Thực trạng và những giải pháp phát triển nghề đan cói ở huyện kim sơn, tỉnh ninh bình
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
-
Bùi Văn Tiến
thực trạng và những giảI pháp phát triển nghề đan cói ở huyện kim sơn, tỉnh Ninh Bình
Trang 2Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a
hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ3 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ3 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Bùi Văn Tiến
Trang 3Lời cảm ơn Quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đ nhận
được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lời biết ơn sâu sắc đến:
Tập thể các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I, đ tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Đinh Văn Đn - người đ tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Ban Lnh đạo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ban lnh đạo và tập thể anh, chị em Phòng Hợp tác x và Doanh nghiệp - Chi cục Phát triển nông thôn là cơ quan chủ quản của tôi, đ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi
về thời gian, tinh thần, vật chất để học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn các tập thể, cơ quan, ban, ngành đ tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong qúa trình thu thập tài liệu và nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin cảm ơn tập thể lớp Cao học Kinh tế Khoá 14 đ cùng chia sẻ với tôi trong suốt quá trình học tập; bạn bè và đồng nghiệp đ giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Các doanh nghiệp, hộ gia đình nghề đan cói và UBND huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đ giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu
để hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đ dành cho tôi!
Tác giả luận văn
Bùi Văn Tiến
Trang 4Danh mục từ viết tắt và ký hiệu
GDP Tổng sản phẩm quốc nội GNP Tổng sản phẩm quốc dân CNH Công nghiệp hoá
HĐH Hiện đại hoá
SNA Hệ thống tài khoản quốc gia
GO Tổng giá trị sản xuất
NI Thu nhập quốc dân NDI Thu nhập quốc dân sử dụng
ĐVT Đơn vị tính LĐ Lao động
NHTM Nhân hàng thương mại KHCN Khoa học, công nghệ QLNN Quản lý nhà nước
XK Xuất khẩu
NT Nội tiêu GTSX Giá trị sản xuất
α, β, γ an pha, bê ta, gha ma
Trang 5Danh mục bảng Trang Bảng 3.1 Diện tích đất đai huyện Kim Sơn năm 2004 - 2006 42 Bảng 3.2 Dân số và lao động huyện Kim Sơn năm 2004 - 2006 44 Bảng 3.3 Tình hình phát triển kinh tế huyện Kim Sơn năm 2004 - 2006 46 Bảng 3.4 Tình hình cơ bản về các điểm điều tra năm 2006 51 Bảng 4.1 Tổng số cơ sở, hộ và lao động đan cói huyện Kim Sơn năm 2004-2006 57 Bảng 4.2 Sản l−ợng, chủng loại và cơ cấu sản phẩm NĐC năm 2004 -2006 59 Bảng 4.3 Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất NĐC huyện Kim Sơn năm 2004-2006 63 Bảng 4.4 Sản l−ợng sản phẩm nghề đan cói ở các điểm điều tra năm 2006 66 Bảng 4.5 Giá trị sản xuất sản phẩm nghề đan cói ở điểm điều tra năm 2006 67 Bảng 4.6 Bình quân giá bán một số sản phẩm cói ở điểm điều tra năm 2006 68 Bảng 4.7 Chi phí sản xuất nghề đan cói ở các điểm điều tra năm 2006 70 Bảng 4.8 Giá trị tăng thêm của nghề đan cói ở các điểm điều tra năm 2006 71 Bảng 4.9 Giá trị tăng thêm/1 sản phẩm nghề đan cói ở điểm điều tra năm 2006 71 Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế sản xuất NĐC các điểm điều tra năm 2006 72 Bảng 4.11 Trình độ tay nghề của lao động NĐC ở các điểm điều tra năm 2006 74 Bảng 4.12 Trang bị máy móc, dụng cụ NĐC huyện Kim Sơn năm 2004 - 2006 80
Bảng 4.14 Khách hàng tiêu thụ sản phẩm NĐC ở các điểm điều tra năm 2006 90 Bảng 4.15 Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nghề đan cói huyện Kim Sơn 92 Bảng 4.16 Tiêu thụ sản phẩm nghề đan cói ở các điểm điều tra năm 2006 93 Bảng 4.17 Nguyên liệu nghề đan cói ở các điểm điều tra năm 2006 95 Bảng 4.18 Thu nhập bình quân của lao động/tháng và của hộ/tháng 98 Bảng 4.19 So sánh thu nhập bình quân/tháng của các nhóm lao động và hộ 99 Bảng 4.20 Hiệu quả sử dụng vốn của các nhóm hộ huyện Kim Sơn năm 2006 101 Bảng 4.21 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức 109 Bảng 4.22 Dự kiến số cơ sở, hộ và lao động đan cói huyện Kim Sơn năm 2010 121 Bảng 4.23 Dự kiến chất l−ợng sản phẩm nghề đan cói huyện Kim Sơn năm 2010 122 Bảng 4.24 Dự kiến kim ngạch xuất khẩu SP NĐC ở huyện Kim Sơn đến 2010 126 Bảng 4.25 Dự kiến trình độ văn hoá và tay nghề của LĐ ở các điểm điều tra 2010 132 Bảng 4.26 Dự kiến nguyên liệu nghề đan cói ở các điểm điều tra năm 2010 135 Bảng 4.27 Dự kiến vốn của các cơ sở sản xuất NĐC ở huyện Kim Sơn đến 2010 136 Bảng 4.28 Dự kiến kết quả và hiệu quả sản xuất NĐCở huyện Kim Sơn đến 2010 137
Trang 6Danh mục biểu đồ Trang Biểu đồ 3.1 Cơ cấu đất đai huyện Kim Sơn năm 2004 - 2006 43 Biểu đồ 4.1 Cơ cấu giá trị sản xuất nghề đan cói huyện Kim Sơn năm 2004-2006 64 Biểu đồ 4.2 Thành phần kinh tế hoạt động nghề đan cói ở huyện Kim Sơn 82 Biểu đồ 4.3 Đầu tư vốn nghề đan cói huyện Kim Sơn năm 2002-2006 84 Biểu đồ 4.4 Nguồn huy động vốn nghề đan cói huyện Kim Sơn năm 2002-2006 87
Sơ đồ 4.1 Kênh tiêu thụ trong nước sản phẩm nghề đan cói ở Kim Sơn 89 Sơ đồ 4.2 Kênh xuất khẩu sản phẩm nghề đan cói huyện Kim Sơn 91 Sơ đồ 4.3 Nguyên nhân hạn chế phát triển NĐC của các điểm điều tra 108 Sơ đồ 4.4 Dự kiến kênh tiêu thụ trong nước SP NĐC ở huyện Kim Sơn đến 2010 125 Sơ đồ 4.5 Dự kiến kênh xuất khẩu sản phẩm NĐC huyện Kim Sơn đến 2010 126
Trang 7Mục lục
Trang
2.1.2 Khái niệm về ngành nghề, nghề đan cói và một số khái niệm khác 8
2.1.3 Vị trí, vai trò của nghề đan cói trong việc phát triển ngành nghề tiểu thủ
2.1.4 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật và qui trình sản xuất nghề đan cói 21
2.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nghề đan cói 25
2.1.6 Quan điểm của Đảng về phát triển nghề đan cói 32
2.2.1 Phát triển nghề tiểu thủ công nghiêp ở một số nước trên thế giới 35
2.2.2 Tình hình phát triển nghề đan cói ở Việt Nam 39
2.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 40
3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Kim Sơn 46
3.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển nghề đan cói huyện Kim Sơn 48
Trang 84.1.5 Tổng quát về các điểm điều tra 50
4.1 Thực trạng phát triển nghề đan cói ở huyện Kim Sơn 57
4.1.5 Đầu tư và sử dụng vốn trong hoạt động nghề đan 81
4.1.8 Đánh giá chung về thực trạng phát triển nghề đan cói ở huyện Kim Sơn 96 4.2 Định hướng và giải pháp phát triển nghề đan cói 110 4.2.1 Dự báo thị trường tiêu thụ sản phẩm nghề đan cói 110 4.2.2 Định hướng, mục tiêu phát triển nghề đan cói huyện Kim Sơn 112 4.2.3 Một số giải pháp chủ yếu phát triển nghề đan cói ở huyện Kim Sơn 117 4.2.4 Dự kiến kết quả thực hiện các giải pháp phát triển nghề đan cói ở Kim Sơn 137
Trang 91 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đan cói là một nghề thủ công, được hình thành và phát triển chủ yếu ở các tỉnh ven biển nước ta Quá trình hoạt động nghề đan cói của các hộ nông dân gắn liền với quá trình phát triển kinh tế của đất nước Nghề đan cói cùng với những nét độc
đáo riêng của từng sản phẩm đ trở thành một phần không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế và lưu giữ văn hoá truyền thống của dân tộc “Ngày xưa và cả hôm nay, nghề thủ công lúc nào cũng có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế nông thôn’’[15] Phát triển nghề đan cói không chỉ là giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân, hoặc chỉ giải quyết vấn đề việc làm trong lúc nông nhàn, mà quan trọng hơn còn là giải pháp chiến lược cơ bản lâu dài để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH)
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực Nam của vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, năm 2006 có diện tích đất tự nhiên 1.390,1km2, mật độ dân số khoảng 659 người/km2; diện tích đất nông nghiệp 67.465 ha; lao động có khả năng làm việc 539.612 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 58,5% Tổng giá trị sản xuất năm 2006 đạt 10.277.043 triệu đồng, đạt tỷ lệ tăng trưởng 27,3% so với năm 2005 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 2.557.975 triệu đồng, chiếm 54% GDP của tỉnh; bình quân lương thực đầu người 455 kg/người Bên cạnh đó các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm tỷ trọng đáng kể trong GDP của tỉnh [7]
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế x hội ở nông thôn trong tiến trình CNH, HĐH đất nước của Đảng và Nhà nước đ đề ra Trong gần 20 năm qua nhờ chú trọng phát triển ngành nghề nông thôn mà nền kinh tế Ninh Bình đ và đang tạo ra những biến đổi sâu sắc cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn Các ngành nghề nông thôn của Ninh Bình phát triển khá phong phú: nghề đan cói, thêu ren, mộc, nề, nấu rượu, làm bún bánh, mây tre đan, chế tác đá, cơ khí, sữa chữa nhỏ, hiện đang thu hút 110.000 hộ nông dân tham gia, với khoảng trên 200.000 lao động chiếm trên 50%
Trang 10lao động nông thôn, trong đó riêng nghề đan cói thu hút trên 60.000 hộ, với khoảng 95.000 lao động tham gia Năm 2004, giá trị sản xuất ngành nghề đạt 378.352,5 triệu
đồng và chiếm 35% cơ cấu kinh tế nông thôn, trong đó nghề đan cói đạt 122.586,2 triệu đồng, chiếm 32,4% [7]
