Tình hình dịch cúm gia cầm và kết quả tiêm vacxin h5n2, h5n1 của trung quốc để phòng bệnh cho gà, vịt trên địa bàn tỉnh nam định
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học nông nghiệp i
Người hướng dẫn khoa học: TS tô long thành
Hà nội - 2006
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng:
- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đ−ợc cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, tháng 9 năm 2006 Tác giả luận văn
Ninh Văn Hiểu Ninh Văn Hiểu
Trang 3Lời cảm ơn Trong suốt 2 năm học tập và hoàn thành luận văn, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông nghiệp I, khoa Sau Đại học, khoa Chăn nuôi-Thú y, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, các thầy cô giáo đã giúp đỡ, tạo
điều kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của trương trình học
Các thầy cô giáo trong bộ môn Vi sinh vật-Truyền nhiễm-Bệnh lý khoa Chăn nuôi-Thú y Trường Đại học Nông nghiệp I; các cán bộ thuộc bộ môn Virus, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương
Trực tiếp là thầy hướng dẫn TS Tô Long Thành, Phó giám đốc Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương
Ban Lãnh đạo và toàn thể cán bộ Chi cục Thú y, đồng nghiệp đang làm việc trong lĩnh vực Chăn nuôi-Thú y của tỉnh Nam Định
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập
Hà Nội tháng 9 năm 2006
Tác giả
Tác giả
Ninh Văn Hiểu Ninh Văn Hiểu
Trang 4Mục lục
2.3 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới và trong nước 6
2.10 Nghiên cứu trong nước về bệnh cúm gia cầm 33
3 Đối tượng, địa điểm, nội dung, nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 35
Trang 54 Kết quả và thảo luận 414.1 Diễn biến dịch cúm gia cầm và kết quả phòng chống dịch của tỉnh
4.1.6 Các biến đổi bệnh tích đại thể của gà, vịt mắc bệnh cúm gia cầm 504.2 Kết quả tiêm thử nghiệm vacxin H5N2 cho gà, H5N1 cho vịt tại
4.2.2 Công tác tập huấn kỹ thuật, chuẩn bị vật t− dụng cụ 544.2.3 Kết quả tiêm vac xin cúm gia cầm mũi 1 năm 2005 544.2.4 Kết quả tiêm vacxin cúm gia cầm mũi 2 năm 2005 564.2.5 Kết quả khảo sát mức độ an toàn của vacxin qua lâm sàng 574.3 Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của gà, vịt đ−ợc tiêm vacxin
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
KN: Kh¸ng nguyªn
KT: Kh¸ng thÓ
ARN: Acid ribonucleic
cADN: Complementary ADN
GMT: Geographic Mean Titre
HA: Hemagglutination test
HI: Hemagglutination inhibitory test
HPAI: High Pathogenicity Avian Influenza
LPAI: Low Pathogenicity Avian Influenza
OIE: Office Internationale des Epizooties
PBS: Phosphate - Buffered - Saline
RT - PCR: Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction
Trang 7
Danh mục các bảng
Bảng 4.1 Biến động số lượng gia súc, gia cầm từ năm 2001- 2005 41Bảng 4.2 Diễn biến dịch cúm gia cầm tại Nam Định năm 2004 45Bảng 4.3 Số lượng gia cầm tiêu huỷ ở Nam Định trong đợt dịch thứ nhất 48Bảng 4.4 Kết quả mổ khám gà, vịt mắc bệnh cúm gia cầm 50Bảng 4.5 Kết quả tiêm vac xin cúm gia cầm mũi 1 năm 2005 55Bảng 4.6 Kết quả tiêm vac xin cúm gia cầm mũi 2 năm 2005 57
Bảng 4.8 Kết quả giám sát đàn gia cầm trước khi tiêm vacxin 60Bảng 4.9 Hiệu giá kháng thể trung bình của gà được tiêm vacxin H5N2 61Bảng 4.10 Phân bố các mức kháng thể của gà được tiêm vacxin H5N2 63Bảng 4.11 Hiệu giá kháng thể và độ dài miễn dịch của đàn gà TN 65Bảng 4.12 Hiệu giá kháng thể trung bình, tỉ lệ bảo hộ của đàn gà TN
Bảng 4.13 Hiệu giá kháng thể trung bình của vịt được tiêm vacxin H5N1 69Bảng 4.14 Phân bố các mức kháng thể của vịt tiêm vacxin H5N1 70Bảng 4.15 Hiệu giá kháng thể trung bình của đàn vịt thí nghiệm được tiêm
Bảng 4.16 Hiệu giá kháng thể trung bình, tỉ lệ bảo hộ của đàn vịt TN
Bảng 4.17 Phân bố các mức kháng thể của gà tại thời điểm 30 ngày
sau tiêm vacxin H5N2 mũi 1 năm 2005 và 2006 76Bảng 4.18 Phân bố các mức kháng thể của vịt tại thời điểm 30 ngày
sau tiêm vacxin H5N1 năm 2005 và năm 2006 78Bảng 4.19 Kết quả giám sát virus cúm gia cầm H5N1 trên gà, vịt
Trang 8Danh mục các biểu đồ, đồ thị
ơ
Biểu đồ 4.1 Biến động số l−ợng gia cầm từ năm 2001-2005 42
Đồ thị 4.1 Biến động hiệu giá kháng thể trung bình của gà đ−ợc tiêm
Biểu đồ 4.2 Phân bố các mức kháng thể của gà tại thời điểm 30 ngày
Biểu đồ 4.3 Phân bố các mức kháng thể của gà tại thời điểm 60 ngày
Biểu đồ 4.4 Phân bố các mức kháng thể của gà tại thời điểm 150 ngày
Đồ thị 4.2 Biến động hiệu giá kháng thể trung bình của đàn gà thí nghiệm 66
Đồ thị 4.3 So sánh biến động hiệu giá kháng thể trung bình của đàn gà
Đồ thị 4.4 Biến động hiệu giá kháng thể trung bình và độ dài miễn dịch
Biểu đồ 4.5 Phân bố các mức kháng thể của vịt tại thời điểm 30 ngày sau
Biểu đồ 4.6 Phân bố các mức kháng thể của vịt tại thời điểm 60 ngày sau
Biểu đồ 4.7 Phân bố các mức kháng thể của vịt tại thời điểm 150 ngày
Đồ thị 4.5 Hiệu giá kháng thể trung bình của đàn vịt TN đ−ợc tiêm
Đồ thị 4.6 So sánh biến động hiệu giá kháng thể trung bình của đàn vịt
Biểu đồ 4.8 Phân bố các mức kháng thể của gà đ−ợc tiêm vacxin H5N2
tại thời điểm 30 ngày năm 2005 và năm 2006 77 Biểu đồ 4.9 Phân bố các mức kháng thể của vịt tại thời điểm 30 ngày sau
Trang 91 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Bệnh cúm gia cầm chủng độc lực cao (HPAI) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ lây lan rất nhanh với tỉ lệ gây chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh [6] Bệnh do virus cúm typ A thuộc họ Orthomyxoviridae với nhiều phân typ khác nhau gây nên [41] Virus gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loài chim và còn gây bệnh cho cả con người Với những tính chất nguy hiểm của bệnh, Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) xếp bệnh vào Bảng A-Bảng danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất [6]
Hiện nay dịch cúm gia cầm đang là mối quan tâm và đáng lo ngại của toàn cầu, đến nay đt có hơn 50 nước trên thế giới xuất hiện dịch, dịch có chiều hướng diễn biến phức tạp
ở Việt Nam, theo báo cáo của Cục Thú y, cuối năm 2003 dịch cúm gia cầm lần đầu tiên xuất hiện ở nước ta Đến nay đt xảy ra 4 đợt dịch với số gia cầm bị chết do dịch và phải tiêu hủy khoảng 47 triệu con, ước thiệt hại lên tới hàng nghìn tỉ đồng Theo thông báo của Bộ Y tế, từ khi xuất hiện dịch cúm gia cầm đến nay đt có 93 trường hợp người bị nhiễm virus cúm A (H5N1), trong
đó có 42 trường hợp bị tử vong
Tại Nam Định, ổ dịch đầu tiên được phát hiện ngày 12/1/2004, đến đầu tháng 2 dịch đt xảy ra trên diện rộng, với 38 xt phường ở 9/10 đơn vị huyện, thành phố có dịch Số gia cầm tiêu huỷ trong đợt dịch này là 817.720 con, ước thiệt hại trực tiếp khoảng 24 tỉ đồng Mặc dù đt tích cực áp dụng các biện pháp phòng chống dịch nhưng đến cuối năm 2004, đầu năm 2005 dịch lại tái bùng phát trở lại Theo thông báo của Sở Y tế Nam Định, từ khi xuất hiện dịch cúm gia cầm đến cuối năm 2004 có 4 trường hợp người bị tử vong do virus cúm A (H5N1)
Trang 10Để dập dịch cũng như khống chế, tiến tới thanh toán bệnh cúm gia cầm, Chính phủ và các địa phương đt áp dụng hàng loạt các biện pháp như ban hành các văn bản pháp quy; giám sát phát hiện bệnh; tiêu huỷ triệt để đàn gia cầm nhiễm bệnh; vệ sinh tiêu độc; kiểm dịch, kiểm soát giết mổ Tuy nhiên, do tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ và ý thức chấp hành Pháp lệnh Thú y của người dân còn thấp nên dịch vẫn liên tục xảy ra Rõ ràng việc áp dụng chính sách tiêu hủy
