loài sâu đục quả và các thời
điểm trưởng thành xuất hiện rộ để điều chỉnh thời vụ trồng thích hợp nhằm né tránh sự xuất hiện của sâu hại với mật độ cao vào những thời điểm nhạy cảm của cây đâu đỗ nh các thời kì ra hoa và quả non Taylor (1967) đã tiến hành theo dõi đánh giá thiệt hại do sâu đục quả gây ra trên đậu đũa ở Nigeria ở các thời vụ khác nhau và đi đến kết luận rằng, sự thiệt hại năng suất trong vụ mùa muộn cao hơn ở vụ mùa sớm Số lượng quần thể sâu hại có xu hướng tăng dần trong vụ mùa sớm, chúng sẽ tích luỹ lại và tập trung gây hại trên những cây
đậu ở vụ mùa muộn [62] Taylor (1967) cho rằng lượng ma cũng có ảnh hởng tới quá trình chín của quả và nh vậy ảnh hởng đến khả năng tấn công của sâu non sâu đục quả vào mô quả Nếu lượng ma kéo dài vào cuối mùa sẽ kìm hãm quá trình chín của quả và làm cho sự tồn tại, gây hại của sâu non trên quả
được kéo dài ra
Trang 16Nếu lượng ma kéo dài ở đầu mùa thì sẽ sớm xuất hiện sâu non tuổi nhỏ
ở trên quả Điều này cho thấy rằng lứa sâu này cơ bản phụ thuộc vào quả bởi vì việc hoa khan hiếm vào cuối mùa sẽ dẫn tới sự gây hại trên quả tăng lên Qua các kết quả giải phẫu thực vật học, Tay (1989) cho rằng độ dày của các mô ở cuống quả và quả tỷ lệ thuận với tính kháng sâu của các giống đậu khác nhau [70] Theo Jackai và Oghiakhe (1989), độ dày và dài của lớp lông bao phủ trên thân, lá đậu tương có thể hạn chế sự tấn công gây hại của sâu đục quả Bởi vậy các giống đậu đũa hoang dại có nhiều lông bị gây hại ít hơn đến
13 lần so với các giống mẫn cảm [37] Mặt khác, các kết quả phân tích hoá sinh cho thấy hàm lượng đờng khử, axit min tự do và phenol trong lá cũng
quyết định tính kháng sâu của các giống đậu đỗ [32]
Ngoài các biện pháp kĩ thuật có sự can thiệp trực tiếp của con người như trên để giúp cho cây tránh khỏi sự gây hại của các loài sâu hại, việc tạo ra tính kháng chủ động cho cây có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác phòng chống sâu bệnh ngoài đồng ruộng Việc tạo ra các giống đậu đỗ có tính khángcó thể được thực hiện thông qua việc phát hiện và chọn lọc những cây
có đặc tính kháng ở trong điều kiện tự nhiên (qua quá trình chọn lọc tự nhiên) hoặc lai tạo giữa các giống có khả năng kháng sâu nhằm tích luỹ tính kháng cho các tổ hợp lai hoặc nhờ các công nghệ sinh học hiện đại ứng dụng trong lĩnh vực di truyền để trực tiếp tạo ra các giống có gen kháng Tuy nhiên các kết quả đã đạt được hầu hết là các nghiên cứu trên cây đậu xanh và đậu đen Tại ấn Độ, vào những năm 1977 - 1981, các nhà nghiên cứu đã tiến hành chọn tạo được 8 giống đậu đen có tính kháng ngang trong số 391 giống Các giống này có thể kháng được với 8 loài sâu hại chủ yếu trong đó có sâu đục quả [33] Chhabra, Kooner và cộng sự ( 1 9 8 1 ) cũng đã chọn tạo được 5 giống đậu xanh có tính kháng từ 91 giống Các giống này có hàm lượng đờng khử, axit min tự do và phenol trong lá cao hơn hẳn các giống đậu khác [32] Các kết
Trang 17quả trên cho thấy sự khả quan trong việc sử dụng giống kháng trong phòng chống sâu đục quả và là cơ sở cho việc thực hiện công tác phòng trừ tổng hợp trên cây đậu đỗ
Ngày nay, trong công tác phòng trừ dịch hại nói chung và phòng trừ sâu
đục quả đậu nói riêng việc áp dụng biện pháp hoá học không nhất thiết phải
được sử dụng, không kể những ảnh hởng bất lợi của biện pháp này đối với con người, vật nuôi và môi trường Công tác bảo vệ thực vật hiện đại gắn liền với