Kim Sơn là một huyện ven biển, thuần nông thuộc phía Nam của tỉnh Ninh Bình, trong quá trình phát triển kinh tế x hội huyện đ chú trọng phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Hiệu quả hoạt động từ các nghề truyền thống đang là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, tạo việc làm tương đối ổn định cho nông dân lúc nông nhàn. Trong ngành nghề tiểu thủ công nghiệp thì nghề đan cói là một mũi nhọn được ưu tiên phát triển Năm 2006 có tới 28.000 hộ và 41 cơ sở doanh nghiệp làm nghề đan cói và kinh doanh các sản phẩm có nguyên liệu từ cói, đ tạo ra khoảng 8.000.000 sản phẩm, với 2.000 mặt hàng mang những nét độc đáo riêng, cung cấp cho thị trường trong và ngoài huyện Có nhiều sản phẩm xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế cao như thảm cói, khay cói, hộp cói, Năm
2006 giá trị sản xuất nghề đan cói đạt hơn 190 tỷ đồng chiếm 82,1% trong cơ cấu GDP ngành công nghiệp, trong đó giá trị xuất khẩu đạt 123 tỷ đồng [38]
Đi liền với sự phát triển của nghề đan cói, ở mỗi hộ, mỗi làng nghề đan cói hiện đang nảy sinh những bất cập riêng khiến chính các nghệ nhân, các doanh nghiệp liên quan và các nhà chức trách Ninh Bình đang phải quan tâm, trăn trở và tìm hướng giải quyết [7]. Nghề đan cói ở Kim Sơn chưa được quan tâm đúng mức, phát triển nghề đan cói và sản phẩm có nguồn gốc từ cói chưa khai thác hết tiềm năng nguồn lực và lợi thế so sánh của huyện Quy mô sản xuất chế biến nhỏ, lẻ Sản xuất chế biến các sản phẩm từ cói giá thành còn cao, một số gia đình làm nghề đan cói còn bị thua
lỗ Việc ứng dụng công nghệ khoa học mới để phát triển nghề đan cói chưa nhiều, năng suất lao động chưa cao Cơ sở hạ tầng yếu kém Môi trường trong quá trình phát triển nghề đan cói còn có những bất cập cần nghiên cứu giải quyết Quá trình phát triển nghề đan cói còn nhiều chính sách chưa cụ thể, để phát triển nghề đan cói, sự quan tâm của các cấp, các ngành đối với phát triển nghề đan cói ở huyện chưa nhiều, một số quy hoạch phát triển nghề đan cói của địa phương ít có hiệu quả
Trang 11Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng và những giải pháp phát triển nghề đan cói ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình” làm luận văn thạc sỹ kinh tế
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận, đánh giá đúng thực trạng và tiềm năng, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nghề đan cói ở huyện Kim Sơn tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm có chất lượng cao, giá thành sản phẩm hạ, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập và nâng cao mức sống của nhân dân
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nghề đan cói + Đánh giá thực trạng phát triển nghề đan cói của các chủ thể sản xuất kinh doanh ở các điểm điều tra tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
+ Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu khả thi phát triển nghề
đan cói ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình trong những năm tới
1.3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ, doanh nghiệp tư nhân, xí nghiệp, hợp tác x và công ty cổ phần hoạt
động sản xuất kinh doanh nghề đan cói
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Kim Sơn
+ Về nội dung: Nghiên cứu tình hình phát triển nghề đan cói
+ Về thời gian: Tập trung nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2004 - 2006 +Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 11/2006 đến tháng 10/2007
Trang 122 Cơ sở khoa học về phát triển nghề đan cói
2.1 Cơ sở Lý luận về phát triển nghề đan cói
2.1.1 Phát triển và lý thuyết về sự phát triển
2.1.1.1 Khái niệm phát triển
Đến nay có nhiều khái niệm khác nhau về sự phát triển Tác giả Raaman Weitz (1987) cho rằng: ‘‘Phát triển là một quá trình liên tục làm thay đổi mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong x hội’’ Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1999 đ đưa ra khái niệm phát triển với ý nghĩa rộng lớn hơn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là: ‘‘Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền
tự do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người, trong các mối quan hệ với nhà nước, cộng đồng ’’[46]
Một quan niệm khác cho rằng: ‘‘phát triển là việc tạo điều kiện cho con người sinh sống ở bất cứ nơi nào đều được thoả mn các nhu cầu sống của mình, có mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ tốt, đảm bảo chất lượng cuộc sống, có trình độ học vấn cao, được hưởng những thành tựu về văn hoá và tinh thần, có đủ điều kiện cho một môi trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được
đảm bảo an ninh, an toàn, không có bạo lực [6]
Mặc dù có sự khác nhau trong quan niệm về phát triển, nhưng các ý kiến đều thống nhất cho rằng, phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị trong cuộc sống con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, x hội và quyền tự do công dân của mọi người dân
Trong những năm gần đây, các tổ chức quốc tế, các quốc gia đ đưa ra các quan điểm phát triển bền vững, Uỷ ban quốc tế về phát triển và môi trường (1987) đ
định nghĩa: ‘‘Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi, trong đó, việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ, kỹ thuật
và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại
và tương lai của con người’’ Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 tổ chức tại Rio de janeiro đưa ra định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vững là ‘‘Phát triển nhằm
Trang 13thoả mn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai’’ [6] Như vậy, phát triển bền vững lồng ghép các quá trình phát triển kinh tế, hoạt động x hội với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
và làm giầu môi trường sinh thái Nó làm thoả mn nhu cầu phát triển hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai 2.1.1.2 Tăng trưởng và phát triển kinh tế
a Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng và phát triển là những vấn đề quan tâm hàng đầu đối với x hội loài người trên thế giới và trong từng quốc gia Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng
về số lượng của một sự vật nhất định Trong kinh tế, tăng trưởng thể hiện sự gia tăng hơn về sản phẩm hay lượng đầu ra của một quá trình sản xuất hay hoạt động Tăng trưởng kinh tế là phạm trù cơ bản nhất của lý luận kinh tế, là tiền đề vật chất và cơ sở kinh tế của sự tồn tại và phát triển trong mọi hình thái x hội Để phản ánh mực độ tăng trưởng kinh tế của một thời kỳ, các nhà kinh tế thường dùng giá trị tuyệt đối của các đại lượng để so sánh chúng với nhau Chênh lệch giữa các thời điểm chính là mức tăng trưởng kinh tế của một thời kỳ cụ thể [6]
Phát triển kinh tế là quá trình chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng sản phẩm, sự hoàn thiện về cơ cấu nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng mọi mặt của cuộc sống [12]
Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững năm 2002 đ xác định:
‘‘Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoá giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề x hội và bảo vệ môi trường’’ Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng x hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống
Đảng cộng sản Việt Nam đ thể hiện rõ quan điểm về phát triển bền vững trong Chiến lược phát triển kinh tế x hội của đất nước đến năm 2010: ‘‘phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng x hội và bảo vệ môi trường, gắn sự phát triển kinh tế với giữ vững ổn định chính trị x hội, bảo đảm an ninh quốc phòng’’[25]
Trang 14b Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển kinh tế
Trên quan điểm toàn diện, các nhà kinh tế đánh giá phát triển kinh tế theo ba tiêu thức cơ bản gồm tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự thay đổi trong các chỉ tiêu x hội
- Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế được xác định theo các chỉ tiêu của
hệ thống tài sản quốc gia (SNA) Gồm các chỉ tiêu: tổng giá trị sản xuất (GO); tổng sản phẩm quốc nội (GDP); tổng thu nhập quốc dân (GNP); thu nhập quốc dân (NI); thu nhập quốc dân sử dụng (NDI); thu nhập bình quân đầu người; chỉ số về sự liên kết kinh tế; chỉ số về mức tiết kiệm - đầu tư
- Đánh giá cơ cấu kinh tế được phản ánh theo các góc độ của cơ cấu kinh tế, gồm cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu khu vực thể chế, cơ cấu tái sản xuất, cơ cấu thương mại quốc tế
- Sự phát triển x hội thường được xem xét trên các khía cạnh chính gồm các chỉ tiêu phản ánh nhu cầu cơ bản của con người như mức sống, giáo dục và trình độ dân trí, tuổi thọ bình quân và chăm sóc sức khoẻ, dân số và việc làm; chỉ tiêu nghèo
đói và bất bình đẳng [25]
2.1.1.3 Một số lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế
a Lý thuyết về tăng trưởng và phát triển của trường phải cổ điển
Theo các chuyên gia kinh tế, lý thuyết về tăng trưởng phát triển kinh tế cổ
điển là học thuyết và mô hình lý luận về tăng trưởng kinh tế do các nhà kinh tế học
cổ điển nêu ra mà đại diện tiêu biểu là Adam Smith và Ricardo
Adam Smith (1723 - 1790) Trong tác phẩm "Bàn về của cải" ông mô tả các nhân tố tăng trưởng kinh tế thông qua phương trình sản xuất ở dạng chung nhất
Y = F( K, L, N, T) (1.1) Trong đó:
Trang 15David Ricardo (1772-1823) là nhà kinh tế học người anh, trong tác phẩm
"Những nguyên lý cơ bản của chính sách kinh tế và thuế khoá’’, đ đề xuất hàng loạt các lý thuyết kinh tế như: lý thuyết giá trị lao động; lý thuyết về tiền lương; lợi nhuận; địa tô; lý thuyết về tín dụng và tiền tệ
Một dạng của kiểu phân tích (1.1) là phương trình hàm Cobb - Douglas, hàm này có dạng: Y = T Kα.Lβ.Rγ (1.2)
Trong đó: α, β, γ là các số luỹ thừa, phản ánh tỷ lệ cận biên của các yếu tố đầu vào (với α + β + γ = 1) Sau khi biến đổi Cobb-Douglas thiết lập được mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng của các biến số