đàn gia cầm bệnh và nghi nhiễm bệnh không khống chế được dịch cúm gia cầm ở các nước Đông Nam châu á như nhận định nêu trong Hội nghị cúm gia cầm khu vực châu á họp tại Thành phố Hồ Chí Minh tháng 5 năm 2005
Qua kinh nghiệm sử dụng vacxin cúm gia cầm ở một số nước như Hồng Kông, Italy, Mêhicô và đặc biệt là Trung Quốc [27], cùng với sự tư vấn của Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), Tổ chức Thú y thế giới (OIE) và Chuyên gia Trung Quốc, Bộ Nông nghiệp & PTNT đt xây dựng Dự án tiêm vacxin phòng dịch cúm gia cầm giai đoạn I (2005-2006) Dự án đt được phê duyệt và Nam
Định là một trong hai tỉnh được chọn tiêm thí điểm trước khi mở rộng tiêm đại trà trên cả nước Từ điều kiện thực tế đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Tình hình dịch cúm gia cầm và kết quả tiêm vacxin H5N2, H5N1 của Trung Quốc để phòng bệnh cho gà, vịt trên địa bàn tỉnh Nam Định”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Làm rõ thêm một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm, mức độ thiệt hại
và kết quả thực hiện các giải pháp khống chế dịch trên địa bàn tỉnh Nam Định
- Đánh giá độ an toàn, hiệu lực của vacxin H5N2, H5N1 Trung Quốc
đối với gà, vịt trong điều kiện tiêm phòng đại trà
- Đánh giá hiệu quả của việc tiêm vacxin H5N2, H5N1 trong giải pháp tổng thể phòng chống bệnh cúm gia cầm tại Nam Định
Trang 111.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Các kết quả điều tra, nghiên cứu tại Nam Định nhằm cung cấp, bổ sung, hoàn thiện thêm các thông tin về bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam
- Các biện pháp tổ chức thực hiện và kết quả tiêm vacxin cúm gia cầm
đại trà của Nam Định nhằm rút kinh nghiệm để chỉ đạo thực hiên tốt hơn ở Nam Định nói riêng và cả nước nói chung
Trang 122 Tổng quan tài liệu
2.1 Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm
Bệnh cúm ở gia cầm thường gọi là bệnh cúm gia cầm hoặc bệnh cúm gà (avian influenza), là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm typ A thuộc
họ Orthomyxoviridae với nhiều subtyp khác nhau [41]
Trước đây bệnh còn được gọi là bệnh dịch tả gà (Fowl plague), nhưng từ Hội nghị Quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville, Mỹ, năm
1981 đt thay thế tên này bằng tên bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm (Highly pathogenic avian influenza viết tắt là HPAI) để chỉ virus cúm typ A có
độc lực mạnh [6]
Bệnh cúm gia cầm HPAI là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ lây lan rất nhanh với tỉ lệ chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh Virus gây bệnh cúm gia cầm chủ yếu là loại H5, H7 và H9, gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng,
đà điểu, các loại chim Virus còn gây bệnh cho cả con người và có thể thành
đại dịch, vì thế bệnh cúm gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết [8], [21]
Năm 1878 ở Italy đt xảy ra một bệnh gây tử vong rất cao ở đàn gia cầm
và được gọi là bệnh dịch tả gia cầm (Fowl plague), bệnh lần đầu tiên được Porroncito mô tả và ông nhìn nhận một cách sáng suốt rằng tương lai sẽ là một bệnh quan trọng và nguy hiểm Năm1901, Centanni và Savunozzi đt đề cập
Trang 13đến ổ dịch này và xác định được căn nguyên siêu nhỏ qua lọc (Filterable agent) là yếu tố gây bệnh Đến năm 1955 Achafer đt xác định được căn nguyên gây bệnh thuộc nhóm virus cúm typ A thông qua kháng nguyên bề mặt
là H7N1 và H7N7 gây chết nhiều gà, gà tây và chim hoang ở Bắc Mỹ, Nam
Mỹ, Châu Phi, Trung Cận Đông [21]
Năm1963, virus cúm typ A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di trú dẫn nhập virus vào đàn gà Cuối thập kỷ 60, phân typ H1N1 thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch ở gà tây Mối liên hệ giữa lợn và
gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Những nghiên cứu đều cho rằng virus cúm typ A phân typ H1N1 đt ở lợn và truyền cho gà tây, ngoài ra phân typ H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn [6]
Năm 1971, Beard đt mô tả khá kỹ virus gây bệnh và đặc điểm bệnh lý lâm sàng của gà trong các ổ dịch cúm gà, gà tây khá lớn xảy ra ở Mỹ mà chủng gây bệnh là H7N1 Từ năm 1960-1979 bệnh được phát hiện ở Canada, Mehico, Achentina, Braxin, Nam Phi, ý, Pháp, Anh, Hà Lan, Australia, Hồng Kông, Nhật Bản, các nước vùng Trung Cận Đông, các nước thuộc liên hiệp Anh và Liên Xô [19]
Các công trình nghiên cứu có hệ thống về bệnh cúm gia cầm lần lượt
Từ sau khi phát hiện ra virus cúm typ A, các nhà khoa học thấy rằng virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dt và gia cầm nuôi ở những vùng khác
Trang 14nhau trên thế giới Bệnh xảy ra nghiêm trọng nhất với gia cầm thuộc phân typ H5
2.3 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới và trong nước
2.3.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
Virus cúm gia cầm phân bố khắp toàn cầu, vì vậy dịch bệnh đt xảy ra ở nhiều nước trên thế giới
Năm 1983-1984 ở Mỹ, dịch cúm gà xảy ra do chủng virus H5N2 ở 3 bang Pensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và tiêu huỷ hơn 19 triệu gà [20] cũng trong thời gian này tại Ireland người ta đt phải tiêu huỷ 270 nghìn con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đt phân lập được virus cúm chủng độc lực cao (HPAI) để loại trừ bệnh một cách hiệu quả, nhanh chóng
Năm 1977 ở Minesota đt phát hiện dịch trên gà tây do chủng H7N7 Năm 1986 ở Australia dịch cúm gà xảy ra tại bang Victoria do chủng H5N2 Năm 1997 ở Hồng Kông dịch cúm gà xảy ra do virus cúm typ A subtyp H5N1 Toàn bộ đàn gia cầm của ltnh thổ này đt bị tiêu diệt vì đt gây tử vong cho con người [6] Như vậy đây là lần đầu tiên virus cúm gia cầm đt vượt “rào cản về loài” để lây cho người ở Hồng Kông làm cho 18 người nhiễm bệnh, trong đó có 6 người chết [Nguyễn Hoài Tao, Nguyễn Tuấn Anh: “Một số thông tin về dịch cúm gia cầm”, Chăn nuôi số 3-2004, tr 27]
Trang 15Năm 2003, ở Hà Lan dịch cúm gia cầm xảy ra với quy mô lớn do chủng H7N7, 30 triệu gia cầm bị tiêu huỷ, 83 người lây nhiễm và 1 người chết, gây thiệt hại về kinh tế hết sức nghiêm trọng [20]
Cuối năm 2003 đầu năm 2004 đt có 11 quốc gia ở châu á thông báo có dịch cúm là Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Inđônêxia, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Việt Nam và Pakistan
Từ cuối năm 2003 đến nay dịch cúm gia cầm diễn biến hết sức phức tạp,
đt có hơn 50 nước trên thế giới phát hiện thấy virus cúm gia cầm, dịch đt tái xuất hiện trở lại ở một số quốc gia như Việt Nam, Thái Lan
- Hàn Quốc: dịch cúm gia cầm xảy ra từ ngày 12/12/2003 đến ngày 24/3/2004 do chủng virus H5N1gây bệnh cho gà Đợt dịch thứ 2 kết thúc ngày10/12/1004 do chủng virus H5N2 gây ra
- Nhật Bản: dịch cúm gia cầm H5N1 phát ra ngày 12/01/2004 đến ngày 05/03/2004, đt tiêu huỷ 275.000 gà Đợt dịch thứ 2 xảy ra từ ngày 01/7/2005
đến ngày 09/12/2005 do chủng virus H5N2 gây bệnh cho gà
- Thái Lan: ổ dịch đầu tiên được xác định vào ngày 23/01/2004 ở tỉnh Chiang Mai do chủng virus H5N1 gây bệnh cho gà, vịt, ngỗng, chim cút, gà tây, cò, hổ Đợt dịch thứ 2 từ ngày 03/7/2004 đến 14/02/2005 Sau đó dịch vẫn xảy ra rải rác, ngày 17/3/2005 dịch xảy ra trên 1 đàn gà 50 con ở tỉnh Sukhothai Tháng 8/2006 dịch đt tái phát trở lại ở gia cầm và ở người