sự khai thác và sử dụng các mối quan hệ sinh học giữa các loài sâu hại và các loài côn trùng khác có quan hệ mật thiết với chúng trong mạng lới dinh dưỡng, đó chính là việc sử dụng các loài kẻ thù tự nhiên của sâu hại để phòng trừ chúng Trong công tác phòng chống sâu đục quả đậu, thành phần các loài
kẻ thù tự nhiên của loài sâu hại này cũng được nghiên cứu từ lâu Lateef và Reedy (1984) đã thu thập được 16 loài kí sinh sâu đục quả đậu triều ở ICRISAT trong đó có 14 loài ong kí sinh thuộc bộ Hymenoptera, 2 loài còn
lại thuộc bộ Diptera Kết quả nghiên cứu cho thấy loài ong Phanerotoma hendecasisella (Braconidae) kí sinh với tỷ lệ cao nhất 13.8% [45]
Theo Waterhouse và ctv (1987) [73], ở Srilanca đã phát hiện được 9 loài
kí sinh sâu đục quả đậu trong đó loài kí sinh nhộng Antrocephlus nr subelongatus, có vai trò quan trọng hơn cả, nó có khả năng gây chết cho 1 2 - 20% nhộng M testulalis ở Ghana có 6 loài kí sinh sâu non sâu đục quả đậu
đũa đã được phát hiện gồm 3 loài thuộc bộ Diptera, 2 loài thuộc bộ Hymenoptera và 1 loài thuộc bộ Acarina [lo] Kết quả nghiên cứu thành phần
kẻ thù tự nhiên của sâu hại đậu ở Srilanka cho thấy chúng bị 5 loài ong kí
sinh, trong đó 2 loài thuộc họ Braconidae, 3 loài còn lại thuộc các họ Scelionidae, El~lophidae và chalcididae [67] Cũng ở Srilanca từ trước năm
1973, người ta đã sử dụng các loài ong kí sinh Ancyclostomia stercorea,
Trang 18Bracon thurbenphagae và Bracon cajánia trong phòng trừ sinh học đối với
loài sâu đục quả đậu, nhưng cho đến nay không loài nào được sử dụng lại
Theo Murphy ( 1 999), trên sâu đục quả M testulalis có 2 loài kí sinh ấu trùng quan trọng là Baeoglatha sp và Cotesia sp Các tác giả Zebitz, Zenz,
Kệch, (1999) [86] khi nghiên cứu về sự kí sinh trên sâu đục quả ở 3 địa điểm thuộc Châu Phi là Lema, Tokpa/ Ayou và IITA cho thấy tỷ lệ kí sinh ở tất cả các điểm trên ở các vụ đầu thường thấp hơn so với các vụ sau Tỷ lệ sâu non loài M testulalis ở trên hoa bị tấn công bởi các loài kí sinh ờ Lema cao hơn so với ở Tokpa/ Ayou và IITA Tỷ lệ sâu non bị chết do kí sinh ở 3 địa điểm trên theo thứ tự là 18.7%; 3.8% và 1.6% Loài kí sinh quan trọng nhất trên sâu non loài Maruca ở trên hoa là loài ong Phanerotoma leucobasis, Dolichogenidea sp
và Braunsia Kriegeri (Hymenoptera: Braconidae) đã được công nhận từ các số liệu nghiên cứu ở Lema Tỷ lệ kí sinh sâu non ở trên quả ở Lema là cao nhất 16.9%, ở Tokpa/ Ayou là 5% và ở IITA là 2.5%, nhưng không có sự thay đổi giữa các mùa Kết quả thí nghiệm thu được từ vụ trồng đầu tiên năm 1997
ở khu vực trồng đậu đỗ ở IITA có thể được xem nh một ví dụ về khả năng đẻ trứng của kí sinh vì nó thể hiện tương đối chính xác các kết quả đã thu được qua các vụ trồng từ năm 1 995 đến 1997 C Zebitz và cộng sự đã tiến hành diều tra và xác định được có hơn 2000 quả trứng của kí sinh ở trên cây, ở giai
đoạn từ 42 - 56 ngày tuổi Đối với các thí nghiệm trong phòng đã cho thấy
loàiTrichogrammatoidea sp đã kí sinh trên hơn 70% số lượng trứng thí
nghiệm
Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 3 loài ong kí sinh: Dohchogenidea sp.,Phanerotoma leucobasis Kriechbaumer và Braunsia knegeri
Enderlein(Hymenoptera: Braconidae) là 3 loài có khả năng kí sinh cao tiêu
biểu cho tậpđoàn kí sinh trên sâu non sâu đục quả M testulahs.Bên cạnh
hướng sử dụng các loài kí sinh thì hướng sử dụng các loài vi sinh vật gây bệnh
Trang 19cho sâu đục quả cũng là một hướng đi có triển vọng Việc thử nghiệm chế