Trong đó:
g là tốc độ tăng trưởng của GDP
k, l, r là tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào
t là phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học - công nghệ [25]
b Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Harrod - Domar
Lý thuyết này trình bày mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu tư bản Mô hình này coi đầu ra của một đơn vị kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho nó Được thể hiện bằng phương trình tăng trưởng:
Trong đó: g là tỷ lệ tăng trưởng của đầu ra
k là tỷ số gia tăng giữa vốn và đầu ra (hệ số ICOR)
s là tỷ lệ tích luỹ trong GDP và mức tích luỹ [25]
c Lý thuyết cất cánh
Nhà kinh tế Mỹ Rostow đ đưa ra lý thuyết cất cánh nhằm nhấn mạnh những giai đoạn của tăng trưởng kinh tế Theo ông quá trình tăng trưởng kinh tế đối với một quốc gia phải trải qua 5 giai đoạn
- Giai đoạn x hội truyền thống, đặc trưng của giai đoạn này là năng suất lao
động thấp, nông nghiệp giữ vị trí thống trị
- Giai đoạn chuẩn bị cất cánh, trong thời kỳ này đ xuất hiện những nhân tố tăng trưởng và một số khu vực có tác động thúc đẩy nền kinh tế
Trang 16- Giai đoạn cất cánh, để đạt tới giai đoạn này cần phải có 3 điều kiện: tỷ lệ đầu tư tăng lên từ 5% - 10%; phải xây dựng được những ngành công nghiệp có khả năng phát triển nhanh, có hiệu quả và đóng vai trò thúc đẩy; phải xây dựng được bộ máy chính trị - x hội, tạo điều kiện phát huy năng lực của các khu vực hiện đại, tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại
- Giai đoạn chín muồi về kinh tế, xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới, hiện đại Tiền giành cho đầu tư chiếm từ 10% - 20% trong GNP
- Giai đoạn quốc gia thịnh vượng, x hội hoá sản xuất cao [25]
2.1.2 Khái niệm về ngành nghề, nghề đan cói và một số khái niệm khác
2.1.2.1 Khái niệm về nghề, ngành nghề
a Nghề nghiệp
Để tồn tại và phát triển, con người luôn phải tham gia vào quá trình lao động sản xuất và sáng tạo ra các nghề mới với những sản phẩm mới như nghề nông nghiệp, chuyên thực hiện các hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp và tạo ra các loại nông sản phục vụ cho sinh hoạt và đời sống của bản thân và x hội; hay nghề nấu rượu
là thực hiện các hoạt động chế biến nông sản và tạo ra sản phẩm là rượu
Theo từ điển tiếng việt "Nghề là công việc một người thường xuyên làm để sinh nhai" [33]
Theo từ điển tiếng việt phổ thông "Nghề là khái niệm để chỉ công việc chuyên làm theo đòi hỏi của đời sống x hội hoặc theo sự phân công của x hội Giá trị của mỗi người được thông qua bởi kết quả lao động nghề nghiệp mà người đó tạo ra cho x hội và bản thân" [14]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Viết Sự cho rằng nghề nghiệp là nghề chính để sinh sống nói chung [32]
Như vậy, nghề nghiệp (gọi tắt là nghề) là những hoạt động mang tính chuyên nghiệp của từng cá nhân Vì nói tới nghề nghiệp là nói tới công việc, hoạt động cụ thể của một cá nhân, hay tầng lớp xác định trong x hội Ngành nghề là nói tới hoạt động nghề nghiệp của một tổ chức, một đơn vị sản xuất, một cộng đồng, một quốc gia
b Ngành nghề
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất đầu tiên trên thế giới vì nghề nghiệp
đầu tiên của dân cư chủ yếu là nghề nông Qua các giai đoạn phát triển của lịch sử từ
Trang 17chế độ cộng sản nguyên thuỷ, chế độ chiếm hữu nô lệ, đến chế độ phong kiến và các phương thức sản xuất sau đó, trong mỗi phương thức sản xuất, người nông dân có những đặc trưng riêng của từng thời kỳ Do thay đổi của lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất qua các phương thức sản xuất mà người nông dân tham gia vào các hoạt
động sản xuất với các công cụ sản xuất và quan hệ sản xuất ở các mức độ khác nhau
và tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm khác nhau, từ đó có nhiều nghề mới xuất hiện
Đến nay, hộ nông dân vừa tham gia hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư vừa tham gia hoạt động ngành nghề, dịch vụ Các hoạt động ngành nghề của nông dân bao gồm sản xuất, chế biến và dịch vụ [24]
Ngành nghề thủ công đầu tiên xuất hiện trong các hộ nông dân nhằm tận dụng lao động dư thừa, tranh thủ thời gian nông nhàn sản xuất ra các dụng cụ sản xuất hoặc vật phẩm tiêu dùng cho đời sống bằng lao động thủ công [19]
Như vậy, có thể hiểu ngành nghề là những hoạt động mang tính chuyên nghiệp của hộ dân, đơn vị và tổ chức sản xuất, được phân chia thành nhiều ngành khác nhau, có hệ thống công cụ sản xuất và tạo ra những sản phẩm mang tính đặc trưng và mang mục đích kinh tế rõ rệt
2.1.2.2 Khái niệm về ngành nghề nông thôn và tiêu chí phân biệt nghề
a Ngành nghề nông thôn
Là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp bao gồm công nghiệp, thủ công nghiệp và các hoạt động dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống, có các trình độ và quy mô khác nhau, với mọi thành phần kinh tế như hộ gia đình, hộ sản xuất (gọi chung là hộ) và các tổ chức kinh tế khác nhau như hợp tác x, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, xí nghiệp quốc doanh chủ yếu của địa phương và có
ảnh hưởng tới tiến trình phát triển kinh tế x hội của địa phương
Các thành phần kinh tế tham gia vào các ngành nghề nông thôn khác nhau tuỳ theo lợi thế so sánh của mỗi vùng và quy mô sản xuất của các hộ Nhìn chung, nước
ta có khoảng 35% số hộ trong nông thôn làm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Trong
đó 30% số hộ làm nông nghiệp kiêm ngành nghề và khoảng 5% số hộ chuyên ngành nghề Ngành nghề có thể chia thành các nhóm như chế biến nông lâm thuỷ sản, cơ khí và sửa chữa công cụ xây dựng, dịch vụ (vận tải, buôn bán) Nét đặc trưng cần nhấn mạnh là sự phát triển ngành nghề liên quan chặt chẽ đến yếu tố truyền thống và
Trang 18kinh nghiệm dân gian được tích luỹ lại qua nhiều thế hệ và đ trở thành tài sản quý báu của cộng đồng và là cơ sở để hình thành lên các làng nghề như làng nghề chế tác
đá mỹ nghệ, Thêu ren (Hoa Lư - Ninh Bình), dệt chiếu (Kim Sơn - Ninh Bình)
Ngành nghề nông thôn được phân ra thành nghề mới và nghề truyền thống
* Nghề truyền thống trước hết là những nghề tiểu thủ công nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, sản xuất tập trung tại một vùng hay một làng nào đó Từ đó hình thành các làng nghề, x nghề Đặc trưng cơ bản của mỗi nghề truyền thống là phải có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề Sản phẩm làm ra vừa có tính hàng hoá, đồng thời vừa có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc
Những nghề truyền thống thường được truyền trong phạm vi từng làng Mỗi nghề bao giờ cũng có ông tổ của nghề được dân làng ghi công ơn và thờ phụng từ đời này, qua đời khác Trong những làng nghề truyền thống đa số người dân đều hành nghề truyền thống đó
Ngày nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ, việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới với nhiều loại nguyên vật liệu mới Do vậy, khái niệm nghề truyền thống cũng được nghiên cứu
và mở rộng Khái niệm này có thể được hiểu:
‘‘Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này sang đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đ được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phẩm của nó vấn thể hiện những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc’’ [43]
* Nghề mới là nghề mới du nhập do quá trình hội nhập hoặc do lan toả từ các nghề truyền thống trong những năm gần đây
b Tiêu chí phân loại nghề
Hiện nay ở nước ta tồn tại nhiều nghề truyền thống khác nhau, phân bố khắp nơi, tập trung nhiều nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng Việc phân loại các nhóm nghề tương đối khó khăn và chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì một số nghề có thể vừa thuộc nhóm này song cũng có thể thuộc nhóm khác Mặt khác, một số nghề đối với
Trang 19địa phương được coi là nghề truyền thống, nhưng trên phạm vi vĩ mô có thể chưa
được gọi là nghề truyền thống Có nhiều cách phân loại nghề, tuy nhiên có thể xem xét một số cách như sau:
* Phân loại theo trình độ kỹ thuật
- Loại nghề có kỹ thuật đơn giản như đan lát, chế biến lương thực, thực phẩm, làm gạch, nung vôi, sản phẩm của nghề này có tính chất thông dụng, rất phù hợp với nền kinh tế tự cấp, tự túc
- Nhóm nghề có kỹ thuật phức tạp như các nghề kim hoàn, đúc đồng, làm gốm, chạm khảm, dệt lụa, thêu thùa, các nghề này không chỉ có kỹ thuật công nghệ phức tạp, mà còn đòi hỏi ở người thợ sự sáng tạo và khéo léo Sản phẩm vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính văn hoá Do vậy, sản phẩm không chỉ tiêu thụ ở trong nước mà còn có giá trị xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới
* Phân loại theo tính chất kinh tế
- Loại nghề thường phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, đây là nghề phụ của hầu hết gia đình nông dân, sản phẩm ít mang tính chất hàng hoá, chủ yếu là phục vụ nhu cầu tại chỗ như: chế biến nông sản, sản xuất công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp như lưỡi cày, bừa, liềm, hái,
- Những nghề mà hoạt động của nó độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp Những nghề này được phát triển bởi sự tiến bộ của trình độ kỹ thuật công nghệ và trình độ tay nghề của người thợ Sản phẩm thể hiện tài năng sáng tạo và sự khéo léo của người thợ, đặc biệt sản phẩm tạo thành hàng hoá, đem lại thu nhập cao cho người sản xuất, tiêu biểu là nghề dệt, gốm sứ, kim hoàn,
Tuy vậy, cách phân loại này chỉ phù hợp trong điều kiện trước đây, ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, nhiều nghề đ phát triển mạnh Dựa vào giá trị sử dụng của các sản phẩm, có thể phân loại các ngành nghề truyền thống theo các nhóm sau:
+ Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ, chạm khảm gỗ, chạm khắc đá, thêu, vàng bạc,
+ Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như: nề, mộc, hàn, đúc
đồng, gang, nhôm, sản xuất vật liệu xây dựng, công cụ,
Trang 20+ Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng tiêu dùng như: dệt vải, dệt chiếu, khâu nón,
+ Các ngành nghề chế biến lương thực thực phẩm như xay xát, làm bún bánh, nấu riệu, nấu đường mật, chế biến thuỷ sản
2.1.2.3 Nghề đan cói và phát triển nghề đan cói
a Khái niệm nghề đan cói
Đan cói là việc sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc từ cây cói và các kỹ thuật
đan gép, móc nối để tạo ra các sản phẩm vật chất phục vụ cho đời sống sinh hoạt của con người Nghề đan cói là hoạt động mang tính chuyên nghiệp của con người, trong
đó sử dụng sự khéo léo của con người, với những kỹ thuật công nghệ và cói nguyên liệu để sản xuất các loại sản phẩm vật chất Sản phẩm nghề đan cói ngày càng đa dạng, phong phú, với chất lượng ngày càng cao
b Đặc trưng của nghề đan cói
Hai đặc trưng cơ bản của nghề đan cói là sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc từ cây cói, kỹ thuật và công nghệ để đan cói
Cói là một loại cây thiên nhiên có đặc điểm thân mềm, mảnh, phát triển liền thân, có chiều dài Cói được trồng ở những vùng ven biển nơi có nhiều nguồn nước, pha trộn nước nợ và nước ngọt Là loại cây sinh trưởng và phát triển ở vùng nhiệt độ
và độ ẩm cao, thời gian sinh trưởng và phát triển trong một năm và cho thu hoạch theo thời vụ nhất định, thường có 2 vụ: cói chiêm và cói mùa Cói chiêm có đặc điểm
là loại cói có sợi mềm, độ trắng bóng của cây cói sau khi được phơi khô sáng hơn cói mùa, sợi cói nhỏ Cói mùa có sợi rắn chắc và to hơn cói chiêm
Nghề đan cói sử dụng những kỹ thuật đan giản đơn, thủ công để tạo ra các sản phẩm (Phụ lục 3) Chủng loại sản phẩm nghề đan cói rất đa dạng và phong phú như chiếu, thảm, hộp vuông, hộp chữ nhật, khay tròn, hộp tròn, (Phụ lục 2) Mỗi loại sản phẩm có kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật đan khác nhau Bao gồm hai nhóm kỹ thuật, công nghệ chủ yếu Kỹ thuật đan cói truyền thống hoàn toàn sử dụng lao động truyền thống và các công cụ thô sơ để đan cói như kỹ thuật đan quại, đan làn, hộp vuông,
Kỹ thuật đan cải tiến là sự tiếp thu kỹ thuật đan mới có sử dụng những công cụ, máy móc hiện đại như máy dệt chiếu, máy đánh quại
Trang 21c Phát triển nghề đan cói
Phát triển nghề đan cói là một quá trình cải thiện về lượng và chất của nghề
đan cói Nó bao gồm sự tăng về số lượng hộ nghề đan cói, mở rộng quy mô của các cơ sở sản xuất, các hộ làm nghề đan cói, áp dụng máy móc thiết bị và công nghệ mới vào nghề đan cói, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm theo yêu cầu thị trường, mở rộng thị trường, sự tăng lên về giá trị sản lượng, về thu nhập của người lao
động, nâng cao hiệu quả của nghề đan cói, sự tăng về thu nhập của địa phương cũng như sự tăng lên về tổng thu nhập của các cơ sở và hộ sản xuất nghề đan cói Hay cũng chính là sự biến đổi về cơ cấu GDP của địa phương theo hướng tiến bộ là tăng dần tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp, đồng thời thể hiện thông qua sự tăng trưởng kinh tế của
địa phương có nghề đan cói và được thể hiện bằng tốc độ tăng số hộ khá và giàu, giảm được số hộ nghèo bằng phát triển nghề đan cói
Trên quan điểm phát triển bền vững, phát triển nghề đan cói còn yêu cầu sự phát triển có kế hoạch, quy hoạch; sử dụng các nguồn lực như lao động, vốn, nguyên liệu cho sản xuất đảm bảo hợp lý có hiệu quả; nâng cao mức sống cho người lao
động; không gây ô nhiễm môi trường giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc,
Mỗi ngành sản xuất đều có một số đặc điểm riêng, các đặc điểm đó có ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất cũng như việc xác định kết quả và hiệu quả của ngành sản xuất đó Nghề đan cói mang lại lợi ích kinh tế cho người dân, góp phần tăng trưởng kinh tế x hội Để đánh giá trình độ tổ chức, sử dụng các yếu tố sản xuất của các cơ sở cũng như các hộ làm nghề, chúng ta sử dụng thước đo hiệu quả kinh tế Đó chính là hiệu quả sản xuất của các cơ sở và của các hộ làm nghề được phản ánh bằng tỷ lệ so sánh giữa chi phí bỏ ra để đầu tư cho sản xuất và thu nhập đạt
được do sản xuất nghề đan cói mang lại Hiệu quả ấy được phản ánh qua các chỉ tiêu: thu nhập của một công lao động làm nghề, thu nhập đạt được từ một đồng chi phí bỏ
ra hay thu nhập đạt được từ một đồng tài sản được đầu tư cho sản xuất nghề đan cói
Hiệu quả chính là mục tiêu hàng đầu của mỗi đơn vị sản xuất, đó chính là cơ
sở để đơn vị sản xuất tồn tại và phát triển Hiệu quả kinh tế được định nghĩa tổng quát
là một phạm trù phản ánh trình độ, năng lực quản lý sao cho đảm bảo thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh tế x hội đặt ra với chi phí tối thiểu
Trang 22‘‘Hiệu quả là đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằnh tỷ lệ so sánh giữa đầu
ra và đầu vào của hệ thống Đối với nền sản xuất x hội có thể nói cụ thể hơn: hiệu quả kinh tế của nền sản xuất x hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của x hội trong sản xuất thông qua các chỉ tiêu đặc trưng được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả đạt được về kinh tế so với các chỉ tiêu phản ánh chi phí bỏ ra hoặc nguồn lực được huy động vào sản xuất’’[28]
Hiệu quả kinh tế x hội của việc phát triển nghề đan cói chính là tương quan
so sánh giữa chi phí bỏ ra với kết quả đạt được thông qua sản xuất nghề đan cói
Đồng thời cũng là sự tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra về kết quả đạt được về mặt x hội thông qua phát triển nghề đan cói như giải quyết vấn đề thất nghiệp, góp phần tăng trưởng nền kinh tế của địa phương, bảo vệ tốt hơn môi trường sinh thái, giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo
2.1.3 Vị trí, vai trò của nghề đan cói trong việc phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và phát triển kinh tế xã hội
2.1.3.1 Vai trò của nghề đan cói
a Góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động và sử dụng hợp lý nguồn lao
động, nâng cao thu nhập và tạo nguồn tích luỹ cho các hộ nông dân
Phát triển toàn diện kinh tế x hội nông thôn, tạo việc làm nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn là vấn đề quan trọng hiện nay ở nước ta nói chung và huyện Kim Sơn nói riêng Với diện tích canh tác bình quân vào loại thấp, tỷ lệ thất nghiệp
và thiếu việc làm còn chiếm tỷ lệ cao (hiện nay khoảng 40 - 45%) Do vậy, vấn đề giải quyết công việc cho lao động là hết sức khó khăn, đòi hỏi sự hỗ trợ nhiều mặt và
đồng bộ của nhiều ngành nghề và các lĩnh vực Theo kết quả điều tra, bình quân mỗi
hộ có khoảng 2 - 4 lao động thường xuyên và 1 - 2 lao động thời vụ, mỗi hộ chuyên nghề tạo việc làm cho 4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5 lao động thời vụ Đồng thời với việc phát triển nghề đan cói ở Kim Sơn tạo điều kiện để phát triển nhiều dịch
vụ phục vụ nghề như buôn bán các nguyên liệu đầu vào, thu mua các sản phẩm, thu hút hàng nghìn lao động tham gia vào các hoạt động dịch vụ này
Như vậy, vai trò của nghề đan cói rất quan trọng, được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động Những nơi có nghề đan cói phát triển thì
Trang 23dân cư nơi đó đều có thu nhập và mức sống cao hơn so với vùng thuần nông Nếu so sánh thu nhập của lao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động nghề đan cói cao hơn 2-3 lần Bình quân thu nhập của một lao động trong hộ chuyên nghề đan cói là 550.000 - 600.000 đồng/tháng, ở hộ kiêm nghề này là 150.000 - 300.000 đồng/tháng, còn hộ thuần nông chỉ đạt 60.000 - 90.000 đồng/tháng [42]
b Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian nhàn rỗi của lực lượng lao động, hạn chế
di dân tự do
Khác với sản xuất công nghiệp và một số ngành khác, đa số các hộ làm nghề không đòi hỏi số vốn đầu tư lớn, bởi nghề đan cói sử dụng các công cụ thủ công, thô sơ do thợ thủ công tự sản xuất được Hơn nữa, đặc điểm sản xuất trong nghề này là sản xuất quy mô hộ, cơ cấu vốn và lao động ít nên phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các gia đình Với mức đầu tư vốn không lớn thì đó
là lợi thế để các hộ làm nghề có thể huy động vốn nhàn rỗi của mình vào hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác, đặc điểm sản xuất của nghề đan cói là sử dụng lao
động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có khả năng tận dụng và thu hút nhiều lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên hay dưới tuổi lao động Trẻ em vừa học, vừa tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc Lực lượng này chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng
số lao động làm nghề
Cùng với việc tận dụng thời gian và lực lượng lao động, sự phát triển nghề đan cói đ có vai trò tích cực trong việc hạn chế di dân tự do Quá trình di dân tự do hình thành một cách tự phát và tự điều tiết bởi quy luật cung và cầu lao động
c Phát triển nghề đan cói góp phần tích cực vào qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH, HĐH Đào tạo và cung cấp lực lượng lao
động có tay nghề, kỹ năng giỏi cho x3 hội
Sự hình thành, mở rộng và phát triển nghề đan cói có vai trò quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nói chung và cơ cấu kinh tế huyện Kim Sơn nói riêng, theo hướng CNH, HĐH Nó được coi là động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển toàn diện, chuyển cơ cấu kinh tế từ cơ cấu kinh tế thuần nông và lấy sản xuất lương thực là chính sang một cơ cấu mới: nông nghiệp, công