- Campuchia: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 24/01/2004, ổ dịch cuối cùng được ghi nhận vào tháng 04/2005, virus gây bệnh cho gà, vịt, ngỗng, gà tây, gà nhật, chim hoang
- Lào: dịch cúm gia cầm H5N1 bắt đầu xuất hiện từ 27/01/2004 đến 13/02/2004 ở 3 tỉnh, đt tiêu huỷ hơn 155.000 gà
- Inđônêxia: ổ dịch đầu tiên xuất hiện ngày 06/02/2004, đợt dịch thứ 2
Trang 16và lợn (lợn không có triệu chứng lâm sàng)
- Trung Quốc: ổ dịch H5N1 đầu tiên phát hiện ngày 06/02/2004, virus phân lập từ gà, vịt, ngỗng, chim cút, bồ câu, chim trĩ, thiên nga đen, ngỗng đầu khoang, mòng đầu đen, mòng đầu nâu, vịt lông đỏ và chim cốc
- Malaysia: ổ dịch H5N1 đầu tiên phát hiện ngày 19/8/2004 ở tỉnh Kalantan, đợt dịch thứ 2 phát ra ngày 22/11/2004, số gia cầm tiêu huỷ trên 18.000 con Trong tháng 7 và tháng 8 năm 2006 dịch xảy ra rất nặng nề trên người
- Hồng Kông: dịch H5H1 xảy ra ngày 26/01/2004, ca bệnh cuối cùng ghi nhận vào ngày 10/01/2005, virus được phân lập từ chim cắt, diệc xám, diệc Trung Quốc
- Pakistan: ổ dịch đầu tiên ghi nhận ngày 28/01/2004 do các subtyp H7N3
và H9N2 xảy ra trên gà tây, ổ dịch cuối cùng được ghi nhận vào tháng 11/2005
- Canada: đt xảy ra dịch cúm gia cầm do các subtyp H7N3, H3, H5, H5N2 ở gà, gà tây vào các ngày 19/02/2004 và 09/03/2004 Ca bệnh cuối cùng
được ghi nhận vào ngày 22/11/2005
- Hoa Kỳ: một ổ dịch cúm gia cầm H7N2 (chủng virus độc lực thấp) duy nhất xảy ra trên gà vào ngày11/02/2004 tại bang Delaware
- Nam Phi: một ổ dịch cúm H6 xảy ra ở gà công nghiệp và kết thúc ngày 25/3/2004; một ổ dịch khác do H5N2 xảy ra ngày 06/08/2004 ở đà điểu và kết thúc vào đầu tháng 12/2004
- Ai Cập: trong năm 2004, đt phát hiện một ổ dịch H10N7 trên vịt hoang dt
- Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên: từ ngày 25/2-26/3/2005 dịch cúm gia cầm H7 đt xảy ra ở Bình Nhưỡng
- Cuối tháng 3/2005 tại Myanmar đt phát hiện hàng ngàn gà chết nghi nhiễm virus cúm gia cầm, tuy nhiên đến nay chưa có báo cáo xác định bệnh
Trang 17- Ukraina: ổ dịch đầu tiên được ghi nhận ngày 08/12/2005 do subtyp H5N1 gây bệnh cho gà ổ dịch cuối cùng được ghi nhận vào ngày 17/12/2005 [25], [28] 2.3.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
Cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm phát ra tại trại gà giống của Công ty C.P (Thái Lan) ở xt Thuỷ Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây gây ốm, chết 8.000 gà trong 4 ngày Ngày 02/01/2004, Công ty đt tiến hành tiêu huỷ 100.000 gà Dịch đt nhanh chóng lay lan ra hầu hết các tỉnh trong cả nước
Để thuận lợi cho việc đánh giá về dịch tễ học có thể chia quá trình dịch
từ khi xuất hiện vào cuối năm 2003 đến nay thành 4 đợt dịch như sau:
* Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2003:
Cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm thể độc lực cao với tác nhân gây bệnh
là virus cúm H5N1 xảy ra ở Việt Nam Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước
ta dịch cúm gia cầm xuất hiện ở Hà Tây, Long An và Tiền Giang, vì thế nó có thể được coi là một bệnh mới ở gia cầm Dịch lây lan một cách nhanh chóng cùng một lúc ở nhiều địa phương khác nhau, đt gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm Chỉ trong vòng 2 tháng, đến ngày 27/02/2004 dịch đt xuất hiện ở 2.574 xt, phường (chiếm 24,6%) thuộc 381 huyện, quận, thị xt (chiếm 60%) của 57 tỉnh, thành phố trong cả nước Tổng số gia cầm bị mắc bệnh, chết
Trang 18và tiêu hủy hơn 43,9 triệu con chiếm 16,8% tổng đàn, trong đó gà 30,4 triệu con; thủy cầm 13,5 triệu con Ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và bị tiêu huỷ
* Đợt dịch thứ hai từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2004:
Dịch cúm gia cầm thể độc lực cao đt tái xuất hiện vào giữa tháng 4 năm 2004 ở một số tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Bệnh chủ yếu xuất hiện ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và hầu như không có trại chăn nuôi quy mô lớn nào bị nhiễm bệnh Dịch có khuynh hướng xuất hiện ở những vùng có chăn nuôi nhiều thủy cầm Dịch đt xảy ra ở 46 xt phường của 32 quận, huyện, thị xt thuộc 17 tỉnh Thời gian cao điểm nhất vào tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng
11 cả nước chỉ có 1 điểm phát dịch Tổng số gia cầm bị tiêu huỷ trong thời gian này là 84.078 con, trong đó có 55.999 gà, 8.132 vịt và 19.947 chim cút
* Đợt dịch thứ 3 từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005:
Trong thời gian này dịch đt xuất hiện ở 670 xt của 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố (15 tỉnh phía Bắc, 21 tỉnh phía Nam) Dịch xuất hiện nhiều nhất vào tháng 1/2005 với 143 ổ dịch xảy ra trên 31 tỉnh thành phố, số gia cầm tiêu hủy là 470.495 gà, 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim cút Bệnh xuất hiện
ở tất cả các tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long [3]
* Đợt dịch thứ 4 từ 01/10/2005 đến 15/12/2005:
Từ đầu tháng 10/2005 đến 15/12/2005 dịch đt tái phát ở 285 xt, phường, thị trấn thuộc 100 quận, huyện của 24 tỉnh, thành phố Số gia cầm ốm, chết và tiêu hủy là 3.735.620 con, trong đó có 1.245.282 gà; 2.005.557 vịt; 484.781 chim cút, bồ câu, chim cảnh
*Nhận xét về dịch tễ học:
- Về phân bố địa lý: các đợt dịch phát ra tập trung ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và Đồng bằng Sông Hồng Những vùng này có nhiều hệ thống sông ngòi, kênh rạch, mật độ chăn nuôi cao, tổng đàn gia cầm lớn và việc buôn
Trang 19bán, vận chuyển, tiêu thụ gia cầm cao hơn các vùng khác
- Về thời gian xảy ra dịch: dịch phát ra nặng vào vụ Đông Xuân, cao
điểm vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 Trong thời gian này thời tiết thay đổi, độ
ẩm cao, nhiệt độ thường xuống thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho virus cúm tồn tại, phát triển và lây lan Đồng thời giai đoạn này là lúc mật độ chăn nuôi gia cầm và hoạt động vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm diễn ra sôi động nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi cho sự bùng phát và lây lan dịch
- Về loài mắc bệnh: ở đợt dịch thứ nhất và thứ hai tỉ lệ gà mắc bệnh cao hơn vịt, ngan Nhưng đợt dịch thứ 3 đt có sự thay đổi lớn khi các thống kê cho thấy tỉ lệ mắc bệnh, chết và tiêu huỷ ở vịt cao gần gấp 2 lần gà Điều này cho thấy mầm bệnh đt lây lan, tồn tại trong đàn thuỷ cầm, có thể tăng độc lực và bột phát thành đợt dịch thứ 3 Tỉ lệ dương tính huyết thanh ở đàn thuỷ cầm tăng từ 15% trong đợt 2 lên 39,6% trong đợt 3
- Về loại hình, quy mô và mức độ dịch: dịch phát ra ở tất cả các loại hình chăn nuôi, tỉ lệ mắc bệnh cao nhất ở loại hình chăn nuôi hỗn hợp các loài gia cầm (đặc biệt chăn nuôi gà lẫn với vịt) và giảm dần ở những trại chăn nuôi gà có số lượng lớn Quy mô của dịch đợt 1 là lớn nhất, trong đợt 2, 3 và 4 mặc dù dịch vẫn xảy ra ở nhiều tỉnh, thành phố nhưng quy mô giảm nhiều [4]
2.4 Đặc điểm sinh học của virus cúm typ A
2.4.1 Đặc điểm cấu trúc chung của virus thuộc họ orthomyxoviridae
Họ orthomyxoviridae gồm có 4 nhóm virus là:
+ Nhóm virus cúm A: gây bệnh cho mọi loài chim, một số động vật có
vú và cả con người
+ Nhóm virus cúm B: chỉ gây bệnh cho người
+ Nhóm virus cúm C: gây bệnh cho người, lợn
+ Nhóm Thogotovirus