phẩm Bacillus thuringensis (Bĩ) trên loài sâu đục quả cũng thu được kết quả
đáng khích lệ (Taylor, 1968)[69] Tại Kenya các nhà khoa học đã thu thập mẫu của loài sâu này trên lúa miến, ngô, đậu đũa và xác định các loài nấm, vi khuẩn gây bệnh ờ 2 pha nhộng và sâu non Các chủng nấm kí sinh đã được
phát hiện là Aspergillus, Rhizopus và một số khác cha giám định được tên Tỷ
lệ sâu non bị nấm kí sinh là 27% Các loài vi khuẩn được tìm thấy là Bacillus, Diplococclls và Monococcus với tỷ lệ gây bệnh trên sâu non đến 62.2% Ngoài ra còn phát hiện được 2 chủng virus là Nuclear polyhedrosis và ừ/ unulosis virus gây bệnh cho sâu non với tỷ lệ 2.7% ở trong phòng và 1 1 %
ở ngoài đổng [48]
Việc phòng trừ các loài sâu hại cây trồng nói chung và loài sâu đục quả
đậu đỗ nói riêng bằng các biện pháp kỹ thuật canh tác, biện pháp sinh học, sử dụng giống chống chịu cần được thực hiện thường xuyên trên đồng ruộng Các biện pháp trên rất có ý nghĩa trong việc phòng ngừa các loài sâu hại nhưng lại
tỏ ra kém hiệu quả trong việc làm giảm mật độ sâu hại khi chúng gây hại ở ngỡng mật độ cao Do vậy trong những trường hợp nhất định thì biện pháp sử dụng thuốc hoá học sẽ trở nên cần thiết và khi đó nó đóng vai trò quyết định lượng việc làm giảm số lượng sâu hại và bảo vệ năng suất cây trồng Các loại thuốc hoá học đã sử dụng để trừ sâu đục quả thuộc nhiều nhóm: Chlo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbamat, pyrethroit (Amatobi, 1995) [26] ở Trung Quốc, vào các năm 1978-1979, người ta đã sử dụng thuốc DDVP để phun cho cây đậuvới mức 2-3 lần/ lvụ khi mật độ sâu non và trứng ở trên hoa lên đến 40%, đã thu
được kết quả tốt [43] Kết quả nghiên cứu ở ấn Độ cho thấy khi phun thuốc oxydemeton-methyl 0.0025% hoặc Monocrotophos 0.04% cho cây đậu đũa sẽ cho năng suất cao hơn từ 30-58% so với ruộng không sử lý [60] Tại Ghana, vào những năm 1 970 các loại thuốc trừ sâu đục quả đậu như: Femtrothion,
Trang 20Monocrotophos, Carbaryl và Y-BHC khi sử dụng với liều lượng lkg/ ha để phun định kỳ 7-14 ngày/ lần cho năng suất cao gấp 8-10 lần so với không sử
lý [69] Các kết quả nghiên cứu khảo sát thuốc trừ sâu hại đậu đỗ ở Nigeria năm 1984-1985 cũng cho thấy việc sử dụng thuốc hoá học có thể làm lăng năng suất từ 5-8 lần so với không phun [36] Việc phun từ 3-5 lần sẽ mang lại khoảng 50% giá trị sản xuất của cây đậu đỗ ở Srilanka (Kularatne và Samartunga, 1992) Pompam Suddhiyam và Somjai Kowsurat (1996) [83] đưa
ra khuyến cáo sử dụng Triazophos 40% EC với nồng độ 30-40 ml/ 20 lit nước
để trừ sâu đục quả đậu đỗ Wanchai Thanomsub và Anat Watanasit [85] cho rằng sử dụng Triazophos 40%EC với nồng độ 40 ml/ 20 lit nước hoặc Cyhalothrin L 2.5% EC với nồng độ 20 ml/ 20 lít nước để phòng trừ các loài sâu đục quả đậu cho hiệu quả cao Giao C.ĩ.j- và Lin C.S (2000) [80] đã tiến hành thử nghiệm 8 loại thuốc để trừ loài sâu đục quả, cho kết quả là 2 loại thuốc Deltamethrin và Carbaryl có hiệu lực mạnh hơn các loại khác Don Herbison Evans, Stella Crossley và Bart Hacobian cho rằng, nếu mật độ của sâu non đục quả ở mức trên 3 con/ lm2 thì cần phải phun thuốc
Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng hỗn hợp các loại thuốc trừ dịch hại cho hiệu quả phòng trừ cao hơn, nhất là ở các khu vực sâu bệnh cùng tập trung phá hại nặng Theo Oladiran và Oso (1985), khi sử dụng hỗn hợp Benomyl 0.5 kg/ ha với Monocrotophos 0.7 kg/ ha vào thời điểm 35-49 ngày sau khi gieo đậu đũa cho kết quả phòng trừ tết đối với sâu đục quả [52]