Trang 24nghiệp, dịch vụ để khai thác tốt các tiềm năng tại địa phương Việc phát triển nghề
đan cói tác động tích cực đến nông nghiệp, làm thay đổi tính chất và trình độ của nông nghiệp Theo tài liệu thống kê của Tổng cục Thống kê tỉnh Ninh Bình, GDP của tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tăng lên trong tổng GDP của huyện Kim Sơn và tăng
từ 22,78% năm 2001 lên 35,17% năm 2005 Trong đó, nghề đan cói đóng góp khoảng 42% GDP của tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Cơ cấu lao động phi nông nghiệp thời kỳ này tăng từ 20% đến 29,5% Khối lượng sản phẩm hàng hoá do nghề
đan cói sản xuất ra đ đáp ứng được nhu cầu trong nước và một phần xuất khẩu [7]
Trong điều kiện nghề đan cói sử dụng lao động thủ công là chính thì kinh nghiệm sản xuất là yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất Do vậy, phát huy kinh nghiệm cổ truyền và kỹ năng kỹ xảo của người lao động có tay nghề là vấn đề chất lượng trong việc sử dụng lao động, phát huy thế mạnh của lao động có tay nghề cao,
họ có điều kiện làm ra nhiều sản phẩm kinh tế và truyền lại bí quyết nghề nghiệp cho các thế hệ sau Hơn nữa, để nâng cao sức cạnh tranh nghề đan cói phải được tiến hành trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ hiện đại Sự kết hợp giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại đ tạo ra năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn hẳn so với sản xuất thủ công Từ đó, lao động trong các làng nghề cũng sẽ có điều kiện tiếp xúc với KHCN hiện đại, có điều kiện học tập nâng cao tay nghề
d Góp phần đa dạng hoá kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá và xây dựng nông thôn mới
Trong mối quan hệ biện chứng của quá trình sản xuất hàng hoá, nghề đan cói
đ phá vỡ thế độc canh trong các làng thuần nông, mở ra hướng phát triển mới, đồng thời cùng với sản xuất nông nghiệp, nghề đan cói đ đem lại hiệu quả cao trong việc
sử dụng hợp lý các nguồn lực như đất đai, vốn, lao động, nguyên vật liệu, công nghệ
và thị trường Vì vậy, một nền kinh tế hàng hoá với sự đa dạng của các loại sản phẩm
được hình thành và phát triển ở huyện Kim Sơn, trong mối quan hệ với các ngành khác, nghề đan cói đóng vai trò là động lực
Cùng với những ngành nghề khác, ở những vùng nghề đan cói phát triển thường hình thành những điểm tập trung giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng
Trang 25hoá Những điểm này ngày càng được mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong khu vực, vùng đó Hơn nữa nguồn tích luỹ của người dân trong khu vực đó cao hơn, có điều kiện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, nhà ở và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt Dần dần ở đây hình thành một cụm dân cư với lối sống đô thị
e Tăng giá trị sản phẩm hàng hoá cho các hộ nông dân, cải thiện đời sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo
Việc cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân chỉ có thể được thực hiện trên cơ
sở ổn định việc làm và nâng cao thu nhập ở những vùng có nghề đan cói phát triển
đều thể hiện sự giầu có hơn hẳn những vùng thuần nông điều này thể hiện ở tỷ lệ hộ khá và giầu thường cao, tỷ lệ hộ nghèo thường thấp Thu nhập từ nghề đan cói cói thường chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập đem lại cho người dân ở đây cuộc sống đầy đủ hơn cả về vật chất lẫn tinh thần Làng nghề cói Trì chính Kim Chính (Kim Sơn - Ninh Bình) mức bình quân thu nhập của các hộ thấp nhất cũng đạt tới 10 -
20 triệu đồng/năm, trung bình 25 - 30 triệu đồng/năm và cao nhất đạt 50 - 70 triệu
điều kiện để sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, công nghệ hiện đại, mở rộng sản xuất và giao lưu kinh tế Từ đó các làng nghề không thể giữ nguyên mọi trạng thái lạc hậu về công cụ mà điều cần thiết là thay thế lao động thủ công ở một số khâu công việc nặng nhọc, tiêu tốn nhiều sức lao động và độc hại nhưng vẫn giữ được tính chất truyền thống những bí quyết
Trang 26của công nghệ truyền thống trong việc tạo ra sản phẩm Chính vì vậy đ nâng cao năng suất lao động, tạo thêm thu nhập cao cho người dân
g Nghề đan cói tạo ra một số công cụ cần thiết cho sản xuất nông nghiệp như gầu tát nước, dây quại, bồ đựng, túi đựng, Bên cạnh đó nghề đan cói giải quyết trực tiếp
đầu ra cho sản xuất cói và một số nghề khác trong sản xuất nông nghiệp
h Góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá, khôi phục và phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống ở địa phương
Lịch sử phát triển của nghề đan cói gắn liền với lịch sử phát triển văn hoá của dân tộc, nó là nhân tố góp phần tạo dựng nền văn hoá ấy, đồng thời là sự biểu hiện quá trình tập trung và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc Sản phẩm của nghề đan cói
là sự kết tinh giữa lao động vật chất và lao động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ đan Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật, trong đó hàm chứa những nét đặc sắc riêng, đặc tính riêng của nghề Với những đặc điểm đặc biệt ấy chúng không còn là hàng hoá đơn thuần mà đ trở thành sản phẩm văn hoá với tính nghệ thuật cao và được coi là biểu tượng nghệ thuật truyền thống của dân tộc Việt Nam Nghề đan cói là một nghề truyền thống là di sản văn hoá quý báu mà thế hệ cha ông
đ sáng tạo ra và truyền lại cho thế hệ sau
Tìm hiểu lịch sử nghề đan cói truyền thống cho ta thấy kỹ thuật tạo các sản phẩm có từ xa xưa và được bảo tồn đến ngày nay Kỹ thuật dệt chiếu, kỹ thuật dóc quại, kỹ thuật đan làn, hộp, mũ, và những hoa văn để lại trên mỗi sản phẩm là kho sưu tập của nền văn hoá, nền văn minh đất việt, nền văn minh gắn với cây lúa nước, truyền thống dựng nước và giữ nước mà ông cha ta để lại Ngày nay, nền sản xuất công nghiệp hiện đại phát triển mạnh mẽ, các sản phẩm công nghiệp được sử dụng và tiêu thụ ở khắp mọi nơi Tuy nhiên, các sản phẩm nghề đan cói thủ công truyền thống với tính độc đáo và độ tinh xảo của nó vẫn rất cần thiết và có ý nghĩa đối với nhu cầu
đời sống của con người Vì vậy, nghề đan cói truyền thống với những ‘‘bàn tay vàng’’ của các nghệ nhân và người thợ thủ công cần được coi trọng, bảo tồn và phát triển Công nghệ đan truyền thống quý giá cần được bảo lưu và phát triển theo hướng HĐH Đó cũng chính là việc khôi phục và phát triển các nghề truyền thống, nó có ý
Trang 27nghĩa quan trọng việc giữ gìn các giá trị văn hoá dân tộc trong qúa trình CNH, HĐH
ở Ninh Bình và đất nước
2.1.3.2 Vai trò của sản phẩm nghề đan cói
- Lịch sử phát triển loài người cho thấy con người sống, vận động hoà nhịp với
tự nhiên và thiên nhiên đ nuôi sống con người từ cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ sự duy trì và phát triển của sự sống đến ban tặng các loài vật chất phục vụ sản xuất lẫn sản phẩm phục vụ tiêu dùng Với sự đa dạng của các sản phẩm phục vụ tiêu dùng, các sản phẩm của nghề đan cói ngày càng được khẳng định và mở rộng Gắn với lịch sử phát triển đó, nghề đan cói tạo ra các sản phẩm tiêu dùng luôn đóng một vai trò to lớn với lịch sử hàng trăm năm từ những sản phẩm phục vụ đời sống dân d như manh chiếu, chiếc mũ, đến những sản phẩm cao cấp phục vụ sinh hoạt cung
đình như đệm gối, thảm, (phụ lục 2)
- Với đặc điểm của nghề đan cói là sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc cây cói, với đặc điểm của một loài thực vật thân mảnh, dai, bóng, bền, chịu nhiệt, đ tạo ra những sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người, từ những sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu như chiếu, hộp đựng, làn, đến những vật dụng để trang trí, trưng bày Những vật dụng này ngoài giá trị sử dụng còn có giá trị văn hoá cao như lẵng hoá, tranh ảnh, (phụ lục 2)
- Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đ tạo ra nhiều loại sản phẩm thay thế các loại sản phẩm thủ công, trong đó có sản phẩm từ nghề đan cói Nhưng các loại sản phẩm do công nghiệp, kỹ thuật hiện đại mang lại đ làm huỷ hoại môi trường sống của con người, làm cạn kiệt tài nguyên, tác động mạnh mẽ đến môi trường sinh thái đe doạ tới sự phát triển bền vững của x hội loài người Ngược lại, phát triển nghề đan cói phù hợp sẽ tạo ra các sản phẩm có nguyên liệu thiên nhiên
đáp ứng được nhu cầu phát triển của x hội nhưng không gây ô nhiễm môi trường sinh thái
- Cùng với sự phát triển của nền kinh tế x hội, yêu cầu cuộc sống con người ngày càng phải được cải thiện Các sản phẩm nghề đan cói trong mọi giai đoạn đều tìm cách để thoả mn mục đích tiêu dùng, vừa thoả mn nhu cầu hưởng thụ về văn hoá của con người
Trang 28Trái lại, đối với những bộ phận dân cư chưa thể đạt được sự thoả mn về vật chất, cuộc sống còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp thì các sản phẩm nghề đan cói vừa thoả mn cho họ giá trị sử dụng của sản phẩm và phù hợp với thu nhập của họ Trong khi giá của các sản phẩm thay thế sản xuất theo công nghệ công nghiệp tiên tiến, hiện đại có giá cao mà họ không thể sử dụng được [29]
Tóm lại, từ đặc điểm của cây cói đ hình thành nên nghề đan cói tạo ra các sản phẩm mà ít có những cây nguyên liệu nào có được Từ cây cói nguyên liệu nghề đan cói đ tạo ra rất nhiều sản phẩm khác nhau phục vụ mọi đối tượng tiêu dùng với những giá trị ngày càng cao, bao gồm cả giá trị sử dụng, giá trị tiêu dùng, giá trị văn hoá, nghệ thuật và giá trị kinh tế
2.1.4 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật và qui trình sản xuất nghề đan cói
2.1.4.1 Đặc điểm của nghề đan cói
a Đặc điểm của sản phẩm