Trang 20Virus thuộc họ orthomyxoviridae có đặc tính cấu trúc chung là hệ gen chứa axit Ribonucleic (ARN) một sợi, có cấu trúc là sợi âm được ký hiệu là ss (-)ARN (Negative Single Stranded RNA) Sợi âm ARN của hệ gen có độ dài từ 10.000-15.000 nucleotit (tùy loại virus), mặc dù nối với nhau thành 1 sợi ARN liên tục, nhưng hệ gen lại chia thành 6-8 phân đoạn (segment), mỗi phân đoạn
là một gen chịu trách nhiệm mt hóa cho mỗi loại protein của virus [15], [50]
Hạt virus (virion) có cấu trúc hình khối, đôi khi có dạng hình khối kéo dài, đường kính khoảng 80-120 nm
Vỏ virus có bản chất protein có nguồn gốc từ nguồn tế bào mà virus đt gây nhiễm, bao gồm một số protein được glycosyl hóa (glycoprotein) và một
số protein dạng trần không được glycosyl hóa (non glycosylated protein)
Protein bề mặt có cấu trúc từ các loại glycoprotein, đó là những gai, mấu
có độ dài 10-14 nm, đường kính 4-6 nm
Nucleocapsid bao bọc lấy nhân virus là tập hợp của nhiều protein phân
đoạn, cấu trúc đối xứng xoắn, kích thước 130-150 nm, tạo vòm (loop) ở giới hạn cuối của mỗi phân đoạn và liên kết với nhau qua cầu nối các peptit Phân
tử lượng của hạt virus vào khoảng 250 triệu dalton [15], [50]
2.4.2 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm typ A
Phân bố trên bề mặt của virus là loại protein gây ngưng kết hồng cầu có tên gọi là Hemagglutinin (HA) và một loại protein có chức năng là một loại enzim phá hủy thụ thể của virus có tên gọi Neuraminidae (NA), chúng là các glycoptein riêng biệt [44]
Hạt virion có cấu trúc là axit Ribonucleic sợi âm ở dạng đơn, độ dài 13.500 nucleotit chứa 8 phân đoạn kế tiếp nhau mt hóa cho 10 loại protein khác nhau của virus là HA, NA, NP, M1, M2, PB1, PB2, PA, NS1, NS2 Tám phân
đoạn của sợi RNA có thể tách và phân biệt rõ ràng nhờ phương pháp điện di [50]
Trang 21[www.biolog.p/ptasia-grypa-5.htm]
- Phân đoạn 1-3: mt hóa cho protein PB1, PB2 và PA là các protein có chức năng là enzim polymerase tổng hợp axit Ribonucleic nguyên liệu cho hệ gen và các ARN thông tin tổng hợp protein của virus [32]
- Phân đoạn 4: mt hóa cho protein Hemagglutinin (HA) là một protein
bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào,
có khả năng gây ng−ng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ virus với màng
tế bào nhiễm và tham gia vào phản ứng trung hòa virus [33] HA là polypeptit gồm 2 chuỗi HA1 và HA2 nối với nhau bằng đoạn oligopeptit ngắn, thuộc loại hình mô typ riêng đặc tr−ng cho các subtyp H (H1-H16) trong tái tổ hợp tạo nên biến chủng [33], [55] Mô typ của chuỗi oligopeptit này chứa một số axit amin cơ bản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtyp H Sự thay đổi thành phần của chuỗi nối quyết định độc lực của virus thuộc biến chủng mới [15], [33], [39], [55]
- Phân đoạn 5: mt hóa cho protein Nucleoprotein (NP) một loại protein
đ−ợc phosphoryl hóa, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu theo nhóm (Group-Specific), tồn tại trong hạt virion trong dạng liên kết với mỗi phân đoạn ARN nên loại NP còn đ−ợc gọi là Ribonucleo protein [15], [34]
- Phân đoạn 6: mt hóa cho protein enzim Neuraminidae (NA), có chức
Trang 22năng là một enzim phân cắt HA sau khi virus vào bên trong tế bào nhiễm [36].
- Phân đoạn 7: mt hóa cho 2 tiểu phần protein đệm (Matrix protein) M1
và M2 là protein màng không được glycosyl hóa, có vai trò làm đệm bao bọc lấy ARN hệ gen M2 là một tetramer có chức năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nẩy mầm của virus [38]
- Phân đoạn 8: có độ dài ổn định (890 nucleotit) mt hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có chức năng chuyển ARN từ nhân ra kết hợp với M1, kích thích phiên mt, chống interferon [47]
2.4.3 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm typ A
Các loại kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất là protein nhân (Nucleoprotein, NP), protein đệm (matrix protein, M1), protein gây ngưng kết hồng cầu (Hemagglutinin, HA) và protein enzim cắt thụ thể (Neuraminidase, NA) NP và M1 là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu nhóm (genus-specific antigen), ký hiệu là gs kháng nguyên; HA và NA là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu typ và dưới typ (typ-specific antigen),
ký hiệu là ts kháng nguyên
Một đặc tính quan trọng là virus cúm có khả năng gây ngưng kết hồng cầu của nhiều loài động vật Đó là sự kết hợp giữa mấu lồi kháng nguyên HA trên bề mặt của virus cúm với thụ thể có trên bề mặt hồng cầu, làm cho hồng cầu ngưng kết với nhau tạo thành mạng ngưng kết thông qua cầu nối virus, gọi
là phản ứng ngưng kết hồng cầu HA (Hemagglutination test)
Kháng thể đặc hiệu của kháng nguyên HA có khả năng trung hòa các loại virus tương ứng, chúng là kháng thể trung hòa có khả năng triệt tiêu virus gây bệnh Nó có thể phong tỏa sự ngưng kết bằng cách kết hợp với kháng nguyên
HA Do vậy thụ thể của hồng cầu không bám vào được để liên kết tạo thành mạng ngưng kết Người ta gọi phản ứng đặc hiệu KN-KT có hồng cầu tham gia là
Trang 23phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination inhibition test)
Phản ứng ngưng kết hồng cầu (HA) và phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu (HI) được sử dụng trong chẩn đoán cúm gia cầm
Theo Ito và Kawaoka (1998), sự phức tạp trong diễn biến kháng nguyên của virus cúm là sự biến đổi và trao đổi trong nội bộ gen dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng nguyên [40], [41] Có 2 cách biến đổi kháng nguyên của virus cúm:
+ Đột biến điểm (đột biến ngẫu nhiên hay hiện tượng trôi trượt, lệch lạc
về kháng nguyên-Antigenic drift) Đây là kiểu đột biến xảy ra liên tục thường xuyên trong quá trình tồn tại của virus mà bản chất là do có sự thay đổi nhỏ về trình tự nucleotit của gen mt hóa, đặc biệt đối với kháng nguyên H và kháng nguyên N Kết quả là tạo ra các phân typ cúm hoàn toàn mới có tính thích ứng loài vật chủ khác nhau và mức độ độc lực gây bệnh khác nhau Chính nhờ sự biến đổi này mà virus cúm A tạo nên 16 biến thể gen HA (H1-H16) và 9 kháng nguyên N (N1-N9) [8], [53]
+ Đột biến tái tổ hợp di truyền (hiện tượng thay ca-antigenic Shift) Hiện tượng tái tổ hợp gen ít xảy ra hơn so với hiện tượng đột biến điểm Hiện tượng này chỉ xảy ra khi 2 hoặc nhiều loại virus cúm khác nhau cùng nhiễm vào một
tế bào chủ do sự trộn lẫn 2 bộ gen của virus Điều này tạo nên sự sai khác cơ bản về bộ gen của virus cúm đời con so với virus bố mẹ Khi hiện tượng tái tổ hợp gen xuất hiện có thể sẽ gây ra các vụ dịch lớn cho người và động vật với mức độ nguy hiểm không thể lường trước được Vụ dịch năm 1918-1819 làm chết 40-50 triệu người mà tác nhân gây bệnh là virus H1N1 từ lợn lây sang người kết hợp với virus cúm người tạo ra chủng virus mới có độc lực rất mạnh [20]
Do hạt virus cúm A có cấu trúc là 8 đoạn gen nên về lý thuyết từ 2 virus
có thể xuất hiện 256 kiểu tổ hợp của virus thế hệ sau [6]
Khi nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm thấy giữa các
Trang 24biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtyp về huyết thanh học không hoặc rất ít
có phản ứng chéo Đây là điểm trở ngại lớn cho việc nghiên cứu nhằm tạo ra vacxin cúm để phòng bệnh cho người và động vật [42], [43]
Khi xâm nhiễm vào cơ thể động vật, virus cúm A kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể kháng HA, chỉ có kháng thể này mới có vai trò trung hòa virus cho bảo hộ miễn dịch Một