Cũng theo Oladrian ( 1 990) nếu phun hỗn hợp Benomyl 1 kg/ ha với Pymethrin 008 kg/ ha sẽ làm giảm tác hại của sâu đục quả đến 10% [53]
Việc lựa chọn thời điểm phun thuốc có ý nghĩa quan trọng trong việc diệt trừ sâu đục quả Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của sâu đục quả đậu cho thấy sâu non của loài sâu này có tập tính đặc biệt là rời bỏ chỗ ẩn nấp chui ra
Trang 21ngoài vào lúc chiều tối, do vậy khi phun thuốc vào thời gian này sẽ cho hiệu quả cao nhất [62]
Từ khi thuốc hoá học ra đời nó có ý nghĩa nh một bớc đột phá trong công tác bảo vệ thực vật, nó giải quyết được vấn đề cơ bản là tiêu diệt nhanh chóng các loài sinh vật hại Tuy nhiên việc lạm dụng thuốc hoá học cũng đã để lại những hậu quả xấu ảnh hởng trực tiếp đến con người và môi trường xung quanh Do vậy, cùng với hướng sản xuất và sử dụng các chế phẩm sinh học trong công tác bảo vệ thực vật, các nhà nghiên cứu cũng rất quan tâm đến việc tìm ra các loại thuốc thảo mộc có khả năng phòng trừ loài sâu đục quả này ở Nigeria và một số nước khác, qua quá trình nghiên cứu và thử nghiệm cho thấy rằng trong dịch chiết của lá, quả và hạt xoan có hỗn hợp các chất Tetranortripterpinoid và Azadirachtin là những hoạt chất có hoạt tính mạnh nhất có khả năng gây ra hiện tượng ngán ăn và kìm hãm sinh trưởng của sâu hại Các thí nghiệm trong phòng cho thấy loại dịch chiết này có thể tiêu diệt tới 100% sâu non của sâu đục quả ở ngoài đồng tỷ lệ này có thấp hơn nhưng 'cũng góp phần hạn chế số lượng sâu hại u điểm lớn nhất của các loại thuốc thảo mộc là không gây độc cho con người và các loài kẻ thù tự nhiên của sâu Tóm lại, trong công tác phòng trừ sâu hại nói chung và sâu hại đậu đỗ nói riêng thì việc sử dụng đơn lẻ từng biện pháp đều không đem lại hiệu quả cao nhất, mà cần phải có sự chủ động phối hợp các biện pháp đó dựa trên sự hiểu biết về mối quan hệ và tác động qua lại giữa 3 yếu tố: cây trồng - sâu hại - môi trường mới đem lại kết quả tết nhất Đó chính là việc áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng ở Mỹ, kết quả thu được qua quá trình thử nghiệm chương trình phòng trừ tổng hợp trên cây đậu đỗ là rất khả quan
Điều này đã mang lại một phương thức phòng trừ sâu đục quả đậu đỗ một cách tích cực và chủ động
Trang 222.2 NHữNG NGHIÊN CứU TRONG Nước
Ngày nay, ở Việt Nam cây đậu rau vẫn giữ một vai trò nhất định trong hệ thống luân canh cây trồng và nó càng có ý nghĩa hơn đối với các vùng chuyên canh cây rau màu Do nhu cầu sử dụng rau xanh của người Việt Nam ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của xã hội, cây đậu rau có ý nghĩa trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng rau ờ các thời kỳ rau giáp vụ Tuy nhiên việc
đảm bảo chất lượng rau và an toàn cho người sử dụng vẫn cha được quan tâm
đúng mực ở các khu vực trồng đậu đỗ chuyên canh thì vấn đề năng suất được
đặt lên hàng đầu đối với bà con nông dân Việc sử dụng thuốc trừ sâu vẫn tỏ ra hết sức tuỳ tiện Điều này chứng tỏ rằng những nghiên cứu về sâu hại đậu rau nói chung và sâu đục quả đậu rau nói riêng ở Việt Nam còn ít được quan tâm Hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở mức điều tra về sự phân bố
và phổ kí chủ của loài sâu hại này còn các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng được Nguyễn Quý Dương công bố vào năm