Sản phẩm của nghề đan cói là sản phẩm hàng hoá nhưng lại hoàn toàn khác với sản phẩm công nghiệp vì sản phẩm công nghiệp được sản xuất hàng loạt trên dây chuyền sản xuất còn sản phẩm của nghề đan cói được sản xuất từng chiếc đơn lẻ, trong từng hộ và sản xuất thủ công; trong công nghiệp mỗi loại sản phẩm được sản xuất trên một dây truyền nhất định nhưng trong nghề đan mỗi lao động có thể đan nhiều loại sản phẩm khác nhau
Sản phẩm của nghề đan cói có chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm thường là hàng tiêu dùng, ít làm tư liệu sản xuất Hàng hoá của nghề đan cói vượt ra khỏi những lợi ích kinh tế thông thường, nó chứa đựng cả những giá trị về bản sắc văn hoá của địa phương, dân tộc
b Lao động và sử dụng lao động
Công việc trong nghề đan cói có nhiều công đoạn phù hợp với các đối tượng khác nhau nên có thể tận dụng được nhiều loại lao động trên địa bàn và lao động ngay trong gia đình Quy mô lao động nhỏ mỗi hộ có khoảng 2 - 4 lao động thường xuyên và 1 - 2 lao động thời vụ ở một số cơ sở sản xuất bình quân có 26 - 28 người lao động thường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ Một phần lao động ở các làng nghề
Trang 29đan cói có trình độ không cao và ít được đào tạo về chuyên môn, chủ yếu làm việc theo hướng dẫn trực tiếp hoặc bắt chước
Đẩy mạnh nghề đan cói làm tăng quy mô về lao động trong các hộ chuyên là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút lao động dư thừa trong nông thôn
đồng thời tạo điều kiện để hộ chuyên phát triển thành các doanh nghiệp có quy mô sản xuất và cạnh tranh lớn hơn nhằm phát triển nghề đan cói theo hướng CNH
Lao động trong nghề đan cói chủ yếu là lao động thủ công Lực lượng lao
động tại các làng nghề, hộ nghề, cơ sở sản xuất lại được phân thành các trình độ khác nhau Căn cứ theo trình độ tay nghề và công ăn việc làm mà người ta phân công lao
động trong các làng nghề, hộ nghề, cơ sở sản xuất ra thành các loại: nghệ nhân, thợ giỏi, lao động có kỹ thuật, lao động phổ biến và lao động tận dụng
c Đặc điểm nhà xưởng, thiết bị và công nghệ
Công cụ phần lớn là công cụ thủ công nhưng có sự khác biệt lớn giữa các cơ
sở sản xuất và các hộ sản xuất Ngày nay, để nâng cao năng suất lao động, chất lượng, độ chính xác của việc sản xuất ra sản phẩm nghề đan cói, người ta có thể áp dụng một số máy móc, thiết bị thay cho việc sử dụng sức lao động như máy xe cói, máy chẻ cói, máy dệt chiếu, máy sấy, nhuộm, hấp,
Về nhà xưởng sản xuất của nghề đan cói nhìn chung rất đơn giản, nhỏ bé, chủ yếu theo hướng tận dụng mặt bằng hiện có của hộ, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở, nơi làm viêc, nơi nghỉ ngơi
Công nghệ ở nghề đan cói bao gồm hai loại công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại Công nghệ truyền thống được tích luỹ chủ yếu ở những người dân theo phương thức cha truyền con nối Công nghệ hiện đại là những công nghệ được cải tiến từ những công nghệ cũ, lạc hậu hoặc tiếp thu công nghệ của nơi khác
Hiện nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật những ứng dụng của nó vào nghề đan cói cũng đang được phát triển rất mạnh và tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm
có chất lượng tốt, đủ sức phục vụ theo yêu cầu của thị trường Hàng năm có tới hàng nghìn mẫu m, chủng loại sản phẩm mới của nghề đan cói ra đời Mỗi loại sản phẩm này lại đòi hỏi có thêm các kỹ xảo, kỹ thuật, động tác riêng để tạo ra chúng
Trang 30d Vốn và quan hệ tín dụng
Việc xác định lượng vốn cho phát triển nghề đan cói là một điều khó, tuy nhiên có thể thấy rằng vốn đầu tư cho phát triển nghề đan cói còn thấp, nhỏ bé, thiếu, làm hạn chế khả năng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng sản xuất Tuy nhiên cá biệt có những hộ, những cơ sở có vốn đầu tư lớn lên đến hàng trăm triệu
đồng, thậm chí hàng chục tỷ đồng đang có xu hướng phát triển thành các doanh nghiệp tư nhân Đây là những cơ sở sản xuất có nhu cầu trang bị mới thiết bị và mở rộng quy mô sản xuất Bình quân cơ sở sản xuất nghề đan cói ở Ninh Bình khoảng
300 triệu đồng
Quan hệ tín dụng trong nghề đan cói được thể hiện ở mức cho vay vốn của các
hộ, các cơ sở sản xuất Nhìn chung, tỷ lệ vay vốn của các cơ sở sản xuất nghề đan cói còn ít Mức vay ở các cơ sở sản xuất cao hơn mức vay của các hộ gia đình
e Nguyên liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ
Nguyên liệu chính trong nghề đan cói là cói nguyên liệu, chủ yếu lấy từ địa phương Những nơi có nghề trồng cói phát triển cũng là vùng có nghề đan cói phát triển Một phần nhỏ các nguyên liệu phụ như đay, phẩm nhuộm, hoá chất xử lý nguyên liệu và sản phẩm, được lấy từ bên ngoài, chủ yếu phục vụ cho việc cải tiến mẫu m và hoàn thiện sản phẩm, thay đổi công nghệ
Các loại sản phẩm của nghề đan cói như chiếu cói, hộp cói, túi cói, khay cói trước đây chủ yếu được tiêu thụ trong nước (khoảng 90% số sản phẩm) Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới của nước ta hiện nay, rất nhiều chủng loại sản phẩm với mẫu m luôn thay đổi, đang là mặt hàng thủ công mỹ nghệ mũi nhọn xuất khẩu sang Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc Tuy nhiên nhiều sản phẩm còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, mẫu m, bao bì chưa hấp dẫn, chưa theo kịp với sự phát triển của đời sống x hội, một số loại sản phẩm như khay cói, đĩa cói, giá cói, chỉ xuất khẩu dưới dạng sản phẩm thô mang lại giá trị kinh tế chưa cao
Người tiêu dùng luôn tìm tòi, khám phá những nét tinh tuý, nét văn hoá được thể hiện trên mỗi sản phẩm có nguồn gốc từ cây cói Đặc biệt là những sản phẩm thuộc hàng thủ công mỹ nghệ, đòi hỏi độ chính xác cao trong kỹ thuật đan, thiết kế,
đường nét hoa văn tinh xảo, chất liệu, thẩm mỹ hoàn hảo là một thách thức lớn của thị trường đối với người làm nghề đan cói Mặt khác, mặt hàng này cũng luôn bị ép
Trang 31cấp, ép giá của tư thương gây thiệt hại cho người sản xuất Một điểm khác, là các mặt hàng của nghề đan cói luôn có những sản phẩm, hàng hoá khác có thể thay thế trong
điều kiện nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng luôn thay đổi cho nên việc nắm bắt
được thị hiếu của người tiêu dùng là vấn đề hết sức cần thiết cho quá trình tiêu thụ các sản phẩm nghề này
2.1.4.2 Qui trình sản xuất nghề đan cói
(1) Cói tươi sau thu hoạch hoặc mua từ bên ngoài về được làm sạch bằng cách cắt đoạn theo yêu cầu, cắt bỏ phần khô úa, sau đó phân loại cói theo các chủng loại phù hợp để phục vụ cho việc đan các loại sản phẩm
(2) Tuỳ theo yêu cầu từng loại sản phẩm có thể nhuộm hấp nguyên liệu ngay khi còn tươi
(2)
(
Sơ đồ 2.1 Các công đoạn đan cói [23]
(3) Cói tươi được làm khô bằng phương pháp phơi dưới ánh nắng mặt trời hoặc sấy (4) Có thể làm khô trước hoặc sấy, hấp cói nguyên liệu trước, tuỳ theo yêu cầu làm đẹp trong từng loại sản phẩm
(5), (6) và (9) cói nguyên liệu sau khi đ được xử lý qua các công đoạn được
sử dụng trực tiếp cùng với một số nguyên liệu phụ để đan thành các sản phẩm
(7) Một số loại sản phẩm sau khi đan có thể đem tiêu thụ ngay dưới dạng hàng hoá, bán cho tiêu dùng hoặc bán dạng sản phẩm thô cho đơn vị khác tiến hành gia công lại
(8) Một số sản phẩm sau khi đan xong, còn phải trải qua rất nhiều công đoạn khác để gia công lại, trước khi đem đi tiêu thụ
2.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nghề đan cói
Nghề đan cói, nhất là phát triển nghề đan cói sản xuất hàng hoá phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tự nhiên, môi trường và gắn liền với những điều kiện kinh tế, x hội nhất định ở từng thời kỳ Những nhân tố gắn kết với nhau tạo thành một hệ thống
Cây
cói
tươi
Làm sạch cói cây nguyên liệu
Phơi khô
Nhuộm, hấp
Đan sản phẩm
Tiêu thụ
Nhập kho
Trang 32các mối quan hệ qua lại và tác động đến quá trình hình thành, phát triển và kết quả sản xuất của nghề đan cói Những nhân tố có thể thúc đẩy quá trình phát triển nghề
đan cói theo hướng có lợi, nhưng cũng có thể tác động theo hướng ngược lại Vì vậy, cần nhận thức rõ vai trò ảnh hưởng của từng nhân tố để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt kìm hm, gây hậu quả xấu trong qúa trình sản xuất nghề đan cói Những nhân tố ảnh hưởng trên có thể phân thành các nhóm chính sau:
2.1.5.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Nhóm nhân tố này bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết, đất đai, nguồn nước, hệ sinh thái,
Đất đai là yếu tố cơ bản để tiến hành mọi hoạt động sản xuất Đối với nghề đan cói cũng vậy, đất đai có vị trí, thời tiết khí hậu và địa hình thuận lợi, chất đất mang những đặc điểm sinh, lý hoá nhất định phù hợp với điều kiện phát triển của cây cói, thì cây cói mới phát triển Vì vậy, đất đai là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây cói, nghề trồng cói và ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu, chất lượng cói nguyên liệu và cuối cùng là tác động đến nghề đan cói Điều này bởi vì nghề đan cói là nghề thủ công có đặc điểm chủ yếu là tận dụng nguồn cói nguyên liệu tại chỗ, do đó nguồn nguyên liệu trở thành nhân tố quyết định sự hình thành và phát triển của nghề
đan cói Mặt khác, trong quá trình sản xuất nghề đan cói yêu cầu phải có đất đai để tổ chức quá trình sản xuất, làm khu phơi sấy hoặc làm nhà kho bảo quản
Khí hậu thời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất nghề đan cói Trực tiếp tạo nên sự thuận lợi hay khó khăn trong các khâu của quá trình sản xuất nghề
đan cói và tác động đến giá thành sản xuất sản phẩm và ảnh hưởng đến kết quả sản xuất của nghề đan cói