số kháng thể khác có tác dụng kìm htm sự nhân lên của virus, kháng thể kháng M2 ngăn cản chức năng M2 không cho quá trình bao gói virus xảy ra [46], [52] 2.4.4 Thành phần hóa học
ARN của virus chiếm 0,8%-1,1%; protein chiếm 70%-75%; lipit chiếm 20%-24%; hydratcacbon chiếm 5%-8% khối lượng hạt virus
Lipit tập trung ở màng virus và chủ yếu là lipit có gốc phospho, số còn lại là cholesterol, glucolipit và một ít hydrocacbon gồm các loại men galactose, ribose, fructose, glucosamin Thành phần chính protein của virus chủ yếu là glycoprotein [21]
2.4.5 Quá trình nhân lên của virus
Theo Kingrbury 1985, Fener và cộng sự mô tả quá trình nhân lên (sinh sản) của virus được tóm tắt như sau:
Virus xâm nhập vào tế bào nhờ chức năng của protein HA thông qua hiện tượng ẩm bào (endocytosis) qua cơ chế trung gian tiếp hợp thụ thể Thụ thể liên kết tế bào của virus cúm có bản chất là axit sialic cắm sâu vào glycoprotein hay glycolipit của vỏ virus Trong khoang ẩm bào, khi nồng độ
PH được điều hòa để giảm xuống mức thấp sẽ xảy ra quá trình hợp nhất màng
tế bào và virus, sự hợp nhất này phụ thuộc vào sự cắt rời protein HA nhờ enzim peptidase và enzim protease của tế bào Lúc này nucleocapsid của virus đi vào trong nguyên sinh chất rồi vào trong nhân tế bào, chuẩn bị thực hiện quá trình tổng hợp ARN nguyên liệu hệ gen cho các virion mới
Trang 25Hệ thống enzim sao chép của virus ngay lập tức tạo nên các ARN thông tin Các phân đoạn ARN hệ gen được mũ hóa ở 10-13 nucleotit đầu 5’ với nguyên liệu mũ hóa lấy từ ARN tế bào, nhờ vào hoạt tính enzim PB2 của virus ARN thông tin của virus sao chép trong nhân được chuyển vận ra nguyên sinh chất, được riboxom trợ giúp tổng hợp nên protein cấu trúc và protein nguyên liệu Protein H, N, M2, ở lại trong nguyên sinh chất, được vận chuyển xuyên qua hệ thống võng mạc nội mô (RE) và hệ golgi sau đó được cắm lên màng tế bào nhiễm Protein NS1, NP, M1 được chuyển vận vào nhân để bao bọc đệm lấy nguyên liệu ARN hệ gen mới được tổng hợp [15], [45]
Song song với quá trình sao chép ARN thông tin và tổng hợp protein cấu trúc, protein nguyên liệu, virus tiến hành tổng hợp nguyên liệu di truyền là các sợi ARN mới Từ sợi ARN âm đơn của virus ban đầu, một sợi dương ARN toàn vẹn được tạo ra theo cơ chế bổ sung, sợi dương mới này lại làm khuôn để tổng hợp nên sợi âm ARN mới làm nguyên liệu Các sợi âm ARN mới, một số vừa làm nguyên liệu để lắp ráp virion mới, số khác lại làm khuôn để tổng hợp ARN theo cơ chế như với sợi ARN của virus đầu tiên Các sợi ARN hệ gen
được tạo ra là một sợi hoàn chỉnh về độ dài và được các protein đệm (NS1, M1, NP) bao gói tạo nên ribonucleocapsid (nucleoriboprotein) ngay trong nhân tế bào nhiễm, sau đó được chuyển vận ra nguyên sinh chất rồi được chuyển vận
đến vị trí màng tế bào có sự biến đổi đặc hiệu với virus
Sự kết hợp cuối cùng của tổ hợp nucleoriboprotein với các protein cấu trúc (HA, NA, M2) tạo nên các hạt virus hoàn chỉnh mới và được giải phóng ra khỏi tế bào nhiễm theo hình thức nảy chồi
2.4.6 Độc lực của virus
Độc lực của virus cúm gia cầm có sự dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là protein HA Các nghiên cứu ở mức độ phân tử cho thấy khả năng lây nhiễm của virus phụ thuộc vào tác động của men proteaza vật chủ đến
Trang 26sự phá vỡ của liên kết hóa học sau khi dịch mt của phân tử ngưng kết, thực chất là sự cắt rời protein HA thành 2 tiểu phần HA1 và HA2 Tính thụ cảm của ngưng kết tố và sự phá vỡ liên kết của men protease lại phụ thuộc vào số lượng các amino axit cơ bản tại điểm bắt đầu phá vỡ các liên kết Các enzim giống trypsin có khả năng phá vỡ liên kết khi chỉ có một phân tử Arginin, trong khi
đó các enzim protease khác lại cần nhiều amino axit cơ bản
Tại Hội thảo thế giới lần đầu tiên về bệnh cúm gà 1981, Bankowski và cộng sự thông báo virus cúm gà có kháng nguyên bề mặt H7 thuộc loại có độc lực cao Nhưng Pensyvania (Mỹ) đt chứng kiến trận dịch cúm gà gây chết 75% số gà, khi phân lập virus có kháng nguyên bề mặt H5 mà không phải là H7 Để đánh giá độc lực của virus cúm một cách khoa học, các nhà khoa học
sử dụng phương pháp gây bệnh cho gà 3-6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh mạch nước trứng đt được gây nhiễm virus Sau đó đánh giá mức độ nhiễm bệnh của
gà để cho điểm (chỉ số IVPI) Điểm tối đa là 3 điểm và đó là virus có độc lực cao nhất Theo Quy định của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), virus nào có chỉ
số IVPI từ 1,2 trở lên thuộc loại có độc lực cao [10], [51]
Bằng cách tiêm tĩnh mạch 0,2 ml nước trứng gà đt gây nhiễm virus được pha lotng ở nồng độ 1/10 cho gà mẫn cảm từ 3-6 tuần tuổi, các nhà khoa học
đt thống nhất chia độc lực của virus ra 3 loại:
- Virus có độc lực cao: nếu sau khi tiêm tĩnh mạch 10 ngày phải làm chết 75%-100% số gà thực nghiệm Virus gây bệnh cúm gà (có thể là typ phụ) phải làm chết 20% số gà mẫn cảm thực địa và phát triển tốt trên tế bào xơ phôi trong môi trường nuôi cấy không có Trypsin
- Virus có độc lực trung bình: là những chủng virus gây dịch cúm gà với triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết gà không quá 15% số gà bị nhiễm bệnh tự nhiên hoặc không gây quá 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm
- Virus có độc lực thấp (nhược độc): là những virus phát triển tốt trong cơ thể gà, có thể gây ra dịch nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt,
Trang 27không tạo ra bệnh tích đại thể và không làm chết gà
Trong thực tế người ta chia virus cúm gà ra làm 2 loại: Loại virus có độc lực thấp-LPAI (Low Pathogenic Avian Influenza) Loại virus có dộc lực cao- HPAI (Highly Pathgennic Avian Influenza)
Cho đến nay người ta thừa nhận chỉ có 2 biến chủng virus có cấu trúc kháng nguyên H5, H7 được coi là loại có độc lực cao gây bệnh ở gia cầm, nhưng không phải tất cả các chủng mang gen H5, H7 đều gây bệnh [40]
Thực tế chứng minh rằng các chủng có độc lực thấp trong quá trình lưu hành trong thiên nhiên và trong đàn thủy cầm có thể đột biến nội gen hoặc đột biến tái tổ hợp để trở thành các chủng có độc lực cao-HPAI [37], [49]
2.4.7 Danh pháp
Để ký hiệu và lưu trữ một cách khoa học và đầy đủ các chủng virus cúm phân lập được, năm 1980 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đt đưa ra một hệ thống phân loại mới, được quy định ký hiệu theo trình tự serotyp/ loài nhiễm/ nơi phân lập/ số hiệu chủng/thời gian phân lập/loại hình subtyp HA (H) và NA (N) Ví dụ virus cúm có ký hiệu A/GS/HK/437/4/99/H5N1, có nguồn thông tin
là cúm nhóm A; loài nhiễm là ngỗng (GS = goose); nơi phân lập là Hồng Kông (HK); số hiệu 437; thời gian phân lập tháng 4/1999; subtyp H5N1 [15]
2.4.8 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà
Virus cúm gà phát triển tốt trên phôi gà 9-11 ngày tuổi, trong nước phôi
gà tập trung khá nhiều virus và có thể lưu giữ virus được vài tuần ở điều kiện
40C Khả năng tồn tại và gây bệnh của virus rất cao nếu ta bảo quản nước phôi
đó ở - 700C hoặc cho đông khô [21]
Virus cúm gà cũng phát triển tốt trong tế bào xơ phôi gà (CEF) và tế bào thận chó MDCK (Madin-Darby Canine Kidney Cell) với điều kiện môi trường nuôi cấy tế bào không chứa trypsin [21]
Trang 282.4.9 Miễn dịch chống bệnh của gia cầm
Miễn dịch là trạng thái đặc biệt của cơ thể không mắc phải tác động có hại của yếu tố gây bệnh, trong khi đó các cơ thể cùng loài hoặc khác loài lại bị tác