1997 [8] ở Việt Nam, theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng của Viện BVTV năm 1967-1968, loài sâu hại này có mặt ở hầu hết các tỉnh trong cả nước như: Bắc Thái Hà Giang, Hà Nội, Hà Tây, Lào Cai, Thái Bình, Thanh Hoá, Quảng Bình, [8] Ngoài sự gây hại trên các cây trồng thuộc họ đậu nh lạc, đậu
tương, đậu đen, đậu xanh, điền thanh, sâu đục quả đậu đỗ M testulahs còn
xuất hiện trên một số cây trồng khác nh lúa, khoai lang, cao lơng, vông, dâu,
chè, cao su, rau cải, bí ngô, cà pháo, cam, quít, mơ, mận, bạc hà, [8] Trên
cây đậu rau, một số loài sâu hại chính cũng đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Theo Trần Hồng Lập và Hoàng Thị Dung (1978) loài sâu đục quả này chủ yếu gây hại trên các cây họ đậu với tỷ lệ khá cao: trên đậu đũa là 70 - 80%, đậu bở 40.3%, đậu co bơ 9.5% Kết quả điều tra của Lương Minh Khôi
và cộng sự (1991) cho biết có 20 loài sâu hại trên đậu triều, trong đó loài sâu này là đối tượng gây hại nguy hiểm đối với hoa và quả Tỷ lệ hại trên hoa lên
Trang 23tới 80 - 92.9% ở tất cả các giống đậu triều [lo] Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Anh Cung và ctv ( 1 996) [6] cho thấy sâu đục quả đậu và rệp muội là những sâu hại quan trọng trên đậu rau Còn theo Nguyễn Thị Nhung (200 1 ) [
1 6] thì loài sâu đục quả là một trong số 8 loài xuất hiện thường xuyên và phổ
biến trên cây đậu ăn quả Cũng theo tác giả này, loài M testulalis là đối tượng
gây hại nặng nhất, tỷ lệ quả bị hại có thể lên tới 50.65% và cao nhất vào tháng
5 Sâu đục quả phát sinh quanh năm trên cây đậu ăn quả và có 2 đỉnh cao mật
độ trong năm, đỉnh cao thứ nhất thường vào tháng 5, có mật độ trung bình đao
động từ 26.2 - 42.2 con/1oo quả, đỉnh cao thứ 2 vào tháng 10 mật độ trung bình dao động từ 12.6 - 20.4 con/ 100 quả Mật độ sâu đục quả trong một vụ
đậu trạch, đậu đũa đạt đỉnh cao ở giai đoạn đầu của vụ thu hoạch Theo
Nguyễn Quý Dơng (1997) [8] loài M testulahs là đối tượng gây hại nghiêm
trọng nhất đến năng suất và phẩm chất của cây đậu Tỷ lệ hại trên hoa cây đậu xanh từ 20 - 30%, ruộng không phòng trừ tỷ lệ hại lên tới 60 70% Tác giả cũng đa ra danh sách 1 1 loài ký chủ của sâu đục quả đậu, đều thuộc phân họ
Leguminosae Đặc điểm hình thái các pha phát dục và một số đặc điểm sinh
học của loài sâu hại này cũng được mô tả chi tiết [8]
Một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu về thành phần và vai trò của các loài kẻ thù tự nhiên trên sâu hại đậu đỗ nói chung và sâu đục quả đậu đỗ nói riêng Theo các tác giả Hà Quang Hùng, Hổ Khắc Tín, Trần Đình Chiến, Nguyễn Minh Màu (1996), đã thu được 47 'loài kí sinh và bắt mồi ăn thịt trên
đậu tương ở vùng ngoại thành Hà Nội, trong đó có 1 1 loài côn trùng kí sinh,
23 loài côn trùng và nhện bắt mồi [9].Theo kết quả nghiên cứu về côn trùng kí sinh trên sâu hại đậu tương của tác giả Đặng Thị Dung (1997) tại Gia Lâm-
Hà Nội đã thu được 16 loài côn trùng kí sinh thuộc 2 bộ, 8 họ trong đó chủ yếu là bộ cánh màng (13/ 16 loài), 3 họ phổ biến là Braconidae, Ichneumonidae, Scelionidae [7] Theo Phạm Văn Lầm và ctv (1999) [12] cho
Trang 24thấy sâu đục quả M testulalis bị một số ong kí sinh (cha giám định) khống
chế nhưng tỷ lệ kí sinh thấp, chỉ từ 4.3-14.7% Nguyễn Thị Nhung (2001) [16] cho rằng, khả năng khống chế số lượng sâu đục quả của thiên địch không cao, thành phần kí sinh trên sâu đục quả đậu quá nghèo nàn, cha phát hiện được kí sinh trứng và nhộng, mới phát hiện được 2 loài kí sinh sâu non, tỷ lệ kí sinh nói chung rất thấp ở vụ đậu trạch hè thu và đông xuân tỷ lệ kí sinh cao nhất cũng chỉ đạt 5%, còn ở vụ đậu đũa xuân hè tỷ lệ kí sinh cao hơn (đạt cao nhất 12.8%) Nguyễn Quý Dơng (1997) đã thu được 2 loài ong kí sinh sâu non