Các yếu tố tự nhiên luôn là yếu tố nội hàm tạo ra lợi thế so sánh cho các địa phương, vùng, các quốc gia trong việc sản xuất các loại sản phẩm hàng hoá Trong nghề đan cói với đặc điểm là phân bố trong nội vi hoặc lân cận vùng trồng cói, tạo ra thuận lợi gần vùng nguyên liệu, mua được nguyên liệu có giá rẻ hơn, thuận tiện hơn, nắm rõ chất lượng của đầu vào là điều kiện tiền đề để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng tốt Tuy nhiên những yếu tố này cũng mang lại hạn chế nhất định như xa thị trường tiêu thụ, khó nắm bắt được thị hiếu của khách hàng, khí hậu thời tiết ẩm, mưa nhiều không thuận lợi cho việc bảo quản sản phẩm dẫn đến chi phí bảo quản lớn,
Trang 33giá tiêu thụ sản phẩm cao Vì vậy, con người phải nắm bắt và tuân thủ quy luật khách quan của tự nhiên để chế ngự hoặc khai thác mặt có lợi phục vụ sản xuất, đồng thời đề
ra những chủ trương, giải pháp chính sách hợp lý, tác động đến quá trình tổ chức sản xuất nhằm phát triển nghề đan cói theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sở khai thác các nguồn lực tự nhiên, phát triển nghề đan cói bền vững
Kim Sơn là huyện có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nghề trồng và nghề đan cói, nhưng do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng nóng, nhất là độ ẩm không khí cao gây khó khăn trong việc bảo quản các sản phẩm nghề
đan cói
2.1.5.2 Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế - xH hội
Những nhân tố về kinh tế - x hội có tác động, ảnh hưởng quan trọng đến quá trình phát triển nghề đan cói, nhất là nghề đan cói sản xuất hàng hoá Nhóm nhân tố trên bao gồm: nhân tố con người và tập quán sản xuất nghề đan cói; thị trường với quan hệ cung - cầu; nguồn vốn và việc sử dụng vốn; những tiến bộ về khoa học, công nghệ (KHCN); sự phát triển của ngành công nghiệp, dịch vụ và khả năng đô thị hoá; tác động về chính sách và pháp luật của nhà nước,
a Con người và tập quán sản xuất
Con người là yếu tố quyết định của mọi quá trình sản xuất, không có lao động thì không thể có hoạt động ngành nghề Đối với quá trình tổ chức sản xuất, quy trình sản xuất nghề đan cói thì tập quán sản xuất nghề đan cói cũng có tác động nhất định
đến quá trình trên Đôi khi, do tập quán nghề đan cói đ ảnh hưởng tới quá trình thúc
đẩy hay kìm hm ứng dụng KHCN đan cói mới
Để tăng nhanh khối lượng sản phẩm nghề đan cói, nhằm thoả mn nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và phong phú, đa dạng của con người, việc cải thiện trong nội nghề đan cói, mà thực chất là sự thay đổi về sản phẩm, mẫu m, loại hình sản xuất, cách thức tổ chức quản lý sản xuất ngày càng cao hơn, đòi hỏi trình độ của người lao động cao hơn để đáp ứng yêu cầu sản xuất và quản lý Phát triển sản xuất nghề đan cói theo cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, bên cạnh yếu tố kinh tế, thì yếu tố dân trí, tri thức, văn hoá, x hội, để từng bước góp phần hình thành nền kinh
tế tri thức cùng với việc xây dựng nền văn hoá hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc thì
Trang 34yếu tố quan trọng là thực hiện chiến lược con người cùng với việc thay đổi tập quán sản xuất cũ, lạc hậu
b Thị trường và tiêu thụ sản phẩm
Không có một vùng lnh thổ hay một quốc gia nào tồn tại và phát triển mà chỉ thực hiện tự cung, tự cấp về tất cả các loại sản phẩm sản xuất ra và đóng cửa nền kinh
tế của mình Thực tế mỗi vùng sinh thái hay mỗi quốc gia muốn tồn tại và phát triển cần thiết phải thực hiện sự trao đổi và giao lưu hàng hoá với các vùng hay quốc gia khác Việc trao đổi và giao lưu hàng hoá được thực hiện trên thị trường Thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đời của sản xuất hàng hoá và sự phân công lao động x hội, được hình thành trên lĩnh vực lưu thông, thông qua quan hệ mua, bán
Hễ ở đâu có phân công lao động x hội và sản xuất hàng hoá thì ở đó có thị trường và thị trường chẳng qua là biểu hiện của sự phân công x hội và do đó nó có thể phát triển vô cùng tận giống như sự phân công vậy [45]
Như vậy, thị trường là nơi phản ảnh thực chất phân công lao động x hội và sản xuất hàng hoá, biểu hiện các quan hệ mua và bán hàng hoá, dịch vụ giữa các cá nhân, các ngành, các tổ chức kinh tế và các thành phần kinh tế Các quan hệ này chịu
sự chi phối bởi các quy luật của kinh tế thị trường Đó là quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ, sự tác động của quy luật này cuối cùng biều hiện ở sự lên xuống của giá cả thị trường trong quá trình mua, bán hàng hoá, dịch vụ
Đối với hàng hoá và dịch vụ, các hoạt động kinh tế của mỗi người sản xuất, người lưu thông và người tiêu dùng phải thích ứng với cơ chế thị trường, như Pau A.Samuelson đ viết: “Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau thông qua thị trường
để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế Đó là cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai?” [23] Trong nghề đan cói sản xuất hàng hoá, thị trường ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và lưu thông, biểu hiện trên các mặt sau:
- Thị trường tạo ra cầu đối với sản phẩm nghề đan cói, từ đó kích thích sản xuất nghề đan cói phát triển, đảm bảo yêu cầu về số lượng, chất lượng, phải có tính canh tranh để thu được lợi nhuận cao Muốn vậy các cơ sở sản xuất nghề đan cói phải
Trang 35tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu m đẹp và ứng dụng KHCN mới trong sản xuất, bảo quản, tiêu thụ và luôn chú ý tới bao bì đóng gói, chăm sóc khách hàng
- Thị trường tạo điều kiện mở rộng giao lưu hàng hoá trong nước và xuất khẩu, nhập khẩu các vật tư và sản phẩm nghề đan cói
c Khoa học công nghệ
KHCN là nguồn lực quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề đan cói KHCN trong nghề đan cói là tập hợp các tri thức KHCN về nghề đan cói đ được tổng kết và đúc rút ra từ nghiên cứu hay thực tiễn sản xuất nghề đan cói Việc nghiên cứu ứng dụng KHCN vào sản xuất nghề đan cói sẽ đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao hơn, đặc biệt ngày nay KHCN được xác định là lực lượng sản xuất trực tiếp Nhờ việc ứng dụng KHCN mới vào các khâu trong sản xuất nghề đan cói, làm thay đổi trạng thái sản xuất, tập quán sản xuất nghề đan cói, thực hiện sự phân công chuyên môn hoá lao động, tăng thêm chất lượng và giá trị của sản phẩm hàng hoá
Trong bất kỳ ngành sản xuất nào công nghệ, kỹ thuật luôn là yếu tố hết sức quan trọng Kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tạo ra các sản phẩm thuần khiết, đúng tiêu chuẩn, đúng qui định còn công nghệ góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm Trong nghề đan cói nâng cao trình độ tay nghề
là nâng cao trình độ kỹ thuật và cải tiến công nghệ là thay thế dần một số công đoạn sản xuất bằng máy móc làm cho chất lượng sản phẩm tốt hơn, giảm chi phí lao động, tăng khối lượng sản phẩm và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường
Đổi mới KHCN là cải tiến, thay đổi nhận thức các tri thức khoa học, phương pháp sản xuất nhằm tăng cường khả năng sản xuất, tăng số lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm, thoả mn tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của người tiêu dùng đối với sản phẩm nghề đan cói Tác động của KHCN đối với nghề đan cói bao gồm những nội dung sau:
- Tạo ra những kỹ thuật mới, sản phẩm mới, có chất lượng cao thẩm mỹ đẹp
- Công nghệ sản xuất với những chiếc máy đa năng sử dụng vào nhiều công
đoạn và sản xuất được nhiều loại sản phẩm
- Nghiên cứu cơ cấu nguyên liệu và các phụ liệu khác đảm bảo chất lượng và hiệu suất sản xuất sản phẩm tối ưu
Trang 36- Thiết kế khu làm việc mới tiện lợi cho hoạt động nghề đan cói
- KHCN nghiên cứu phương pháp đan cói mới vừa nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị nguyên liệu, vừa góp phần giảm chi phí
có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất nghề đan cói Nếu khả năng về vốn trong khu vực dân cư không đáp ứng được, tất yếu phải có nguồn đầu tư ngân sách, vốn tín dụng hoặc các hình thức huy động vốn khác Vì vậy, nguồn vốn và sử dụng vốn chi phối trực tiếp đến quá trình tổ chức sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội tại nghề đan cói
e Tác động về chính sách của nhà nước đối với nghề đan cói
Ngay từ khi Nhà nước mới ra đời đ thực hiện vai trò và chức năng quản lý Thời kỳ đầu Nhà nước quản lý x hội, quản lý hành chính, đảm bảo trật tự, trị an, sau
đó chuyển dần sang quản lý kinh tế Cùng với sự phát triển về quy mô và trình độ của nền kinh tế, vai trò của quản lý Nhà nước (QLNN) về kinh tế ngày càng tăng và chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất Tuy nhiên, những vai trò này cũng luôn biến động tuỳ theo chế độ chính trị, yêu cầu và xu hướng phát triển kinh tế của từng nước trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau
Sự tác động của Nhà nước vào quá trình phát triển nghề đan cói được qui định bởi chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, đó là sự tác động do tạo lập môi trường luật pháp; định hướng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; thực hiện chức năng điều tiết; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với phát triển nghề đan cói Đồng thời nhà nước ban hành và tổ chức chỉ đạo thực hiện hệ thống các chính sách kinh tế nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển nghề đan cói theo hướng sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường
Trang 37Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ vận động, thay đổi cơ cấu kinh tế một cách tự phát, vừa có những mặt tích cực, đồng thời cũng có nhiều khuyết tật Do đó, Nhà nước phải thực hiện sự can thiệp để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những