động trong điều kiện sống như nhau [1] Cũng như các động vật khác, miễn dịch chống virus cúm của gia cầm có 2 loại là miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu
* Miễn dịch không đặc hiệu:
Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, gia cầm bảo vệ trước hết bằng miễn dịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng gây bệnh của chúng Miễn dịch không đặc hiệu có vai trò quan trọng khi miễn dịch
đặc hiệu chưa phát huy tác dụng Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu của gia cầm rất phát triển bao gồm:
- Hàng rào vật lý như da, niêm mạc và các dịch tiết có tác dụng bảo vệ cơ thể ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể
- Khi mầm bệnh qua hàng rào da và niêm mạc nó gặp phải hàng rào hóa học là kháng thể dịch thể tự nhiên không đặc hiệu
+ Bổ thể: bổ thể có tác dụng làm tan màng vi khuẩn, làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào (opsonin hóa), ngoài ra bổ thể cũng có vai trò nhất
định trong cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (nhiều trường hợp sự tương tác giữa kháng nguyên và kháng thể cần sự có mặt của bổ thể) [23]
+ Interferol (IFN): do nhiều loại tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế bào diệt tự nhiên (NK) Khi Interferol được sản sinh ra, nó gắn vào tế bào bên cạnh
và cảm ứng tế bào đó sản sinh ra protein AVP (antivirus protein), do đó khi virus xâm nhập vào tế bào nhưng không nhân lên được
Trang 29+ Đại thực bào là các tế bào lớn có khả năng thực bào, khi được hoạt hóa nó sẽ nhận biết và loại bỏ các vật lạ, ngoài ra nó còn giữ vai trò quan trọng trong sự trình diện kháng nguyên tới tế bào T và kích thích tế bào T sản sinh ra IL-1 Đại thực bào còn tiết ra interferol có hoạt tính kháng virus, lysozyme và các yếu tố khác có tác dụng kích thích phản ứng viêm
+ Các tế bào diệt tự nhiên (NK) là một quần thể tế bào lâm ba cầu có nhiều hạt với kích thước lớn Các tế bào này có khả năng tiêu diệt các tế bào đt
bị nhiễm virus và các tế bào đích đt biến đổi, nó còn tiết ra interferol làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào
* Miễn dịch đặc hiệu:
Khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể, cơ thể sẽ sản sinh ra kháng thể
đặc hiệu để loại trừ kháng nguyên đó Kháng thể đặc hiệu có thể là dịch thể hoặc có thể là tế bào, đó là các limphô T mẫn cảm Vì vậy người ta chia miễn dịch đặc hiệu ra miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào
- Miễn dịch đăc hiệu dịch thể: do tế bào limphô B đảm nhiệm, nó tiết ra các loại globulin miễn dịch (Ig) gồm có 3 lớp chính là IgM, IgG, IgA IgG của gia cầm lớn hơn của động vật có vú nên thường được gọi là IgY
Các limphô bào bắt nguồn từ tế bào nguồn ở tủy xương đi tới túi Fabricius, ở đây chúng được huấn luyện để trở thành các limphô B, sau đó di tản đến các cơ quan limphô ngoại biên, chúng khu trú ở các tâm điểm mầm và vùng tủy của lách, hạch bạch huyết
Mỗi và mọi tế bào B đều có một kháng thể khác nhau trên bề mặt của
nó Khi tế bào B đt có thể sản sinh IgM trên bề mặt thì nó cũng có thể có khả năng sản sinh một kháng thể khác lớp khác, nhưng dù là lớp nào thì tất cả kháng thể do tế bào đó sản sinh ra đều có khả năng nhận biết cùng loại kháng nguyên ấy mà thôi Tức là vùng Fab của phân tử kháng thể không thay đổi mà chỉ có vùng Fc là khác nhau tùy vào lớp kháng thể
Trang 30Trong hạch lâm ba các limphô B có thể gặp một kháng nguyên và được nhận biết bởi các kháng thể có trên bề mặt của chúng Sau khi đt nhận biết kháng nguyên và được kích thích bởi các cytokines do tế bào T tiết ra, chúng
được biệt hóa thành tương bào (plasma) để sản sinh kháng thể
Đáp ứng của kháng thể khi gặp kháng nguyên lần đầu tiên được gọi là
đáp ứng tiên phát (sơ cấp) Sau khi xuất hiện vài ngày, hàm lượng kháng thể trong máu mới tăng và các kháng thể đầu tiên chủ yếu là IgM Đáp ứng tiên phát cũng có thể có IgG nhưng với hàm lượng thấp
Kháng thể dịch thể chỉ có tác dụng với virus khi nó còn ở ngoài tế bào, lớp IgM và IgG kết hợp với virus với sự tham gia của bổ thể làm tiêu diệt virus,
2 lớp kháng thể này còn ngăn virus không cho kết hợp với Recepter của tế bào tương ứng, ngăn cản sự hòa màng giữa vỏ virus và màng tế bào
Lớp IgA có trong niêm mạc, nó diệt virus ngay trong hàng rào niêm mạc, không cho virus xâm nhập vào trong Khi virus sinh ra kháng thể thì kháng thể có tính đặc hiệu cao giúp ta định typ virus gây bệnh bằng các phản ứng huyết thanh học
Một số limphô B sau khi nhận biết kháng nguyên sẽ thành thục thành limphô B nhớ, hiệu quả làm cho đáp ứng miễn dịch lần 2 đối với kháng nguyên nhanh hơn, mạnh hơn lần 1 và lớp kháng thể thường là IgG
- Miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào: quá trình đáp ứng miễn dịch
đặc hiệu qua trung gian tế bào do tế bào limphô T đảm nhiệm Các limphô bào bắt nguồn từ tủy xương di chuyển đến tuyến ức, tại đó chúng được huấn luyện, biệt hóa thành tiền limphô T, rồi thành limphô T chưa chín, rồi thành limphô
T chín Từ tuyến ức chúng di tản đến các cơ quan limphô ngoại vi như các hạch lâm ba, các mảng Payers ở ruột hoặc tới lách Khi đại thực bào đưa thông tin đến các limphô T, chúng tiếp nhận, biệt hóa trở thành nguyên bào limphô T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức năng như một kháng thể
Trang 31đặc hiệu và gọi là kháng thể tế bào
Các tế bào limphô T thực hiện 2 chức năng quan trọng:
- Chức năng hỗ trợ: do các limphô T có dấu ấn CD4 đảm nhiệm (TH) + Giúp đỡ các tế bào limphô B phát triển thành tương bào để sản xuất kháng thể
+ Giúp các tế bào TCD8 trở thành tế bào TC gây dộc Tế bào TC được hoạt hóa và tiêu diệt tế bào đích
+ Thực hiện phản ứng quá mẫn muộn
+ Sản xuất ra các cytokines có tác dụng điều khiển sự phát triển của các dòng tế bào bạch cầu và các tế bào mầm của hệ thống tạo máu
+ Sản xuất các cytokines có tác dụng hoạt hóa các tế bào đại thực bào + Thúc đẩy quá trình sản xuất các phân tử glycoprotein MHC trên các tế bào trình diện kháng nguyên
Đa số các tế bào T hỗ trợ thể hiện dấu ấn CD4 nhận biết kháng nguyên
được trình diện trên bề mặt của các tế bào trình diện kháng nguyên với các phân tử MHC lớp II Chức năng này do 2 tiểu quần thể TH đảm trách TH1 tham gia phản ứng quá mẫn muộn, sản xuất IL-2 và interferol γ, TH2 hỗ trợ tế bào B
và sản xuất chủ yếu IL-4, IL-5
- Chức năng thực hiện: do các limphô T mang dấu ấn CD8 đảm nhiệm
có 2 loại:
+ Limphô T gây độc (TC): chúng gây độc đối với tế bào bị nhiễm virus,
tế bào ung thư và mảnh ghép dị loài Chúng có khả năng nhận biết các mảnh peptit của kháng nguyên của tế bào đích gắn với các phân tử MHC lớp I
+ Limphô T ức chế (TS): chúng triệt thoái quá trình sản xuất imunoglobulin của tế bào B và triệt thoái hoặc ức chế các phản ứng quá mẫn muộn và miễn dịch tế bào
Trang 32* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể :
Sự hình thành kháng thể và quá trình đáp ứng miễn dịch phụ thuộc rất nhiều yếu tố như trạng thái sức khoẻ của cơ thể, điều kiện ngoại cảnh , sự chăm sóc nuôi dưỡng Nhưng quan trọng hơn cả là phụ thuộc vào bản chất kháng nguyên Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể như sau:
+ Bản chất kháng nguyên: kháng nguyên có bản chất là protein và có tính kháng nguyên cao sẽ kích thích sinh kháng thể tốt
+ Đường xâm nhập của kháng nguyên: thường đường xâm nhập tốt nhất