thuộc họ Ichneumomdae nhưng mức độ xuất hiện và tỷ lệ kí sinh thấp [8] ở
Việt Nam, các nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu hại đậu rau còn rất hạn chế, các tài liệu đề cập tới một số biện pháp phòng trừ sâu hại đậu rau như biện pháp canh tác, biện pháp giống chống chịu hay biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại còn quá ít, biện pháp sinh học đã được tác giả Nguyễn Văn Cảm
(1996) [2] công bố Tác giả cho rằng có thể sử dụng chế phẩm Bacilllts thuringensis (Bĩ) để phòng trừ sâu đục quả đậu M testulahs tuy nhiên hiệu
quả kém hơn sử dụng thuốc hoá học [1]
ở các vùng trồng đậu đỗ của nước ta việc sử dụng thuốc hoá học được xem nh là một công cụ chủ yếu để phòn~trừ sâu đục quả đậu Rất nhiều các loại thuốc đã được khuyến cáo sử dụng trên đậu rau nh: Cidim 50 ND, Dipterex 80 WP, Monitor 70 ND, Padan 95 WP, Polytrin 40 EC, Sherpa 25
EC, Sumicidin 20 EC Hoàng Anh Cung và ctv ( 1 996) [6] đã khảo sát hiệu lực của 8 loại thuốc đối với sâu đục quả đậu đỗ và đã chọn ra 2 loại thuốc có hiệu lực cao nhất đối với loài sâu này là Sherpa 25 EC và Sumicidin 20 EC
Đối v ới những hộ nông dân ở vùng chúng tôi tiến hành điều tra, họ thường sử dụng một hỗn hợp các loại thuốc để phòng trừ sâu đục quả đậu đỗ như:
sagomycin 20EC + Sát trùng đan 95 BTN, Cymerin 10 EC + Nettoxin 95WP, Rigân + Séc Sài Gòn, Cyrin 25 EC + Sát trùng đan 95 BTN, Trebon 10% ND
Trang 25+ Dipterex 90% BTN, Thasodant 35 EC + Sát trùng đan 95 BTN Trong
đó hỗn hợp Sagomycin 20EC + Sát trùng đan 95 BTN được sử dụng rộng rãi nhất với liều lượng 30 mi Sagomycin 20EC + 20g Sát trùng đan 95 BTN cho
một bình 12 lít để phun cho một sào Bắc bộ (360 m2) Trong vụ xuân vào thời
điểm trước khi cây ra hoa cây đậu đỗ được phun thuốc từ 10-15 ngày một lần
và sau khi ra hoa được phun với thời gian từ 5-7 ngày một lần, tổng số lần phun khoảng 8-10 lần Trong vụ xuân hè số lần phun nhiều hơn và mật độ phun cũng dầy hơn 7-10 vào thời kì ra hoa, 3-5 ngày ở giai đoạn quả Việc phải phun thuốc với một mật độ quá dầy, thời gian giữa hai lần phun quá ngắn
sẽ không đảm bảo thời gian cách ly an toàn cho sản phẩm quả khi lu thông ra thị trường tiêu dùng, gây mất an toàn cho con người và để lại hậu quả xấu cho môi trường Trước thực trạng đó, Nguyễn Thị Nhung và ctv (1996) đã tiến hành khảo sát các loại thuốc có hiệu lực trừ sâu cao và ít độc hại để sử dụng trong sản xuất đậu rau Kết quả thu được trên cây đậu xanh và cây đậu đũa cho thấy có 2 loại thuốc được khuyến cáo nên sử dụng là Sherpa và Sumicidin
0 1 % phun 3 lần/1 vụ và khoảng cách là 5 ngày phun một lần sau khi hình
thành quả [15]
Để tạo điều kiện và khuyến khích việc mở rộng và phát triển sản xuất cây
đậu rau ở các vùng trồng trong cả nước đặc biệt là xây dựng các điểm trồng rau chuyên canh, việc nghiên cứu chi tiết và chính xác về đặc điểm sinh học,
đặc tính sinh thái, sự phân bố và tập tính gây hại ở các vùng miền cũng như các nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên của sâu đục quả đậu sẽ là cơ sở vững chắc cho việc lựa chọn các biện pháp phòng chống sâu hại hợp lý và có hiệu quả kinh tế cao
Trang 263 THờI GIAN, ĐịA ĐIểM, VậT LIệU Và PHƯƠNG pháp
nghiên cứu