“khuyết tật” của kinh tế thị trường, thông qua hệ thống chính sách kinh tế Vai trò quản lý của Nhà nước ảnh hưởng đến sự hình thành cơ cấu kinh tế, hạn chế tính tự phát trong quá trình sản xuất kinh doanh, tránh được những khủng khoảng “thừa” hoặc “thiếu”, rủi ro của người sản xuất và giảm bớt lng phí cho nền kinh tế Chính sách kinh tế của Nhà nước nhằm khuyến khích người sản xuất phát triển những ngành hàng có lợi cho nền kinh tế quốc dân hoặc hạn chế những ngành hàng xét thấy không có lợi, thậm chí có ngành hàng còn bị nghiêm cấm không cho phép sản xuất kinh doanh
Đối với nghề đan cói, hệ thống chính sách của Nhà nước về mặt bằng xây dựng, tín dụng, thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhất là thị trường xuất khẩu sẽ tác
động và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất nghề đan cói
Để từng bước phát triển nghề đan cói bền vững theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn cần có sự tác động của QLNN đối với nghề đan cói với những con người có trí tuệ, có tầm nhìn đi trước đón đầu các xu hướng phát triển trong hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Sự tác động của Nhà nước tới nghề đan cói được thực hiện thông qua việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô, về thị trường, chính sách về thuế, vốn và tín dụng; về KHCN đối với nghề đan cói đồng thời tổ chức kiểm tra, kiểm soát viện thực hiện các chức năng QLNN nhằm phát triển nghề đan cói, đưa nghề đan cói trở thành nghề sản xuất chính ở những vùng nông thôn có điều kiện với tỷ suất thu nhập trong hộ ngày càng cao
f Các nhân tố khác
Ngoài các nhân tố trên, các hình thức tổ chức sản xuất nghề đan cói như hộ gia
đình, tổ hợp tác, các hình thức sản xuất nghề đan cói hoạt động theo luật công ty, luật doanh nghiệp nhà nước và các hình thức liên doanh, liên kết trong nghề đan cói giữa sản xuất - dịch vụ - gia công - tiêu thụ sản phẩm; đây là nghề truyền thống của cha,
Trang 38ông, tổ tiên, làng xóm, quê hương dân tộc, quốc gia cần phải gìn giữ và phát triển
là những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nghề đan cói
Quá trình hình thành, phát triển nghề đan cói ở huyện Kim Sơn là kết quả của một hệ thống các nguyên nhân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau Điều kiện tự nhiên là yếu tố tiên quyết có ảnh hưởng lớn nhất đến phát triển nghề đan cói của huyện; các yếu tố này gồm vị trí địa lý, khí hậu và đất đai cùng với hệ thống thủy văn và thảm thực vật rất thuận lợi cho cây cói phát triển; tạo ra nguồn nguyên liệu vững chắc, cung cấp ngay tại chỗ cho nghề đan cói Tuy nhiên, các yếu tố này cũng mang lại không ít những khó khăn làm kìm hm sự phát triển của nghề đan cói nơi đây, làm tăng chi phí bảo quản, khó khăn trong việc vận chuyển các sản phẩm
và xa rời thị trường Nhân tố con người với truyền thống sản xuất nghề đan cói và một lực lượng lao động dồi dào đ tạo ra sự phát triển đa dạng, linh hoạt của hệ thống các sản phẩm hàng hóa của nghề này, đồng thời với lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật thấp, phát triển không đồng bộ cũng gây ra nhiều khó khăn trong việc sản xuất quản lý
và nâng cao chất lượng sản phẩm Thị trường tiêu thụ sản phẩm với xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới đ và đang tạo ra những lợi thế và khó khăn thách thức lớn cho sản xuất các sản phẩm có nguyên liệu từ cây cói nơi đây Sự mở rộng của các nhân tố về vốn, khoa học công nghệ, chính sách của Nhà nước đ có tác động sâu sắc đến đến sự phát triển của nghề đan cói ở huyện Kim Sơn trong những năm gần đây
Tóm lại, để phát triển nghề đan cói thì ba nhân tố cơ bản có ảnh hưởng lớn nhất là tay nghề của nghệ nhân và người lao động, thị trường, và tác động của Nhà nước Thứ nhất, con người là yếu tố trung tâm quyết định sự tồn tại, thành công hay thất bại của mọi hoạt động nghề đan cói Con người với tư duy sáng tạo, kỹ năng, tay nghề để tạo ra các sản phẩm có chất lượng, mẫu m đẹp tạo ra sức hút đối với thị trường, đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng, từ đó tác động toàn diện đến sự phát triển nghề đan cói Thứ hai, phát triển sản xuất nghề đan cói là phát triển nghề sản xuất hàng hoá, tức là sản xuất các sản phẩm thị trường cần Do đó thị trường là một yếu tố quan trọng hàng đầu, là tín hiệu đầu tiên để quyết định mở rộng hay thu hẹp sản xuất nghề đan cói Thứ ba, Nhà nước luôn là nhân tố quyết định sự phát triển hay kìm hm đối với sản xuất của nghề đan cói thông qua chức năng và nội dung QLNN
về kinh tế
Trang 392.1.6 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nghề đan cói
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của ngành nghề nông thôn nói chung và nghề đan cói nói riêng, Đảng và Nhà nước ta từ trung ương đến địa phương đ có chủ trương và nhiều chương trình hành động nhằm phát triển nghề đan cói
Trong Nghị quyết đại hội IX đ xác định, tăng cường chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Trong đó tiếp tục phát triển ngành nghề nông thôn bằng việc ứng dụng KHCN, qui hoạch sử dụng
đất hợp lý, phát triển tốt kết cấu hạ tầng để phát triển đa dạng ngành nghề nông thôn chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ
Chính Phủ và các bộ ngành đ ban hành nhiều văn bản pháp quy để phát triển ngành nghề nông thôn như: Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/01/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn; Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về việc phát triển ngành nghề nông thôn; Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn qui định chi tiết về việc phát triển ngành nghề, làng nghề nông thôn; Thông tư số 113/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện các chính sách phát triển ngành nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn Trong đó có các qui định chỉ đạo thực hiện phát triển nghề trồng, nghề đan cói và chế biến cói
Tỉnh uỷ Ninh Bình đ xây dựng nhiều nghị quyết, chương trình, kế hoạch nhằm khuyến khích phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn Trong đó nhiều qui định thể hiện quan điểm phát triển nghề đan cói Mở đầu bằng việc thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu và xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới, Tỉnh đ thành lập Ban chỉ đạo chuyển dịch và xây dựng nông thôn mới để chỉ đạo xây dựng mô hình làm điểm chuyển dịch tại x Cồn Thoi huyện Kim Sơn Thực hiện nhiều chính sách phát triển ngành nghề nói chung và nghề đan cói nói riêng như một chính sách khuyến khích xuất khẩu các hàng thủ công mỹ nghệ, trong đó có các sản phẩm của nghề đan cói; xây dựng quỹ khuyến công từ nguồn ngân sách của tỉnh để tạo điều kiện hỗ trợ nâng cao tay nghề cho người lao động, hỗ trợ một phần kinh phí học nghề cho một số đối tượng và cho một số mô hình sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm có nguyên liệu từ cói; mở một trang web thương mại bằng 2 ngôn ngữ tiếng
Trang 40Việt - tiếng Anh nhằm mục đích giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, phổ biến các chủ trương chính sách của tỉnh về phát triển nghề, ngành nghề nông thôn và hỗ trợ các cơ sở giới thiệu sản phẩm của mình ra thị trường quốc tế
Ngày 09/8/2006, Ban thường vụ tỉnh uỷ Ninh Bình có Nghị quyết số 04/NQ-TU
về việc đẩy mạnh phát triển nghề trồng, chế biến cói, nghề đan cói; thêu ren và chế tác
đ mỹ nghệ giai đoạn 2006 - 2010, trong đó có những đánh giá và qui định riêng về phát triển nghề trồng và đan cói Giá trị sản xuất năm 2005 đạt 141 tỷ đồng, tăng 50,8% so với năm 2000, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 14,3%/năm Doanh thu năm 2005 đạt
218 tỷ đồng Số lượng lao động tham gia sản xuất là 24.661 người, chiếm 43% tổng số lao động sản xuất công nghiệp năm 2005 Số cơ sở sản xuất nghề đan cói năm 2005 là 8.558 cơ sở, trong đó có 8.531 hộ gia đình (chiếm 99,7%), tập trung chủ yếu ở các huyện Kim Sơn, Yên Khánh, Yên Mô, Hoa Lư và thị x Tam Điệp Đặc biệt là huyện Kim Sơn 100% làng, x (chiếm 50% số cơ sở sản xuất chế biến cói của tỉnh) [1] Phương hướng, mục tiêu và các giải pháp chủ yếu phát triển trồng cói và nghề đan cói giai đoạn 2006-
2010 Tập trung chỉ đạo, khai thác các nguồn lực cho đầu tư và phát triển, từng bước khôi phục, mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng các làng nghề đan cói trên cơ sở kết hợp lao động thủ công truyền thống với ứng dụng công nghệ mới; nâng cao chất lượng; giá trị và khả năng cạnh tranh, xây dựng thương hiệu sản phẩm cói, phát triển nghề đan cói gắn với phát triển du lịch, xuất khẩu và phát triển nông nghiệp toàn diện, bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là góp phần xoá đói giảm nghèo, thu hút nhiều lao động, đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Mục tiêu đến 2010 khối lượng sản phẩm nghề đan cói tăng 15%, giá trị sản phẩm đạt 280 tỷ đồng và xuất khẩu đạt 23,3 triệu USD và hàng năm tạo việc làm mới cho 2.000 - 2.500 người Các giải pháp chủ yếu phát triển nghề đan cói và trồng cói là trước mắt tập trung đầu tư để phát triển vùng nguyên liệu diện tích 452 ha đất thuộc nông trường Bình Minh và duy trì diện tích cói hiện có ở các x trong vùng quy hoạch; đầu tư xây dựng vùng chế biến cói tập trung, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cụm công nghiệp Đồng Hướng và một số cầu cống
đầu mối với tổng kinh phí 10 tỷ đồng; thành lập hiệp hội nghề cói để tham gia quản lý bình ổn giá nguyên liệu; vận động các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất trong hiệp hội góp vốn, hình thành quỹ bình ổn giá cói [1]