là dưới da và trong bắp thịt
+ Liều lượng kháng nguyên: lượng kháng nguyên đưa vào vừa đủ sẽ kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch ở mức tối đa mà không gây ức chế và tê liệt miễn dịch
+ Số lần đưa kháng nguyên vào cơ thể: tiêm nhắc lại vacxin có tác dụng tốt, kháng thể sinh ra nhiều hơn và được duy trì trong thời gian lâu hơn
+ Chất bổ trợ: chất bổ trợ cho vào khi chế vacxin với mục đích giữ và duy trì lượng kháng nguyên lâu trong cơ thể nhờ đó tạo kích thích liên tục, đều
đặn các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch tạo ra kháng thể ở mức cao và duy trì được lâu hơn Những chất bổ trợ thường dùng là keo phèn, nhũ tương, dầu khoáng, dầu thực vật, saponin
2.5 Dịch tễ học bệnh cúm gia cầm
2.5.1 Phân bố dịch bệnh
Virus cúm gia cầm phân bố khắp thế giới trong các loài gia cầm, dt cầm, động vật có vú Sự phân bố và lưu hành của virus cúm khó xác định chính xác và chịu ảnh hưởng bởi cả loài vật nuôi, hoang dt, tập quán chăn nuôi gia cầm, đường di trú của dt cầm, mùa vụ và hệ thống báo cáo dịch bệnh, phương pháp nghiên cứu [6], [26]
Trang 332.5.2 Động vật cảm nhiễm
Tất cả các loài gia cầm (gà, vịt, ngan, chim cút, vẹt, bồ câu), chim hoang
dt (đặc biệt thủy cầm di trú) đều mẫn cảm với virus Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với virus cúm typ A Ngoài ra virus cúm typ A còn gây bệnh cho nhiều loài động vật có vú như lợn, ngựa, chồn, hải cẩu, thú hoang dt và cả con người Lợn mắc bệnh cúm thường do phân typ H1N1 và H3N2
Vịt nuôi bị nhiễm virus nhưng ít phát thành bệnh do vịt có sức đề kháng với virus gây bệnh Tuy nhiên năm 1961 ở Nam Phi đt phân lập được virus cúm typ A (H5N1) gây bệnh cho cả gà và vịt [2], [6]
2.5.3 Động vật mang virus
Virus cúm đt phân lập được ở hầu hết các loài chim hoang dt như vịt trời, thiên nga, hải âu, mòng biển, vẹt, vẹt đuôi dài, vẹt mào, chim thuộc họ sẻ, diều hâu Tần suất và số lượng virus phân lập được ở thủy cầm (đặc biệt vịt trời) đều cao hơn các loài khác [2]
Kết quả điều tra thủy cầm di trú ở Bắc Mỹ cho thấy trên 60% chim non
bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú
Sự kết hợp các kháng nguyên bề mặt H và N của các phân typ virus cúm
A diễn ra ở chim hoang dt Những virus này không gây độc đối với vật chủ,
được nhân lên ở đường ruột những chim này khiến cho các loài này mang virus
là nguồn gieo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt gia cầm [31]
Đt có nghiên cứu phát hiện nhiều virus cúm từ những loài vịt đi đầu trong mùa di trú, sau khi xuất hiện đt gây ra dịch ở gà tây Vịt từ khi bị nhiễm
đến khi bắt đầu thải virus trong vòng 30 ngày Dường như virus được duy trì trong số đông vịt trời cho tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền cho các con non theo đường tiêu hóa do virus bài thải theo phân, gây ô nhiễm ao, hồ [2], [6] 2.5.4 Sự truyền lây
Khi gia cầm nhiễm virus cúm, virus được nhân lên trong đường hô hấp
Trang 34và đường tiêu hóa Sự truyền lây của bệnh được thực hiện theo 2 phương thức
- Lây trực tiếp: do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh
- Lây gián tiếp: qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần hoặc những dụng cụ chăn nuôi, phân, thức ăn, nước uống, quần áo, giầy dép, phương tiện vận chuyển, lồng nhốt, chim, thú, côn trùng có mang mầm bệnh
Như vậy virus cúm dễ dàng truyền tới vùng khác do con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ và thức ăn chăn nuôi Bệnh chủ yếu truyền ngang (do tiếp xúc), chưa có bằng chứng cho thấy bệnh có thể truyền dọc (qua phôi thai) vì những phôi bị nhiễm virus thường chết mà không phát triển được [21] Đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên thường thấy là:
Từ các loài gia cầm nuôi khác nhau trong cùng một trang trại hoặc các trang trại khác liền kề như vịt lây sang gà
Từ gia cầm nhập khẩu
Từ chim di trú đặc biệt thuỷ cầm được coi là đối tượng chính dẫn nhập virus vào quần thể đàn gia cầm nuôi
Từ người và các động vật có vú khác, phần lớn các ổ dịch cúm gia cầm gần đây đt có sự lây lan thứ cấp thông qua con người [2], [6]
2.5.5 Sức đề kháng của virus cúm
Virus không bền vững với nhiệt độ, ở 56-600C chỉ vài phút virus mất độc lực Tuy nhiên virus tồn tại khá lâu trong các vật chất hữu cơ như phân gà ít nhất 3 tháng, 30-35 ngày ở nhiệt độ 40C, 7 ngày ở nhiệt độ 200C Trong thức
ăn, nước uống bị ô nhiễm virus có khả năng tồn tại hàng tuần Đây chính là nguồn bệnh nguy hiểm và tiềm tàng để làm lây lan dịch bệnh [21]
Trong nước ao hồ virus vẫn có thể duy trì đặc tính gây bệnh tới 4 ngày ở nhiệt độ 220C và trên 30 ngày ở nhiệt độ 00C [56]
Do cấu trúc vỏ ngoài của virus là lipit nên chúng mẫn cảm với các chất
Trang 35dung môi và chất tẩy rửa như formalin, axit, ete, β - propiolacton, sau khi tẩy
vỏ, các hóa chất như phenolic, NH4+, axit lotng, natrihypochlorit và hydroxylanine có thể phá hủy virus cúm gia cầm Người ta thường dùng các hóa chất này như các chất sát trùng hữu hiệu để tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và các thiết bị chăn nuôi [17]
2.5.6 Mùa vụ phát bệnh
Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung vào vụ
đông xuân từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau Khi có những biến đổi bất lợi về điều kiện thời tiết như nhiệt độ lạnh, độ ẩm cao, thời tiết có những thay đổi đột ngột, làm giảm sức đề kháng tự nhiên của con vật Mặt khác thời
điểm này có mật độ chăn nuôi cao nhất trong năm, các hoạt động vận chuyển, giết mổ gia cầm diễn ra cao nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh phát sinh lây lan [4]
2.6 Triệu chứng, bệnh tích của bệnh cúm gia cầm
2.6.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm
Các biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh diễn biến rất đa dạng và phức tạp, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực, số lượng virus, loài nhiễm bệnh, mật độ chăn nuôi, tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời gian ủ bệnh ngắn thường chỉ vài giờ đến 21 ngày, Tổ chức Thú y thế giới đề nghị nâng lên 28 ngày [10] Các triệu chứng về hô hấp thường xuất hiện đầu tiên và khá điển hình như khẹc, lắc đầu, vẩy mỏ, khó thở, chảy nước mũi, nước mắt Tiếp theo là mí mắt viêm, sưng mọng, phù mặt, phù đầu Mào
và tích dầy lên do phù thũng, tím tái, xuất huyết Thịt gà bị bệnh thâm tím Xuất huyết dưới da chân là đặc điểm đặc trưng của bệnh cúm gia cầm
Ngoài các triệu chứng trên còn thấy các triệu chứng về thần kinh như đi lại không bình thường, siêu vẹo, run rẩy, mệt mỏi, nằm li bì tụm đống với
Trang 36nhau Gia cầm tiêu chảy mạnh, phân lotng trắng, trắng xanh Với gia cầm
đang đẻ thì tỉ lệ đẻ giảm rất nhanh Bệnh lây lan nhanh, gia cầm chết đột ngột Với chủng virus độc lực cao (HPAI) tỉ lệ chết từ 15-100%, với chủng virus độc lực thấp (LPHI) tỉ lệ chết thấp hơn và mức độ biểu hiện triệu chứng cũng nhẹ hơn Tuy nhiên khi có sự bội nhiễm hoặc điều kiện chăn nuôi bất lợi tỉ lệ tử vong cao hơn có thể tới 60%-70% với các biểu hiện triệu chứng nặng hơn [21] 2.6.2 Bệnh tích đại thể của bệnh cúm gia cầm
Mức độ biến đổi bệnh tích đại thể bệnh cúm gia cầm cũng đa dạng và rất khác nhau trong cùng một đàn, phụ thuộc rất nhiều vào độc lực virus, quá trình diễn biến của bệnh [21] Những biến đổi mang tính tổng quan như sau:
Mào và tích thâm tím, phù nề, xuất huyết dưới da và rìa tích Xuất huyết dưới da ống chân thành vệt, nốt
Khí quản viêm xuất huyết, chứa nhiều đờm Túi khí phù nề, thành túi khí dầy và có nhiều fibrin bám dính Phổi viêm cata, xuất huyết đến viêm fibrin làm phổi dính vào lồng ngực
Viêm xuất huyết đường ruột, đặc biệt vùng hậu môn, van hồi manh tràng, dạ dày tuyến và niêm mạc tá tràng
Bao tim tích nước vàng, xuất huyết màng bao tim, mỡ vành tim, cơ tim Lách biến màu lốm đốm vàng, rắn chắc hơn bình thường Tụy khô ròn, xuất huyết
Viêm xuất huyết buồng trứng, ống dẫn trứng, nhiều trường hợp trứng non dập vỡ, xoang bụng tích nước vàng lợn cợn
Xuất huyết màng treo ruột, màng bao dạ dày tuyến, dạ dày cơ, màng xương lồng ngực có thể coi là đặc điểm riêng của bệnh cúm gia cầm [22] 2.6.3 Bệnh tích vi thể
Các biến đổi đặc trưng về tổ chức học bao gồm: phù nề, xung huyết,
Trang 37xuất huyết và thâm nhập limphô đơn nhân ở cơ vân, cơ tim, lách, phổi, mào, tích, gan, thận, mắt và thần kinh [21]
2.7 Chẩn đoán bệnh
Việc chẩn đoán bệnh do nhiễm virus cúm gia cầm typ A, vấn đề chủ yếu
và quan trọng là phải phân lập, định danh được virus thông qua các xét nghiệm phi lâm sàng kết hợp chẩn đoán lâm sàng (triệu chứng, bệnh tích, dịch tễ)
* Phân lập virus
Bệnh phẩm có thể là dịch ngoáy hầu họng, dịch ổ nhớp hoặc các tổ chức phổi, khí quản, nto, gan, lách, tim Mẫu sau khi lấy được bảo quản trong dung dịch PBS ở 40C và phải tiến hành phân lập trong vòng 48 giờ, nếu muốn bảo quản dài hơn phải giữ ở - 700C
Phương pháp phân lập virus thường sử dụng là tiêm truyền qua phôi trứng 9-11 ngày hoặc môi trường tế bào dòng thận chó MDCK Mẫu thu được kiểm tra bằng phản ứng HA để xác định virus
hệ giữa 2 trong 3 khâu thì bệnh cũng không thể xảy ra Để kiểm soát, khống chế bệnh cúm gia cầm có hiệu quả cần tác động vào cả 3 khâu của quá trình sinh dịch
Trang 38- Đối với nguồn bệnh: tiêu hủy triệt để gia cầm nhiễm bệnh, thực hiện tốt công tác vệ sinh khử trùng để tiêu diệt mầm bệnh Tăng cường công tác giám sát phát hiện bệnh Khi phát hiện thấy gia cầm mang virus phải tiêu hủy ngay
- Đối với yếu tố truyền lây: thực hiện tốt kiểm dịch vật chuyển, kiểm dịch gia cầm nhập khẩu, không vận chuyển gia cầm từ các nước hoặc các khu vực có dịch vào địa phương Thực hiện nuôi nhốt, nuôi cách ly, hạn chế người
và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi Không nuôi chung các loại gia cầm (gà, vịt, ngan) trong cùng một hộ Ngăn chặn sự xâm nhập của git cầm tiếp xúc với gia cầm Quản lý chặt chẽ việc buôn bán, giết mổ gia cầm, quy hoạch khu vực buôn bán giết mổ gia cầm riêng Thực hiện tốt công tác vệ sinh, khử trùng, tiêu độc Tuyên truyyền hướng dẫn các biện pháp chăn an toàn sinh học, các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm để người chăn nuôi và nhân dân
tự giác, chủ động thực hiện
- Đối với động vật cảm thụ: tích cực tuyên truyền để thay đổi dần tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp Quy hoạch khu vực chăn nuôi gia cầm ra xa khu dân cư Xây dựng chuồng trại
đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, không gây ô nhiễm môi trường Thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y Chăm sóc nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho gia cầm
Trong điều kiện chăn nuôi gia cầm của Việt Nam hiện nay, để kiểm soát dịch cúm gia cầm, một biện pháp rất quan trọng là tạo miễn dịch chủ động bằng cách tiêm vacxin cho đàn gia cầm
Như vậy để kiểm soát dịch cúm gia cầm có hiệu quả cần thực hiện đồng
bộ các biện pháp để tác động vào cả 3 khâu của quá trình sinh dịch trong đó có biện pháp tiêm vacxin cho đàn gia cầm
2.9 Vacxin cúm gia cầm
Để khống chế dịch cúm gia cầm chúng ta đt áp dụng hàng loạt các biện
Trang 39pháp như giết hủy đàn gia cầm nhiễm bệnh, thực hiện kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ và vệ sinh khử trùng tiêu độc Tuy nhiên dịch cúm gia cầm vẫn liên tiếp xảy ra, trước tình hình đó ngày 14/7/2005 Bộ Nông nghiệp & PTNT đt ban hành Quyết định số 1715 QĐ/BNN-TY ban hành Quy định tạm thời về sử dụng vacxin cúm gia cầm
Phòng hộ bệnh cúm gia cầm là kết quả của đáp ứng miễn dịch chống lại protein Haemaglutinin (HA) mà hiện nay đt xác định được 16 subtyp khác nhau từ H1-H16 và ở mức độ nào đó chống lại protein Neuraminidae (NA) mà
đt xác định được 9 subtyp từ N1-N9 Các đáp ứng miễn dịch kháng lại protein bên trong như Nucleoprotein (NP) và protein Matrix (M) của virus đt được chứng minh là không đủ để tạo phòng hộ trên thực địa Vì vậy không có 1 vacxin nào chung cho tất cả các virus cúm gia cầm Trong thực tế sự phòng hộ
được tạo ra nhờ các subtyp Haemaglutinin có trong vacxin [28]
* Vacxin được sử dụng đúng sẽ đạt được một số mục đích:
- Bảo hộ cho con vật không xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và chết
- Giảm bài thải virus cường độc nếu gia cầm bị nhiễm virus đó > 1000 lần so với gia cầm không được tiêm, ngừng hẳn sự bài thải virus vào ngày 13-
18 sau tiêm [2], [5], [7]
- Phòng được sự lây lan virus cường độc do tiếp xúc
- Phòng hộ chống lại công cường độc bằng virus thực địa dù liều gây nhiễm cao hay thấp
- Phòng hộ chống lại virus luôn thay đổi
- Tăng sức đề kháng của gà chống lại nhiễm virus cúm gia cầm [17], [28]
* Các loại vacxin phòng bệnh hiện nay:
- Vacxin vô hoạt đồng chủng: ban đầu được sản xuất như các vacxin tự phát (autogenous), nghĩa là vacxin chứa cùng những virus cúm giống như
Trang 40chủng gây bệnh trên thực địa Loại vacxin này được sử dụng rộng rti ở Mehico
và Pakistan [14], [17], [54] Nhược điểm của vacxin này là không phân biệt gia cầm được tiêm chủng với gia cầm nhiễm virus thực địa qua kiểm tra kháng thể
- Vacxin vô hoạt dị chủng: vacxin này được sản xuất tương tự như vacxin vô hoạt đồng chủng Điểm khác biệt là chủng virus sử dụng trong vacxin có kháng nguyên H giống chủng virus trên thực địa còn kháng nguyên
N dị chủng Khi nhiễm virus trên thực địa bảo hộ lâm sàng và giảm thải trừ virus ra ngoài môi trường được đảm bảo bằng phản ứng miễm dịch sản sinh bởi kháng nguyên nhóm H đồng chủng, trong khi kháng thể chống N sản sinh bởi virus thực địa có thể sử dụng như chất đánh dấu sự lây nhiễm trên thực địa [14], [17], [35]
Đối với vacxin dị chủng, mức độ bảo hộ không tỉ lệ chặt chẽ với mức độ
đồng chủng giữa gen ngưng kết tố hồng cầu trong vacxin và chủng trên thực
địa [54] Đây là một ưu điểm lớn cho phép thành lập ngân hàng vacxin bởi vì giống gốc không chứa virus có mặt trên thực địa
- Vacxin tái tổ hợp: một vài loại vacxin tái tổ hợp virus đậu gà chứa kháng nguyên H5, H7 đt được sử dụng, ở đây virus đậu gà được sử dụng như một vecter dẫn truyền Ngoài ra người ta cũng đt sử dụng virus viêm thanh khí quản truyền nhiễm làm vecter dẫn truyền [48]
Các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Cáp Nhĩ Tân đt sản xuất thành công vacxin tái tổ hợp phòng chống cúm gia cầm và Niucatxơn, vacxin
có thể dùng theo đường tiêm, đường miệng, đường mũi hoặc theo phương pháp khí dung Đến cuối tháng 12/2005 Trung Quốc đt sản xuất được một tỉ liều [28] Sử dụng vacxin tái tổ hợp có vecter dẫn truyền cho phép phân biệt được con vật nhiễm bệnh tự nhiên và con vật được tiêm chủng
Trước khi sử dụng một loại vacxin mới trên diện rông, cần đánh giá tính
an toàn ở con vật được dùng vacxin, vấn đề an toàn của môi trường, độ tinh khiết và hiệu lực của vacxin [28]