3.1 ĐịA ĐIểM Và THờI GIAN NGHIÊN cứu
* Địa điểm nghiên cứu
Thành phần sâu hại trên các cây đậu rau được tiến hành thu thập tại khu vực cánh đồng rau xã Trung Nghĩa và một số xã thuộc huyện Yên Phong - Bắc Ninh
- Điều tra diễn biến mật độ, tỷ lệ gây hại, của một số loài sâu hại chính,
thử nghiệm hiệu lực của thuốc hoá học đối với loài sâu đục quả (M testltlalis)
được tiến hành tại xã Trung Nghĩa
Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của sâu đục quả đậu đỗ (M testulalis
Geyer) được tiến hành tại Trạm BVTV huyện Yên Phong, Chi cục BVTV Tỉnh Bắc Ninh
* Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu trong 2 vụ đông xuân và xuân hè 2004 được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 7
3.2 VậT LIệU NGHIÊN CứU
* Các giống đậu rau
- Đậu cô ve leo (giống địa phương): gieo ngày 19/12/2003
Thân dạng dây leo, có thể trồng được ở cả 2 vụ đông xuân và xuân hè Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của cây đậu co ve là từ 1 8 - 250c
[20]
- ĐậU đũa (giống địa phương): gieo ngàyi2/4/2004
Thân dây leo Quả hình trụ dài nh chiếc đũa, chín không đều Là loại đậu mùa hè nhiệt độ thích hợp cho quá trình sinh trưởng là 25 - 300c, lúc ra hoa không chịu được nhiệt độ 38 - 390c trong điều kiện có gió Lào
Trang 27Các giống đậu rau được trồng ở vùng nghiên cứu nh: đậu trạch, đậuván,
đậu cô bơ, đậu cô ve lùn, và lạc
* Sâu đục quả đậu (M testulahs): thu thập trên các ruộng trồng cây họ
đậu trong vùng nghiên cứu
* Dụng cụ điều tra, nghiên cứu
- Vợt bắt trưởng thành ống nghiệm, hộp petri, hộp nhựa các loại để nuôi sâu non và nhộng
- Lồng nuôi sâu kích thớc 50 x 100 cai
Kính lúp đo sâu (x 10), kính hiển vi soi trứng (x 10)
- Formon 5%, cồn 700 để bảo quản mẫu
- Các dụng cụ khác: Khay, giá để ổng nghiệm, oanh, bông thấm nước
3.3 NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng
* Điều tra, thu thập thành phần sâu hại trên nhóm đậu rau
Thu mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên trên đồng ruộng, mỗi tuần điều tra
1 - 2 lần trùng với các ngày điều tra diễn biến mật độ và tỷ lệ hại của một số loài sâu hại chính Thu thập mẫu sâu non sâu đục quả đậu trên các loại đậu rau
và các cây trồng khác ở vùng nghiên cứu để xác định phổ ký chủ của chúng
* Điều tra diễn biến mật độ của các loài sâu hại chính, chúng tôi tiến hành điều tra trên ruộng trồng đậu cô ve và đậu đũa đặc trưng cho vùng nghiên cứu 1 lần/ tuần vào thời điểm trước khi cây đậu rau có quả và 2 lần/tuần sau khi cây đã đậu quả Mỗi ruộng điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi
điểm điều tra ngẫu nhiên 100 quả Xác định số quả bị hại
* Để xác định ảnh hởng của thuốc hoá học đến mật độ và tỷ lệ hại của
loài sâu đục quả M testulahs, chúng tôi sử dụng một loại thuốc hiện đang
được dùng phổ biến ở vùng nghiên cứu, với cùng một nồng độ ở các khoảng
Trang 28thời gian khác nhau Chúng tôi bố trí 4 lô thí nghiệm tương ứng với các công thức
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng
3.3.2./ Nghiên cứu điểm hình thái của sâu đục quả đậu M testulahsGeyer
Pha trưởng thành: thu thập sâu non và nhộng ngoài tự nhiên về theo dõi cho đến khi vũ hoá trưởng thành MÔ tả hình thái cơ thể, đo chiều dài thân, chiều dài sải cánh Quan sát bộ phận sinh dục bên ngoài và giải phẫu trưởng thành để phân biệt con đực và con cái (n = 10)
- Pha trứng: Thu trứng từ trưởng thành đẻ ở ngoài đồng và trong phòng, quan sát, mô tả hình dạng, màu sắc của trứng từ khi đẻ đến sắp nở Đo kích th-
ớc trứng (n = 30)
Pha sâu non: Nuôi và theo dõi sâu non phát dục MÔ tả đặc điểm hình thái, đo kích thớc cơ thể, kích thớc mảnh đầu cho từng tuổi Số cá thể theo dõi
ở mỗi tuổi ít nhất là 10 cá thể
Pha nhộng: Theo dõi sâu non tuổi cuối hoá nhộng MÔ tả hình dạng, màu sắc của kén, nhộng từ khi bắt đầu giai đoạn nhộng cho đến khi sắp vũ hoá Đo kích thớc của nhộng (n =10)
.3.2.2 Nghiên cứu một sô'đặc điểm sinh học của loài Maruca testulalisGeyer
* Đối với pha trưởng thành
- Xác định thời gian phát dục của pha trưởng thành và theo dõi tập tínhsống của chúng
+ Khoảng thời gian từ sau khi vũ hoá đến lúc giao phối
+ Thời gian sống của từng cá thể
* Đối với pha trứng
- Trứng thu được ngoài tự nhiên và trong phòng được giữ lại để quan sátsự thay đổi màu sắc từ khi bắt đầu đẻ cho đến khi sắp nở
Trang 29Theo dõi thời gian phát dục của trứng: Thu trứng ở trong phòng, quansát trứng dưới kính lúp Thời gian theo dõi từ khi trứng đẻ đến khi trứng bắtđầu nở thành sâu non (n = lo)
* Đối với pha sâu non
Nghiên cứu thời gian phát dục của sâu non trong điều kiện nhiệt
độphòng Lấy những trứng nở cùng ngày để nuôi và theo dõi Khi sâu non tuổi
1lột xác xác định được thời gian phát dục của SN tuổi 1 Tiếp tục nuôi những
SN tuổi 1 đã lột xác cho đến khi SN lột xác lần 2, xác định được thời gian phát dục của SN tuổi 2 Tương tự, tiếp tục nuôi, theo dõi thời gian phát dục của SN tuổi 3 - 4 - 5 đến khi vào nhộng
- Nuôi riêng rẽ từng cá thể trong ống nghiệm, hàng ngày thay thức ăn là quả non cho sâu non Xác định thời gian phát dục của từng các thể sâu non qua các buổi dựa vào xác lột và mảnh đầu của sâu non (n = lo)
- Nghiên cứu tập tính sống, gây hại của sâu non trong phòng thí nghiệm: chúng tôi tiến hành thu quả đậu non ở ngoài đồng về, dùng bông thấm nước bịt vào cuống quả để giữ cho quả tơi sau đó thả sâu non vào, quan sát tập tính sống và gây hại của chúng
- Để xác định thêm về tập tính sống và khả năng gây hại của sâu non thì ngoài việc nuôi sâu non ở trong phòng chúng tôi còn kết hợp theo dõi ở ngoài
tự nhiên
* Đối với pha nhộng
- Xác định vị trí hoá nhộng ở ngoài đồng và trong phòng
- Thời gian phát dục của nhộng: Chọn những SN hoá nhộng cùng ngày theo dõi tới khi nhộng vũ hoá trưởng thành Qua đó xác định được thời gian phát dục của nhộng Đồng thời kết hợp theo dõi tỷ lệ vũ hoá
+ Giai đoạn tiền nhộng: Tính từ khi sâu non bắt đầu dệt kén nằm trong tổ
cho đến khi lột xác hoá nhộng
Trang 30+ Giai đoạn nhộng: Từ khi hoá nhộng đến khi vũ hoá trưởng thành
- Quan sát sự thay đổi màu sắc của nhộng từ khi sâu non vào nhộng đến khi vũ hoá trưởng thành
3.4 BảO QUảN MẫU
Trưởng thành loài Maruca testulalis Geyer thu về được phơi, sấy khô và ghim trên giá thể, nhộng và sâu non được ngâm trong cổn 700
3.5 CHỉ TIÊU THEO DõI Và PHƯƠNG PHáP TíNH TOáN
* Chỉ tiêu theo dõi:
Trong đó: X : Thời gian sống trung bình
nl , n2' ' ' ' 'n; : Thời gian sống trung bình của từng cá thể
N : Tổng số cá thể theo dõi x;n;
Thời gian phát dục trung bình của một cá thể:
n
n x
X = ∑ i i
Trang 31x: Thời gian phát dục của cá thể thứ n: Số cá thể chuyển pha trong ngày thứ n: Tổng số cá thể thí nghiệm
Khoảng biến động:
n
t S
X ± .
Tra bảng t với độ tin cậy P = 0.05, độ tự do V = n - 1
Hiệu quả kinh tế đ−ợc tính theo công thức:
Hiệu quả kinh tế = Tổng thu - Tổng chi
* Số liệu thu đ−ợc, đ−ợc xử lý thống kê theo chơng trình Microsoft Excel
ở mức độ tin cậy p = 0.05